Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2016

Việt Nam Sử Lược/ Quyển 1/ Phần 2/ Chương 6.

1. Người nước Nam nhiễm văn-minh của Tàu
2. Nho-giáo
3. Đạo-giáo
4. Phật-giáo
5. Sự tiến-hóa của người nước Nam
1. NGƯỜI NƯỚC NAM NHIỄM VĂN-MINH CỦA TÀU. Từ khi vua Vũ-đế nhà Hán sai Lộ bác Đức 路 博 德 sang đánh lấy Nam-việt cho đến đời Ngũ-Quí, ông Ngô Quyền 吳 權 đánh-đuổi người Tàu về bắc, tính vừa tròn 1.050 năm.
Xứ Giao-châu ta bị người Tàu sang cai-trị bấy lâu năm thì chắc là sự sinh-hoạt của người bản-xứ cũng bị thay-đổi một cách khác hẳn với trước. Khi đất Giao-châu còn gọi là Văn-lang hay là Âu-lạc thì người bản-xứ ăn ở thế nào, phong-tục làm sao, nay cũng không có di-tích gì mà kê-cứu ra cho rõ được. Có lẽ cũng tự-hồ như Mường hay là Mán ở mạn thượng-du đất Bắc-Việt bây giờ. Giả sử có đem vua Hùng-vương họ Hồng-bàng và vua An-dương-vương họ Thục mà sánh với mấy người Quan-lang ở mạn thượng-du thì dễ thường cũng không xa sự thực là mấy. Nhưng đây là một điều nói phỏng mà thôi, chứ lấy gì làm đích-xác?
Vả lại, khi người một xã-hội đã văn-minh như người Tàu mà đi mở đất chưa khai như đất Giao-châu lúc bấy giờ, thì e rằng người Tàu chiếm giữ lấy chỗ bình địa rồi tụ-họp với nhau mà làm ăn, còn những người bản-xứ thì hoặc là lẫn với kẻ khỏe hơn mình, hoặc giết-hại đi, hoặc vào ở trong rừng trong núi rồi chết mòn chết mỏi đi. Kể như thế thì người mình bây giờ cũng không xa người Tàu là bao nhiêu.
Dẫu thế nào mặc lòng, hết đời Bắc-thuộc rồi thì người Giao-châu ta có một cái nghị-lực riêng và cái tính-chất riêng để độc-lập, chứ không chịu lẫn với nước Tàu. Duy chỉ có sự sùng-tín, sự học-vấn, cách cai-trị thì bao giờ mình cũng chịu cái ảnh-hưởng của Tàu.
Nguyên nước Tàu từ đời Tam-Đại 三 代 đã văn-minh lắm, mà nhất là về đời nhà Chu 周 thì cái học-thuật lại càng rực-rỡ lắm. Những học-phái lớn như là Nho-giáo 儒 敎 và Lão-giáo 老 敎, đều khởi đầu từ đời ấy. Về sau đến đời nhà Hán 漢, nhà Đường 唐, những học-phái ấy thịnh lên, lại có Phật-giáo 佛 敎 ở Ấn-độ truyền sang, rồi cả ba đạo cùng truyền-bá đi khắp cả mọi nơi trong nước. Từ đó trở về sau nước Tàu và những nước chịu ảnh-hưởng của Tàu đều theo tông-chỉ của những đạo ấy mà lập ra sự sùng-tín, luân-lý và phong-tục tương-tự như nhau cả. Vậy ta xét qua xem những học-phái ấy gốc-tích từ đâu, và cái tông-chỉ của những học-phái ấy ra thế nào.

2. NHO-GIÁO. Nho giáo sinh ra từ đức Khổng-tử 孔 子. Ngài húy là Khâu 邱, tên chữ là Trọng Ni 仲 尼, sinh ở nước Lỗ 魯 (thuộc tỉnh Sơn-đông) vào năm 551 trước Tây-lịch, về đời vua Linh-vương nhà Chu 周 靈 王.
Ngài sinh ra vào đời Xuân-Thu 春 秋, có Ngũ bá tranh cường, dân-tình khổ-sở, phong-tục bại-hoại. Ngài muốn lấy đạo luân-thường mà dạy người ta cách ăn-ở với nhau trong đời. Ngài đi du-lịch trong mấy nước chư-hầu, hết nước nọ qua đến nước kia, môn-đệ theo ngài cũng nhiều. Đến lúc già, ngài trở về nước Lỗ, soạn kinh Thi 詩, kinh Thư 書, kinh Dịch 易, định kinh Lễ 禮, kinh Nhạc 樂 và làm ra kinh Xuân Thu 春 秋, rồi đến năm 479 tr. Tây-lịch về đời vua Kính-vương nhà Chu 周 敬 王 thì Ngài mất, thọ được 72 tuổi.
Ngài chỉ cốt lấy những điều hợp với bản-tính của loài người mà dạy người, chứ không dạy những điều u-uẩn huyền-diệu khác với đạo thường. Ngài nói rằng: « Đạo bất viễn nhân, nhân chi vi đạo nhi viễn nhân, bất khả dĩ vi đạo 道 不 遠 人, 人 之 為 道 而 遠 人, 不 可 以 為 道. » Nghĩa là: đạo không xa cái bản-tính người ta, hễ vì đạo mà xa cái bản-tính ấy thì đạo ấy không phải là đạo. Bởi vậy cái tông-chỉ của Ngài là chủ lấy Hiếu, Đễ, Trung, Thứ làm gốc, và lấy sự sửa mình làm cốt mà dạy người. Ngài chỉ dạy người về sự thực-tế hiện-tại, chứ những điều viễn-vông ngoài những sự sinh-hoạt ở trần-thế ra thì ngài không bàn đến. Nói đến sự sống chết thì Ngài bảo rằng: « Vị tri sinh, yên tri tử 未 知 生, 焉 知 死 »: chưa biết được việc sống, sao đã biết được việc chết. Nói đến việc quỉ-thần thì ngài bảo rằng: « Quỉ-thần kính nhi viễn chi 鬼 神 敬 而 遠 之: quỉ-thần thì nên kính, mà không nên nói đến. »
Tổng chi, đạo ngài thì có nhiều lý-tưởng cao-siêu (xem sách Nho-giáo)[1] nhưng về đường thực-tế thì chú-trọng ở luân-thường đạo-lý. Cái đạo luân-lý của ngài có thể truyền cho muôn đời về sau không bao giờ vượt qua được. Đối với mọi người thì ngài dạy: « Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân 己 所 不 欲 勿 施 於 人: điều gì mà mình không muốn người ta làm cho mình, thì mình đừng làm cho ai ». Đối với việc bổn-phận của mình thì ngài dạy: Quân-tử động nhi thế vi thiên-hạ đạo, hành nhi thế vi thiên-hạ pháp, ngôn nhi thế vi thiên-hạ tắc, viễn chi tắc vọng, cận chi tắc bất yếm. 君 子 動 而 世 為 天 下 道, 行 而 世 為 天 下 法, 言 而 世 為 天 下 則, 遠 之 則 望, 近 之 則 下 饜: người quân-tử cử-động việc gì là để làm đạo cho thiên-hạ, nói-năng điều gì là để làm mực cho thiên-hạ; người ở xa thì muốn lại gần, người ở gần thì không bao giờ chán[2].
Đạo của Khổng-tử truyền cho thầy Tăng Sâm 曾 参; Tăng Sâm truyền cho Khổng Cấp 孔 伋; Khổng Cấp truyền cho thầy Mạnh Kha 孟 軻 tức là thầy Mạnh-tử 孟 子.
Thầy Mạnh-tử là một nhà đại hiền-triết nước Tàu, làm sách Mạnh-tử, bàn sự trọng nhân nghĩa, khinh công lợi, và cho tính người ta vốn lành, ai cũng có thể nên được Nghiêu, Thuấn cả.
Đến đời nhà Tần 秦, vua Thỉ-hoàng 始 皇 giết những người nho-học, đốt cả sách-vở, đạo Nho phải một lúc gian-nan. Đến đời vua Cao-tổ nhà Hán 漢 高 祖 lại tôn-kính đạo Nho, sai làm lễ thái-lao tế đức Khổng-tử. Đến đời vua Vũ-đế nhà Hán 漢 武 帝 lại đặt quan bác-sĩ để dạy năm kinh. Từ đấy trở đi, đạo Nho mỗi ngày một thịnh, dẫu trong nước có đạo Lão, đạo Phật mặc lòng, bao giờ đạo Nho vẫn trọng hơn.

3. ĐẠO-GIÁO. Đạo-giáo là bởi đạo của ông Lão-tử 老 子 mà thành ra. Lão-tử là người nước Sở 楚 (thuộc tỉnh Hồ-bắc) họ là Lý 李, tên là Đam 聃, sinh vào năm 604 tr. Tây-lịch về đời vua Định-vương nhà Chu 周 定 王, sống được 81 tuổi, đến năm 523 tr. Tây-lịch, vào đời vua Cảnh-vương nhà Chu 周 景 王 thì mất.
Tông-chỉ của Lão-tử là trước khi có trời đất, thì chỉ có Đạo 道. Đạo là bản-thể của vũ-trụ, là cái gốc nguyên-thỉ của các sự tạo-hóa. Vạn vật đều bởi Đạo mà sinh ra. Vậy sửa mình và trị nước nên phải theo Đạo, nghĩa là người ta nên điềm-tĩnh, vô vi, cứ tự-nhiên, chứ không nên dùng trí-lực mà làm gì cả.
Lão Tử soạn ra sách Đạo-đức kinh 道 德 經, rồi sau có Văn-tử 文 子, Thi-tử 尸 子, Trang-tử 莊 子, và Liệt-tử 列 子 noi theo mà truyền-bá cái tông-chỉ ấy.
Đạo của Lão-tử lúc đầu là một môn triết-học rất cao-siêu, nhưng về sau cái học-thuyết biến-đổi đi, rồi những người giảng thuật thần tiên cũng phụ theo đạo ấy mà nói những chuyện số-kiếp và những sự tu-luyện để được phép trường sinh bất tử v. v... Bởi vậy đạo Lão mới thành ra Đạo-giáo là một đạo thần tiên, phù-thủy, và những người theo Đạo-giáo gọi là đạo-sĩ 道 士.
Nguyên từ đời vua Thỉ-hoàng nhà Tần và vua Vũ-đế nhà Hán, người Tàu đã tin sự thần tiên, sau đến cuối đời nhà Đông-Hán có Trương đạo Lăng 張 道 陵 soạn ra 24 thiên Đạo-kinh 道 經 giảng cái thuật trường-sinh. Bọn giặc Hoàng-cân Trương Giác 張 角 chính là học trò của Trương đạo Lăng. Đến đời nhà Đông Tấn lại có Cát Hồng 葛 洪 nói rằng được tiên-thuật rồi làm sách dạy những thuật ấy. Từ đấy về sau Đạo-giáo thịnh dần lên, tôn Lão-tử làm Thái-thượng Lão-quân 太 上 老 君.
Đời vua Cao-tổ nhà Đường có người nói rằng thấy Lão-tử hiện ra ở núi Dương-giác-Sơn 羊 角 山 xưng là tổ nhà Đường[3]! Vua Cao-tổ đến tế ở miếu Lão-tử và tôn lên là Thái-thượng Huyền-nguyên Hoàng-đế 太 上 玄 元 皇 帝. Bởi vậy nhà Đường trọng đạo Lão-tử lắm, bắt con cháu phải học Đạo-đức kinh.
Tuy đạo Lão về sau thịnh-hành ở nước Tàu, nhưng cũng không bằng đạo Phật. Đạo Phật là một đạo ở Ấn-độ đem vào nước Tàu, và lại là một tông-giáo rất lớn ở thế-gian này.

4. PHẬT-GIÁO. Tị-tổ đạo Phật là đức Thích-ca Mầu-ni 釋 迦 牟 尼. Không biết rõ ngài sinh vào đời nào. Cứ ý-kiến của đạo-phái ở về phía bắc đất Ấn-độ thì cho là ngài sinh về năm 1.028 trước Tây-lịch kỷ-nguyên, vào đời vua Chiêu-vương nhà Chu 周 昭 王. Còn đạo-phái ở phía nam thì cho vào năm 624. Những nhà bác-học thời bây giờ cho ngài sinh vào năm 558 hay là 520, cùng với Khổng-tử một thời.
Đức Thích-ca là con một nhà quí-tộc đất Ấn-độ. Ngài đã lấy vợ, có con, nhưng vì thấy người ta ở trần-thế này không ai khỏi được những khổ-não như sinh, lão, bệnh, tử, cho nên ngài bỏ cả vợ con mà đi tu, để cầu phép giải-thoát. Vậy đạo Phật cốt có hai chủ-ý: một là đời là cuộc khổ-não; hai là sự thoát khỏi khổ-não.
Người ta gặp phải những sự khổ-não như thế là tại mình cứ mắc trong vòng luân hồi 輪 迴 mãi. Vậy muốn cho khỏi sự khổ-não thì phải ra ngoài luân hồi mới được; mà ra ngoài luân hồi thì phải cắt cho đứt những cái nhân-duyênnó trói-buộc mình ở trần gian này. Ra được ngoài Luân-hồi thì lên đến cõi nát-bàn (nirvana) tức là thành Phật, bất sinh bất tuyệt (xem sách Phật-giáo và sách Phật-lục của tác-giả).
Nguyên đạo Phật 佛 là do ở đạo Bà-la-môn (Brahmane) mà ra, nhưng tông-chỉ đạo Phật không giống đạo Bà-la-môn cho nên hai đạo chống nhau mãi, thành ra đến ba bốn trăm năm sau, khi đức Thích-ca mất rồi, đạo Phật mới phát-đạt ra ở Ấn-độ.
Đạo Phật sang nước Tàu kể từ nhà Tây-Hán. Đời vua Hán vũ-đế 漢 武 帝 (140 - 86) quân nhà Hán đi đánh Hung-nô 匈 奴 đã lấy được tượng Kim-nhân và biết rằng người Hung-nô có thói đốt hương thờ Phật[4]. Đời vua Ai-đế 哀 帝 năm Nguyên-thọ nguyên-niên, là lịch tây năm thứ 2, vua nhà Hán sai Tần cảnh Hiến 秦 景 憲 sang sứ rợ Nhục-chi 肉 氏 có học khẩu-truyền được kinh nhà Phật.
Đến đời vua Minh-đế nhà Đông-Hán, có Ban Siêu 班 超 đi sứ các nước ở Tây-vực 西 棫 biết đạo Phật thịnh-hành ở phương Tây. Vua bèn sai Thái Am 蔡 愔 đi sang Thiên-trúc 天 竺 lấy được 42 chương kinh và rước thầy tăng về dạy đạo Phật. Bấy giờ nhân có con bạch-mã đem kinh về, cho nên nhà vua mới lập chùa Bạch-mã để thờ Phật ở đất Lạc-dương 洛 陽.
Từ đó đạo Phật cứ dần dần truyền-bá ra khắc nước Tàu, nhưng chỉ có người Ấn-độ sang dạy đạo Phật mà thôi, mãi đến đời Tam-quốc mới có người Tàu đi làm thầy tăng. Về sau người Tàu sang Ấn-độ lấy kinh đem về giảng dạy cũng nhiều.
Đời vua An-đế nhà Đông-Tấn (402) đất Trường-an 長 安 có ông Pháp Hiển 法 顯 đi chơi hằng 30 nước ở xứ Ấn-độ, qua đảo Tích-lan (Ceylan) rồi theo đường hải đạo về Tàu, đem kinh nhà Phật dịch ra chữ Tàu và làm sách Phật-quốc-ký 佛 國 記.
Đến đời Nam-Bắc-triều, vua Hiến Minh 孝 明 nhà Ngụy 魏 sai tăng là Huệ Sinh 惠 生 và Tống Vân 宋 雲 sang Tây-vực lấy được hơn 170 bộ kinh đem về. Từ đó đạo Phật rất thịnh, kinh điển có đến 450 bộ, chùa-chiền được hơn 3 vạn, tăng-ni có đến 2 triệu người.
Đời vua Thái-Tông 太 宗 nhà Đường (630), có ông Huyền Trang 玄 奘 (tục gọi là Đường-tăng hay Đường Tam-tạng) đi sang Ấn-độ ở hơn 10 năm lấy được 650 bộ kinh nhà Phật. Đến đời vua Cao-tông 高 宗 (672) ông Nghĩa Tĩnh 義 淨 lại sang Ấn-độ lấy được 400 bộ kinh nhà Phật nữa.
Từ đời nhà Đường trở đi, thì ở bên Tàu đạo Phật càng ngày càng thịnh, mà người đi lấy kinh cũng nhiều.

5. SỰ TIẾN-HÓA CỦA NGƯỜI NƯỚC NAM. Khi những đạo Nho, đạo Khổng, đạo Phật phát-đạt bên Tàu, thì đất Giao-châu ta còn thuộc về nước Tàu, cho nên người mình cũng theo những đạo ấy. Về sau nước mình đã tự-chủ rồi, những đạo ấy lại càng thịnh thêm, như là đạo Phật thì thịnh về đời nhà Đinh 丁, nhà Tiền Lê 前 黎 và nhà Lý 李, mà đạo Nho thì thịnh từ đời nhà Trần 陳 trở đi.
Phàm phong-tục và chính-trị là do sự học-thuật và tông-giáo mà ra. Mà người mình đã theo học-thuật và Tông-giáo của Tàu thì điều gì ta cũng noi theo Tàu hết cả. Nhưng xét ra thì điều gì mình cũng thua-kém Tàu, mà tự người mình không thấy có tìm-kiếm và bày đặt ra được cái gì cho xuất sắc, gọi là có cái tinh-thần riêng của nòi-giống mình, là tại làm sao?
Có lẽ một là tại địa-thế nước Nam ta, hai là cách ăn ở của người mình.
Phàm sự tiến-hóa của một xã-hội cũng như công-việc của một người làm, phải có cái gì đó nó đun-đẩy mình, nó bắt phải cố sức mà tiến-hóa thì mới tiến-hóa được. Sự đun-đẩy ấy là sự cần-dùng và sự đua-tranh.
Nếu không có cần-dùng thì không có cố-gắng, không cố-gắng thì không tiến-hóa. Nếu không có đua-tranh thì không có tìm-kiếm, không tìm-kiếm thì không tài giỏi, sự lý tất nhiên là vậy.
Xem như nước Nam ta, thì hai cái yếu-điểm ấy đều kém cả. Người mình ở về xứ nóng-nực, cách ăn-mặc giản-dị, đơn-sơ, không phải cần-lao lo nghĩ cũng đủ sống, cho nên ai cũng thích nhàn-lạc, quí-hồ khỏi chết thì thôi, chứ không muốn lao tâm lao-lực lắm như những người ở nước văn-minh khác. Tính người mình như thế, thì hễ ai có cái gì, mình chỉ bắt-chước được mà thôi, chứ không phát khởi bày đặt ra được điều gì nữa.
Còn như sự đua tranh, phải có nhiều người, nhiều nước thì mới đua tranh được. Nhưng nước ta ở phía Đông thì có bể, ở phía tây, phía nam, thì những người Mường, người Lào là những người văn-minh kém mình cả, còn ở phía bắc có nước Tàu là hơn mình, nhưng Tàu lại to quá, sự giao-thông với mình thì cách trở sơn xuyên, đường-sá khó-khăn không tiện, chỉ có quan-tư thỉnh-thoảng đi lại mà thôi, chứ dân trong nước không mấy khi ra đến ngoài bờ-cõi nước nhà. Người mà cả đời không đi đến đâu, mắt không trông thấy cái hay cái dở của người, thì tiến-hóa làm sao được? Mà sự học của mình thì ai cũng yên trí rằng cái gì đã học của Tàu là hay, là tốt hơn cả: từ sự tư-tưởng cho chí công-việc làm, điều gì mình cũng lấy Tàu làm gương. Hễ ai bắt-chước được Tàu là giỏi, không bắt-chước được là dở. Cách mình sùng-mộ văn-minh của Tàu như thế, cho nên không chịu so-sánh cái hơn cái kém, không tìm cách phát-minh những điều hay tốt ra, chỉ đinh-ninh rằng người ta hơn mình, mình chỉ bắt chước người ta là đủ.
Địa-thế nước mình như thế, tính-chất và sự học-vấn của người mình như thế, thì cái trình-độ tiến-hóa của mình tất là phải chậm-chạp và việc gì cũng phải thua-kém người ta vậy.
 
Chú thích cuối trang
  1. Nho-giáo - Trung-tâm Học-liệu xuất-bản trọn bộ 2 quyển.
  2. Sánh với lời của Khang Đức tiên-sinh là một nhà đại-triết-học ở phương Âu: « Agis de telle que la maxime de ton vouloir puisse être acceptée comme règle universelle »: Ăn-ở thế nào cho bao nhiêu những việc mình làm có thể làm cái công-lệ cho thiên-hạ.
  3. Lão-tử và vua nhà Đường cùng họ Lý 李.
  4. Tục-lệ đốt hương mà thờ-cúng khởi đầu từ đó.
Huỳnh Hữu Đức trích từ "Việt Nam Sử Lược" của Trần Trọng Kim