Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

Dòng Sông Vĩnh Biệt - Nhạc và Lời Phạm Anh Dũng - Hòa Âm: Quang Đạt - Tiếng Hát: Quỳnh Lan

Nhạc và Lời Phạm Anh Dũng
Hòa Âm: Quang Đạt
Tiếng Hát: Quỳnh Lan

Tháng Tư - Thơ: Đăng Nguyên - Nhạc: Văn Duy Tùng - Ca Sĩ: Anh Dũng

Thơ: Đăng Nguyên
Nhạc: Văn Duy Tùng
Ca Sĩ: Anh Dũng

Chiều Tao Ngộ


 
Em đã xuân qua, hạ cũng tàn,
Thu vàng chờ mãn, gió đông sang.
Em đi tuyết trắng, vương màu tóc,
Trăng nước hương xưa lắm lỡ làng.
Em vui nhịp trống, tiếng đàn vang,
Như gió đưa mây bước nhẹ nhàng.
Qua lại vần xoay, nhanh dáng đẹp.
Dìu em quên hẵn lụy trần gian.
Ta đến thăm em, thấy ảnh xưa,
Hồng, lan tươi thắm sánh sao vừa,
Hồ thu dìu dịu, tình dâng mắt.
Khiến dậy trong lòng, nổi gió mưa.
Quê cũ một thời trong lửa đạn,
Đâu người tri kỷ với hồng nhan?
Nỗi trôi trong chốn bùn, than, bụi,
Thoát cảnh tàn hung, tuổi đã vàng.
Ta bước cùng em điệu nhạc buồn,
Gặp nhau đất khách, ánh đèn buông.
Sắc tài mộng ước đâu còn nữa,
Riêng mãi xuân tình, ý vẫn luôn.
Ta cũng như em, ngã bóng chiều,
Giai nhân, hiền sĩ biết còn yêu?
Còn chi ước hẹn mai ngày nữa?
Đôi ngã riêng đường, giữa tịch liêu.

Nhật Quang Phi Hồ.


Cụ Trần Văn Hương

 
 
Xuất thân nhà giáo dạy văn chương
Kháng Pháp chân in những nẻo đường
Hợp tác Việt Minh vai Chủ Tịch
Giã từ Cộng Sản sống thuần lương
Tân triều lận đận làm Đô Trưởng
Thủ Tướng lao đao giữ chính trường
Tổ Quốc bềnh bồng... ngôi Tổng Thống
Quyết theo mệnh nước rũ tàn xương...!!

Xương tàn Tổng Thống chẳng nhà riêng
Khí tiết xưa nay rất khó tìm
Dòng suối gương trong đời giản dị
Đỉnh non tuyết trắng tiếng thanh liêm
Martin tới rước: - không rời xứ
Việt Cộng mời trao: - hứa nhận quyền:
(" Cải Tạo" chừng nào về hết cả
Bấy giờ sẽ nhận cái phần riêng...?!)

Riêng dạ ưu phiền trước nhố nhăng
Kiêu binh mặt sắt sát đằng đằng
Cường quyền cỡi cổ: - nhà vào chiếm
Bạo lực đè đầu: - của giựt ăn
Cả xứ ùn ùn đang vượt biển
Nhiều nơi rục rịch định rừng băng
Thân già đỏ mắt ngồi khô... khóc
Nước Việt mênh mông... sóng nhục nhằn...!!

Nhục nhằn chung chiụ..., sử lưu phương
Tư thái ung dung giữa bạo cường
Thuở trước trung thành Văn Tống Thụy
Thời nay tiết tháo Trần Văn Hương
Chẳng màng đất khách tìm an hưởng
Thà sống quê nhà nhận tổn thương
Vẫn biết chim lồng ngàn khổ nạn
Dân Nam sĩ khí dễ xem thường...??!

Nhằm Tết tinh anh thăng về cõi
Tịnh Độ tiêu dao vợi... nỗi sầu...!!
Kính cẩn cúi đầu Hương tỏa khói...
Bao người thổn thức... nén dòng châu...!!

Tùng xanh hạc trắng non cao
Gương trăng lồng lộng chiếu vào... thiên thu...!!

Nguyễn Minh Thanh kính bút
 

Kỷ Niệm 61 Năm 19/6 QLVNCH Muôn Năm



QUÂN bốn phương trời hội Lũng Nhai
LỰC thần bất khuất tụ anh tài
VIỆT hồn tử sĩ ngời trang sử
NAM quốc sơn hà rạng thới lai
CỘNG chí hùng anh thề sát cánh
HÒA tình huynh đệ nguyện cùng vai
MUÔN lòng chung nhịp ta tranh đấu
NĂM tháng không sờn thỏa chí trai.


Lâm Hoài Vũ
June 8th , 2022
 

Vinh Danh Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa

 

(Kỷ Niệm Ngày Quân Lực VNCH 19/6 Hằng Năm)

Việt Nam Chiến Sĩ Cộng Hòa mình
Giữ nước gìn nhà, ngại tử sinh?
Phục vụ vì dân đầy nhiệt huyết
Hy sinh vị quốc trọn chân tình
Kiên cường, kẻ địch e dè nể
Dũng mãnh, quân thù sợ khiếp kinh
Tưởng niệm tri ân người ngã xuống
Anh Hùng hai chữ mãi danh vinh...


Duy Anh



Khép Lại Vòng Tròn Của Nguyễn Đức Độ - Từ Khói Lửa Chiến Tranh Đến Sĩ Quan Cao Cấp Của Hoa Kỳ Tại Hà Nội


Nguyễn Đức Độ (lúc còn bé) cùng thân phụ

Giữa dòng biến động của cuộc chiến Việt Nam và những đợt sóng di dân sau ngày tan rã, có những cuộc đời mang dấu ấn đặc biệt, như một nhịp cầu bắc qua hai bờ lịch sử. Trường hợp của COL Pat Reardon, sinh danh Nguyễn Đức Độ, là một trong những câu chuyện hiếm hoi như thế: từ một cậu bé miền Trung rời quê hương năm 12 tuổi, ông trở thành sĩ quan Lục quân Hoa Kỳ, rồi sau cùng quay lại Việt Nam trong vai trò tùy viên quốc phòng cao cấp tại Hà Nội.

I. Quảng Ngãi – tuổi thơ trong khói lửa

Nguyễn Đức Độ sinh năm 1963 tại tỉnh Quảng Ngãi, thuộc Việt Nam Cộng Hòa. Ông là người con thứ sáu trong một gia đình chín anh chị em. Thân phụ phục vụ trong ngành quân y của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, nên gia đình ông nhiều lần phải dời chỗ theo từng biến động chiến cuộc.
Tuổi thơ của ông không gắn với trường lớp yên ổn, mà với những hình ảnh khắc nghiệt của chiến tranh: tiếng súng vọng về từ xa, những xác người nằm bên vệ đường, và cả những mảnh đạn, vỏ đạn mà trẻ con đôi khi vô tình nhặt được như trò chơi.

II. Người cha đỡ đầu và cánh cửa sang một thế giới khác

Giữa bối cảnh chiến tranh kéo dài, gia đình ông có một mối liên hệ đặc biệt với một người Mỹ: bác sĩ Pat Reardon, một bác sĩ dân sự từng từ bỏ cuộc sống tại Virginia để sang Việt Nam làm việc trong lĩnh vực y tế nhân đạo.
Ông Reardon trở thành cha đỡ đầu của Nguyễn Đức Độ từ khi ông còn nhỏ. Mối quan hệ ấy không chỉ mang tính nghi thức, mà dần trở thành một sợi dây gắn kết hai thế giới khác biệt.
Khi tình hình miền Nam xấu đi rõ rệt vào đầu thập niên 1970, thân phụ ông quyết định gửi con trai và con gái sang Hoa Kỳ cùng vị bác sĩ này. Đó là một quyết định đầy day dứt, nhưng được xem như lối thoát duy nhất cho tương lai của các con.

III. Ngày rời Việt Nam – một chuyến đi không lời hẹn trở lại

Ngày 8 tháng 4 năm 1975, tại phi trường Tân Sơn Nhất, cậu bé 12 tuổi Nguyễn Đức Độ cùng em gái rời Việt Nam.

Chuyến bay đầu tiên không thể thực hiện vì tình hình an ninh hỗn loạn. Sau đó, họ cuối cùng cũng rời được Sài Gòn trong một chuyến bay dân sự hướng về Guam, rồi tiếp tục đến Hoa Kỳ.
Trước khi chia tay, người cha trao cho con một chiếc vòng tay, trên đó khắc ba lời dặn bằng tiếng Việt: “chăm chỉ, vui vẻ, ngoan ngoãn“. Không ai ngờ rằng ba chữ ấy sẽ trở thành kim chỉ nam suốt đời ông.
Chỉ vài tuần sau, Sài Gòn sụp đổ. Người cha ở lại Việt Nam bị đưa đi cải tạo. Gia đình chia cắt, mỗi người một nơi, lưu lạc qua nhiều trại tị nạn khác nhau trước khi dần hội tụ lại tại Hoa Kỳ trong những năm sau đó.

IV. Từ cậu bé tị nạn đến học viên West Point

Đến Hoa Kỳ, Nguyễn Đức Độ bước vào một thế giới hoàn toàn khác: ngôn ngữ mới, văn hóa mới, và một thân phận mới.
Tiếng Anh là thử thách lớn nhất ban đầu. Nhưng ông kiên trì học tập, từng bước thích nghi. Ông theo học chương trình dự bị và sau đó giành được cơ hội vào hệ thống chuẩn bị của Học viện Quân sự West Point.
Thời điểm ấy, cộng đồng người Việt tại West Point còn rất nhỏ. Có những người bạn đồng hương như Hùng “Peter” Vũ và Jean Nguyễn – những người đầu tiên mở đường cho thế hệ sĩ quan Mỹ gốc Việt.
Nếu con đường học tập của ông khác đi đôi chút, ông có thể đã học cùng khóa với họ tại học viện chính. Nhưng lịch sử đã rẽ sang hướng khác.

(Ngày tốt nghiệp West Point – cùng cha mẹ ruột và cha mẹ đỡ đầu)

V. West Point và lựa chọn binh nghiệp

Sau khi tốt nghiệp Học viện Quân sự Hoa Kỳ West Point năm 1986, Pat Reardon được phong sĩ quan Bộ binh.
Ông bước vào quân ngũ trong bối cảnh Hoa Kỳ đang mở rộng vai trò tại nhiều khu vực trên thế giới. Những năm đầu phục vụ đưa ông đến Đức, trong một đơn vị trinh sát tầm xa – môi trường đòi hỏi kỷ luật thép và khả năng thích ứng cao.
Tại đây, ông trải qua các vị trí chỉ huy trung đội và công tác tham mưu, trước khi đơn vị được nâng cấp năng lực nhảy dù và tham gia các chiến dịch lớn đầu thập niên 1990.
Tinh thần huấn luyện khắc nghiệt, cùng trải nghiệm thực địa, đã định hình phong cách quân sự của ông trong suốt sự nghiệp sau này.

VI. Ranger, Hawaii và không gian châu Á – Thái Bình Dương

Sau giai đoạn châu Âu, ông trở về Hoa Kỳ và phục vụ trong môi trường huấn luyện đặc biệt của Lực lượng Ranger tại Fort Benning. Đây là nơi đào tạo những sĩ quan và binh sĩ tinh nhuệ nhất của Lục quân Hoa Kỳ.
Song song với công tác huấn luyện, ông tiếp tục học cao học tại Đại học Hawaii, mở rộng nghiên cứu về khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Sau đó, ông được phân công vào Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á – Thái Bình Dương (APCSS) tại Honolulu, nơi ông đảm nhiệm vai trò sĩ quan khu vực, làm việc với nhiều quốc gia trong khu vực.
Chính giai đoạn này giúp ông kết nối trở lại với phần gốc rễ của mình – châu Á, Việt Nam, và những câu hỏi chưa bao giờ biến mất từ tuổi thơ.

VII. Trở lại Việt Nam – một vị trí đặc biệt

Một bước ngoặt quan trọng đến khi ông được chọn làm Sĩ quan Quốc phòng cao cấp và Tùy viên Quốc phòng tại Việt Nam.
Đây là nhiệm vụ mang tính lịch sử: một người sinh ra tại miền Nam Việt Nam trước 1975, từng là trẻ em tị nạn, nay trở lại trong vai trò đại diện quân sự cấp cao của Hoa Kỳ tại chính quê hương cũ.
Tuy nhiên, tiến trình không dễ dàng. Phía Việt Nam ban đầu từ chối cấp thị thực ngoại giao, do hồ sơ cá nhân của ông liên quan đến quân đội Việt Nam Cộng Hòa và hoàn cảnh gia đình sau 1975.
Chỉ sau nhiều tháng trao đổi ở cấp cao giữa hai chính phủ, quyết định chấp thuận mới được đưa ra.

VIII. Hà Nội – những cuộc đối thoại không cần thông dịch

Trong thời gian công tác tại Hà Nội, ông đảm nhiệm vai trò tùy viên quốc phòng trong một giai đoạn nhạy cảm của quan hệ hai nước.
Điểm đặc biệt là ông sử dụng tiếng Việt trong các cuộc gặp với giới chức quân sự Việt Nam, không cần phiên dịch. Điều này giúp giảm đáng kể khoảng cách giao tiếp, đồng thời tạo dựng mức độ tin cậy nhất định trong quan hệ công tác.
Trong nhiệm kỳ kéo dài hơn ba năm, ông tham gia thúc đẩy nhiều cơ chế hợp tác quốc phòng song phương, trong đó có các thỏa thuận về phối hợp an ninh và trao đổi quân sự – được xem là những bước tiến quan trọng sau thời kỳ bình thường hóa quan hệ.
Đáng chú ý, trong thời gian này, cả thân phụ ruột và cha đỡ đầu của ông đều có dịp đến Hà Nội thăm ông, tạo nên một khoảnh khắc hiếm hoi: ba người, ba hành trình, hội tụ tại một điểm giao thoa lịch sử.

IX. Afghanistan và đoạn kết binh nghiệp

Sau nhiệm kỳ tại Việt Nam, ông tiếp tục đảm nhận vai trò Giám đốc Văn phòng Hỗ trợ An ninh tại Afghanistan, phụ trách quản lý ngân sách lớn và chương trình huấn luyện, trang bị cho lực lượng an ninh sở tại.
Đây là một trong những nhiệm vụ cuối cùng trước khi ông rời quân ngũ sau 28 năm phục vụ, với cấp bậc Đại tá.

X. Khép lại vòng tròn

Sau nhiệm vụ tại Việt Nam, ông tiếp tục đảm trách công việc tại Afghanistan, rồi về hưu với cấp bậc đại tá sau 28 năm quân vụ.
Nhìn lại toàn bộ hành trình, COL Pat Reardon từng chia sẻ trong một cuộc phỏng vấn rằng cuộc đời ông giống như một vòng tròn khép kín: “Tôi là một cậu bé rời Việt Nam trong khói lửa chiến tranh, rồi trở lại với tư cách sĩ quan cao cấp của Hoa Kỳ. Đó là một vòng đời khép kín.”
Chiếc vòng tay với ba chữ “chăm chỉ, vui vẻ, ngoan ngoãn” mà người cha trao năm nào, theo ông, vẫn là điều dẫn đường trong suốt cuộc đời binh nghiệp.
Và như thế, câu chuyện của Nguyễn Đức Độ không chỉ là hành trình của một cá nhân, mà còn là một lát cắt lịch sử – nơi chiến tranh, ly tán và hòa giải gặp nhau trong một đời người.

ST
Nguồn:

Tố Miên Sưu Tầm

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2026

Người Về Trên Phá Tam Giang - Thơ: Trần Đại Bản & Quang Hà - Nhạc: Trần Đại Bản - Ca Sĩ: Vân Khánh

Thơ: Trần Đại Bản & Quang Hà
Nhạc: Trần Đại Bản
Ca Sĩ: Vân Khánh


Hai Quê Một Bề

( Sông Long Hồ Vĩnh Long)

Long lanh  Sông nước chạnh lòng 
Chạnh lòng giọt lệ hai dòng hai Quê
Hai Quê Cũ, Mới một bề 
Một bề thương nhớ một bề nhớ ơn  


Vô Nhiễm
16.06.2026
 

Vườn Rau Xanh Lá


Vườn rau xanh lá mây trời
Nắng mai chiếu rọi gởi lời bốn phương
Xa xôi cách trở dậm đường....
Tình thân thăm hỏi lời thương thân tình
Chúc anh chúc chị nhà mình
Thần an khí tịnh tâm sinh nhân hòa
Bốn phương hòa hợp một nhà
Phương trời vẫn nhớ tình ta thuở nào
Trường xưa lối cũ tăm hao
Một thời cắp sách mộng đào xuân xanh
Qua rồi một thuở mộng lành
Đường đời vạn ngã chút tình nào phai
Nào khi gió bắc mưa mai....
Vầng mây tóc bạc hình hài khẳng khiu
Màng chi vóc dáng mây chiều
Tình xưa nghĩa cũ chẳng xiêu lối mòn......!


Thơ& Ảnh: Ngư Sĩ

Thăng Long Thành Hoài Cổ - Hoài Hương

(Ảnh: Thành Tàu)

Xướng:

Thăng Long Thành Hoài Cổ
Tạo hoá gây chi cuộc hý trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn chau mặt với tang thương.
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

Bà Huyện Thanh Quan
***
Họa:

Hoài Hương

Quê người thao thức suốt canh trường
Mòn mỏi trông vời mắt đẫm sương
Xa tổ đau lòng đầu điểm bạc
Nhớ nhà xót cảnh buổi tà dương
Lều tranh xóm cũ còn vương vấn
Vách đất làng xưa mãi luyến thương
Viễn xứ lạc loài sầu trĩu nặng
Đèn khuya hiu hắt rọi đêm trường.

Nguyễn Thành Tài
2020-7-25

Xin Trao Cầu Thủ Vòng Hoa Tặng !

(nguồn : internet) 2 phút sau, 90+8, trọng tài thổi còi kết thúc trận đấu).

‘’Xin trao thi sĩ vòng hoa tặng / Chúng ta đã thắng giữa cuộc đời’’ là hai câu thơ cuối trong bài ‘’Gởi Quách Thoại’’, của một người bạn gởi một người bạn vừa qua đời (11/1957), của một nhà thơ vinh danh người thơ.

Hôm nay, xin mượn hai câu thơ của thi sĩ Thanh tâm Tuyền tôi ‘’xin trao cầu thủ vòng hoa tặng / các anh đã thắng giữa cầu trường ‘’. Ở đây, ‘’các anh’’ là các cầu thủ của hội tuyển Cap-Vert và cầu trường là cầu trường Atlanta hôm kia (15/6). Mặc dầu không có bàn thắng nào được ghi nhưng chuyện một hội tuyển hạng 67, lần đầu tham gia giải túc cầu thế giới, thủ hòa hội tuyển nhất, nhì thế giới ‘’La Roja’’(Tây Ban Nha), trong suốt 95 phút, với tôi, là một chiến thắng!

Các tuyển thủ ‘’Cap-Vert’’ đều xứng đáng được tưởng thưởng‘’Anh dũng Bội tinh’’ nhưng người có thêm ‘’Nhành dương liễu’’ phải là thủ môn Vozinha! Không chỉ là bức ‘’Vạn Lý Trường Thành’’ trước những cú sút mạnh bạo, bất ngờ, ngoạn mục vv của đối phương, Vozinha còn là một hậu phương vững chắc để đồng đội giữ vững niềm tin, tiếp tục chiến đấu, tiếp tục ‘’tử thủ’’, chống trả các cuộc tấn công vũ bảo vv để cuối cùng, mang về ‘’chiến thắng’’! Như các chiến sĩ QLVNCH trong trận chiến An Lộc năm xưa ! Khác cái là cầu trường Atlanta không như chiến trường An Lộc. Ở Atlanta chỉ có 2 đội chơi ‘’tay (?) đôi’’, 11 tuyển thủ đối mặt 11 tuyển thủ, trong tinh thần thượng võ. Không như ở An Lộc, mà pháo Tàu, ''tăng'' Nga, súng Tiệp Khắc, và ‘’biển người’’ Bắc Việt, đánh hội đồng chiến sĩ miền Nam, quyết ''giải phóng'' thành phố này !

Sau trận 18h (giờ Pháp) ''Espagne- Cap_Vert'' là trận 21h ''Bỉ - Ai Cập'' cũng gay cấn không kém. Hạng 9 trong top ten ( bảng xếp hạng FIFA), hội tuyển Bỉ đã một thời làm mưa, làm gió trong các giải túc cầu (thế giới,Châu Âu) ra quân đụng hội tuyển Ai Cập, tuy hạng 29 (FIFA) nhưng đã 7 lần vô địch giải túc cầu Châu Phi, 3 lần á khoa, 3 lần huy chương đồng . Không ‘’kỳ phùng địch thủ’’ nhưng hội tuyển Ai Cập cũng không phải là tô cháo lòng dễ nuốt cho hội tuyển Bỉ ! Tuy chịu nhiều sức ép từ ‘’Bỉ’’, phút 19, tiền vệ Ashour của Ai Cập, bằng một cú sút vũ bảo , đã tung lưới thủ thành Courtois, mở màn tỷ số! Mãi đến phút 66, vừa mới vào sân, tiền đạo Lukaku ( tôi không dám ‘’việt-hóa’’ tên này ! ) đã xung phong quyết liệt khiến hậu vệ Hany của Ai Cập ‘’quíu’’ chân, đã ‘’quân ta giết quân mình’’, đưa banh vào lưới nhà, gỡ huề cho Bỉ . 1-1

00h, trận ''Uruguay- Arabie_Saoudite''. Hàng 16e đụng hàng 61e. Ngay phút đầu, hai bên đã lên xuống đều đều, tuy các cầu thủ Uruguay lên nhiều hơn ! Vậy đó, mà đến lúc hẹn lại không .. lên, để bên tấn công dồn dập lại là bên bị tung lưới, vài phút trước khi kết thúc hiệp nhì, mà tác giả là trung vệ Al-Amri (A. S) vòng ! Cầu trường hiệp nhì hầu như chỉ thu gọn ở sân cỏ Arabie-Saoudite với người hùng thủ môn Al-Owais. Không có đôi bàn tay vàng Owais, hội tuyển A.S đã ăn ‘’hột gà 7 món’’ ! Nhưng ‘’có công tấn …tới, có ngày banh vô’’. Ở phút 80, khi thủ môn Owais, đã đỡ được cú đội đầu của Vinas, nhưng banh lại rớt, cho trung vệ Araujo của Uruguay lập tức nhảy vào đá bồi, gỡ hòa 1-1, rửa mặt cho đội nhà !

Ngày 15/6/2026 trong giải Fifa 2026 là ‘’một ngày không như mọi ngày’’: ngày tôi ngồi xem 3 trận đấu , từ 18h đến 2h, 3 trận ‘’huề cả làng’’ ( tuy có ‘’ 600 ngàn Cap-Verdiens vui và 48 triệu Espagnols buồn’’!) Dù đó là trận ra quân đầu tiên của sư tử ‘’Espagne’’, beo gấm ‘’Belgique’’, cọp ''Uruguay''! Ngày 15/6/2026, tôi ‘’xin trao 2 thủ môn: Al-Owais, Vozinha. vòng hoa tặng’’!

Hôm qua 16/6/2026, 20h45 là tôi đã có mặt trước màn ảnh truyền hình, nôn nóng chờ xem trận ra mắt giữa đàn gà Gaulois (France) và bầy sư tử Teranga (Senegal), thứ 16 trong bảng xếp hạng Fifa! Với tôi, đây là trận đấu sôi nổi nhất, hồi hộp nhất (lo cho gà …nhà), từ hôm bắt đầu giải. Qua những màn tấn công, phòng thủ, liên tục, lên xuống nhịp nhàng giữa hai đội, bắt khán giả phải luôn dán mắt lên màn ảnh.

Ngay sau tiếng còi mở màn, chính cái tốc độ đưa banh, dẫn banh, sút banh của các tuyển thủ ‘’Senegal’’ bắt buộc đối phương phải ăn miếng, trả miếng, đã làm cho trận đấu hấp dẫn người xem. Nhất là hiệp đầu, khung thành Pháp bị đe dọa liên tục. Mãi đến phút thứ 66 mới thấy hơi yên, sau khi Mbappe, trong vùng cấm địa Senegal, mở đầu tỷ số .

‘’Hơi yên’’ vì tuyển thủ Pháp đã lấy lại niềm tin, đá ‘’đẹp’’ hơn, hay hơn. Ngược lại với phía Senegal! Và chỉ 16 phút sau, đuổi theo đường chọc banh của tiền vệ Rabiot, tiền đạo Barcola, ‘’ở quê mới lên’’ (thay Dembélé, phút 80) nên sung lắm, phóng Porsche ào xuống, hất banh qua đầu thủ môn Senegal đang lao ra chận lại, nâng tỷ số 2-0 cho Pháp!

Phút 90+5, tuyển thủ Senegal, I.Mbaye (đồng đội với Barcola, Mbappe, trong hội tuyển PSG), với cú sút chéo góc trước khung thành Pháp, rút tỷ số xuống 1-2. Nhưng chỉ 1 phút sau, từ 28m trước lưới Senegal, Mbappe, bằng 12 thành công lực, bắn thẳng vào lưới Mondy. Cú sút đẹp nhất từ ngày bắt đầu giải cũng là cú sút đưa Mbappe vào lịch sử hội tuyển Pháp, đứng đầu với 58 bàn ghi (vượt qua Giroud : 57 bàn)

2 phút sau, 90+8, trọng tài thổi còi kết thúc trận đấu.).

Xin trao tiền đạo vòng hoa tặng
‘’Chúng ta’’ đã thắng giữa cầu trường.

Tới luôn, Gà ơi !

BP
17/06/2026

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2026

Cáo Phó Thi Sĩ Hoa Văn Đã Mãn Phần



Tiễn Biệt Hoa Văn - Trần Quốc Bảo

Nguyễn Phú Long, Hoa Văn-Ngô Văn Hòa, Trần Quốc Bảo,

Thôi rồi!... lão hữu Hoa Văn! (*)
Gặp nhau mới đó, đã thành cố nhân!
Thế là trọn cuộc phù vân.
Tình thơ để lại, tuyệt luân cho đời!

Hoa Văn tri kỷ, bạn ơi…
Làm sao quên được, những lời tâm tư,
Nhắc về chiến cuộc xa xưa,
Vùng Hai Chiến Thuật, tình cờ gặp nhau,

Túi thơ, bầu rượu… thật ngầu!
Cũng M-16 địa đầu Pleiku!
Rồi ta hội hữu qua thơ,
Tri âm tri kỷ, tới giờ quý thay!

Giang sơn gặp hội chẳng may,
Hoa Văn hứng chịu, tù đày bao năm!
Vẫn hồn trung liệt sao băng!
Trái tim cho Nước, tấm lòng cho Thơ.

Rời Quê Mẹ, diện HO,
Thuyền thơ lưu lạc, tới bờ Richmond.
Phú Long, Quốc Bảo, Hoa Văn,
Bút thơ gốc lính, kết thành Tam Đa.

Phú Long khuất bỏ đã xa,
Hoa Văn nay, tách thuyền qua bến rồi!
Richmond còn lại mình tôi.
Trang thư nhòa lệ, bồi hồi tiếc thương!

Rượu bầu, kể đã mất hương,
Túi thơ, kể cũng văn chương vô tình!
Bên khay trà, chỉ riêng mình,
Tôi ngồi độc ẩm, một bình… ba ly…

Hoa Văn ôi!... bạn cố tri,
Ly này tiễn bạn, an quy non bồng!
Ly này… nhớ Nguyễn Phú Long,
Ngàn thu an giấc, ngoài vòng trần ai!

Thôi thì… số mệnh an bài…
Ly này thành kính… dâng hai bạn hiền!
Tôi lau nước mắt ưu phiền,
Hẹn nhau tái ngộ nơi miền thiên thai!

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia
---o0o--
Thưa anh Trần Quốc Bảo.

Sau khi Phương Hoa em đọc bài Thơ tiễn biệt của “anh tiền bối” Trần Quốc Bảo viết cho cố thi si Hoa Văn, em xúc động vô cùng. Có thể thấy tình bạn và tình huynh đệ chi binh của các anh thật đáng quí và đáng ngưỡng mộ.

Các anh đã có một tình bạn rất cao cả và thiêng liêng , nên khi anh Hoa Văn mất đi , anh Trần Quốc Bảo rất đau lòng, nhỏ lệ làm một bài thơ thật hay và thật cảm động.

Bài thơ của anh Trần Quốc Bảo là lời tiễn biệt nghẹn ngào của người lính già trước sự mất mát người bạn thân và cũng là người tri kỷ. Từng câu thơ thấm đẫm tình bằng hữu, tình chiến hữu và tình cùng yêu văn thơ "tâm đầu ý hợp" khiến người đọc cảm nhận được nỗi cô đơn quặn thắt của người ở lại. Đặc biệt hình ảnh “một bình… ba ly…” thật cảm động.

Do đó, Phương Hoa mạo muội làm nhạc bài thơ này, để góp phần vinh danh nhà thơ kỳ cựu Hoa Văn, mà chưa kịp xin phép anh TQ Bảo, mong anh lượng thứ .

Kính gửi anh T Quốc Bảo.


Em xin cảm ơn
Phương Hoa

Kính Tiễn Thi Sĩ Đại Lão Hoa Văn - Cao Mỵ Nhân

 

(Thay lời phúng điếu Thì Sĩ vừa mãn phần)

Nối vần thương đại lão HOA VĂN
Lục bát thi vương thủa họa vần
Người đã hôm nay về Vĩnh Cửu
Thơ còn ngàn thủa với phong vân
Bao nhiêu thức giả chào ly biệt
Bấy khách tài hoa khóc tiễn chân
Rượu rót ba ly sầu Quốc Bảo
Trần huynh độc ẩm ngó trăm năm. …

Hawthorne. 14 - 6 - 2026
Cao Mỵ Nhân

Trang Long Hồ Vĩnh Long Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Thi Sĩ Hoa Văn

 

 

Văn Bút VNVĐBHK Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Thi Sĩ Hoa Văn


 

VBVNHN Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Thi Sĩ Hoa Văn


 

Thư Mời Viết Bài Tưởng Niệm Thi Sĩ Hoa Văn - Võ Phú


Kính gửi quý văn hữu, thi hữu và những người bạn thân quý của thi sĩ Hoa Văn,
Với sự đồng thuận của anh Ngô Huy Minh cùng gia đình thi sĩ Hoa Văn, chúng tôi đang thực hiện tập thơ cuối cùng của ông mang tên “Ngày Tháng Mây Bay”, như một nén tâm hương, một lời tiễn biệt đầy yêu thương gửi đến người thi sĩ đã dành trọn đời mình cho thi ca và tình người.
Ngoài những tác phẩm chưa từng được in ấn của thi sĩ Hoa Văn sẽ được giới thiệu trong tập sách này, chúng tôi tha thiết kính mời quý văn hữu, thi hữu và bằng hữu gần xa từng có dịp đồng hành, gặp gỡ, hoặc gắn bó với nhà thơ Hoa Văn, cùng góp mặt bằng những bài viết tưởng niệm, hồi ký, cảm nhận hoặc những kỷ niệm sâu sắc về ông.
Mỗi câu chuyện, mỗi ký ức, dù giản dị hay sâu lắng, đều là những tình cảm quý giá giúp khắc họa chân dung một người thi sĩ đã để lại dấu ấn đẹp trong lòng bạn bè và người yêu thơ. Đó cũng là cách để chúng ta cùng lưu giữ những tình cảm chân thành, những cuộc gặp gỡ đáng nhớ và những giá trị tinh thần mà thi sĩ Hoa Văn đã trao gửi trong suốt hành trình thi ca của mình.
Chúng tôi rất mong nhận được sự hưởng ứng và đóng góp của quý vị trong thời gian sớm nhất để kịp hoàn tất tuyển tập, dự kiến phát hành nhân dịp 49 ngày tưởng niệm thi sĩ Hoa Văn.
Xin hãy cùng nhau viết nên những trang hồi ức đẹp nhất, để tiễn đưa người thi sĩ tài hoa trên chuyến hành trình cuối, và để những vần thơ cùng tình bằng hữu vẫn còn mãi với thời gian.
Bài viết xin gửi về:
Thay mặt Ban thực hiện tuyển tập “Ngày Tháng Mây Bay”,
Xin trân trọng cảm ơn và kính chúc quý văn hữu, thi hữu cùng gia quyến nhiều sức khỏe, an lành.
“Người đi như áng mây bay,
Còn thơ ở lại, còn đầy nghĩa ân.”

p.s. Xin chuyển tin này đến bạn bè văn thi hữu với nhà thơ Hoa Văn
--
Thi Sĩ Hoa Văn, Ngô Văn Hòa, Đã Rong Chơi Theo “Ngày Tháng Mây Bay”

Chiều hôm qua, tôi nhận được email của thi sĩ Trần Quốc Bảo báo tin nhà thơ Hoa Văn đã vĩnh viễn rời xa cõi tạm. Dù biết sinh tử là quy luật muôn đời của kiếp nhân sinh, biết đời người chỉ là một chuyến hành trình ngắn ngủi giữa dòng thời gian vô tận, nhưng khi hay tin ông qua đời, lòng tôi vẫn không khỏi bàng hoàng, hụt hẫng và ngậm ngùi.
Có những người khi hiện diện, ta quen với sự hiện diện ấy đến mức nghĩ rằng họ sẽ còn đó rất lâu. Để rồi khi họ ra đi, khoảng trống để lại không chỉ là sự vắng mặt của một con người, mà còn là sự mất mát của một tâm hồn, một tiếng nói, một nhân cách và một đời thơ.
Tuần trước, trong lúc tôi cùng gia đình đang nghỉ hè tại Acadia National Park, bác Trần Quốc Bảo gọi điện cho tôi. Giọng bác trầm xuống khi kể rằng vừa liên lạc với anh Minh, người con trai của thi sĩ Hoa Văn, và được biết sức khỏe của bác đã suy kiệt. Bệnh viện đã cho ông trở về nhà vì không còn nhiều hy vọng hồi phục.
Bác Trần Quốc Bảo hỏi tôi:
“Mai mốt cháu về, có thể chở bác đến thăm bác Hoa Văn được không?”
Lúc đó tôi vẫn còn ở xa. Tôi thưa với bác rằng khi trở về sẽ liên lạc ngay.
Nhưng cuộc sống vốn luôn cuốn con người vào những bộn bề thường nhật. Sau gần mười ngày vắng nhà, biết bao công việc tồn đọng chờ giải quyết. Con gái bước vào mùa thi đấu bơi lội. Tôi phải đưa cha mẹ đi khám bệnh, lo việc cho trường Việt ngữ, phụ giúp vợ trong công việc gia đình khi khách mang quần áo đến sửa chữa ngày một nhiều...
Tôi vẫn nghĩ mình còn thời gian.Tôi vẫn nghĩ rồi sẽ có dịp đến thăm ông... Nhưng.... cuộc đời đôi khi không cho chúng ta cơ hội để thực hiện những điều mình dự định.
Sáng hôm qua, tôi nhận email của bác Trần Quốc Bảo cho biết bác vừa đến thăm nhà thơ Hoa Văn. Ông rất yếu, nói chuyện khó khăn. Đến chiều, tin buồn lại đến: nhà thơ Hoa Văn đã ra đi.
Tôi lặng người! Một người bạn thơ lớn đã khép lại hành trình gần một thế kỷ nhân sinh.
-oOo-
Nhà thơ Hoa Văn, bút hiệu trước năm 1975 là Anh Hoa, tên thật là Ngô Văn Hòa.
Ông sinh ngày 8 tháng 3 năm 1932 tại làng Thượng Thị, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Ông là cựu Trung tá ngành Chiến tranh Chính trị của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, từng trải qua 11 năm tù cải tạo sau biến cố năm 1975 trước khi định cư tại Hoa Kỳ năm 1993 theo diện tị nạn cộng sản.
Nhưng điều làm nên tên tuổi Hoa Văn không phải quân hàm hay những biến động lịch sử ông từng trải qua.
Điều còn lại trong lòng bạn bè và độc giả chính là thơ.
Ông làm thơ từ năm 1954 và dành trọn hơn bảy mươi năm cuộc đời để sống với thơ, yêu thơ và phụng sự thơ.

Từ những tập thơ đầu tiên xuất bản tại miền Nam trước năm 1975 như:
Đường Em Hoa Nở (1964)
Thơ Anh Hoa (1965)
Thơ Lục Bát (1966)
Mưa Cao Nguyên (1966)

Ðến hơn hai mươi thi phẩm được xuất bản tại Hoa Kỳ sau này, ông chưa từng rời xa thi ca. Những tác phẩm như:
Thơ và Thời Gian
Tạ Ơn Đời
Che Đời Mưa Bay
Như Áng Mây Hồng
Vạt Nắng Bên Đời
Cõi Thơ Ta Ở Một Đời
Gió Cuốn Mây Bay
Dòng Thơ Cho Em
Hương Tình Hoài Điệp
Dòng Tình Yêu Em
Hoa Nở Đường Về
Đồi Lá
Tuyển Tập Bảy Mươi Năm Thi Ca
Thơ Ơn Tạ Tình Chia
Chút Tình Còn Lại
Lòng Ta Như Một Cung Đàn

Những thi tập nối tiếp nhau ra đời trong suốt hơn bảy thập niên sáng tác đã trở thành những dấu mốc đáng trân trọng trên hành trình thi ca bền bỉ của nhà thơ Hoa Văn. Mỗi tập thơ không chỉ ghi lại một giai đoạn đời người, mà còn là những trang nhật ký tâm hồn, phản chiếu những suy tư, trải nghiệm và chiêm nghiệm mà ông đã tích lũy qua bao biến động của cuộc sống. Từ những năm tháng tuổi trẻ đầy mộng mơ, qua những giai đoạn chiến tranh khốc liệt, những năm dài tù đày, cho đến cuộc sống lưu vong nơi xứ người, thơ vẫn là người bạn đồng hành trung thành, là nơi ông gửi gắm tâm sự và giữ gìn những giá trị đẹp nhất của tâm hồn mình.
Trong số những đề tài ông theo đuổi, thơ tình là lãnh vực làm nên dấu ấn đặc biệt của Hoa Văn trong lòng độc giả. Tuy nhiên, thơ tình của ông không phải là những rung động bồng bột hay những đắm say mãnh liệt của tuổi đôi mươi. Đó là thứ tình yêu đã được thời gian gọt giũa, được cuộc đời thử thách và được chưng cất qua biết bao vui buồn, mất còn của kiếp nhân sinh.
Tình yêu trong thơ Hoa Văn mang vẻ đẹp trầm lắng và sâu sắc của một người đã đi qua gần trọn một đời người. Đó là tình yêu của người từng chứng kiến chiến tranh và hòa bình, từng trải qua ly/biệt và đoàn viên, từng nếm trải những mất mát không thể bù đắp và những hạnh phúc giản dị đời thường. Trong những vần thơ ấy, người đọc không chỉ bắt gặp hình bóng của một người yêu, một người vợ hay một cuộc tình, mà còn thấy được tình yêu dành cho gia đình, cho bạn hữu, cho quê hương và cho chính cuộc đời.
Có lẽ vì vậy mà thơ tình của ông luôn mang đến cảm giác ấm áp và bao dung. Dù viết về nhớ thương hay xa cách, ông không oán trách. Dù nhắc đến những mất mát hay đổi thay, ông không bi lụy. Ngược lại, trong từng câu chữ luôn thấp thoáng một tấm lòng biết ơn đối với những người đã đi qua cuộc đời mình và đối với những gì cuộc đời đã ban tặng. Nếu tuổi trẻ yêu bằng cảm xúc, thì thơ tình của Hoa Văn là tình yêu của sự thấu hiểu. Nếu tuổi trẻ thường hướng về những điều đang có, thì thơ ông là tiếng lòng của người biết nâng niu cả những điều đã mất. Bởi thế, thơ tình của ông không chỉ là thơ của tình yêu đôi lứa, mà còn là thơ của ký ức, của lòng tri ân, của sự thủy chung và của niềm tin vào những giá trị đẹp đẽ còn mãi với thời gian.
Đọc thơ Hoa Văn, người ta có cảm giác như đang ngồi bên một người bạn già hiền hậu, lắng nghe ông kể lại những câu chuyện của một đời người đã đi qua bao dâu bể. Trong những câu chuyện ấy có nỗi buồn nhưng không tuyệt vọng, có tiếc nuối nhưng không bi thương, có chia ly nhưng vẫn ánh lên niềm tin yêu cuộc sống. Chính sự từng trải, độ lượng và nhân hậu ấy đã tạo nên nét riêng rất khó nhầm lẫn trong thơ ông, đồng thời giúp những vần thơ của ông vượt qua giới hạn của thời gian để tìm được sự đồng cảm nơi nhiều thế hệ độc giả.
Với Hoa Văn, tình yêu không chỉ là cảm xúc để làm thơ. Tình yêu còn là cách ông sống, cách ông nhìn người, nhìn đời và cũng là món quà đẹp nhất mà ông để lại cho những người còn ở lại sau cuộc rong chơi gần một thế kỷ giữa cõi nhân gian.
-oOo-
Khoảng đầu tháng Tư năm nay, nhà thơ Hoa Văn gửi email cho tôi.
Ông nhờ tôi giúp thực hiện thi tập thứ hai mươi bốn mang tên “Ngày Tháng Mây Bay.”
Trong thư, ông viết:
“Nếu thuận tiện, lo in giùm bác tập thơ mới: Ngày Tháng Mây Bay. Và không trở ngại, bác nhờ cháu viết cho bài cảm nhận về tập thơ này. Cũng như các bài viết của Vinh Hồ, Song Nhị…Cảm ơn cháu.
Cháu từ từ layout, nhưng in xong sớm được ngày nào hay ngày đó, vì bác e không sống lâu hơn được nữa.”
Đọc những dòng chữ ấy, tôi mới cảm nhận hết sự bình thản của một người đang đối diện với chặng cuối cuộc đời.
Email sau đó, ông gửi cho tôi tấm chân dung để làm bìa sách. Tôi hoàn thành bìa mẫu (đính kèm) và chờ nhận bản thảo. Nhưng rồi không thấy ông gửi. Tôi gọi điện thoại, ông nói:
“Nếu cháu rảnh thì ghé nhà bác một chút, bác có chuyện muốn nói.”
Trưa hôm ấy, tôi lái xe đến thăm ông. Căn nhà vẫn yên tĩnh như mọi lần tôi ghé qua. Chú chó nhỏ quen thuộc trong sân nghe tiếng xe lạ liền chạy ra sủa vang. Những lần trước, ông thường cất tiếng la yêu để trấn an nó rồi chậm rãi bước ra đón khách. Nhưng lần này, tiếng sủa vẫn vang lên trong khoảng sân vắng, còn ông chỉ ngồi lặng bên trong nhà, không còn đủ sức để cất cao giọng như trước nữa.
Bước vào căn phòng nhỏ quen thuộc, tôi không khỏi chạnh lòng. Người thi sĩ mà tôi từng gặp với ánh mắt tinh anh, nụ cười hiền hòa và giọng nói trầm ấm nay đã gầy đi rất nhiều. Thân hình ông như nhỏ lại trong chiếc ghế cũ. Khuôn mặt hốc hác, nước da xanh xao, từng cử động đều chậm chạp và nặng nhọc. Dấu vết của những lần ra vào bệnh viện hiện rõ trên gương mặt và trong hơi thở đứt quãng của ông.
Thế nhưng, điều làm tôi xúc động nhất không phải là sự mệt mỏi của tuổi già hay bệnh tật, mà là vẻ bình thản hiện lên trong ánh mắt ông. Đó là ánh mắt của một người đã đi qua gần trọn một đời người, đã nếm trải đủ những thăng trầm của cuộc sống và đang lặng lẽ chấp nhận quy luật vô thường của tạo hóa. Sau vài câu thăm hỏi sức khỏe, ông nhìn tôi, khẽ nở một nụ cười hiền và nói bằng giọng thều thào, đứt quãng:
“Cảm ơn cháu đã đến thăm bác. Nhưng bác xin lỗi, bác đổi ý rồi. Bác không muốn in tập thơ mới nữa. Bao nhiêu đó chắc cũng đủ rồi...”
Tôi lặng người trước câu nói ấy. Không phải vì bất ngờ, mà bởi tôi cảm nhận được trong từng lời nói của ông một sự buông bỏ rất nhẹ nhàng. Không tiếc nuối, không bận lòng, cũng không còn những dự định dang dở mà người ta thường cố níu giữ ở cuối đời. Chỉ là sự thanh thản của một người đã hoàn thành hành trình của mình và đang bình tâm nhìn lại những gì đã đi qua. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng điều ông muốn nói không chỉ là chuyện một tập thơ chưa xuất bản. Có lẽ sâu thẳm trong lòng, ông đang âm thầm khép lại những trang cuối cùng của cuộc đời mình, giống như một thi sĩ đặt dấu chấm hết cho bài thơ dài đã viết suốt hơn bảy mươi năm bằng tất cả tâm hồn và tình yêu dành cho cuộc sống.
Tôi cố gắng thuyết phục:
“Bác cứ gửi bản thảo cho cháu. Cháu sẽ làm như những lần trước.”
Ông mỉm cười.
“Thôi cháu. Bác thấy như vậy là đủ rồi.”
Đó là cuộc trò chuyện cuối cùng giữa chúng tôi.
Khi ra về, tôi khẽ vỗ lên vai ông:
“Bác nghỉ ngơi cho khỏe, còn làm thêm nhiều bài thơ để đăng Facebook cho mọi người đọc nữa.”
Ông chỉ mỉm cười.
Nụ cười ấy giờ đây đã trở thành ký ức.
-oOo-
Điều khiến tôi kính trọng thi sĩ Hoa Văn không chỉ là tài thơ. Điều đáng quý nhất nơi ông chính là nhân cách. Là một người từng trải qua chiến tranh, tù đày và biết bao biến động lịch sử, ông có đủ lý do để cay đắng với cuộc đời, nhưng ông không như thế. Thơ ông không chất chứa hận thù. Ông không sống bằng ký ức đau thương. Ông chọn yêu đời. Ông chọn tha thứ. Ông chọn giữ lại những gì đẹp nhất của con người. Ông từng viết:
“Tôi viết thơ đời theo hướng vui
Vì đời còn chỉ bấy nhiêu thôi
Câu thơ con chữ tình cao đẹp
Chiều đã xuống rồi sương đã rơi
Còn tuổi bao nhiêu ta với đời
Chút tình xanh đỏ chút trăng rơi
Mấy mươi năm đã theo nghề chữ
Một cõi lòng son một cõi vui
Tôi vẫn vui dù chiều đã tàn
Cuộc đời gió thoảng với mây tan
Tuổi không còn nữa cho mùa nữa
Chiều đã già rồi vẫn vẻ vang
Tôi vẫn còn đi tôi vẫn đi
Chút duyên thơ vẫn tuổi theo về
Mấy mươi năm đã như tròn mộng
Chút nghiã chút tình trọn ước mơ”
(DUYÊN THƠ, bài 152)
Võ Phú
Richmond 061226

Duyên Thơ - Thơ Hoa Văn - Nhạc Nguyễn Tuấn - AI Cover Siliconband - Tưởng Nhớ Thi Sĩ Hoa Văn

Bài Thơ Tiễn Bạn Hoa Văn - Tế Luân

 

Nghe tin bạn đã xa trần,
Lòng tôi chợt thấy bâng khuâng ngậm ngùi.
Mới ngày nào đó cùng vui,
Mà nay người đã vi vu mây ngàn.

Một đời dâu bể đa đoan,
Phong sương phủ kín, còn loang hận thù.
Bao năm sương lạnh ngục tù,
Giữ lòng chính khí, giữ hồn Việt Nam.

Thơ là ánh lửa âm thầm,
Sưởi lòng chiến hữu giữa ngàn khổ đau.
Từ vùng lửa đạn năm nào,
Mang theo mộng lớn bước vào nhân sinh.

Bạn đi nhẹ gót vô hình,
Bỏ lại trang giấy nghĩa tình còn đây.
Richmond gió vẫn hao gầy,
Nhớ người tri kỷ những ngày đối thơ.

Trăng xưa còn đọng bên bờ,
Chén trà còn tỏa hương mơ cuối chiều.
Người đi mang cả cô liêu,
Để ai ở lại quạnh hiu bóng người.

Xin rót chén rượu giữa trời,
Tiễn người về chốn xa vời thiên thu.
Ngàn mây mở lối sương mù,
Bạn cùng Phú Long bây giờ gặp nhau.

Bên kia bến mộng nhiệm màu,
Chắc không còn những thương đau cuộc đời.
Còn tôi lặng ngắm mây trôi,
Gửi theo một nén hương lời biệt ly.

Hẹn nhau ngày cuối hành kỳ,
Khi con thuyền mỏi cũng về bến xưa.
Bạn hiền xin cứ an cư,
Tình thơ còn mãi như chưa cách rời.

Tế Luân


Tiễn Biệt Thi Sĩ Ngô Văn Hòa, Bút Danh Anh Hoa, Hoa Văn - Dương Việt Chỉnh

 

Thế là thi sĩ đã thảnh thơi
"Ngày Tháng Mây Bay" khắp nẻo trời
Nơi chốn trần gian như khúc rẽ
Người dừng chân để lại thơ vui

Nguyện cầu linh hồn người từ đây
Về miên tiên cảnh phước ân đầy
Vần thơ lai láng reo trong gió
Gia đình bằng hữu nhớ khôn khuây


Thành kính phân ưu.

Dương Việt-Chỉnh

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2026

Sài Gòn Chiều Mưa - Sáng Tác: Trường Hải & Ngọc Sơn - Trình Bày: Thanh Thúy

Sáng Tác: Trường Hải & Ngọc Sơn
Trình Bày: Thanh Thúy

Như Cánh Chim Di


Tri âm, tri kỷ hay vợ chồng…. âu cũng là duyên mệnh! Có bao người may mắn được một người xem mình là tri kỷ, dù chỉ là khoảng thời gian không dài nhưng cũng đủ một thoáng ấm lòng! “Cô đơn mới hiểu cô đơn!”….

Như Cánh Chim Di

Không hồng nhan tri kỷ
Cũng chẳng phải tri âm
Đường tình chung lối mộng
Dìu bước cõi thăng trầm…

Phải chăng trong tiền kiếp
Nợ nhau một chữ “Tình”
Kiếp duyên nầy gặp lại
Ta gọi nhau là “Mình”?

Thương nhau trao cho nhau
Chữ “Yêu” thắm sắc màu
Hương tình pha thi vị
Chung mơ dệt mộng đầu

Thời gian …thời gian qua
Tình nửa gần nửa xa
Trong không gian khoảng lặng
Cung buồn xa vắng xa

Gặp chi… yêu nhau chi!
Tình như cánh chim di
Bay về miền gió cát
Tình đến rồi tình đi …

Yên Dạ Thảo
14.06.2018

Xin Hỏi - Xin Đáp

 
(Tranh: Họa Sĩ Đặng Can - Vĩnh Long)

Xướng:

Xin Hỏi

Em về tắm nắng trên sông
Có nghe ấm dạ mát lòng không em?

24.5.2026
Phong Tâm
***
Họa:

Xìn Đáp!

Một chiều em bước sang sông
Chợt nghe xót dạ nát lòng riêng em!

Kim Oanh
4.6.2026

Chân Mây Trắng Đỉnh Núi Xanh

 

Chân mây trắng đỉnh núi xanh
Gió sương nương bóng trăng thanh nhẹ nhàng
Sầu tan thơ thẩn cung đàn
Rừng thương suối nhớ thở than sao mờ...


MD.06/02/26
LuânTâm
Thân cảm tặng "Mây Trên Đỉnh Núi"
của TVS đa tài hoa thật quý HoàngThục Uyên

Nhạc Sĩ Anh Việt Thanh - Vùng Lá Me Bay


Gió vu vu trên đồi, tiếng sóng vỗ bờ hay rừng cây xao xác lá, thoảng nghe chỉ là những tạp âm, nhưng những thanh âm đó nếu cùng hòa quyện với nhau phải chăng lại là bản giao hưởng tuyệt vời của tạo hóa? Người nghệ sĩ, nhờ có cảm xúc rất bén nhạy, đã vận dụng những âm thanh hòa phối thành nghệ thuật, gọi là âm nhạc. Tâm hồn nghệ sĩ rung động tùy theo tâm cảnh và ngoại cảnh mà sự cảm nhận của mỗi người khác nhau dù vẫn hòa chung cuộc sống. Do đó, âm nhạc đến với người thưởng thức cũng rất đa dạng, tùy vào tâm trạng và cái gu thẩm mỹ của từng người. Ngay từ buổi ban đầu của nền tân nhạc, dòng nhạc trữ tình tiền chiến cho những giai điệu mượt mà đã dệt nên những ca khúc vàng êm dịu lãng mạn: Valse, Slow, Tango, Blues, Boston nhẹ nhàng phảng phất chút âm hưởng bán cổ điển Tây phương làm rung động bao con tim.

Tình yêu và Quê hương vẫn là nhũng đề tài muôn thuở vì đó là nguồn sáng tác vô tận của nghệ sĩ. Khi đất nước bước vào giai đoạn Nam Bắc phân đôi, dòng nhạc đó dần dần bị loãng, lắng sâu vào hồn khách mộ điệu, nhường chỗ cho một thể loại khác được gọi là dòng nhạc Thời trang nổi bật là thể điệu Boléro nhằm diễn tả cái thực trạng của xã hội và thân phận con người trong một đất nước có chiến tranh. Chính ở thời đìểm khốc liệt này làng tân nhạc miền Nam xuất hiện nhiều ca khúc quê hương trữ tình đượm chất lãng mạn pha chút chiến chinh. Dòng nhạc Boléro trở nên thịnh hành vì cung bậc chất chứa những đau thương làn điệu mềm mại ai oán, diễn tả nỗi u uất thân phận người mà những người Gitan hát rong Tây Ban Nha sáng tạo ra vào cuối thế kỷ 18 để diễn tả nỗi niềm về thân phận trôi giạt của mình bằng tiếng hát và đàn guitare. Làn điệu Boléro Rumba dịu dàng tha thiết vọng theo nhịp sóng vỗ từ những hải đảo Cap Vert, Cuba xa xăm bên kia bờ đại dương kết thành cung bậc gần gũi với dân ca Việt Nam để diễn tả về thân phận con người trong chiến tranh qua giai đìệu trầm bổng ngũ cung mà lời ca tiếng nhạc đã đi vào lòng người, bàng bạc khắp mọi nơi, từ hang cùng ngõ hẻm nơi phố thị đến những thôn làng hẻo lánh nơi rừng sâu núi thẳm.
Trên quê hương Việt Nam, những nhạc sĩ miền Nam đã từng trải trong chiến tranh chứng kiến những mất mát, chia ly của đất nước, nên từ trong sâu thẳm của nỗi buồn của vết hằn quê hương đã bật lên những hình nốt, tiết tấu gieo thành bản hòa tấu thời chiến mà giai điệu còn vàng hơn thời tiền chiến, đó là: «Tiếng nấc nghẹn của tâm hồn!». Dòng nhạc thời trang đã làm rực sáng cho một số nghệ sĩ, trong đó có nhạc sĩ Anh Việt Thanh.

Miên Du, Mây Thu, Nguyễn Thùy, Anh Việt Thanh

Ông tên thật là Đặng Văn Quang sinh năm 1936 tại Làng An Hữu, Quận Giáo Đức, Tỉnh Định Tường. Ông vốn xuất thân từ gia đình nhạc sĩ có chú và anh trong nhóm nhạc Đức Quỳnh, Mạnh Phát, Châu Kỳ và Hoàng Bửu. Nhờ sự hấp thụ một nền nhạc lý vững vàng của gia đình, ông học hòa âm sáng tác của nhạc sĩ Lê Văn Tài và ngón đàn độc đáo do những nhạc sĩ Nam Huyền, Văn Khánh, Hoàng Bửu truyền dạy. Anh Việt Thanh bắt đầu sáng tác năm 1958, sau đó dạy đàn và dạy nhạc lý. Ông là một nhạc sĩ trong nhóm sáng tác của Cục Chính Huấn của quân đội, những thời gian rảnh rỗi ông đi dạy nhạc nhiều nơi thuộc các tỉnh Đà Lạt, Định Tường, Đà Nẵng, Sài Gòn từ năm 1960 đến 1975. Ông được hai giải thưởng về văn học nghệ thuật: 1966 với nhạc phẩm Phật Tử Kết Đoàn, do Viện Hóa Đạo tổ chức tại Sài Gòn và 1970 Đón Xuân Trên Đồng do Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị tổ chức tại Sài Gòn. Ngoài ra, ông là một phụ tá giám đốc cho hãng băng nhạc Nhã Ca.

Năm 1980, ông và gia định định cư tại Pháp và tiếp tục sáng tác. Năm 1990 ông chuyển lối sáng tác, bắt đầu viết nhạc phổ thơ, và đã chọn phổ nhiều bài thơ của tôi. Từ đó tôi đã giới thiệu ông với nhiều văn nghệ sĩ hải ngoại, trong đó có nhà thơ Phạm Ngọc, lúc đó đang làm chủ biên tạp chí Văn Tuyển ở San Jose, Cali. Năm 2001 ông cho ra đời CD Tương Tư, với 10 Tình Khúc Anh Việt Thanh phổ thơ Phạm Ngọc. Sau đó, ông phổ hàng loạt thơ của nhiều nhà thơ hải ngoại. Năm 2005 nhạc sĩ Anh Việt Thanh gia nhập hội Âm Nhạc Pháp (SACEM) và phát hành một số CD. Anh Việt Thanh đã cống hiến cho đời những nhạc phẩm trữ tình đầy nét thơ; có những nhạc phẩm từng vang bóng một thời trước năm 1975: Vùng Lá Me Bay, Lính (Thích) 33, (Hùng Cường trình bày) Tình Khúc Cho Người Cô Đơn, Yêu Thầm (Mai Lệ Huyền trình bày), Bụi Đời (Hùng Cường trình bày), Cho Nhau Chiều Thứ Bảy (Thanh Hùng trình bày), Đời Con Gái (Trang Mỹ Dung, Khánh Ly trình bày) Một Thuở Xa Người (Khánh Ly, Phương Dung trình bày), Hẹn Em Ngày Về (trình bày Thanh Tuyền), Ngày Xưa Em Nói (Trình bày Phương Dung), Ngày Tháng Cho Người…

Những Sáng Tác Chung:

Bụi Đời 2, 3 (Anh Việt Phương), Phố Cũ Người Xưa (Anh Việt Phương), Tình Mùa Ly Biệt (Trúc Minh), Ngày Xưa Em Nói (Anh Việt Linh, Phương Dung trình bày), Chuyện Tình Thiên Nga (Huy Thanh, Hoàng Oanh trình bày), Chuyện Mưa Mây (Phạm Chinh Đông, Trúc Mai trình bày), Tình Mùa Ly Biệt (Trúc Minh, trình bày Trúc Mai) ...
Nhạc sĩ Anh Việt Thanh tính tình hiền hòa đôn hậu, đối xử với bằng hữu chân tình. Ông ít lên Paris, thường quanh quẩn ở Troyes, thỉnh thoảng có sinh hoạt văn học nghệ thuật tôi lại mời ông về Paris. Là một nhạc sĩ chuyên nghiệp, và sống bằng nghề dựa vào âm nhạc nên những năm mới đến Pháp, ông rất trân trọng và hãnh diện mình là một nhạc sĩ, và làm nghề dạy nhạc. Nhưng những năm cuối đời ông đã chạy theo số lượng, viết vội cho có nhiều bài nhạc theo yêu cầu!

Bút danh Anh Việt Thanh của ông thường bị lẫn với bút danh của cố nhạc sĩ Anh Việt Thu, một tác giả sáng chói trong làng âm nhạc miền Nam với nhiều nhạc phẩm nổi tiếng trước năm 1975: Giòng An Giang, Hai Vì Sao Lạc, 8 Điệp Khúc, Đa Tạ… Riêng nhạc phẩm Giòng An Giang tác phẩm đầu tay viết năm 1957 giai điệu Valse lãng mạn trữ tình được nhiều danh ca trình bày, nhạc phẩm còn được đưa vào học đường, lễ hội vì đã diễn tả nét quê hương rất độc đáo, mà thuở đó ít có nhạc sĩ nào viết, mà nếu có viết cũng không thể lột tả được nét duyên quê, chất phù sa của dòng sông miền Nam. Vì rất thân với nhạc sĩ Anh Việt Thanh do đó tôi đã mời được ông lên Paris ở chơi nhà tôi nhiều lần, có lần tôi hỏi ông:
«Tại sao khi sáng tác anh lại lấy bút danh Anh Việt Thanh, anh không sợ người đời nhầm với nhạc sĩ Anh Việt Thu quá nổi tiếng?».

Anh Việt Thanh trả lời:
«Sở dĩ tôi lấy tên Anh Việt Thanh là vì tôi và Anh Việt Thu ở cùng làng, có bà con xa bên mẹ, hơn nữa tôi rất phục tài của Anh Việt Thu, nên ước muốn nơi chúng tôi sinh ra có nhiều nhạc sĩ.».

Quen biết ông rất lâu nhưng chưa bao giờ nghe ông nhắc đến nhạc phẩm sáng tác đầu tiên của ông dù rằng khuynh hướng sáng tác của ông vào thập niên 60, 70 của thế kỷ trước thiên về thể nhạc Boléro, Slowrock, Twist, Agogo... Bản nhạc Bụi Đời thể điệu Blues ra đời từ năm 1962 được hãng dĩa Việt nam phát hành tại Sài Gòn, do danh ca Hùng Cường trình bày. Không biết nhạc sĩ Anh Việt Thanh có biết trước đó có nhạc phẩm mang tên Bụi Đời đã được nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên viết ngày 06. 9.1957 cho nhạc phim do Trường Sơn Công Ty Điện Ảnh phát hành, đạo diễn Lê Mộng Hoàng thực hiện. Khoảng năm 1965 lại xuất hiện thêm hai nhạc phẩm Bụi Đời 2 và Bụi Đời 3, vì quá lâu ngày tôi nhớ lầm tên tác giả! Trong cuộc điện đàm vào đầu tháng 11 năm 2014 nhạc sĩ Anh Việt Thanh phone cho tôi cáo lỗi việc ông không lên Paris tham dự sinh hoạt ngày văn học nghệ thuật do Câu Lạc Bộ văn Hóa Paris tổ chức hôm 26 tháng 10 năm 2014 vì ông bị bệnh khá nặng, đó là lần cuối cùng tôi được nghe giọng nói ông. Trong câu chuyện tôi hỏi nhạc sĩ Anh Việt Thanh về nhạc phẩm Bụi Đời, ông cho biết không phải là tác giả hai bản đó nhưng đã có người cho ông biết tìm thấy trên internet. Tập nhạc cuối cùng của ông gởi tặng tôi: Em Nhớ Hay Quên cũng chỉ ghi bài Bụi Đời 1, thiếu nhạc phẩm Cho Nhau Chiều Thứ Bảy. Nhưng may thay nhạc sĩ Phan Anh Dũng, chủ biên tạ p chí văn học ở Virginie đã biết những nhạc phẩm đó và gởi cho tôi xem hình bìa của nhạc phẩm, trên đó ghi tác giả 3 bản nhạc Bụi Đời là sự hợp tác của hai nhạc sĩ: Anh Việt Thanh và Anh Việt Phương (là em trai của nhạc sĩ Anh Việt Thanh).

Vào thời nhạc tiền chiến thể điệu Blues đã được nhiều nhạc sĩ viết, ca khúc Bụi Đời 1, ý nhạc buồn, nhưng tiết tấu giai điệu thiên về Slow, hành âm Andante diễn tả sự lãng mạn nhẹ nhàng trữ tình như: Ngày Về của Hoàng Giác, Dư âm của Nguyễn Văn Tý, Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa của Tô Vũ, Ai Về Sông Tương của Thông Đạt, Em Tôi của Lê Trạch Lựu v.v… Điệu Blues Jazz ngoài cấu trúc phức tạp, tiết tấu giai điệu trầm bổng lãng mạn, buồn tê tái như lời than chứa đầy những giọt nước mắt của những người da đen nô lệ xa xưa đã sáng tạo ra dòng nhạc này được diễn tả qua tiếng kèn đồng vút cao rồi trầm xuống âm thanh nức nở hòa với chất giọng nghe não nuột, u uất đã thực sự chinh phục giới thưởng lãm âm nhạc miền Nam. Giữa chốn phồn hoa đô thị đầy ánh đèn màu rất yên bình có một lớp người đang sống thụ hưởng trong men rượu, khói thuốc, vũ trường mà quên đi hiện trạng của đất nước đang mịt mù khói lửa, Phần đất tự do đang bấp bênh giữa cái mất còn!

Vào giữa thập niên 60 nền tân nhạc đã đi một bước khá dài nhưng vẫn chưa hòa nhập với dòng nhạc thế giới, giới nhạc sĩ vẫn nặng tính dân nhạc, chưa dám xa rời chất ngũ cung để tìm những mới lạ trong âm nhạc, nhưng lại khéo léo xử dụng thể ngũ cung, biến các thể điệu tây phương gần gũi với tinh thần Việt Nam nên các thể điệu Boléro, Tango, Habanera, Blues đã nhập vào lời ca để diễn tả nỗi lòng, do đó những giai điệu nhạc trở nên Vàng hơn tạo thành nhạc sóng vàng. Sau nhạc tiền chiến những ca khúc mang thể điệu Blues vang bóng một thời: Thuở Ấy Có Em của Huỳnh Anh, Đời Tôi Chỉ Một Người của Huỳnh Anh, Loan Mắt Nhung của Huỳnh Anh, Những Chiều Không Có Em của Trường Hải, Đêm Nguyện Cầu của Lê Minh Bằng, Điệu Ru Nước Mắt của Vũ Lai, Anh Sơn, Linh Hồn Tượng Đá của Mai Bích Dung, Thương Hận của Tú Nhi & Hồ Đình Phương, Thúy Đã Đi Rồi của Y Vân,… Nhạc phẩm Lòng Mẹ của Y Vân cũng thể điệu Blues nhưng vì bản nhạc ca ngợi về tình Mẹ, đượm tính thiêng liêng nên được trân trọng do đó các nhạc sĩ hòa âm phối khí diễn tả theo cách riêng phù hợp với người hát. Nhạc phẩm Sao Đêm của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn có thể xem là nhạc phẩm đầu tiên mang tính Blues Jazz đặc sắc nhất ở giai đoạn đó. Thể điệu Blues: 2/4, 4/4 hay C thường dùng cho những loại nhạc nhẹ nhàng, lãng mạn có âm hưởng buồn bã nên giữa thập nên 60 nhạc sĩ Anh Việt Thanh lại cho ra nhạc phẩm Cho Nhau Chiều Thứ Bảy mang thể điệu Blues do danh ca Thanh Hùng trình bày. Cách nay nhiều năm, lúc danh ca Thanh Hùng còn tại thế, rất nhiều lần nhạc sĩ Anh Việt Thanh lên Paris đều gặp gỡ Thanh Hùng tại nhà tôi. Trong câu chuyện chúng tôi có đề cập đến bài: Cho Nhau Chiều Thứ Bảy, nhạc sĩ Anh Việt Thanh cho biết đã quên lời, ông hỏi chúng tôi còn nhớ? Tôi còn nhớ lõm bõm giai điệu với ít lời, anh Thanh Hùng cũng chỉ nhớ rất ít ca từ trong bài.

Cuối năm 2010 ông từ tỉnh Troyes lên Paris ở với chúng tôi một tuần để sinh hoạt văn học nghệ thuật với chủ đề Tác Phẩm và Tác Giả do câu lạc Bộ Văn Hóa VN Paris tổ chức được 200 người tham dự. Trong dịp này có hai nhà thơ Miên Du Đà Lạt và Chúc Anh từ Mỹ sang Paris ra mắt tác phẩm. Đặc biệt là chuyến du ngoạn Paris, cứ mỗi lần dừng chân nơi công viên hay trong quán cà phê đều là dịp trao đổi với nhau trên lãnh vực âm nhạc và thơ văn. Nhạc sĩ Anh Việt Thanh tuy ít nói nhưng cũng tranh luận sôi nổi với Miên Du Đà Lạt, GS Nguyễn Thùy, nhà biên khảo Mỹ Phước Nguyễn Thanh, nhà thơ Nguyễn Mây Thu, nhà báo Kim Long và tôi.
 

(GS Minh Cầm, GS TS Phạm Đình Liên, GSTS Lê Mộng Nguyên, BS Nguyễn Bá Hậu, GS Nguyễn Thùy, Nhà thơ Miên Du, Nhà Giáo Kiều Hạnh, Nhà thơ Mây Thu (Đại diện tạp chí Cỏ Thơm), Nhà thơ Chúc Anh.
Hàng sau: Đỗ Bình, Nhà Biên Khảo Mỹ Phước Nguyễn Thanh và Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng. Bạch Sương (Đại diện tạp chí Nguồn), Nghệ sĩ Thúy Hằng, Nhà Giáo Quang Tuyển, BS Phan Khắc Tường)

Lần cuối cùng là năm 2013 chúng tôi: nhà biên khảo Mỹ Phước Nguyễn Thanh, nhà thơ Mây Thu, nhà thơ Trịnh Cơ và tôi đến Troyes thăm ông. Hôm đó chúng tôi ghé thăm nhà văn Hồ Trường An, trên đường đưa ông trở lại nhà ông nói rất e ngại cho sức khỏe của nhà văn Hồ Trường An, lúc đó trông Hồ Trường An rất yếu và họa sĩ, nhạc sĩ Vũ Thái Hòa thì vừa mới mất! Tôi còn nhớ trong lần tổ chức Thu Đất Khách, nhà thơ Hoàng Xuyên Anh từ Cali sang ra mắt tác phẩm, Nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh thành viên cuối cùng của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn sang Paris nói chuyện đề tài: Người Phụ Nữ Hôm Nay. Nhà thơ, Họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật từ Na Uy sang Paris cùng Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng trang trí sân khấu, Nhà văn Nguyễn Thùy từ Thụy Sĩ sang Paris. Tất cả các bạn đều ngụ tại nhà tôi thật vui vẻ dù rằng nhà không lớn. Chúng tôi kéo ra thương xá uống café, 4 người: Nguyễn Thùy, Nguyễn Hữu Nhật, Anh Việt Thanh và tôi; chúng tôi vui quá bá vai nhau bước trước cặp mắt ngạc nhiên của nhiều người Pháp. Tôi chợt nhận ra và nói:
"Các ông ơi họ đang nhìn mình và ngỡ mình đồng tính! "
Mọi người cười ồ vui vẻ buông nhau ra. Nay Nguyễn Hữu Nhật, Nguyễn Thị Vinh, Thanh Hùng, Hoàng Xuyên Anh, Diệu Khánh, Hà Lan Phương, và Anh Việt Thanh đã thật sự buông bỏ cõi đời để tìm về một cõi xa không vương tục lụy. Các bạn tôi không còn lo âu sự đời miếng cơm manh áo và không phải cầm bút cưỡng lòng.

Trời viễn xứ thời gian nhanh như gió thoảng, nhìn hạ đến thu đi đông tàn tuyết rơi xuân về hoa lá nẩy mầm... mà nghĩ về thân phận con người chợt thấy những mất còn quanh ta. Khói lửa chiến chinh hôm nào nay đã thành cổ tích, Chuyện quê hương đầy huyền thoại vẫn trong mơ dù vị đắng cay đã thành kỷ niệm. Nhiều lúc đọc lại quyển sách cũ, nghe lại cuộn băng xưa cả khung trời quê hương thơ mộng hiện về nhập vào trang sách, theo tiếng hát thật êm đềm.

Paris 26/03/2015
Đỗ Bình