Thứ Hai, 16 tháng 6, 2025

Đề Trương Tư Mã Biệt Thự 題張司馬別墅 - Lý Tần (Vãn Đường)


Lý Tần 李頻 (818-876) tự Đức Tân 德新, người Thọ Xương 壽昌, Mục Châu 睦州, nay là trấn Lý Gia 李家, Kiến Đức 建德, tỉnh Chiết Giang, đỗ tiến sĩ năm 854, nhậm huyện lệnh huyện Vũ Công 武功 (nay thuộc thành phố Hàm Dương 咸陽, tỉnh Thiểm Tây), tính tình ngay thẳng, làm việc giỏi, được thăng Thị ngự sử 侍禦史, Đô quan viên ngoại lang 都官員外郎.

Năm 874 niên hiệu Can Phù 乾符, Lý Tần dâng biểu tự tiến cử xin nhậm chức Thứ sử Kiến Châu 建州刺史 (nay là Kiến Âu 建甌, Phúc Kiến) là vùng đất loạn vì ảnh hưởng của Hoàng Sào đang hoạt động mạnh tại Cù Châu 衢州, Chiết Giang. Ông bình định được Kiến Châu, giữ vững an ninh, phát triển kinh tế, được dân chúng thương mến quý trọng. Năm 876, ông chết tại nhiệm sở, được dân làm lễ tống táng rất lớn. Sau đó con cháu dời mộ định đem về cải táng tại quê nhà nhưng không được vì chiến loạn, phải chôn dọc đường.

Nguyên tác          Dịch âm

題張司馬別墅     Đề Trương Tư Mã Biệt Thự

庭前樹盡手中栽 Đình tiền thụ tận thủ trung tài,
先後花分幾番開 Tiên hậu hoa phân kỷ phiên khai.
巢鳥戀雛驚不起 Sào điểu luyến sồ kinh bất khởi,
野人思酒去還來 Dã nhân tư tửu khứ hoàn lai.
自拋官與青山近 Tự phao quan dữ thanh sơn cận,
誰訝身爲白髮催 Thuỳ nhạ thân vi bạch phát thôi.
門外尋常行樂處 Môn ngoại tầm thường hành lạc xứ,
重重履跡在莓苔 Trùng trùng lý tích tại môi đài.

Chú thích
栽 tài: trồng cây.
巢鳥戀雛 Sào điểu luyến sồ: chim trong tổ thương con mới nở.
起 khởi: bắt đầu, đứng dậy; trong bài này có nghĩa bỏ con rời khỏi tổ.
野人 dã nhân: người hoang dã, chỉ người dân quê chất phác.
拋 phao: vứt bỏ
自拋官與 tự phao quan dữ: Tự bỏ chức quan để…
尋常 tầm thường: chỉ người tầm thường, người không liên hệ (người dưng).
重重 trùng trùng: lớp lớp.
莓苔 môi đài: rêu.

Dịch nghĩa:
Vịnh nhà riêng quan tư mã họ Trương

Tất cả các cây đằng trước nhà đều do tay cụ trồng,
Hoa đằng trước và đằng sau nhà đã nở nhiều lần.
(Cụ thương dân như) Chim trên tổ thương con mới nở (không dám rời tổ, sợ con gặp nguy hiểm),
Dân quê muốn uống rượu nên cứ lui tới nhà cụ hoài (cụ rất hào phóng).
Mới ngày nào bỏ quan về ở gần ngọn núi xanh này,
Ai ngờ nay đầu tóc đã bạc trắng rồi.
Ngoài cửa người dưng tìm tới cầu vui,
Dấu dày còn để lại trên từng lớp trên rêu xanh.

Dịch thơ:
Vịnh nhà riêng quan tư mã họ Trương

Quanh nhà cổ thụ cụ trồng thôi,
Hoa trước hoa sau nở nhiều rồi.
Chim mẹ luyến con không bỏ tổ,
Dân quê thèm rượu tới lui hoài.
Mới ngày nào bỏ quan về núi,
Ai ngờ nay đầu bạc tợ vôi.
Ngoài cửa người dưng tìm lạc thú,
Trên rêu vẫn thấy dấu chân người./.

Lời bàn

Bài thất ngôn bát cú thể phú, tả ông quan (họ Trương) về núi hưu trí, sống quãng đời an nhiên tự tai, hòa đồng với thiên nhiên. ÔC muốn dùng bài thơ này để nói về nét hồn nhiên (rất hiếm hoi) của thể thơ thất ngôn bát cú.

Cái đặc sắc của bài thơ là dùng một thể thơ gò bó, khắc khổ (thất ngôn bát cú) để diễn đạt một lối sống đơn sơ, thoải mái, hồn nhiên. Hãy xét từng câu:

Câu 1 & 2:
Quanh nhà cổ thụ cụ trồng thôi,
Hoa trước hoa sau nở nhiều rồi.
Tất cả cây cối ở trước nhà đều do chính tay cụ trồng (chứ không thuê người trồng), chi tiết này cho thấy cụ rất yêu thiên nhiên.
Câu 3 & 4:
Chim mẹ luyến con không bỏ tổ,
Dân quê thèm rượu tới lui hoài.
Cụ rất thân thiết với những người dân quê chất phác và cả chim muông nữa. Chi tiết này nói thêm rằng, ngoài thiên nhiên, cụ còn yêu dân làng và thú vật nữa.

Câu 5 & 6:
Mới ngày nào bỏ quan về núi,
Ai ngờ nay đầu bạc tợ vôi.
Lúc tác giả làm bài này thì cụ đã về hưu nhiều năm rồi (mới ngày nào tóc còn xanh mà bây giờ đã bạc trắng); chứng tỏ rằng từ lâu nay cụ vẫn ôn nhu như vậy.

Câu 7 & 8:
Ngoài cửa người dưng tìm lạc thú,
Trên rêu vẫn thấy dấu chân người./.
Tả cái nết xuề xoà và hiếu khách của cụ: dấu giầy của những người dưng còn in trên lớp rêu xanh. Những người dưng thường tụ tập ở trước nhà cụ bởi vì cụ muốn họ tới để chia vui.
Đọc bài thơ, độc giả chỉ thấy cái hồn nhiên của ông quan hưu trí, thay vì cái niêm luật khô khan, gò bó của thất ngôn bát cú. Tuyệt vời!

Con Cò 
*** 

Nhà Của Trương Tư Mã.

Tay trồng cây cối ở ngoài sân,
Sau trước nhà hoa nở mấy lần.
Chim ổ thương con bay cũng sợ,
Người làng nhớ rượu tới làm thân.
Ngày nao về ẩn non xanh thẳm,
Nay đã tàn suy tóc trắng ngần.
Ngoài cửa người ta tìm lạc thú,
Trên rêu lớp lớp dấu bàn chân.

Mỹ Ngọc phỏng dịch.
Dec. 14/2024.
***
Vịnh biệt thự của Trương tư mã.
Tự trồng cổ thụ khắp nơi sân
Hoa trước hoa sau nở lắm lần
Chim mẹ chăm con thưa vắng tổ
Dân quê thèm rượu đến làm thân
Từ quan về trú non xanh thẳm
Đầu tóc giờ đây bạc trắng ngần
Ngoài cửa thường dân tìm lạc thú
Dấu giầy lớp lớp dẫm rêu hằn


Lộc Bắc
***
 "Đề Trương tư mã biệt thự” của Lý Tần.

Nhà riêng của quan tư mã họ Trương
Chính tay trồng xới cây quanh nhà
Hoa nở nhiều năm sắc mượt mà
Xây tổ chim con, chăm sóc kỹ
Dân quê lui tới rượu hoan ca
Từ quan ngày trẻ về non thẳm
Năm tháng trôi qua tóc bạc ngà
Ngoài cửa người dưng chờ tán gẫu
Dấu giày in nét lớp rêu xa

Thanh Vân
***
Nguyên tác: Phiên âm:

題張司馬別墅- 李頻 Đề Trương Tư Mã Biệt Thự - Lý Tần

庭前樹盡手中栽 Đình tiền thụ tận thủ trung tài
先後花分幾番開 Tiên hậu hoa phân kỷ phiên khai
巢鳥戀雛驚不起 Sào điểu luyến sồ kinh bất khởi
野人思酒去還來 Dã nhân tư tửu khứ hoàn lai
自拋官與青山近 Tự phao quan dữ thanh sơn cận
誰訝身爲白髮催 Thùy nhạ thân vi bạch phát thôi
門外尋常行樂處 Môn ngoại tầm thường hành lạc xứ
重重履跡在莓苔 Trùng trùng lý tích tại môi đài

Dị bản:

Nguyên tác được chép từ sách của Lý Tần Lê Nhạc Tập 黎嶽集-唐-李頻. Chính Lý Tần cho dị bản trong câu 6 với chữ liệu料=đoán thay vì nhạ訝=ngờ, và chữ nhật日=ngày thay vì phát髮=tóc. Câu 6 trở thành: Thùy liệu thân vi bạch nhật thôi 誰料身爲白日催 Ai có thể đoán rằng anh ấy sẽ nhắc đến ban ngày?
Chữ liệu料=đoán và nhạ訝=ngờ không khác nghĩa nhiều nên không đổi nghĩa câu thơ. Nhưng hai chữ bạch nhật白日=ban ngày và bạch phát白髮=tóc bạc hoàn toàn khác nghĩa nhau. Tôi không hiểu và chưa thấy nơi nào giải thích vì sao Lý Tần lại thêm dị bản này và dịch chính xác nghĩa câu thơ với dị bản. Bài thơ này còn có đăng trong sách:
Đường Bách Gia Thi Tuyển – Tống – Vương An Thạch 唐百家詩選-宋-王安石
Ngự Định Toàn Đường Thi – Thanh – Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁


Ghi chú:

Trương Tư Mã: không rõ tên, Tư Mã Kiếm Châu đời Đường Túc Tông Can Nguyên (năm 758-760)
Biệt thự: khu nhà ở một nơi xinh đẹp, ngoài nhà chính, còn có vườn hoa, cây cối
Hoa phân: hoa được chia thành màu
Kỷ phiên: vài lần, nhiều lần
Sào điểu luyến sồ: chim làm tổ thương con mới nở
Dã nhân: những kẻ man rợ không văn minh, những người thô lỗ, ở đây chỉ thường dân sinh sống trong thôn làng
Tự phao quan dữ: tự bỏ chức quan
Thanh sơn: núi hoặc núi màu ngọc lam
Bạch phát: tóc bạc trắng, ẩn dụ cho người cao tuổi

Dịch nghĩa:

Đề Trương Tư Mã Biệt Thự Biệt Thự Của Quan Họ Trương

Đình tiền thụ tận thủ trung tài
Tất cả các cây phía trước nhà đều do tự tay ông trồng,
Tiên hậu hoa phân kỷ phiên khai
Hoa phía trước và phía sau nhà đã nở nhiều lần.
Sào điểu luyến sồ kinh bất khởi
Chim làm tổ thương chim con dù kinh động cũng không bay đi,
Dã nhân tư tửu khứ hoàn lai
Dân quê thích rượu nên cứ lui tới hoài.
Tự phao quan dữ thanh sơn cận
Kể từ khi từ bỏ quan chức về gần gũi với núi xanh hơn,
Thùy nhạ thân vi bạch phát thôi
Ai có ngờ rằng nay tóc đã bạc trắng rồi.
Môn ngoại tầm thường hành lạc xứ
Ngoài cửa nơi người thường tìm tới cầu vui.
Trùng trùng lý tích tại môi đài
Còn để lại lớp lớp dấu chân trên thảm rêu xanh.

Phân tích:

Bài thơ là một bài Đường luật thất ngôn bát cú, luật bằng, vần bằng, gần như tuyệt hảo về niêm, vận, tiết tấu và bố cục.
Phần đối xứng rất chỉnh về thanh, từ và ý, đáng được lưu ý mà các bản dịch thơ thường hay bỏ qua vì mức độ khó khăn.

Câu 3: Sào điểu luyến sồ kinh bất khởi đối với:
Câu 4: Dã nhân tư tửu khứ hoàn lai
Câu 5: Tự phao quan dữ thanh sơn cận đối với:
Câu 6: Thùy nhạ thân vi bạch phát thôi

Dịch thơ:

Biệt Thự Của Quan Họ Trương

Tự tay trồng lấy cây trong sân,
Sau trước vườn hoa nở mấy lần.
Chim mẹ thương con không bỏ sợ,
Dân quê thích rượu đến làm thân.
Từ quan bỏ chức về non thẳm,
Đâu nghĩ đầu xanh cứ bạc dần.
Ngoài cửa người thường tìm lạc thú,
Thảm rêu lớp lớp dấu bàn chân.

Tay giồng cây ở trước sân
Trước sau hoa nở mấy lần tươi xinh
Mến con chim ổ nép mình
Người quê nhớ rượu dập dình đến luôn
Từ khi treo ấn về non
Ai dè tóc bạc thúc dồn tấm thân
Cửa ngoài vui thú tần mần
Dấu giày lớp lớp còn hằn trên rêu

Bản dịch của Trần Trọng Kim

Zhang Officer’s Villa by Li Pin

The trees in front of the garden were planted by his hands, and the flowers from the front to the back bloomed many times.
The nesting birds loving its chicks do not leave although frightened, and the villagers liking wine keep on coming back.
Since leaving the official position to live in the green mountains, no one is surprised that he got lots of gray hair.
Outside the door, where ordinary people seek entertainment, leaving heavy footprints on the moss carpet.

Phí Minh Tâm
***
Đề Trương Tư Mã Biệt Thự Của Lý Tần.

Bài của ÔC kỳ này thật hay, giải thích đâu ra đó, rất hợp lý, BS không có gì để đá giò lái được.
Trái lại, Thi Viện giải thích câu 3: Sào điểu luyến sồ kinh bất khởi là “chim trên tổ bình thản săn sóc chim mới nở” thì BS không đồng ý. Có gì là bình thản đâu.

- Sồ là chim mới nở. Phượng Sồ là hiệu của Bàng Thống thời Tam quốc.
- Tận là hết, chết, tất cả.
- Phân là chia ra, tách ra, chia lìa, phút, số lượng. Cũng đọc Phận, là danh phận, nhân duyên.
- Phiên là lần lượt, thay phiên. Tiếng người Tầu gọi các dân tộc ở ngoài nước họ, như Lý Bạch đã từng viết Đáp Phiên Thư theo lệnh vua. Cũng đọc là Ba, dáng dũng mãnh, hoặc Bà, đầu bạc trắng.
- Kinh là sợ.
- Khởi là đứng dậy, trỗi dậy, xây nhà, mở đầu, cao lên, ở đây có nghĩa là bay đi, bỏ đi.
- Dã là hoang, phóng túng. Dã trư là heo rừng. Dã nhân là dân quê.
- Phao là ném. Tiện đây BS xin kể chuyện về thành ngữ Phao Chuyên Dẫn Ngọc để ACE đọc chơi. (Ném hòn gạch để dẫn viên ngọc): Đời Đường, Triệu Hỗ là thi sĩ nổi tiếng, làm thơ rất hay, khiến Đỗ Mục cũng cảm phục, nhất là 2 câu trong bài Trường An Thu Vọng:

Tàn tinh kỷ điểm nhạn hoành tái,
Trường địch nhất thanh nhân ỷ lâu.
(Vài điểm sao tàn, nhạn qua ải,
Một tiếng tiêu ngân, người tựa lầu)

Đỗ hay ngâm nga câu sau, và người ta gọi Triệu Hỗ là Triệu Ỷ Lâu!

Một người nữa cũng cảm phục Triệu Hỗ là Thường Kiến.
Thường biết Triệu sắp thăm đất Ngô, và thế nào cũng tới thăm chùa Linh Nham nên Thường đến trước, đề 2 câu thơ trên vách.
Quả nhiên, khi Triệu tới thăm chùa, thấy 2 câu thơ, liền viết thêm 2 câu cho thành bài tứ tuyệt.

Thơ của Thường Kiến không hay bằng Triệu Hỗ, đem 2 câu dở mà moi được 2 câu hay, chính là chủ tâm của Thường. Người thời đó nói rằng Thường đã ném viên gạch để dẫn được viên ngọc.

Tiếc rằng họ không ghi 4 câu thơ đó cho mình đọc.

Tự phao quan dữ thanh sơn cận là bỏ chức quan, và sống gần núi xanh.

- Nhạ là đón mừng, kinh ngạc, lấy làm lạ.
- Vi nhiều nghĩa lắm, rất khó giải thích, là vì, làm, giả vờ, sửa sang, khiến, có, mà, nếu như.
- Thuỳ là cái gì, ai...chữ đầu câu thường không cần dịch.
- Lý là giầy, đạp lên, có lộc, đất đai, họ người ta... luôn tiện, BS nhắc tới câu

“Qua điền bất nạp lý, lý hạ bất chỉnh quan”: không sửa giầy ở vườn dưa, dưới cây mận đừng sửa mũ, là những hành động gây nghi ngờ..

- Môi là rêu.
- Đài cũng là rêu. Tại sao lại dùng 2 chữ?

Vịnh Nhà Riêng Của Quan Tư Mã Họ Trương.

Đầy sân cây cối chính tay trồng,
Trước sau đã nở mấy lần bông,
Chim chóc luyến con không rời tổ,
Dân quê mê rượu thích tìm ông,
Bỏ quan cùng núi xanh thân cận,
Kinh ngạc vì sao tóc tựa bông,
Ngoài cửa người ta tìm lạc thú,
Trên rêu chằng chịt vết giầy không.

Bát Sách.
(Ngày 17/12/2024)
***
Góp Ý:

Có một nhân vât tên Trương Tư Mã từ trước thời Đường. Trương Thuyết, (張說) tể tướng đời Đường Huyền Tông viết bài 洛州張司馬集序 nói về một tư mã ở Trung San (中山) Lạc Châu (洛州, Hà Nam bây giờ) họ Trương tên Hy Nguyên (洛州司馬張公,名希元,中山人也) nhưng hình như ông ta là một huyền thoại vì Trương Thuyết cũng viết rằng các nhà nho xem ông ta là thánh đồng (聖童), vua Hán vấn kế xem như là thầy của vua và người Sở cũng nghe tiếng (漢王問策,知帝者之師;楚子聞名,實諸侯之選 Hán vương vấn sách, tri đế giả chi sư; Sở tử văn danh, thật chư hầu chi tuyển.)

Lý Bạch có bài thơ 酬张司马赠墨 Thù Trương tư mã tặng mặc nhưng tôi không biết người này là ai.

Trang 张司马,历史典故 này cho ta biết rằng Trương tư mã là một điển cố để chi người trung thực, xuất phát từ lời của Vũ Nguyên Hành (武元衡) tể tướng thời Đường

“唯有白须张司马,不言名利尚相从 duy hữu bạch tu Trương tư mã, bất ngôn danh lợi thượng tương tòng”
và nói có một đại phu tên Trương Mạnh (张孟) thời Tấn được Tấn Diệu Công (晋悼公) mời làm quan nhưng họ Trương từ chối bảo rằng ông ta không giỏi bằng Ngụy Giáng (魏絳); từ chối năm lần rồi nhận chức tư mã.

*Môi là rêu.
*Đài cũng là rêu. Tại sao lại dùng 2 chữ ?

Vì có quá nhiều từ đồng âm, người Tàu có khuynh hướng tạo từ kép để người đọc/nghe không hiểu lầm. 苔=đài là tên chung cho các loài thực vật (苔藓=đài tiển) có phôi nhưng không có mạch, kể cả rêu, rong, địa y. 莓=môi có 2 nghĩa: i) trái mọng nước (berry, như dâu, mận, mâm xôi, sim, v.v...); và ii) rêu.

莓 苔 =môi đài là tên cho rêu trên đá, gỗ, v.v...

Huỳnh Kim Giám
 



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét