Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2022

Lưu Nguyễn Nhập Thiên Thai -Tào Đường


Góc Đường Thi:

Xắn tay bẻ khóa động đào,
Rẽ mây trông tỏ lối vào Thiên-Thai

(Truyện Kiều)


Theo U MINH LỤC của Lưu Nghĩa Khánh đời Tống(宋.劉義慶《幽明錄》)chép rằng:

Năm Vĩnh Bình thứ 5 đời Hán Minh Đế (Công nguyên năm 62 ), người đất Diễm ( thuộc tỉnh Chiết Giang hiện nay) là LƯU THẦN và NGUYỄN TRIỆU vào Thiên Mụ sơn để hái thuốc. Thiên Mụ Sơn gồm có Lưu Môn sơn, Tế Tiêm, Đại Tiêm, Phất Vân Tiêm, Ba Tiêu sơn và Liên Hoa Phong quần tụ mà thành, thế núi hiễm trở, phong đỉnh chập chùng, cao nguyên rộng lớn, hoa cỏ rậm rạp xanh tươi, rừng núi bạt ngàn, muôn màu muôn vẻ. Lưu Nguyễn mãi mê hái thuốc, lạc sâu mãi trong rừng hoa thơm cỏ lạ, tới chừng nhìn lại thì trời đã về chiều, bụng lại đói meo. May sao bên triền núi có mấy cây đào mọc theo khe suối, nhằm lúc đào đang chín rộ, bèn hái lấy mấy trái mà ăn đỡ đói, nào ngờ đó là đào tiên, ăn vào ngon ngọt và thơm tho cả mồm miệng, khí lực lại sung mãn, bèn lần theo khe suối mà đi lên, đến một nơi khe nước rộng, trời đất như mở ra một thế giới mới, với hoa thơm cỏ lạ ven bờ, với oanh yến líu lo kêu hót, hai chàng lấy ly ra để múc nước suối uống, thì thấy bên bờ khe đã đứng sẵn 2 nàng con gái tuyệt đẹp, cười mà rằng : " Hai chàng Lưu Nguyễn sao lại đến muộn thế ? " Bèn thân mật như người quen đã lâu năm, rước 2 chàng cùng về động phủ. Trong động như có trời đất riêng, phòng ốc khang trang tráng lệ, đã thiết bị sẵn 2 phòng hoa chúc, ngọc chuốc vàng treo, mười phần hoa lệ. Tiệc hoa cũng đã bày sẵn , tiên nữ tới lui tấp nập, cùng mời 2 chàng nhập tiệc với đầy đủ sơn hào hải vị. Xóm đông có các tiên nương cùng mang đến một mâm đào tiên, cười chúc cho hai nàng đã đón được hai chàng rể quí Lưu Nguyễn vừa du nhập Thiên Thai. Tiệc hoa vui vầy, rượu tiên thơm lừng, chưa nhấp đã say, hòa trong tiếng sanh ca hoan lạc, đưa hai chàng cùng vào động phòng với hai tiên nữ trong tiếng tiên nhạc du dương ngây ngất !...
Nhưng chỉ quá mươi ngày sau, Lưu Nguyễn cùng nhớ quê xin về, hai nàng cố cầm giữ lại, được hơn nửa năm, mặc dù bên mình luôn có người đẹp... như tiên, nhưng khi nghe tiếng Tử qui gọi xuân thắm thiết, hai chàng càng nghe lòng nhớ quê mãnh liệt hơn lên và nhất định xin về. Hai nàng đành phải buộc lòng đặt tiệc tiễn hành và chỉ lối để hai chàng về quê với biết bao là tình thương quyến luyến, bịn rịn chẳng nở rời xa!...
Về đến làng quê, thấy mọi cảnh vật đều đổi khác, tìm không thấy nhà cửa của mình ở đâu nữa. Hỏi thăm trong họ tộc, thì có một cụ già cho biết rằng: Ông Tổ bảy đời của họ đi vào núi hái thuốc rồi lạc mất đường không thấy trở về. Lưu Nguyễn ở trên Thiên Thai nửa năm, nhưng ở dưới núi đã qua đến 7 đời con cháu. Hỏi ra, thì bấy giờ đã vào năm Thái Nguyên Thứ 8 của đời nhà TẤN rồi ( Công Nguyên năm 388 ) hơn 300 năm sau rồi! Hai người đành qua trở lại Thiên Thai, nhưng đã không còn tìm được đường lên Tiên động nữa!
Trong những bài thơ vịnh về LƯU NGUYỄN NHẬP THIÊN THAI, phải kể đến 5 bài trong ĐẠI DU TIÊN THI của TÀO ĐƯỜNG đời Đường là tiêu biểu và nổi tiếng nhất.
Xin được giới thiệu 5 bài thơ đó cùng tác giả TÀO ĐƯỜNG sau đây...

* SƠ LƯỢC VỀ TÀO ĐƯỜNG:


Chân dung Tào Đường

TÀO ĐƯỜNG 曹唐 tự là Nghiêu Tân, người đất Quế Châu (thuộc Quế Lâm Quảng Châu hiện nay). Không rõ năm sanh và mất. Lúc đầu xuất gia làm Đạo Sĩ, sau ứng thi Tiến Sĩ giữa năm Đại Trung, nhưng không đỗ. Khoảng năm Hàm Phong ( 860-874 ) tùng sự ở Chư Phủ. Tào sống cùng thời với La Ẩn 羅隱, tài thơ ngang nhau, Tào thường truy cứu hâm mộ tình tự cao nhã của các bậc thần tiên, nên sáng tác các thiên "Đại du tiên thi 大游仙詩 ", "Tiểu du tiên thi 小游仙詩" gồm 50 thiên, tả lại những nỗi bi hoan ly hợp của chư tiên nhân để phổ biến và truyền lại đời sau. Tào Đường lại rất thường gặp La Ẩn để trao đổi Ý kiến về những bài thơ mà mình mới sáng tác.

Bài 1: LƯU NGUYỄN NHẬP THIÊN THAI


劉晨阮肇遊天台 LƯU THẦN NGUYỄN TRIỆU DU THIÊN THAI

樹入天台石路新, Thụ nhập Thiên Thai thạch lộ tân,
雲和草靜迥無塵。 Vân hoà thảo tĩnh quýnh vô trần.
煙霞不省生前事, Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự,
水木空疑夢後身。 Thuỷ mộc không nghi mộng hậu thân.
往往雞鳴岩下月, Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt,
時時犬吠洞中春。 Thời thời khuyển phệ động trung xuân.
不知此地歸何處, Bất tri thử địa quy hà xứ ?
須就桃源問主人。 Tu tựu Đào Nguyên vấn chủ nhân.
曹唐                        Tào Đường

* Chú thích:
- Thiên Thai 天台: là tên một ngọn núi ở tỉnh Chiết Giang mà theo truyền thuyết có tiên ở trên đó; cũng từ nầy nếu đọc là THIÊN ĐÀI thì có nghĩa là Cái Sân Thượng trên nóc bằng của các nhà lầu.
- Quýnh 迥: Xa xôi, vắng vẻ.
- Vô Trần 無塵: Không có bụi trần ai, chỉ cảnh thoát tục.
- Yên Hà 煙霞: Khói sương và mây mù ngũ sắc; chỉ cảnh đẹp của thiên nhiên huyền ảo.
- Tiền Sự 前事: Chuyện của những kiếp trước.
- Thủy Mộc 水木: Nước và cây; chỉ khe suối và rừng cây .
- Hậu Thân 後身: Thân sau, là chuyện của kiếp sau.

* Dịch nghĩa:
LƯU THẦN NGUYỄN TRIỆU DU NGOẠN THIÊN THAI

Hàng cây dẫn nhập thiên thai với con đường đá mới, mây hòa quyện lấy cỏ trong thanh tĩnh không vướng chút bụi trần. Khói ráng mông lung như không rõ được truyện của kiếp trước, Suối nước và rừng cây cũng mờ ảo như còn ngờ ngợ thân ta như sau cơn mộng mị. Luôn luôn như nghe được tiếng gà gáy ở mõm đá dưới ánh trăng, và như lúc nào cũng có tiếng chó sủa trong động xuân. Không biết là nơi đây sẽ đưa đến nơi đâu, chỉ còn có nước là tìm chủ nhân của xứ Đào Nguyên nầy mà hỏi!?...

* Diễn nôm:
LƯU NGUYỄN NHẬP THIÊN THAI

Cây dẫn nhập Thiên Thai cao vút,
Cỏ mây vương chẳng chút bụi trần,
Yên hà không nhớ tiền thân,
Nước mây luống những bâng khuâng mộng hồn.
Tiếng gà gáy dập dồn trăng tỏa,
Văng vẳng xa chó sủa động xuân,
Đào nguyên ướm hỏi chủ nhân,
Rằng đây dẫn lối xa gần Thiên Thai?

Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

Thiên Thai - Văn Cao - Tiếng Hát Thái Thanh

 
Bài 2 : LƯU NGUYỄN GẶP GỠ TIÊN TRONG ĐỘNG

劉阮洞中遇仙子 LƯU NGUYỄN ĐỘNG TRUNG NGỘ TIÊN TỬ

天和樹色靄蒼蒼, Thiên hòa thọ sắc ái thương thương,
霞重嵐深路渺茫。 Hà trọng lam thâm lộ diễu mang.
雲實滿山無鳥雀, Vân thực mãn sơn vô điểu tước,
水聲沿澗有笙簧。 Thủy thanh duyên giản hữu sanh hoàng.
碧沙洞裡乾坤别, Bích sa động lý càn khôn biệt,
紅樹枝前日月長。 Hồng thọ chi tiền nhật nguyệt trường.
愿得花間有人出, Nguyện đắc hoa gian hữu nhân xuất,
免令仙犬吠劉郎。 Miễn linh tiên khuyển phệ Lưu Lang. 曹唐 Tào Đường

* Chú thích :
- Ái Thương Thương 靄蒼蒼 : ÁI là Khói mây; THƯƠNG là màu xanh om; nên ÁI THƯƠNG THƯƠNG là Khói mây ngùn ngụt bốc lên màu xanh om vì cây cỏ xung quanh.
- Hà Trọng Lam Thâm 霞重嵐深 : HÀ là Ráng, là mây màu; LAM là Sơn lam Chướng khí của hơi núi bốc lên; nên HÀ TRỌNG LAM THÂM là Mây màu rất đậm và Sơn lam Chướng khí của núi rừng giăng bủa khắp nơi.
- Vân Thực 雲實 : là cây vuốt mèo, một loại cây dại cho hoa màu vàng rất đẹp.
- Duyên Giản 沿澗 : là Dọc theo bờ khe suối.
- Càn Khôn Biệt 乾坤别 : chỉ nơi như có trời đất riêng biệt.
- Nguyện Đắc 愿得 : Những mong, những mong rằng ...
- Miễn Linh 免令 : MIỄN là Khỏi phải, LINH là Làm cho; MIỄN LINH là Để khỏi phải cho...; Để khỏi phải làm cho... cái gì đó ...

* Nghĩa bài thơ :
LƯU NGUYỄN GẶP TIÊN NỮ TRONG ĐỘNG TIÊN

Bầu trời hòa quyện với cỏ cây tạo nên lớp khói mây nghi ngút xanh xanh, những ráng mây màu ngũ sắc thấp thoáng với sơn lam chướng khí làm đường núi như mờ mịt và xa xôi hơn. Những hoa cỏ dại nở đầy cả núi rừng nhưng lại vắng tiếng chim muông, những khe nước róc rách chảy quanh như có tiếng đàn tiếng nhạc. Trong động cát xanh biêng biếc như có trời đất riêng biệt; Trước những cành hoa lá đỏ thắm ngày tháng như dài thêm ra. Những mong trong khóm hoa bát ngát kia có bóng người xuất hiện, để cho những con chó trong động tiên khỏi phải sủa chàng Lưu.

Cảnh tiên với mây khói mông lung, với hoa thơm cỏ lạ, nhưng là cảnh đẹp trong vắng lặng não nùng không tiếng chim muông; chỉ có tiếng nước suối chảy theo các khe đá phát ra âm thanh như tiếng nhạc, nhưng lại đơn điệu dễ nhàm chán. Trời đất tuy riêng biệt, sống trong nhàn nhã nên cảm thấy ngày tháng như dài thêm ra. Cảnh tiên đẹp như một bức tranh đơn điệu không hồn. Nên mới ước ao có người trần lạc bước xuất hiện trong rừng hoa để cho con chó tiên có người để sủa, để tạo nên vẻ sinh động hoạt náo, thổi một luôn sinh khí vào trong cảnh tiên cho sống thực và nên thơ hơn.

* Diễn Nôm:
LƯU NGUYỄN GẶP GỠ TIÊN TRONG ĐỘNG

Sắc trời cây xanh xanh hòa quyện,
Khói mây vương ẩn hiện núi tiên.
Hoa thơm đầy núi vắng chim,
Suối khe róc rách nhạc tiên bồi hồi.
Trong động biếc đất trời riêng biệt,
Lá đỏ cành chẳng biết tháng năm.
Trong hoa ước thấy tri âm,
Chó tiên khỏi phải sủa nhầm chàng Lưu!

Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

Cảnh tiên tuy đẹp nhưng lại dễ nhàm chán, chả trách chỉ mới mươi hôm mà hai chàng Lưu Nguyễn đã muốn trở lại cảnh thế tục nơi quê nhà... Nhưng vì có người đẹp như... tiên cầm cọng cho nên đến nửa năm sau mới tiễn biệt cho về ! Mời đọc tiếp bài 3...

Bài 3 : THIÊN THAI TỐNG BIỆT.

僊子送劉阮出洞 TIÊN TỬ TỐNG LƯU NGUYỄN XUẤT ĐỘNG

殷勤相送出天台   Ân cần tương tống xuất Thiên Thai,
僊境那能卻再來。    Tiên cảnh na năng khước tái lai.
雲液既歸須強飲        Vân dịch ký qui tu cưỡng ẩm,
玉書無事莫頻開。    Ngọc thơ vô sự mạc tần khai.
花留洞口應長在,    Hoa lưu động khẩu ưng trường tại,
水到人間定不回。    Thủy đáo nhân gian định bất hồi.
惆悵溪頭從此別,    Trù trướng khê đầu tòng thử biệt,
碧山明月照蒼苔。    Bích sơn minh nguyệt chiếu thương đài!
曹唐                            Tào Đường

* Chú thích :
- Tiên Tử 仙子 hay Tiên Nữ 仙女 đều là từ chỉ những nàng tiên; nếu là nam thì gọi là Tiên Nhân 仙人 hay Tiên Ông 仙翁.
- Tương Tống 相送 : là Đưa tiễn nhau.
- Na Năng 那能 : là Làm sao có thể...
- Vân Dịch 雲液 : Vân là Mây, Dịch là chất lỏng. VÂN DỊCH là một loại rượu tiên được ủ từ các loại trái cây thơm ngon và có màu sắc đẹp như mây trên trời; là rượu kocktail ngày nay của ta đó.
- Ngọc Thơ 玉書 : là Sách tu tiên theo Đạo Giáo.
- Trù Trướng 惆悵 : là Buồn bã bịn rịn; Do dự bồn chồn.
- Thương Đài 蒼苔 : là Rêu xanh.
Câu thứ 5 còn có dị bản là :
花當洞口應長在 Hoa đang động khẩu ưng trường tại,
Về mặt ý nghĩa thì cũng tương đương như nhau mà thôi : "Hoa LƯU lại trước của động vẫn còn mãi" và "Hoa ĐANG ở trước cửa động thì vẫn còn mãi nơi đó".

* Dịch nghĩa:
TIÊN NỮ ĐƯA LƯU NGUYỄN RỜI THIÊN THAI
Ân cần đưa tiễn nhau ra khỏi chốn Thiên Thai, Tiên cảnh biết làm sao còn có thể trở lại đây. Đã quyết định đi về nên phải miễn cưởng mà uống cạn chén rượu tiên đưa tiễn (Vân dịch: tên một loại rượu tiên ). Nếu không có chuyện gì thì không nên thường xuyên mở Ngọc thơ ra xem (Ngọc Thơ: Sách của Đạo gia tu Tiên). Hoa lưu lại trước cửa động sẽ còn mãi mãi nơi đây, nhưng nước đã chảy về với dân gian thì chắc chắn sẽ không còn quay trở lại được nữa. Bịn rịn mãi ở đầu khe suối nơi mà từ đây đành cách biệt, chỉ còn trơ lại vầng trăng bạc trên đỉnh núi biếc chiếu lên đám rêu xanh! 

Bài thơ nầy làm cho ta nhớ đến bài thơ " Tống Biệt" của Tản Đà làm năm 1922:

Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai,
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi!
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai,
Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
Đá mòn, rêu nhạt,
Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!...


Bài thơ này đã được nhạc sĩ Võ Đức Thu phổ nhạc thành bài hát cùng tên Tống Biệt do các ca sĩ Mộc Lan trong ban nhạc Tiếng Tơ Đồng và nữ ca sĩ Thái Thanh trong Đoàn Hợp Ca THĂNG LONG trình diễn theo trang web. dưới đây:
https://www.facebook.com/watch/?v=908114009685838

* Diễn nôm:
THIÊN THAI ĐƯA TIỄN

Ân cần tiễn biệt rời tiên động,
Cảnh tiên thôi hi vọng trở về,
Chén đưa luống những não nề,
Ngọc thơ vô sự chẳng hề mở đâu !
Hoa trước động luôn sầu mong nhớ,
Nước xuôi dòng biết thuở nào về,
Chia tay lòng những tái tê,
Rêu xanh núi biếc trăng thề luyến lưu !

Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

BÀI 4: TIÊN TỬ ĐỘNG TRUNG HỮU HOÀI LƯU NGUYỄN.

仙子洞中有懷劉阮 TIÊN TỬ ĐỘNG TRUNG HỮU HOÀI LƯU NGUYỄN

不將清瑟理霓裳, Bất tương thanh sắt lý Nghê Thường,
塵夢那知鶴夢長!    Trần mộng nả tri hạc mộng trường !
洞裡有天春寂寂, Động lý hữu thiên xuân tịch tịch,
人間無路月茫茫。 Nhân gian vô lộ nguyệt man man.
玉沙瑶草連溪碧, Ngọc sa dao thảo liên khê bích,
流水桃花满澗香。 Lưu thủy đào hoa mãn giản hương.
曉露風燈零落盡,    Hiểu lộ phong đăng linh lạc tận,
此生無處訪劉郎。 Thử sinh vô xứ phỏng Lưu Lang ! 

曹唐                        Tào Đường

* Chú thích:
- Thanh Sắt 清瑟 : là Tiếng đàn thanh thoát, trong sáng.
- Nghê Thường 霓裳 : NGHÊ là Cầu vồng, là Mây có nhiều màu sắc; THƯỜNG là Áo dài từ thân trên xuống thân dưới; nên NGHE THƯỜNG là quần áo có nhiều mầu sắc sặc sỡ. Theo như thơ trong Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị tả điệu múa của các cung nữ trong cung do vua Đường Minh Hoàng khi nằm mơ du nguyệt điện về chế ra loại y phục và điệu múa NGHÊ THƯỜNG VŨ Y KHÚC 霓裳羽衣曲.

BÀI 5: TÁI ĐÁO THIÊN THAI

Tạo dáng trong phim và tượng của NGỌC CHÂN CÔNG CHÚA

劉阮再到天台不復見仙子 LƯU NGUYỄN TÁI ĐÁO THIÊN THAI BẤT PHỤC KIẾN TIÊN TỬ
再到天台訪玉真, Tái đáo Thiên Thai phỏng Ngọc Chân,
青苔白石已成塵。 Thanh đài bạch thạch dĩ thành trần.
笙歌寂寞閑深洞, Sanh ca tịch mịch nhàn thâm động,
雲鶴蕭條絕舊鄰。 Vân hạc tiêu điều tuyệt cựu lân.
草樹總非前度色, Thảo thụ tổng phi tiền độ sắc,
煙霞不似往年春。 Yên hà bất tự vãng niên xuân.
桃花流水依然在, Đào hoa lưu thuỷ y nhiên tại,
不見當時勸酒人。 Bất kiến đương thời khuyến tửu nhân.
曹唐 Tào Đường

* Chú thích:
- Phỏng Ngọc Chân 訪玉真 : PHỎNG là Bái Phỏng 拜訪 là Thăm viếng; NGỌC CHÂN : là Công Chúa Ngọc Chân 玉真公主, tên là LÝ TRÌ DOANH 李持盈 ( 692-762 ), cháu nội của Võ Tắc Thiên đời Đường. Theo Đạo Giáo xuất gia làm đạo cô, lấy hiệu là HUYỀN HUYỀN 玄玄, đắc đạo thành tiên, nên thường dùng để chỉ chung cho các nàng tiên nữ.
- Sanh Ca Tịch Mịch 笙歌寂寞 : Tiếng sanh ca vắng vẻ yên ắng; chỉ cảnh hoang vu vắng vẻ của các động phủ ngày xưa.
- Vân Hạc Tiêu Điều 雲鶴蕭條 : Mây và chim hạc cũng lưa thưa xơ xác; chỉ cảnh mây và chim cũng xác xơ rời rạc không còn vui vẻ náo nhiệt như xưa.
- Đương Thời 當時 : là Ngay lúc đó.

* Dịch nghĩa:
TRỞ LẠI THIÊN THAI KHÔNG GẶP ĐƯỢC TIÊN NỮ
Trở lại Thiên Thai để tìm gặp lại các tiên nương . Chỉ thấy rêu xanh và đá trắng đều hóa thành tro bụi cả rồi. Trong động sâu đã vắng vẻ không còn tiếng sanh ca như ngày nào, hàng xóm cũng vắng tanh tiêu điều như mây hạc bay xa. Cỏ cây hoa lá không còn vẻ hương sắc của ngày xưa, yên hà mây khói cũng không còn nhuốm sắc tươi như mùa Xuân cũ. Hoa đào nước cuốn cũng vẫn còn đó như trước kia, chỉ có người chuốc rượu đưa tiễn năm xưa thì không còn tìm đâu thấy nữa!

* Diễn Nôm:
Trở Lại Thiên Thai


Quay trở lại Thiên Thai chốn cũ,
Đá rêu xanh đã phủ bụi trần,
Sanh ca vắng vẻ động xuân,
Tiêu điều mây hạc xóm gần làng xa.
Cỏ cây cũng nhạt nhòa hương sắc,
Yên hà như cũng nhắc xuân thừa,
Hoa đào nước cuốn như xưa,
Đâu người chuốc rượu tiễn đưa dạo nào !?

Đỗ Chiêu Đức diễn Nôm

Thế ngoại Đào Nguyên rất đẹp, Thiên Thai cũng rất đẹp, Đời sống ở Thiên Thai cũng rất đẹp, Thiên Thai Tiên nữ thì khỏi phải nói, đẹp tuyệt trần ! Nhưng tất cả đều chỉ là ảo tưởng , là khát vọng của người đời sống trong xã hội đầy rẫy nhiễu nhương hắc ám, bất công , bạo lực, chiến tranh, chết chóc... Vẽ nên cuộc sống của Thiên Thai và Đào Nguyên đó chỉ là khát vọng của người đời mơ ước đến một cuộc sống tốt đẹp, một tình yêu hạnh phúc, một xã hội yên bình, một đất trời lý tưởng. Nhưng, lại nhưng, khi đã có được cuộc sống ao ước trong tay rồi thì con người cũng dễ đâm ra nhàm chán, như hai chàng Lưu Nguyễn luôn có người đẹp như...tiên bên cạnh mà vẫn cứ nằng nặc đòi về; Rồi khi về xong thì lại không tìm được đường để trở lại ! Thế mới biết, con người ta hay "Đứng Thiên Thai nầy trông... Đào Nguyên nọ" mà không bao giờ chịu "Chấp nhận hiện tại là Hạnh Phúc cả !"

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức
 ***
Theo sách "Đường Thi Cổ Xúy" của Hách Thiên Đình. Năm bài Thiên Thai này là của Tống Ung. Do đó chưa thể khẳng định bài 5 bài thơ này là của Tào Đường.(theo quyển Đường Thi của Ngô Tất Tố)
Trước đây khi đọc năm bài thơ Thiên Thai, Quên Đi có viết bài thơ cảm khái: 

Cảm Tác Thiên Thai

Lá đào vẫn đó nẻo còn đây
Róc rách nhẹ đưa suối lượn dài
Thấp thoáng non mơ phơi ánh nguyệt
Mịt mờ lối mộng đến thiên thai
Nửa năm tiên cảnh xa vời vợi
Một bước dương trần đã đổi thay
Lưu Nguyễn ngàn năm mơ cánh hạc
Duyên tình tiên tục chẳng chờ ai.

Quên Đi
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét