Chủ Nhật, 30 tháng 3, 2025

Ngụ Cư Định Tuệ Viện Chi Dông Tạp Hoa Mãn Sơn Hữu Hải Đường 寓居定慧院之東雜花滿山有海棠 - Tô Thức (Chúc Mừng Sinh Nhật 91 Ông Cò)



(Chúc Mừng Sinh Nhật 91 Ông Cò)
 
寓居定慧院之東雜花滿山有海棠 Ngụ Cư Định Tuệ Viện Chi Dông Tạp Hoa Mãn Sơn Hữu Hải Đường  (
Bắc Tống, Liêu )

Tô Thức và em là Tô Triệt là con của Tô Tuân (người đương thời gọi lả Tam Tô: Tô Tuân là văn hào viết văn suôi thời Tống, rất giỏi nuôi con thành tài; Tô Thức và em là Tô Triệt đều là đại thi hào thời Tống)

Tô Thức 蘇軾 (1037-1101) tự Tử Chiêm 子瞻, Hoà Trọng 和仲, hiệu Đông Pha cư sĩ 東坡居士, người đời thường gọi là Tô Đông Pha 蘇東坡, thuỵ Văn Trung 文忠, người My Sơn (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Ông từng làm quan Thông phán, Thái thú.

Thái độ của ông rất hào sảng, lạc quan; tuy ông làm quan thăng giáng nhiều lần, song ông không để ý, vẫn ưu du tự tại, đọc sách làm vui, ông là người giàu tình cảm, cho nên phản ánh tới thơ và từ của ông, vừa hào phóng lại vừa tình tứ. Ông có tài nhất trong số bát đại gia của Trung Hoa từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII, gồm có Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên (thời Đường); Âu Dương Tu, Tô Tuân, Tô Thức, Tô Triệt, Vương An Thạch và Tăng Củng (thời Tống).



Nguyên tác                                         Dịch âm

寓居定慧院之東雜花滿山有海棠 Ngụ cư Định Tuệ viện chi đông tạp hoa mãn sơn hữu hải đường

江城地瘴蕃草木 Giang Thành địa chướng phiền thảo mộc,
只有名花苦幽獨 Chỉ hữu danh hoa khổ u độc.
嫣然一笑竹籬間 Yên nhiên nhất tiếu trúc ly gian,
桃李滿山總粗俗 Đào lý mãn sơn tổng thô tục.
也知造物有深意 Dã tri tạo vật hữu thâm ý,
故遣佳人在空穀 Cố khiển giai nhân tại không cốc.
自然富貴出天姿 Tự nhiên phú quý xuất thiên tư,
不待金盤薦華屋 Bất đãi kim bàn tiến hoa ốc.
朱唇得酒暈生臉 Châu thần đắc tửu vựng sinh kiểm,
翠袖卷紗紅映肉 Thuý tụ quyển sa hồng ánh nhục *
林深霧暗曉光遲 Lâm thâm vụ ám hiểu quang trì,
日暖風輕春睡足 Nhật noãn phong khinh xuân thuỵ túc.
雨中有淚亦凄愴 Vũ trung hữu lệ diệc thê sảng, **
月下無人更清淑 Nguyệt hạ vô nhân cánh thanh thục. ***
先生食飽無一事 Tiên sinh thực bão vô nhất sự,
散步逍遙自捫腹 Tán bộ tiêu dao tự môn phúc.
不問人家與僧捨 Bất vấn nhân gia dữ tăng xá,
拄杖敲門看修竹 Trụ trượng xao môn khán tu trúc.
忽逢絕艷照衰朽 Hốt phùng tuyệt diễm chiếu suy hủ,
嘆息無言揩病目 Thán tức vô ngôn khai bệnh mục.
陋邦何處得此花 Lậu bang hà xứ đắc thử hoa,
無乃好事移西蜀 Vô nãi hảo sự di Tây Thục.
寸根千里不易到 Thốn căn thiên lý bất dị đáo,
銜子飛來定鴻鵠 Hàm tử phi lai định hồng hộc.
天涯流落俱可念 Thiên nhai lưu lạc câu khả niệm,
為飲一樽歌此曲 Vị ẩm nhất tôn ca thử khúc.
明朝酒醒還獨來 Minh triêu tửu tỉnh hoàn độc lai,
雪落紛紛哪忍觸 Tuyết lạc phân phân na nhẫn xúc. ****.

Chú giải

蕃 phiền, phồn: sinh sôi, nảy nở, um tùm.
嫣然 yên nhiên: nhởn nhơ.
故 cố: một nghĩa là cố ý.
故遣佳人在空穀 Cố khiển giai nhân tại không cốc. Cố tình khiến giai nhân lạc vào cốc hư ảo này. ÔC sẽ dịch là: Lạc vào hang sâu một giai nhân.
日暖 nhật noãn: ngày ấm áp; ỐC sẽ dịch là trời ấm áp.
無人 vô nhân: không người, ÔC sẽ dịch là vắng người.
更 canh, cánh: thêm, càng.
清淑 thanh thục: thanh nhã, yểu điệu, cao sang.
更清淑 cánh thanh thục: càng diễm lệ.
先生 tiên sinh: chỉ tác giả.
無一事 vô nhất sự: không một sự; ÔC sẽ dịch là rảnh rỗi.
捫 môn: vỗ, sờ.
腹 phúc: bụng.
捫腹 môn phúc: vỗ bụng
衰 suy: suy kém, trái lại với chữ thịnh.
朽 hủ: (gỗ) mục.
忽逢絕艷照衰朽 Hốt phùng tuyệt diễm chiếu suy hủ: bỗng gặp vẻ kiều diễm óng ánh trên gỗ mục (ý nói: Bỗng thấy một vẻ kiều diễm bừng lên giữa hàng giậu đổ nát). ÔC sẽ dịch là: Bỗng thấy diễm kiều giữa nát mục,
陋邦 lậu bang: (đất) xấu xí.
陋邦何處得此花 Lậu bang hà xứ đắc thử hoa: ở đất xấu xí này sao lại có được thứ hoa kia? ỐC sẽ dịch sẽ là: Đất quê sao lại có hoa này,
寸 thốn: tấc (đơn vị đo chiều dài).
根 căn: rễ cây.
易 dị: dễ dàng.
到 đáo: đến, tới.
寸根千里不易到 Thốn căn thiên lý bất dị đáo: ngàn dặm không dễ dàng đem rễ cây tới đây. ÔC sẽ dịch là: Ngàn dặm dễ gì bứng rễ cây?
朱唇得酒暈生臉 Châu thần đắc tửu vựng sinh kiểm, (Nụ hoa thắm tươi như say men rượu ửng hồng đôi má). ÔC sẽ dịch là: Nụ hoa ửng hồng như say rượu,
翠袖卷紗紅映肉 Thuý tụ quyển sa hồng ánh nhục. (Tàn lá như cánh tay áo lụa xanh vén lên để lộ thịt da màu hồng).
ÔC sẽ dịch là: Vén áo “lá-xanh” khoe thịt hông *.
雨中有淚亦凄愴 Vũ trung hữu lệ diệc thê sảng, (Trong mưa những giọt lệ trên hoa như vương sầu muộn), ÔC sẽ dịch là: Trong mưa sầu long lanh giọt lệ.**
月下無人更清淑 Nguyệt hạ vô nhân canh thanh thục. (Dưới trăng, lúc vắng người, trông lại càng yểu điệu cao sang). ÔC sẽ dịch là: Dưới trăng suông kiều diễm cao sang.***
雪落紛紛哪忍觸 Tuyết lạc phân phân na nhẫn xúc. (Thấy tuyết rơi bời bời trên hoa tươi, muốn phủi tuyết đi, nhưng không nỡ đụng đến hoa, sợ hoa rụng). ÔC sẽ dịch sẽ: Tuyết bời bời không dám mó tay.

Dịch nghĩa

Trọ ở viện Định Tuệ, phía đông hoa đủ loại đầy núi, trong đó có hải đường

Đất thành Giang nhiều chướng khí nên có nhiều cây cỏ hoang dại,
Riêng hoa hải đường, nổi tiếng, mọc cô đơn và buồn tẻ ở đó.
(Nhưng) khi nó nhởn nhơ hé cười nơi hàng giậu,
Thì tất cả đào, lý khắp một vùng núi này đều trở thành thô tục.
Thế mới biết tạo vật có ý thâm,
Nên khiến cho loài hoa quý đó giống như gái đẹp lánh mình nơi hang hốc vắng vẻ.
Cốt cách cao sang vốn tự nhiên do trời cho,
Không phải được đặt trên mâm vàng dâng vào nhà sang mới quý.
Nụ hoa tươi như say men rượu ửng lên đôi má,
Tàn lá như cánh tay áo lụa xanh vén lên để lộ thịt da màu hồng của nụ hoa.*
Sương mù đây đặc phủ cả khu rừng nên nắng mai tới trễ,
Trời ấm, gió nhẹ, nên giấc ngủ mùa xuân rất ngon.
Trong cơn mưa những giọt nước đọng long lanh (trên hoa) trông như vương sầu muộn,**
Dưới ánh trăng, lúc vắng người, trông (hoa) lại càng yểu điệu cao sang.***
Tiên sinh (chỉ Tô Thức) ăn một bữa no nê, không bận việc,
Bèn thả bước tiêu dao, tay vỗ vào bụng của mình.
Không cần hỏi đó là nhà của người tục hay của sư tăng,
Chống gậy đến gõ cửa (xin) xem hàng giậu trúc.
Bỗng thấy một vẻ tuyệt diễm bừng lên giữa hàng giậu đổ nát,
Ông bỡ ngỡ, không nói một lời, nhướng con mắt già nua lên, than rằng:
Đất quê sao lại có thứ hoa này?
Há không phải do người hiếu sự mang nó từ đất Tây Thục đến hay sao?
Nhưng rễ của nó không dễ gì mang đi xa xôi như vậy nổi,
Có lẽ chim hồng hay chim hộc ngậm hạt của nó mang đến đây.
Cũng đáng ngậm ngùi cho nó lưu lạc tận ven trời xa xôi này,
Nên vì nó mà (ta) uống một chén và ca một khúc.
Sáng mai, tỉnh rượu, lại đến đây một mình,
Thấy tuyết rơi tơi bời (trên hoa tươi; muốn phủi tuyết đi, nhưng) không nỡ đụng đến hoa (sợ hoa rụng).

(Hoàng Châu, năm Nguyên Phong thứ 3 (1080) đời Tống Thần Tông)

Dịch thơ

Trọ ở viện Định Tuệ, phía đông hoa đủ loại đầy núi, trong đó có hải đường


Thành Giang chướng khí cây hoang mọc,
Riêng hải đường buồn thương cô độc.
Trong hàng giậu khi hoa mỉm cười,
Đào lý khắp vùng thành thô tục.
Mới hay tạo vật có ý thâm:
Lạc vào hang sâu một giai nhân.
Cốt cách hồn nhiên rất cao sang,
Dù không được dâng trên mâm vàng.
Nụ hoa ửng hồng như say rượu,
Vén áo lá-xanh khoe thịt hông. *
Khi sương dầy nắng mai tới trễ,
Ngủ say trong trời ấm xuân nồng.
Trong mưa sầu long lanh giọt lệ. **
Dưới trăng suông kiều diễm cao sang. ***
Tiên sinh nhân no nê rảnh rỗi,
Vỗ bụng tiêu dao dạo bước nhàn.
Không biết nhà thuộc tăng hay tục,
Chống gậy gõ cửa nhìn giậu trúc.
Bỗng thấy diễm kiều giữa nát mục,
Nhướng mắt già nua chợt cảm xúc:
“Đất quê sao lại có hoa này,
Chẳng nhẽ ai mang từ Tây Thục?
Ngàn dặm dễ gì bứng rễ cây,
Hay chim hồng nhả hột xuống đây?
Cảm thương lưu lạc từ chân mây,
Lão uống một ly ca một khúc”.
Mai tỉnh rượu quay lại nơi này,
Tuyết bời bời không dám mó tay.


Lời bàn của Con Cò

Trước tiên hãy nghe một đoạn lời bàn rất thâm sâu trích trong Thi Viện:

“Khi cư ngụ tại chùa Định Tuệ, phía đông chùa có hoa tạp đầy núi, giữa đó chen một cây hải đường. Thổ nhân không biết là quý. Nhân đó, làm bài thơ vịnh hải đường. Thơ ngụ ẩn tình, cốt cách trang nhã của hải đường gây nên nơi ông một cảm hứng tuyệt diệu. Lối thơ này, thường dễ trở thành một đề tài sáo, giả tạo và khoa trương.

Kiểu cách của nó là sao cho đạt đến mức nói riêng vật mà tình ẩn, nói riêng tình mà vật hiện. Nhưng còn phải đợi bàn tay tài hoa phổ vào mới thành tuyệt diệu. Vật trở thành cao quý trong tình ẩn, và người cũng trở thành tao nhã nơi vật hiện. Cái đó là do phong tư tú lệ của tao nhân, tay phàm tục khó mà vươn tới mức. Nó hệ ở chỗ tương ứng của thanh khí lẽ hằng. Cho nên, tiết nhịp của bài thơ không cần sôi nổi lãng mạn mà nguồn cảm hứng rung động sâu xa như là bất tận. Chỗ đó, Kỷ Hiểu Lam phê rằng: “Hoàn toàn nói về hải đường, nhưng tự ngụ ý phong tư tú lệ của mình. Bắt đầu hứng khởi thì thâm trầm vi nhiệm. Nửa chừng thì nở rộ tươi sáng. Lối thơ đó nếu không thực sự là Đông Pha thì không ai làm nổi. Đông Pha nếu không hứng khởi trong một lúc, vị tất đã làm nổi.” (Hết trích)

Sau đây Con Cò xin bàn thêm:

Không thể tưởng tượng được Tô Đông Pha mê hoa hải đường tới mức nào; ông đã từng thức suốt đêm ngồi dưới hải đường đề thơ, coi như nói chuyện với hoa (xin đọc thêm bài LTCD thế kỷ 21 số 977 trong Onedrive).
Bài thơ này tuy dài nhưng giản dị, tự nhiên, lại không có điển tích nên dịch không khó khăn lắm; lo xong phần chú giải là coi như dịch được quá nửa. Tuy nhiên, dịch được cái hồn của nó mới thực khó. Hồn của bài thơ nằm ở đâu? Càng tìm kiếm càng khó thấy vì nó lẩn trốn rất tài; Con Cò đành cứ dịch theo khuôn mẫu của mình: dịch sát nghĩa theo nguyên thể, nắn âm hưởng cho nhuần nhuyễn, tìm ngôn từ cho hồn nhiên, may ra hồn thơ sẽ hiện về…

ÔC chia bài thơ làm 3 đoạn theo ý thơ:

- Đoạn I:

8 câu mở đề trong đó có 2 câu nổi bật, coi hải đường như một giai nhân đi lạc vào khe núi:
Mới hay tạo vật có ý thâm:
Lạc vào hang sâu một “giai nhân”.

- Đoạn II:

6 câu kế tiếp, tả nét diễm lệ của hải đường:
2 câu 9 & 10 diễm lệ vô địch, ví nụ hải đường như một một người đẹp vén áo lên để lộ cái hông nõn nường!
Nụ hoa ửng hồng như say rượu,
Vén áo “lá-xanh” khoe thịt hông. *

Nét diễm lệ của 4 câu sau chỉ thua 2 câu đầu một tí:
Sương dầy khiến nắng mai tới trễ,
Ngủ say trong trời ấm xuân nồng.
Trong mưa sầu long lanh giọt lệ. **
Dưới trăng suông kiều diễm cao sang. **

- Đoạn III:

14 câu chót tả thái độ “vừa hào phóng vừa tình tứ” của họ Tô trước hải đường (một lão trượng chống gậy, ngẩn ngơ ngắm hải đường).

Tô Đông Pha, một mặt đồng hóa hải đường với giai nhân, mặt khác hòa hợp bản ngã với thiên nhiên. Biếm ông tới bất cứ nơi nào ông cũng tìm thấy vẻ đẹp riêng của nơi ấy để vui sống. Triều Đình không thể loại trừ được ông. Thần linh cũng không thể giết được ông. Bời vì sau khi ông chết, tư tưởng của ông vẫn trường cửu muôn đời sau.
 
Con Cò
***
Chúc mừng Sinh Nhật 91 ÔC

Hai chín, đầu xuân, cuối tháng ba,
Ngày Sinh 91 giữa mùa hoa.
Chúc Ông Cò thọ trên trăm tuổi,
Mạnh khỏe an khang hưởng lộc già.

Trọ Ở Viện Đinh Tuệ, Phía Đông Hoa Đủ Loại Đầy Núi, Trong Đó Có Hải Đường.

Giang thành đất xấu thui cây cỏ,
Nổi tiếng loài hoa mai ẩn đó.
Cười cợt nhởn nhơ giữa bụi rào,
Lý đào khắp núi thành thô bỏ.
Mới hay tạo hóa thích làm khó,
Người đẹp cố đưa vào góc xó.
Cốt cách cao sang có tại trời,
Đâu cần mâm quý dâng cao phố.
Nụ hoa tựa má người say đỏ
Áo lá vén da hồng để lộ.
Khí tụ rừng sâu trễ nắng mai,
Giấc xuân ấm áp trời êm gió,
Giọt mưa tựa lệ vấn vương sầu,
Đêm vắng dưới trăng càng điệu bộ.
Ngài dùng bữa thảnh thơi ngon bổ,
Vỗ bụng dong chơi đi tản bộ.
Chẳng hỏi nhà dân hoặc mái Tăng,
Ngắm rào chống gậy tới nơi gõ.
Tuyệt vời chợt thấy trong rào đổ,
Mắt mở to không lời bỡ ngỡ,
Đất xấu vì đâu có loại này,
Sao hoa Tây Thục về đây nở.
Dậm ngàn bứng gốc mang đi khó,
Ngậm hạt chim hồng bay đến bỏ.
Lưu lạc chân trời thật đáng thương.
Nên ca hát chuốc say vì nó.
Sớm mai tỉnh rượu đến một mình,
Lả tả tuyết rơi xua chẳng nỡ.


Mỹ Ngọc phỏng dịch.
July 19/2023

Góp ý của Bát Sách:

Góp Ý Cho Bài NGỤ CƯ ĐỊNH TUỆ VIỆN CHI ĐÔNG TẠP HOA MÃN SƠN HỮU HẢI ĐƯỜNG Của Tô Đông Pha.

Gần tới ngày sinh nhật của mình, ÔC đưa ra một bài vừa dài, vừa trúc trắc, nhiều chữ lạ, rất khó hiểu, và khó dịch. BS vốn lười, đọc tới đọc lui mà rơi nước mắt, tra tự điển lung tung, mãi mới hiểu được ý tác giả. Hiểu rồi mà dịch là cả một vấn đề, nếu giữ vần thì sẽ phải dùng chữ gượng, mà không nói được ý của nguyên bản…. Thôi thì BS dịch thoát, miễn sao nghe được thì thôi.

Các chữ khó:

* Phiền, phồn: nhiều; cây cỏ tốt tươi, xum xuê.
*Khổ: vị đắng; cây rau đắng; lo lắng; đau đớn, nhục nhã; rất, mãi; chuyên cần và mệt nhọc như khổ học, khổ công.
*U: nấp, ẩn ; nhỏ bé ; tối tăm như u cốc; cảnh đẹp như u nhã.
*Độc: một mình, cô độc; đặc biệt; sao vậy? há, sao.
*Yên: xinh đẹp, hòa hợp.
*Nhiên: đốt cháy; vâng chịu; như thế.
*Ly: hàng rào.
*Gian, cũng có âm Gián: chen lấn; chia lìa (ly gián); dò xét (gián điệp) ; hiềm khích, rối loạn.
*Cốc: chữ cuối của câu 6 : có lẽ Thi Viện viết sai? Chữ này có nghĩa là lúa, như ngũ cốc; tốt đẹp; lộc; nuôi dưỡng; mà không phải là cái hang như ý trong thơ.
*Thần: môi.
*Vựng: vòng sáng quanh mặt trời, mặt trăng hay ánh lửa; choáng váng, hoa mắt
*Kiểm: má, sắc mặt.
Câu “ châu thần đắc tửu vựng sinh kiểm “ vô cùng khó hiểu.
*Thuý: mầu xanh biếc.
*Tụ: ống tay áo.
*Quyển: viết theo Thi Viện có nghĩa là sách, bài thi. Chữ Quyển ở đây có nghĩa là cuộn lại, người ta viết thêm bộ thủ ở bên trái, như “ sàng trung tú bị quyển bất tẩm “ của Lý Bạch.
*Sa: lụa mỏng.
*Ánh: chiếu rọi ; sáng
*Nhục: thịt ; phần cơm ăn được của trái cây.
*Vụ: sương mù.
*Hiểu: sáng sớm.
*Noãn: ấm áp.
*Thuỵ: ngủ.
*Túc: chân; đầy đủ
*Thê: lạnh lẽo.
*Sảng:thương xót.
*Thục: đẹp, an lành, dùng để ca tụng vẻ đẹp của phụ nữ. Cánh thành thục là càng đẹp hơn.
*Tán, phải phiên âm là tản mới đúng: không tự kìm giũ được, rảnh rỗi. Tản bộ, như tiếng Việt, là đi chơi nhàn nhã.
*Môn: nắm, vỗ, sờ.
*Xả: buông bỏ.
*Tu: sửa sang, giữ gìn ; chỉnh trang cho ngay ngắn.
*Suy: sa sút, yếu kém.
*Hủ: nát, mục. Suy Hủ là hư nát
*Khai: lau, chùi.
*Lậu: nhỏ, hèn, xấu xí.
*Vô nãi: là, ấy là
*Hảo sự: việc tốt. Ở đây phải hiểu là hiếu sự, là thích gây chuyện phiền phức, lôi thôi.
*Di: dời chuyển, thay đổi.
*Định: xác định.
*Câu: đều, cùng.
*Niệm: nhớ nhung; luôn nghĩ tới.
*Xúc: chạm vào.

Ngụ Cư Định Tuệ Viện Chi Đông Tạp Hoa Mãn Sơn Hữu Hải Đường


Giang thành đất chướng, cỏ cây rậm,
Chỉ một danh hoa len vô nấp,
Xinh tươi hé nở cạnh hàng rào,
Đào mận đầy non thô tục lắm.
Mới biết tạo vật có thâm ý,
Khiến cho hoa đẹp ở trong hang,
Trời cho tự nhiên được phú quý,
Không chờ mâm vàng nhà mới sang.
Rượu vào, môi má đều ửng đỏ,
Vén lụa mầu xanh, thịt rõ ràng.
Rừng sâu, sương đặc, nắng chậm lên,
Ngày ấm, gió tà, giấc ngủ yên,
Trong mưa rớt lệ càng thương cảm,
Dưới nguyệt không người lại đẹp thêm.
Tiên sinh no quá không có việc,
Tản bộ dong chơi tự xoa bụng,
Chẳng hỏi nhà dân hoặc sư sãi,
Chống gậy gõ cửa ngắm hàng trúc.
Bỗng gặp hoa đẹp chiếu rào nát,
Than thở không lời, chùi mắt đục,
Đất hèn sao hoa quý tới đây?
Chắc người hiếu sự đem từ Thục.
Rễ ngắn, đường xa, chẳng dễ mang,
Hồng hộc nhả hột nên cây mọc.
Khá thương lưu lạc tới ven trời,
Nên uống một ly, ca một khúc,
Sáng sau tỉnh rượu lại tới đây,
Phơi phới tuyết rơi không nỡ đụng
.

Vì nể ÔC, vì muốn mừng sinh nhật của một đàn anh khả ái và khả kính nên đánh vật với sách vở mấy ngày mới nghiền ngẫm, tra cứu và dịch được bài thơ của Tô Đông Pha.

ÔC bàn luận rất tới, BS biết nói gì thêm. Chỉ hiểu đại khái là Tô ví mình với hoa Hải Đường, mọc ở chỗ xa xôi hẻo lánh mà vẫn giữ được nét đẹp quý phái của nó, cũng như Tô, bị đi đầy như hoa nơi thiên nhai mà vẫn giữ được tư cách, tinh thần… BS thật tình không biết hoa Hải Đường ra sao, Đạo Mò đã tìm ra nhiều loại, và cả bài thơ được trích trong truyện của Quỳnh Dao, tuy phục Đạo Mò, nhưng nếu có ai hỏi về Hải Đường thì BS vẫn không trả lời được.

Trong các ACE, có lẽ đại đa số chưa gặp ÔC. BS may mắn đã gặp anh năm 2018 ở quận Cam, còn được anh kéo về nhà Oanh, con gái, đãi cơm no, rượu say… Hôm đó 2 anh em nói chuyện đến 8, 9 tiếng và BS còn dụ được ÔC hút một điếu thuốc lá nữa. Những kỷ niệm đó vẫn ở mãi trong tâm của Bát Sách.

Chúc ÔC sinh nhật vui vẻ. Ở tuổi 91, sống một mình, xa con cháu mà chúc vui vẻ thì coi bộ khôi hài và giả dối, thôi thì BS chúc ÔC sẽ có nhiều sinh nhật nữa để bầu bạn với anh em.

Bát Sách.
(Ngày 24/03/2025.)
*** 
 Góp ý của Phí Minh Tâm:

蘇軾            Tô Thức Sū Shì

寓居定慧院之東雜花滿山有海棠

Ngụ Cư Định Tuệ Viện Chi Đông Tạp Hoa Mãn Sơn Hữu Hải Đường
Trọ Ở Viện Định Tuệ, Phía Đông Hoa Đủ Loại Đầy Núi, Trong Đó Có Hải Đường


Tô Thức yêu thích và như bị hoa hải đường ám ảnh. Ông dành cả 14 câu thơ đầu của bài thơ 28 câu để nhân cách hoá và miêu tả hải đường như một giai nhân tuyệt sắc cao sang. Nguyên bài thơ được ông chép trong Đông Pha Toàn Tập - Tống - Tô Thức 東坡全集-宋-蘇軾 và có mộc bản trong các sách khác đời Tống, Minh, Thanh:

Toàn Phương Bị Tổ Tập - Tống - Trần Cảnh Nghi 全芳備祖集-宋-陳景沂
Thuyết Phu - Minh - Đào Tông Nghi 說孚-明-陶宗儀
Ngự Tuyển Đường Tống Thi Thuần - Thanh - Cao Tông Hoằng Lịch 御選唐宋詩醇-清-高宗弘曆

Phần 1: Hoa Hải Đường


江城地瘴蕃草木 Giang Thành địa chướng phồn thảo mộc,
Giang Thành là đất đầy khí độc nên có nhiều cây cỏ hoang dại mọc,

Giang Thành cây cỏ dại hoang,
 
只有名花苦幽獨 Chỉ hữu danh hoa khổ u độc.
Lại có hải đường, một loại hoa danh tiếng mọc chen lẻ loi đơn độc.

Hải đường đơn độc quý sang hơn người.

嫣然一笑竹籬間 Yên nhiên nhất tiếu trúc ly gian,
Nhưng khi hoa nở nhởn nhơ hé nụ cười bên hàng giậu,
Khi hoa hé nở nụ cười,

桃李滿山總粗俗 Đào lý mãn sơn tổng thô tục.
Thì tất cả đào lý khắp núi đều trở nên tầm thường.

Tất cả đào lý, hỡi ơi, tầm thường.

也知造物有深意 Dã tri tạo vật hữu thâm ý,

Thế mới biết tạo hóa có thâm ý,
Mới hay con tạo nhiễu nhương,

故遣佳人在空穀 Cố khiển giai nhân tại không cốc.

Khiến cho loài hoa quý này giống như người đẹp sống nơi hang động vắng.
Khiến cho hoa quý chỉ nhường giai nhân.


自然富貴出天姿 Tự nhiên phú quý xuất thiên tư,

Cốt cách cao quý của hoa là do trời cho tự nhiên,
Đẹp sang cao quý tự thân,

不待金盤薦華屋 Bất đãi kim bàn tiến hoa ốc.

Không đợi được đặt lên mâm vàng dâng vào nhà sang mới thành quý.
Đâu chờ mâm ngọc đem dâng mới bày.

朱唇得酒暈生臉 Châu thần đắc tửu vựng sinh kiểm,

Nụ hoa hồng tươi như đôi má của thiếu nữ ửng say men rượu,
Nụ hoa má ửng men say,

翠袖卷紗紅映肉 Thúy tụ quyển sa hồng ánh nhục

Tàn lá xanh như tay áo lụa vén lên để lộ da thịt hồng.
Lá xanh áo lụa vén tay khoe hồng.


林深霧暗曉光遲 Lâm thâm vụ ám hiểu quang trì

Sương phủ mờ cả khu rừng sâu nên nắng mai lên trễ,
Rừng sâu sương phủ nắng không,

日暖風輕春睡足 Nhật noãn phong khinh xuân thụy túc
Ngày ấm áp, gió thoang thoảng, giấc ngủ mùa xuân thoải mái.

Ngày xuân nắng ấm giấc nồng vấn vương.

雨中有淚亦凄愴 Vũ trung hữu lệ diệc thê sảng
Khi mưa với những giọt nước đọng long lanh, hoa trông cũng thê lương,
 
Trong mưa đẫm lệ thê lương,

月下無人更清淑 Nguyệt hạ vô nhân cánh thanh thục
Dưới ánh trăng vắng vẻ, hoa lại càng yểu điệu cao sang.

Dưới trăng thanh vắng đâu nhường thanh sang.

Dịch thơ:

Hoa Hải Đường


Giang Thành cây cỏ dại hoang,
Hải đường đơn độc quý sang hơn người.
Khi hoa hé nở nụ cười,
Tất cả đào lý, hởi ơi, tầm thường.
Mới hay con tạo nhiễu nhương,
Khiến cho hoa quý chỉ nhường giai nhân.
Đẹp sang cao quý tự thân,
Đâu chờ mâm ngọc đem dâng mới bày.
Nụ hoa má ửng men say,
Lá xanh áo lụa vén tay khoe hồng.
Rừng sâu sương phủ nắng không,
Ngày xuân nắng ấm giấc nồng vấn vương.
Trong mưa đẫm lệ thê lương,
Dưới trăng thanh vắng đâu nhường thanh sang.


Phần 2: Cảm Xúc của Thi Nhân

先生食飽無一事 Tiên sinh thực bão vô nhất sự,
Sau khi ăn một bữa no nê, Tiên sinh không có việc gì làm,

散步逍遙自捫腹 Tán bộ tiêu dao tự môn phúc.
Ông bèn đi dạo chơi và lấy tay vỗ vào bụng của mình.

不問人家與僧捨 Bất vấn nhân gia dữ tăng xá,
Ông không đi thăm viếng hàng xóm hay đi chùa,

拄杖敲門看修竹 Trụ trượng xao môn khán tu trúc.
Mà chỉ chống gậy đi qua các cổng để ngắm hàng tre cao.

忽逢絕艷照衰朽 Hốt phùng tuyệt diễm chiếu suy hủ,
Đột nhiên đối diện với cây hoa quyến rũ, sự già nua lại càng hiện rõ,

嘆息無言揩病目 Thán tức vô ngôn khai bệnh mục.
Ông chỉ thở dài, mở đôi mắt già mờ nhìn kỹ hơn.

陋邦何處得此花 Lậu bang hà xứ đắc thử hoa,
Nơi lạc hậu này sao lại có loài hoa quý như thế?

無乃好事移西蜀 Vô nãi hảo sự di Tây Thục.
Há không phải có người hiểu biết mang nó đến từ đất Tây Thục?

寸根千里不易到 Thốn căn thiên lý bất dị đáo,
Nhưng rễ ngắn của nó không dễ gì mang đi xa ngàn dặm như vậy được,

銜子飛來定鴻鵠 Hàm tử phi lai định hồng hộc.
Có lẽ thiên nga ngậm hạt của nó mang đến đây.

天涯流落俱可念 Thiên nhai lưu lạc câu khả niệm,
Cũng ngậm ngùi cho nó lưu lạc đến tận ven trời xa xôi này,

為飲一樽歌此曲 Vị ẩm nhất tôn ca thử khúc.
Nên ta vì/thay nó uống một chén ngon và ca một khúc.

明朝酒醒還獨來 Minh triêu tửu tỉnh hoàn độc lai,
Sáng mai tỉnh rượu, ta lại đến đây một mình,

雪落紛紛哪忍觸 Tuyết lạc phân phân na nhẫn xúc.
Thấy tuyết rơi nhiều, ta không nỡ đụng đến hoa vì sợ hoa rơi.

Ghi chú:

Sử dụng bài trên Thi Viện, (TV) cần lưu ý đến nghĩa 4 câu thơ bên dưới:
不問人家與僧捨 Bất vấn nhân gia dữ tăng xá,

TV: Không cần hỏi đó là nhà của người tục hay của sư tăng,
Ông không đi thăm viếng hàng xóm hay đi chùa,

Chữ vấn nghĩa thông thường là hỏi, nhưng ở đây hỏi không có nghĩa mà phài là thăm viếng.
拄杖敲門看修竹 Trụ trượng xao môn khán tu trúc.

TV: Chống gậy đến gõ cửa xem hàng tre đứng thẳng.
Mà chỉ chống gậy qua trước cổng để ngắm hàng tre cao.

Không cần hỏi thì xao môn=gõ cửa để làm gì?
忽逢絕艷照衰朽 Hốt phùng tuyệt diễm chiếu suy hủ,

TV: Bỗng gặp một vẻ tuyệt diễm bừng lên giữa hàng giậu đổ nát,
Đột nhiên, đối diện với cây hoa quyến rũ, sự già nua lại càng hiện rõ.

Suy hủ là thi nhân tự nói về mình như trong cổ hủ.
嘆息無言揩病目 Thán tức vô ngôn khai bệnh mục.

TV: Ông than thở không nói một lời, nhướng con mắt mờ kém lên.
Ông chỉ thở dài, mở đôi mắt già mờ nhìn kỹ hơn.Không nói một lời thì than thở bằng cách nào? 

Phí Minh Tâm
***
***
Hải Đường Chi Hoa

Giang thành chướng khí bốc hơi,
Cỏ cây hoang dại khắp trời đất đai.
Hải đường nức tiếng trang đài,
Buồn thiu tẻ ngắt - hình hài náu thân.
Nhởn nhơ hé nụ dậu hàng,
Núi rừng, đào lý võ vàng tục thô.
Xoay vần con tạo lắm trò,
Thâm trầm ý tưởng - khéo cho sắp bày!
Giống hoa vương giả quí thay,
Ẩn mình hang hốc - trọn ngày vắng tanh.
Thanh tao cốt cách trâm anh,
Tự nhiên trời đãi cây cành thắm tươi.
Cần chi ngự tráp chói ngời,
Cống vào quan lớn mới thời cao sang ?
Hải đường muôn đóa rỡ ràng,
Như say men rượu, ửng làn má kia.
Vây quanh tàn lá chầu chìa,
Tựa chừng tay áo - ô kìa biếc xanh!
Lụa là vén lộ rành rành:
Mịn màng da dẻ, mong manh phớt hồng.
Sương mù dày đặc mênh mông,
Nắng mai đến trể - hư không mịt mù.
Khí trời ấm áp ôn nhu,
Thiu thiu xuân thắm - gió ru mộng vàng.
Mưa mây ập tới núi ngàn,
Long lanh giọt đọng, miên man sầu đời.
Ánh trăng ngời chiếu xa vời,
Hải đường yểu điệu, lả lơi bóng hồng...
Cao lương mỹ vị dùng xong,
Tiêu dao thả bước - ngắm đồng tiên sinh.
Chớ chi bận việc chốn kinh,
Khẽ tay vuốt bụng, an bình đại gia.
Chẳng màng hỏi đến xóm xa,
Vốn là người tục hay là cao tăng...
Lần mò gậy chống mơ màng,
Băng qua khóm trúc, bàng hoàng ngẩn ngơ:
Giữa hàng dậu nát xác xơ,
Hải đường diễm tuyệt như thơ phô bày.
Lão ông nhăn trán nhíu mày:
Vì sao cắc cớ xó này kỳ hoa ?
Phải chăng Tây Thục thỉnh qua,
Thượng lưu đài các - mắt lòa đắm say...
Dễ chi gốc rễ đâm đây ?
Chắc nhờ thiên điểu vẽ bày điểm tô.
Mỏ chim ngậm hạt lặng tờ,
Ngậm ngùi lưu lại mịt mờ dặm xa...
Vì hoa, tấu khúc hoan ca,
Lưu linh nhấp cạn - thiết tha yêu đời!
Tinh sương, men rượu tỉnh rồi,
Một mình thơ thẩn - chơi vơi tâm tình.
Tơi bời bảo tuyết đến kinh!
Dám đâu nỡ đụng huê xinh sắc hồng...

Khánh Hưng
***

Lộc Bắc góp thêm ý:

Khánh Hưng có nhắc đến 4 câu thơ nói về hoa hải đường trong truyện Trôi Theo Dòng Đời của Quỳnh Dao được Liêu Quốc Nhĩ chuyển dịch. Bài này như sau:

Hoa hải đường tưng bừng sắc nở
Hàng thùy dương ủ rũ xót xa
Thương chàng như thể thương hoa
Hoa ơi có biết lòng ta ngậm ngùi


Tò mò Lộc Bắc nhờ Chat GPT tìm hộ nguyên bản, phiên âm của bài thơ phỏng dịch bên trên và được trả lời như sau:

“Tôi đã tìm kiếm nguyên bản tiếng Hán của bài thơ trong chương 18 của truyện "Trôi theo dòng đời" của Quỳnh Dao nhưng không tìm thấy thông tin cụ thể trong các nguồn truy cập được. Tuy nhiên, dựa trên bản dịch tiếng Việt mà bạn cung cấp, tôi có thể cung cấp một phiên bản tiếng Hán và phiên âm Hán Việt dựa trên nội dung đó.

Bản tiếng Hán (dự đoán):

海棠花开艳如火,
垂杨依依情悲切。
怜君犹如怜此花,
花儿可知我心哀。

Phiên âm Hán Việt:

Hải đường hoa khai diễm như hỏa,
Thùy dương y y tình bi thiết.
Liên quân do như liên thử hoa,
Hoa nhi khả tri ngã tâm ai.

Dịch nghĩa:

Hoa hải đường nở rộ rực rỡ như lửa,
Cây dương liễu rủ xuống, tình buồn da diết.
Thương chàng như thương loài hoa này,
Hoa ơi, có biết lòng ta sầu muộn.

Xin lưu ý rằng đây chỉ là bản phục dựng dựa trên bản dịch tiếng Việt và có thể không hoàn toàn chính xác so với nguyên tác của Quỳnh Dao. Để có thông tin chính xác hơn, bạn có thể tham khảo bản gốc tiếng Trung của tác phẩm hoặc liên hệ với các diễn đàn văn học chuyên về tác phẩm của Quỳnh Dao.”

Lộc Bắc
***
Huỳnh Kim Giám giải đáp:

Xin nhờ các anh chị tìm nguyên bản bài thơ dùm. Xem máy có thể hơn người được không? Hii, hii.

Người ni chưa hề đọc truyện Quỳnh Dao nên mù tịt về văn lẫn thơ của bà ta! Muốn tìm bài thơ nguyên tác thì dĩ nhiên phải biết tựa đề chữ Hán nguyên tác; và điều oái oăm là tựa đề Trôi theo dòng đời chưa hẳn đã là tựa dịch chính xác tên tác phẩm, nên người ni tìm hoài không ra một trang tiếng Việt nào cho cuốn truyện có chua tựa đề chữ Hán, trừ tranh bìa này:



Chữ bên trái là 舩=Thuyền, hai từ bên phải là 瓊瑤=Quỳnh Dao. Người ni lấy nguyên cuốn truyện 舩 của Quỳnh Dao từ internet và tìm đến chương 18 để có hai câu thơ này:

“海棠袅娜情丝软,hải đường niểu na tình ti nhuyễn
垂杨拂地和愁卷,thùy dương phất địa hòa sầu quyển,

Hai câu thôi chứ không phải là bốn như trong bản dịch tiếng Việt vì lý do đơn giản là dịch giả dịch văn và thơ cũng phóng túng như dịch tựa đề!
......
Quỳnh Dao viết rằng đây là lời của một từ bài điệu bồ tát man do một nhân vật trong truyện Thuyền hát. Người dịch truyện qua tiếng Việt không dịch trọn từ bài mà chỉ dùng hai câu đầu rồi đặt thêm hai câu nữa thành một bài thất ngôn tứ tuyệt mà anh chàng nào đó biết chữ Hán chuyển ngữ sang chữ Hán! Tôi tìm ra được bằng cách đối chiếu hai chương 18 của nguyên tác và bản dịch.

Tác giả có thể chính là văn sĩ Quỳnh Dao.

Quý vị nào tò mò muốn biết trọn bài thơ trong truyện 舩=Thuyền, viết theo điệu "bồ tát man" thì đây:

海棠裊娜情絲軟, hải đường niểu na tình ty nhuyễn,
垂楊拂地和愁卷, thùy dương phất địa hòa sầu quyến,
扶病過花朝, phù bệnh quá hoa triều,
開帘魂欲消. khai liêm hồn dục tiêu.
尋芳題麗句; tầm phương đề lệ cú;
莫負韶華去, mạc phụ thiều hoa khứ,
惆悵為花癡, trù trướng vi hoa si,
問花知不知? vấn hoa tri bất tri?

Tôi cũng đã kiểm soát thanh vận của bài từ trước khi chuyển cho bà con; rất đúng điệu bồ tát man. Phải phục khả năng Quỳnh Dao.

Huỳnh Kim Giám


四季海棠 tứ quý hải đường, begonia, thu hải đường

Vậy ra hoa Hải đường dịch sang tiếng Việt mình là chi?

Trừ trường hợp ta biết tác giả - Quỳnh Dao - đang viết về hoa 海棠 nào thì làm sao ta biết đó là hoa nào để mà dịch! Ta chỉ có thể chuyển ngữ 海棠 sang Hán-Việt thành hải đường và để mặc người đọc ... tưởng tượng.

Theo zh.Wikipedia, bên Tàu có ít nhất 5 cây crab apple (táo/mận hoang - hay chua, mọc hoang ngoài đồng và thường được trồng trong vườn hay dọc đường lộ ở Mỹ.) mang tên hải đường:

Malus spectabilis 海棠=hải đường. Hoa màu hồng hay trắng.
Malus prunifolia 圓葉海棠-viên diệp hải đường. Hoa màu trắng.
Malus hupehensis 湖北海棠=Hồ Bắc hải đường. Người Hồ Bắc, Hồ Nam, Phúc Kiến dùng lá cây này làm … trà.
Malus halliana 垂丝海棠 thùy ti hải đường, hoa màu hồng
Malus micromalus 西府海棠=Tây Phủ hải đường, còn gọi là thu hải đường, hải đường thấy thông thường nhất ở trung và bắc Hoa Lục
Chaenomeles cathayensis 木瓜海棠=mộc qua hải đường; bà con xa của các cây Malus/mận hoang.
Begonia sp, rất nhiều loài và rất nhiều màu. Tên Hán là 秋海棠=thu hải đường. Chúng không dính dáng gì với các cây Malus vì chúng thuộc họ bầu-bí (Cucurbitales).

Hoa Hải Đường trong truyện có nói là hoa trà: Làm sao mà Quỳnh Dao biết hoa hải đường này thì tôi không hay nhưng nếu thế thì nó là Camellia amplexicaulis, một loại sơn trà thổ sản của VN (không có tên Hán!) được tả lần đầu tiên ở Tam Đảo năm 1910 và bây giờ được xem là đã tuyệt diệt ngoài thiên nhiên. Tên Việt của nó là hải đường Việt Nam.

Hoa như thế này, giống sơn trà ở Nhật



Nó được liệt kê trong Cây Cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (1999) nhưng không dưới tên hải đường



Rất có thể rằng cái tên hải đường VN này là một tên các cán ngố mượn ẩu từ người Tàu. Hoa của nó hơi giống như hoa mộc qua (tên 木瓜海棠 bên Tàu) và nó cũng được người Việt quốc nội dùng để chưng ngày tết như bên Mỹ.

Huỳnh Kim Giám

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét