Thứ Bảy, 23 tháng 8, 2014

Cõi Mơ - Thơ: Thérèse Nguyễn - Nhạc: Quách Vĩnh Thiện


Thơ : Thérèse Nguyễn
Nhạc : Quách Vĩnh Thiện
Tiếng hát : Thụy Long

Em có bao giờ tưởng nhớ
Em có bao giờ nhắc nhở
Em có bao giờ niềm nỡ
Em có bao giờ thiết tha.

Em có bao giờ tưởng nhớ
Vùng trời yêu dấu tuổi thơ
Vào những chiều hôm lộng gió
Dáng ai thấp thoáng bên cầu.


Em có bao giờ nhắc nhở
Đường xưa ngập tràn ánh trăng
Bóng cây nhạt nhòa hoa lá
Lối về khuất trong sương mờ.

Em có bao giờ tưởng nhớ
Em có bao giờ nhắc nhở
Em có bao giờ niềm nỡ
Em có bao giờ thiết tha.

Em có bao giờ thiết tha
Miên man về chuyện xa vời
Tuổi hồng yêu thương gắn bó
Tình nồng vơi bớt đắn đo.


Em có bao giờ niềm nỡ
Thuở xưa vẫn mãi là thơ
Một chút yêu thương tuy muộn
Đôi mình chìm trong cõi mơ.

Em có bao giờ tưởng nhớ
Em có bao giờ nhắc nhở
Em có bao giờ niềm nỡ
Em có bao giờ thiết tha.

Paris, le 12 octobre 2009


Thơ Tranh: Mẹ!


Thơ: Biện Công Danh
Thơ Tranh: Kim Oanh

Vu Lan Nhớ Bóng Mẹ Hiền


Xa xưa mẹ dẫn lên chùa
Trẻ con chỉ biết vui đùa thế thôi
Lắng nghe chuông đổ từng hồi
Trên cao bóng Phật mỉm cười từ bi

Mẹ quỳ con cũng theo quỳ
Làn môi theo mẹ thầm thì nam mô
Cõi cao nào thấy bến bờ
Lòng theo tiếng dế bất ngờ gáy vang

Mẹ thương nhắc nhở " Con ngoan
Đừng theo dế lửa dế than bên ngoài
Ráng cầu Phật thoát nạn tai
Mai này học giỏi thành tài đó con"

Ngoài hiên tiếng dế nỉ non
Vu Lan báo đáp hiếu tròn nào hay
Nhà chùa đãi bữa cơm chay
Canh chua đậu hũ thơm ngày Vu Lan

Giờ rằm tháng Bảy lại sang
Lòng con nhớ Mẹ hai hàng lệ rơi
Mẹ hiền nay đã về trời
Bỏ con ở lại cút côi một mình

Còn vang tiếng mẹ tụng kinh
Bàn tay thắp nến lung linh nguyện cầu
Mẹ ơi giờ ở nơi đâu
Nén nhang con thắp đỏ đầu nhớ thương

Trầm Vân

Gió


Gió tự miền xa thổi đến đây
Đem theo hơi lạnh xứ băng dày
Dịu cơn oi bức trong mùa hạ
Quạt mát ông bà giấc ngủ say.

Khô giọt mồ hôi lưng áo cha
Ru con say giấc võng hiên nhà
Ngọc lan rải cánh bên sàn nước
Quần áo mẹ vò thơm ngát hoa.

Gió đến cùng em lúc tự tình
Cho làn tóc mượt vướng môi anh
Thơm mùi hương bưởi gây nhung nhớ
Phơ phất lụa tằm áo mỏng manh.

Gió đem hạnh phúc đến muôn hoa
Lan toả mùi hương gọi bướm xa
Mai mối phấn hoa cho bầu noãn
Trái cây thơm ngát mảnh vườn nhà.

Gió thổi ngang qua những cánh đồng
Thơm mùi cỏ dại mới đơm bông
Lướt trên biển cả nồng nàn muối
Thấm đượm phù sa ở bến sông.

Gió nâng diều lượn tít lưng trời
Rong ruổi cánh buồm vượt biển khơi
Những áng mây trôi không ngừng nghỉ
Lá vàng từng đợt xạc xào rơi.

Gió len lỏi giữa khoảng rừng xanh
Dưỡng khí nhận thêm thật mát lành
Hào phóng đem đi về vạn nẻo
Duy trì sự sống khắp hành tinh.

Gió gởi lòng người đi bốn phương
Nối vòng tay lớn kết yêu thương
Trong bầu khí quyển chung thân ái
Hạnh phúc muôn đới toả ngát hương.


Phương Hà
(16/08/2014)

Không Lẽ


Không lẽ buồn đời đi uống rượu? 
Mà say chưa hẳn đã quên đời! 
Và chưa chắc đã nguôi xa xứ, 
Mặt đỏ lòng ta dạ rối bời. 

Không lẽ buồn tình say men rượu? 
Ừ say, chưa hẳn đã quên tình. 
Tình theo ta mãi quên càng nhớ, 
Rượu thấm môi rồi, nhấp mãi thôi.

Nguyễn Đức Tri Ân
5/2010
* * *
Không Lẽ

 (Cảm Tác từ Không Lẽ của Suối Dâu)

Không lẽ buồn đời không uống rượu? 
Mà say sao lại phải quên đời? 
Chất ngất trong ta buồn viễn xứ, 
Mặt đỏ lòng ta càng rối bời. 

Không lẽ buồn tình không uống rượu? 
Mà say không phải để quên tình, 
Ta theo tình mãi, tình không nhớ, 
Tình phụ ta rồi nhớ mãi thôi.

Nguyệt Hạ

Việt Nam Sử Lược : Quyển I Phần II Chương IV - Nhà Tiền Lý

CHƯƠNG IV
NHÀ TIỀN-LÝ
前 李 氏
( 544 — 602 )

1. Lý Nam-đế
2. Triệu Việt-vương
3. Hậu Lý Nam-đế


1. LÝ NAM-ĐẾ (544-548). Năm Tân-dậu (541) là năm Đại-đồng 大 同 thứ 7 đời vua Vũ-đế nhà Lương 梁 武 帝, ở huyện Thái-bình[1] có một người tên là Lý Bôn 李 賁, tài kiêm văn võ, thấy nước mình trong thì quan-lại Tàu làm khổ, ngoài thì người Lâm-ấp cướp phá, bèn cùng với những người nghĩa-dũng nổi lên, đánh đuổi Tiêu Tư 蕭 諮 về Tàu, rồi chiếm giữ lấy thành Long-biên 龍 編.

Lý Bôn có người gọi là Lý Bí, vốn dòng-dõi người Tàu. Tổ-tiên ở đời Tây-Hán 西 漢 phải tránh loạn chạy sang Giao-châu, đến lúc bấy giờ đã là bảy đời, thành ra người bản-xứ. Khi chiếm giữ được đất Giao-châu rồi, ông sửa-sang mọi việc, định lập nghiệp lâu dài. Qua năm quí-hợi (543) quân Lâm-ấp lại sang phá quận Nhật-nam, Lý Bôn sai tướng là Phạm Tu 范 修 vào đánh ở Cửu-đức 九 德 (Hà-tĩnh), người Lâm-ấp thua chạy về nước.

Năm Giáp-tí (544) đời nhà Lương bên Tàu, ông Lý Bôn tự xưng là Nam-việt đế 南 越 帝, đặt quốc-hiệu là Vạn-xuân 萬春,niên-hiệu là Thiên-đức 天 德, rồi phong cho Triệu Túc 趙 肅 làm thái-phó, Tinh Thiều 幷 韶 làm tướng văn, và Phạm Tu 范 修là tướng võ.

Năm ất-sửu (545) vua nhà Lương sai Dương Phiêu 楊 摽 sang làm thứ-sử Giao-châu, và sai Trần bá Tiên 陳 霸 先 đem quân sang đánh Nam-việt. Lý Nam-đế thua phải bỏ thành Long-biên chạy về giữ thành Gia-ninh (huyện Yên-lãng, tỉnh Phúc-yên). Trần bá Tiên đem quân lên vây thành Gia-ninh, Lý Nam-đế chạy về giữ thành Tân-xương 新 昌, tức là đất Phong-châu cũ thuộc tĩnh Vĩnh-yên bây giờ.

Quân nhà Lương lại tiến lên đuổi đánh, Lý Nam-đế thấy thế mình yếu, chống không nổi, mới rút quân lên đóng ở động Khuất-liêu 屈 僚 峒 (thuộc đất Hưng-hóa), để đợi thu-xếp được quân-sĩ lại ra đánh. Được non một năm, Lý Nam-đế đem hai vạn quân ra đánh nhau với Trần bá Tiên ở hồ Điển-triệt 典 澈 (?), lại thua. Lý Nam-đế bèn giao binh quyền lại cho tả-tướng quân Triệu quang Phục 趙 光 復 chống nhau với quân nhà Lương rồi trở về Khuất-liêu.

Triệu quang Phục là con quan thái-phó Triệu Túc 趙 肅 người ở Châu-diên (Vĩnh-tường, tỉnh Vĩnh-yên) theo cha giúp Lý Nam-đế lập được nhiều công, nay đem quân chống-cự với nhà Lương được ít lâu, rồi sau thấy thế quân Tàu còn mạnh, địch không nổi, bèn rút quân về Dạ-trạch 夜 澤[2]. Dạ-trạch là chỗ đồng lầy, chung quanh cỏ mọc như rừng, ở giữa có bãi cát làm nhà ở được. Triệu quang Phục vào ở đấy ngày nấp ẩn, tối thì cho lính chở thuyền độc-mộc ra đánh quân của Trần bá Tiên, cướp lấy lương-thực về nuôi quân-sĩ. Trần bá Tiên đánh mãi không được. Người thời bấy giờ gọi Triệu quang Phục là Dạ-trạch vương 夜 澤 王.

2. TRIỆU VIỆT-VƯƠNG (549-571). Năm mậu-thìn (548) Lý Nam-đế ở trong Khuất-liêu phải bệnh mất, sang năm sau Triệu quang Phục ở Dạ-trạch được tin ấy bèn xưng là Việt-vương. Bấy giờ quân của Việt-vương đã sắp hết lương, mà mãi không phá được quân Tàu. May nhờ gặp lúc ở bên Tàu có loạn Hầu Cảnh 侯 景, vua nhà Lương phải triệu Trần bá Tiên về để người tì-tướng là Dương Sàn 楊 孱 ở lại chống cự với Triệu quang Phục. Quang Phục mới thừa thế đem quân ra đánh phá quân Tàu, rồi về lấy lại thành Long-biên.

Khi Lý Nam-đế thất thế chạy về Khuất-liêu thì người anh họ là Lý thiên Bảo 李 天 寶 cùng với người họ là Lý phật Tử 李 佛 子 đem quân chạy vào quận Cửu-chân, rồi bị quân nhà Lương đuổi đánh chạy sang Lào, đến đóng ở động Dã-năng 野 能, xưng là Đào-lang-vương 桃 郎 王, quốc hiệu là Dã-năng.

Năm ất-hợi (555) là năm thứ 7 đời Triệu Việt-vương, Lý thiên Bảo mất, không có con, binh-quyền về cả Lý Phật Tử. Đến năm đinh-sửu (557) Lý Phật Tử đem quân về chống với Triệu Việt-vương. Đánh nhau mấy trận không được, Phật Tử mới xin chia đất giảng hòa. Triệu Việt vương nghĩ tình họ Lý, cũng thuận chia đất cho Lý Phật Tử.

Lý Phật Tử đóng ở Ô-diên 烏 鳶 (nay ở vào làng Đại-mỗ, thuộc huyện Từ-liêm, tỉnh Hà-đông). Triệu Việt-vương đóng ở Long-biên, lấy bãi Quân-thần 君 臣 洲 làm giới hạn (bãi ấy thuộc làng Thượng-cát, huyện Từ-liêm). Triệu Việt-vương lại gả con gái cho Phật Tử để tỏ tình hòa hiếu với nhau. Nhưng Phật Tử vẫn có ý muốn thôn-tính, bởi vậy bề ngoài tuy là hòa hiếu, nhưng bề trong vẫn sửa-soạn để đánh lấy Long-biên.

Năm tân-mão (571), Phật Tử bất thình-lình đem quân đánh Triệu Việt-vvơng. Triệu Việt-vương thua chạy đến sông Đại-nha 大 鴉 (nay ở huyện Đại-an, tỉnh Nam-định), nhảy xuống sông tự tận. Người ở đấy cảm nhớ Triệu Việt-vương, mới lập đền thờ ở chỗ sông Đại-nha. Nay còn có đền thờ ở làng Đại-bộ, gần huyện Đại-an.

3. HẬU LÝ NAM-ĐẾ (571-602). Lý Phật Tử lấy được thành Long-biên rồi, xưng đế hiệu, đóng đô ở Phong-châu (thuộc huyện Bạch-hạc, tỉnh Vĩnh-yên), sai Lý đại Quyền 李 大 權 giữ Long-biên và Lý-phổ Đỉnh 李 普 鼎 giữ Ô-diên.

Trong khi Lý Phật Tử làm vua ở Nam-việt thì vua Văn-đế nhà Tùy 隋文帝 đã gồm cả Nam Bắc, nhất-thống nước Tàu. Đến năm nhâm-tuất (602) vua nhà Tùy sai tướng là Lưu Phương 劉 方 đem quân 27 doanh sang đánh Nam-việt.

Lưu Phương sai người lấy lẽ họa phúc để dụ Lý Phật Tử về hàng. Hậu Lý Nam-đế sợ thế không địch nổi bèn xin về hàng.

Từ đấy đất Giao-châu lại bị nước Tàu cai-trị 336 năm nữa.


Chú thích cuối trang

  1. Cứ theo sách « Khâm-định Việt-sử » thì huyện Thái-bình thuộc về Phong-châu ngày trước, nay ở vào địa-hạt tỉnh Sơn-tây nhưng mà không rõ là chỗ nào, chứ không phải là phủ Thái-bình ở Sơn-nam mà bây giờ là tỉnh Thái-bình.
  2. Bây giờ thuộc phủ Khoái-châu, tỉnh Hưng-yên.

Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2014

Chiếc Lá Cuối Cùng - Tuấn Khanh - Tuấn Ngọc

      Tiễn em đi trời đất cũng buồn theo,lá trên cành cũng thi nhau rơi rụng,đêm nay dù trong vòng tay yêu thương nhưng sáng mai này, thì em sẽ đi xa rồi,Thương mấy cũng đành chia ly thôi em ạ!
      Em sẽ đi còn anh ở lại ôm mối tình một mình mà nghe như tan nát cả cõi lòng,Anh muốn níu kéo cho thời gian chậm lạị cũng như mong cho chiếc lá cuối cùng đang ở trên cành kia đừng bao giờ rơi rụng để anh vẫn còn có em dù chỉ là thời gian ngắn thôi cũng được,Mới biết rằng anh yêu em biết nhường nào !!


Sáng Tác: Tuấn Khanh
Tiếng Hát: Tuấn Ngọc
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình

Ánh Mắt Học Trò

                        (Ngoài tình ca quê hương, tình mẫu tử, còn phải có tình ca học đường: H.N.T.)


      Có ánh mắt nào vừa ngây thơ trong trắng, vừa ranh mãnh tinh quái, vừa dễ ghét dễ thương...bằng ánh mắt học trò! 
      Ánh mắt ấy đã từng là của bạn, của tôi, của tất cả những ai đã trải qua độ dài năm tháng mài đũng trên ghế học đường. Nhưng ánh mắt ấy chỉ thực sự trở thành có ý nghĩa với tôi từ khi nó bắt đầu được nhìn thấy từ trên bục gỗ cao cao, bên cạnh bảng đen phấn trắng,_từ cương vị của người thầy.
      Cùng với Tiếng Nói Của Thầy*, Ánh Mắt Học Trò luôn luôn hiện hữu dưới mái học đường.

      Ánh mắt ấy bắt nguồn từ đôi mắt, nhưng cũng chính là đôi mắt như hai hình thức của cùng một bản chất. Ánh mắt là cửa ngõ của tâm hồn học sinh: Tôi đã bước qua khung cửa đó đi vào tâm hồn các em, hoà chung các em cùng một hơi thở, đập cùng các em một nhịp trái tim, cùng nhận thức,cùng rung cảm, cùng vui buồn hờn giận yêu thương...Ánh mắt cũng là tấm gương phản chiếu tâm hồn các em: Qua ánh mắt học trò, người thầy đo lường kết quả sự truyền thông tư tưởng của mình, niềm tin yêu và kính phục của học trò (đối với con người đang mang sứ mạng giáo dục các em).

      Khi tiếng-nói-của-thầy vang lên trong 4 bức tường lớp học, ánh-mắt-học-trò nhìn thầy đăm đắm. Đôi lúc ánh mắt ấy đi lạc ra ngoài cửa lớp, đuổi theo vầng mây trắng bay bay trên bàu trời xanh ngát của tuổi trẻ hi vọng và ước mơ.
      Khi ánh mắt ấy nhìn tôi với niềm tin yêu chan chứa thì đó là lúc tôi cảm thấy như đang sống trong vòng gia đình yêu dấu có ánh mắt trẻ thơ, như đang ngợp chìm trong vòng hào quang rực rỡ của tuổi trẻ với mối dây tình cảm truyền thống học đường.
      Cũng có lúc ánh mắt ấy nhìn tôi như ánh mắt nhìn Caen**,là ánh mắt của một lương tâm nghiêm khắc đang phán xét hành vi đạo đức của người thầy.

      Ôi thương sao ánh mắt học trò!
      Như tiếng-nói-của-thầy _trong qúa khứ,đã gieo vào lòng tôi muôn vàn kiến thức và âm hưởng như còn vang vang trong tâm hồn tôi mãi mãi......
      ......Ánh-mắt-học-trò là hình ảnh bất tử trong đời sống của thầy. 

ChinhNguyen/H.N.T. SG 93

*Tiếng Nói Của Thầy=Tuỳ bút của HNT 1972-73
**Ánh mắt nhìn Caen=một biểu tượng của đại thi văn hào Anh Shakespeare.

Ba! Một Bóng Hình


Biết mấy thu rồi vắng bóng ba
Lòng thường mơ tưởng lẫn xót xa
Rung động trong con Mùa Báo Hiếu
Đại lễ Vu Lan nhớ thật nhiều


Thắp nén hương này nhớ đến ba 

Trăm năm một kiếp chốn Ta Bà
Lặn hụp cả đời mang cuộc sống
Cho đàn con dại thoát long đong

 

Lặng lẽ ngắm nhìn tấm ảnh ba
Ánh mắt người sao mãi dịu hoà
Có phải tình ba luôn tồn tại
Con nghe nghèn nghẹn mũi nồng cay
.
 


Quên Đi 
   

Thơ Tranh: Hoa Lòng Kính Dâng


Thơ: Kim Phượng
Thơ: Kim Oanh


Vĩnh Long Quê Hương Mến Yêu

Những cảm xúc khi nhớ về xứ Vĩnh mến yêu mà tôi đã từng sống, làm việc và đã từng "lội"  khắp 21 xã trong tỉnh Vĩnh Long.


Nhớ ngày từ giã Vĩnh Long
Lòng tôi vẫn mãi ước mong ngày về
Thăm người vảng cảnh miền quê
Trà Ôn, Mang Thít lại về Bình Minh

Quê hương non nước hữu tình

Vĩnh Long luyến nhớ bóng hình người xưa
Cổ Chiên một chuyến phà đưa
Qua thăm Trung Chánh trời vừa chớm thu

Dòng sông thăm thẳm mịt mù
Mênh mông sông nước chiều thu đượm buồn
Từ về lòng vẫn nhớ luôn
Những nơi từng đến những miền từng qua

Dòng sông trĩu nặng phù sa

Hậu Giang tô đẹp mượt mà Vĩnh Long
Từ xưa giấu kín đáy lòng
Bóng hình em gái Vĩnh Long thuở nào

Ngô Quang Diệp

Vĩnh Long Yêu Mến Ngày Nào


        (Cảm xúc từ Vĩnh Long Quê Hương Mến Yêu của Ngô Quang Diệp)

Còn đâu ngày tháng Vĩnh Long
Chia tay từ giã còn trông chi về
Xa rồi người bạn chân quê
Trà Ôn Măng Thít lối về Bình Minh
Người đi còn nhớ chút tình
Những đêm trăng sáng đôi mình ngày xưa
Cổ Chiên ngày ấy tiễn đưa
Phà vừa tách bến gọi mùa sang thu
Trung Chánh tạc khối mây mù
Giăng giăng sầu nhớ thiên thu tượng buồn
Biệt người mưa khóc luôn luôn
Dòng sông dâng nước bắt nguồn người qua?
Lở bồi vun đấp phù sa
Chờ ai trở lại mặn mà Vĩnh Long
Yêu xưa khép kín cửa lòng
Người em gái Vĩnh bên song ngày nào

Kim Oanh
18/8/2014

Ngơ Ngẩn


Anh bước theo em dáng ngập ngừng
Sao em vô tình nỡ quay lưng
Làm tim anh thắt từng cơn đó
Ôi đóa hồng nhung! … sao ….lạnh lùng?

Mưa rót từng cơn như bão bùng
Làm anh nghĩ ngợi quá mông lung
Ánh mắt vội trao qua làn nước
Vậy đã là yêu?... Sao … dửng dưng?

Lý Tòng Tôn

Cho Bỏ Lúc Trăm Năm - Thích Tánh Tuệ


Đời ngắn lắm cầm tay nhau chưa đủ
Nói làm chi lời chia cách vực sâu,
Hắt hơi thở là tạ từ cuộc lữ
Dẫu muốn tìm, chẳng dễ gặp nhau đâu!...

Ngày ngắn lắm chưa cười đêm đã xuống
Sao ta hoài ước muốn chuyện.. sương tan,
Sao chỉ thấy ngày mai là hạnh phúc
Còn Bây Giờ, để phai úa thời gian?

Em dẫu biết đời chẳng chi thường tại
Sao vẫn buồn ngây dại giữa hư hao.
Khi sân khấu tấm màn nhung khép lại
Kiếp huy hoàng, lộng lẫy.. cũng chiêm bao.

Đời ngắn ngủi sao lời thương chưa nói?
Ngại ngần chi, người đang rủ nhau đi.
Ai khóc ngất tiễn ai vào mộ địa
Bởi niềm thương dấu nhẹm lúc đương thì...

Đời quá ngắn thương nhau còn chưa đủ
Bận lòng chi bao oán hận bâng quơ..
- Ta cười bóng trong gương cười trở lại
Lòng yêu thương thành biển rộng vô bờ.

Thích Tánh Tuệ

Vĩnh Trinh sưu tầm

Thứ Năm, 21 tháng 8, 2014

Hiên Đời Vắng Mẹ


Từ khi vắng bóng mẹ hiền
Đời con cay đắng muộn phiền đầy vơi
Mẹ ơi, trẻ nhớ thương người
Vòng tay ấm áp, nụ cười trên môi

Từ nhà vắng bóng mẹ rồi!
Bếp tro nguội lạnh, niêu nồi buồn treo
Võng trưa một góc chèo queo
Hoài trông bạn cũ cùng theo năm dài

Ô trầu một góc buồn cay
Bình vôi cũng luyến bàn tay thường dùng
Nhà sau bộ ngựa gỗ mun
Dài lâu mòn mỏi nhớ nhung dấu người

Hiên đời mưa gió mù khơi
Đất trời nghiêng ngả buồn rơi bóng chiều
Hiên nhà vắng mẹ quạnh hiu

Mẹ ơi, con nhớ mẹ nhiều đêm nay!

Yên Dạ Thảo
Vu Lan 2014
* Hình phụ bản của tác giả

Thơ Tranh: Say


Thơ & Thơ Tranh: Khúc Giang

Di Tích


Giọt nước mắt xót thương
Nuối tiếc chuyện vô thường
Mới  long lanh lóng lánh
Đã tan rồi giọt sương

Ôi bao nhiêu di tích
Của một thuở huy hoàng
Nay còn trơ lại đó
Những đổ nát hoang tàn

Ngày nào chưa xa lắm
Chân phơi phới mây trời
Tưởng chừng như vô tận
Hạnh phúc trong cõi đời

Xin gởi lại biển xanh
Nồng nàn mùa hạ gió
Thủy triều ơi đừng xóa
Dấu chân em với anh

Khánh Hà





Chợt Thấy Đời Hư Hao


Đêm thở dài thao thức
Chợt thấy đời hư hao
Còn bao nhiêu năm nữa
Mới thoát khỏi cõi tình

Còn bao nhiêu ngày nữa
Mới thoáng thấy bình yên

Giờ này anh đang ngủ
Lòng đất chắc lạnh lùng
Cũng đủ rồi anh nhỉ
Tình vài năm mà thôi

Sao em còn tiếc nuối
Nhớ mãi mối tình hờ
Sao em khờ khạo thế
Còn nhớ đến bao giờ?

Tình vài năm ngắn ngủi!
Để lại buồn trăm năm

Tình đắm đuối si mê
Chỉ là một trò hề!
Tình cuồng điên bão tố
Rốt cuộc cũng ê chề

Anh ngủ yên anh nhé
Đã trọn kiếp đa tình
Chẳng còn gì để tiếc
Chẳng còn gì luyến thương

Chúc mừng anh yên nghĩ
Chấm dứt cõi bềnh bồng
Em còn trên cõi thế
Bồng bế chuyện ngày qua

Đêm nay không ngủ được
Day dứt chuyện hôm nào
Ồn ào lòng gợn sóng
Chợt thấy đời hư hao!

Như Nguyệt

"Lạc lõng" Cậu Nho Sinh Người Mỹ Gốc Việt

HOUSTON, Texas (NV)- Có lẽ sẽ chẳng sai khi nói khó lắm mới có một người thứ hai như Daniel Nguyễn. Riêng bản thân chàng trai 20 tuổi này, anh tự mô tả mình là “một cậu nho sinh lạc lõng giữa thế kỷ 21” . Sinh ra và lớn lên tại Mỹ nhưng tự tìm hiểu các tác phẩm chữ Hán-Nôm thời Nguyễn để dịch sang tiếng Anh cho bạn bè bản xứ cùng đọc, anh chàng "khác người" này đang cố gắng thực hiện những điều mà ít ai nghĩ đến.


Daniel Nguyễn bên những cuốn sách sưu tầm được từ những năm mới 17, 18 tuổi. (Hình: Daniel Nguyễn cung cấp) 
Daniel Nguyễn, tên tiếng Việt ba mẹ đặt là Nguyễn Thụy Đan, có bút hiệu là Tử Hạ. Sinh ra và lớn lên tại Sacramento, California, anh cho biết gia đình phía bên ngoại trước đây có người từng là quan triều Nguyễn. Đó cũng là một trong những lý do khiến Daniel bắt đầu mò mẫm tìm hiểu về văn hóa của giai đoạn này.
Trên trang blog và Facebook của Daniel, người ta có thể đọc được những bài giới thiệu về các tác phẩm thơ bằng chữ Hán của nhiều thi nhân ngày xưa, như Phùng Khắc Khoan hay Phan Bội Châu, và tiểu sử tác giả. Trừ những đoạn ngắn chữ Hán, Nôm, hay Việt được trích nguyên văn, tất cả nội dung còn lại được viết bằng Tiếng Anh.
Daniel cũng tự làm thơ bằng chữ Hán-Nôm. Anh gọi sở thích này “thú tao nhã.” 
“Trọc thế vô phương hoằng thánh đạo. 
Hỗn trần hà xứ vọng vương tôn,” 
Daniel ngâm nga vài câu anh thích nhất. Theo bản dịch của một người bạn Việt Nam của Daniel, đoạn thơ có nội dung:
“Đời đục khôn mong truyền đạo thánh.
Bụi lòa nao chốn ngóng quân vương."

(Hình: Daniel Nguyễn cung cấp) 
"Không học Hán-Nôm, không thể hiểu sâu về đất nước và con người Việt Nam." 
Cậu nho sinh hiện theo học một lúc hai ngành, âm nhạc và văn học, tại một đại học ở Texas. Những lúc rảnh rỗi, ngoài việc đọc và viết Hán-Nôm, Daniel dành thời gian để làm thêm như đánh đàn hoặc dạy kèm để kiếm tiền tự trang trải cuộc sống, và gặp gỡ, uống nước cùng bạn bè.
Daniel có giọng nói trầm ấm. từ tốn, rành rẽ cả hai thứ tiếng Anh-Việt, đôi khi lịch sự quá thành ra khách sáo bởi vì cách dùng những từ ngữ cổ mà anh học được từ các bài thơ, văn mấy thế kỷ trước nay ít ai dùng.
Dù gì thì khi trò chuyện với Daniel, người đối diện cũng cảm nhận được một vẻ nho sinh rất dễ mến và một niềm đam mê mạnh mẽ dành cho văn hóa Việt.


Cậu nho sinh trên đất Mỹ giữa thế kỷ 21. (Hình: Daniel Nguyễn cung cấp) 
Sau đây là một đoạn trong phần trao đổi của Daniel Nguyễn với phóng viên nhật báo Người Việt.

Người Việt (NV) : Tại sao em lại thích học chữ Hán/Nôm ?
Daniel Nguyễn: Dạ, có nhiều lý do. Không học Hán-Nôm, không thể hiểu sâu về đất nước và con người Việt Nam. Sống ở hải ngoại mà không muốn bị mất gốc, ắt phải hiểu biết văn hóa quê cha đất tổ. Chưa hiểu biết, lấy gì mà yêu. Em cũng rất tôn sùng đạo đức Khổng Tử, nên phải học chữ Hán mới đọc được kinh truyện thánh hiền. Ngoài ra, sống giữa xã hội tân tiến này, nhiều khi muốn gửi tâm sự vào vần thơ, nhưng lại không muốn thổ lộ tất cả tâm tình. Hán văn có tính súc tích. Muốn cho lời ít mà ý nhiều thì không có gì hay bằng dùng chữ Hán.
NV: Em tự học như thế nào?
Daniel Nguyễn: Em bắt đầu học chữ Hán từ năm 17, 18 tuổi gì đó. Ban đầu thì em hay mua sách hướng dẫn học cổ Hán văn mà học. Dùng cả sách tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Bố mẹ em có giúp mua sách. Sau này toàn mượn sách thư viện về đọc. Em nghĩ em bỏ ra ít nhất là một hai tiếng mỗi ngày. Mấy năm đầu thì em hoàn toàn tự học. Sau này mới quen một hai người qua mạng, nhiều lúc cũng nhờ đến các anh chỉ giáo. Bạn bè thì cũng có dăm ba người thích văn chương, lịch sử... Thích thì thích, chứ không học Hán-Nôm. 

NV: Em sử dụng chữ Hán-Nôm vào việc gì?
Daniel Nguyễn: Em học chữ Hán cốt để đọc sách người xưa. Văn liệu nước ta từ đầu thế kỷ XX về trước phần lớn viết bằng văn Hán hoặc văn Nôm. Không biết Hán-Nôm, ắt phải dựa vào bản dịch hoặc bản phiên âm của người khác mà đọc. Song, sách vở vẫn có nhiều loại. Đọc sách thánh hiền để học đạo làm người. Đọc sách sử để biết thêm về văn hóa, lịch sử người Việt. Đọc văn thơ để tiêu sầu khiển muộn... Sau này em quen vài người ngoại quốc cũng quan tâm văn chương và lịch sử nước Việt nên em mới bắt đầu dịch văn liệu Hán-Nôm sang tiếng Anh. Có khi em viết thơ từ, gọi là cái thú tao nhã vậy. 

NV: Có khó khăn gì khi theo đuổi bộ môn này?
Daniel Nguyễn: Theo đuổi thì không khó. Bền chí mới khó. Nhưng đối với em, đây là đam mê của riêng mình nên em cũng không thấy khó khăn gì cả. Có khi thấy sách muốn mua, mà đắt tiền quá, không mua được.
NV: Lý do em mở blog Khoái Nhị Trà*?
Daniel Nguyễn: Em mở blog cốt để truyền bá văn hóa và văn chương nước Việt, đặc biệt là văn chương tiếng Hán dưới thời Nguyễn (1802-1945) đến thời hiện đại. Trên mạng cũng có vài trang blog của người Hàn, toàn dịch thơ chữ Hán của người Hàn Quốc sang tiếng Anh. Thơ từ nước ta không phải không nhiều, không phải không hay. Không dịch, há chẳng tiếc sao. 

NV: Trong cuộc sống thường ngày, một ngày của em diễn ra như thế nào?
Daniel Nguyễn: Thường thì em dậy đi lễ (em là tín đồ Thiên Chúa Giáo), đi học, rồi về nhà dạy đàn. Sách có chữ, "dục học văn, tiên học du" nghĩa là muốn học làm văn trước hết phải học đi chơi đã. Đương nhiên ở cái tuổi đôi mươi này phải có thời giờ rảnh để ra quán xơi nước với bạn bè, đi đây đi đó, v.v... Ngoài thơ văn, em còn thích đi nghe nhạc, sáng tác nhạc. Tập tạ cũng có khi. 

NV: Em có khi nào bị cho là “khác người” khi có sở thích rất lạ? Em phản ứng ra sao?
Daniel Nguyễn: Đương nhiên là bị nhiều lần rồi. Nhưng không phải vì thế mà nản chí. Ông Tản Đà có câu rằng: "Một tấm thân người nam nhi, không phải của riêng một mình mình mà là của nước tổ Hồng Lạc hơn bốn nghìn năm, của xã hội hai mươi nhăm triệu người, của giang sơn ba mươi tư vạn lý... " Em luôn ghi nhớ. Lui về ở ẩn là việc dễ. Dấn thân hành đạo mới khó. 

NV: Em nghĩ như thế nào về những cố gắng gìn giữ văn hóa Việt cho thế hệ trẻ tại Mỹ?
Daniel Nguyễn: Em thấy nhiều người trẻ đã bị mất gốc hoàn toàn. Điều đó không đáng trách bằng sự vô tâm của nhiều người lớn trước cái cảnh thê thảm này. Làm người Việt, làm sao không thể yêu mến tiếng Việt? Làm sao không thể học sử Việt? Làm sao không thể hiểu biết về cha ông? Việc gìn giữ văn hóa Việt là một việc rất cần thiết. Không những chỉ gìn giữ văn hóa, mà còn phải phát triển văn hóa nữa. Nhưng phải lo việc gốc rồi sau mới lo việc ngọn. Việc gốc là làm thế nào cho thế hệ trẻ rành tiếng Việt. Rành tiếng Việt mới hiểu cha ông. Hiểu cha ông mới có tâm huyết với đồng bào và đất nước. 

NV: Mong ước cho tương lai?
Daniel Nguyễn: Ngoài những mục đích cá nhân, em chỉ mong có công giúp một tay trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa cha ông mà thôi. Hiện tại em đang sưu tầm tài liệu để dịch tập Hoàng Việt Thi Tuyển của Tồn Am tiên sinh sang tiếng Anh. 
NV: Cám ơn em đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn này

Thiên An/Người Việt
Lê Kim Thành sưu tầm

Thứ Tư, 20 tháng 8, 2014

Nhà Tôi


Ôi những ngày xưa dưới mái nhà
mẹ ngồi lựa thóc ngắm mây xa
những lo mưa sớm bên đồng nội
làm mất màu tươi mấy gốc cà

xanh ngắt một màu bên liếp rẩy
giàn dưa leo sớm bỏ vòi cong
còn ghen đậu đủa vừa đơm trái
hay lũ rau thơm đám cúc tần

có mấy hàng cau nhỏ thế thôi
mẹ thường nhắc nhở những khi vui
một mai đám cưới không lo thiếu
trầu tốt cau ngon thuốc đượm mùi

đây đám rơm khô dưới gốc gòn
là nơi con rải mộng lang thang
chờ em từ thuở con trăng tối
cho tới trăng đầy em mới sang

thèm quá nồi canh chua cá lóc
chút bông so đủa cọng rau om
ai lên phố thị mà không nhớ
mùi vị dưa nồng điên điển thơm

mười mấy năm rồi đi biệt xứ
nhà tôi còn đó mẹ tôi không
nghe thương những cánh chim tu hú
mãi gọi bên sông điệp khúc buồn

Lâm Hảo Dũng
(Trích trong tập Những Bài Thơ Của Tôi)


Thơ Tranh: Ngắm Thu Nơi Xóm Ven Sông


Dịch Thơ: Mai Lộc
Thơ Tranh: Kim Oanh

Không Đề


Hà Nội
Tháng Tám còn nắng đỏ mặt đường.
Mùa thu đã ở bên giường vào đêm.
Ngân Hà trong vắt trang nghiêm.
Sao Mai đã thức từ đêm gọi gà.
Nhớ em giấc ngủ đi xa.
Giấc mơ theo ánh trăng tà bay lên.

Hhai

Giọt Nắng Chênh Chao


Nghiêng trút lá, cây thương con phố nhỏ
Lặng lẽ chiều nắng nhẹ xõa bờ vai
Ánh mặt trời chênh chếch bóng vàng phai
Nghe ngớ ngẩn chênh chao lòng xao xuyến

Từng giọt nắng vọng vang vùng kỷ niệm
Ngập ngừng trôi thương cảm những ngày qua
Cánh lá khô khẻ rơi trên phố lạ
Tê đắng nụ cười trầm lắng xót xa

Hoa cúc tím giản đơn con phố nhỏ
Nhạt nhòa theo năm tháng bởi thời gian
Gấp niềm riêng còn vương bụi trong tim
Nào quên lãng được tận cùng u uẩn

Lác đác vàng thu lang thang phố vắng
Ta mộng du miền ký ức xa xăm
Trên vĩa hè xanh nhặt từng sợi nhớ
Chợt nhận niềm đau hiện hữu âm thầm

Giọt sương pha trắng mái đầu
Long lanh rơi xuống giọt sầu mi cong.

Đông An

Vàng Trăng Sương Phụ



Em không là bóng nguyệt
em chẳng là trăng thanh
không gian đời hư ảo
em là giấc mộng lành

Anh là sông chảy ngược
trôi qua thác qua ghềnh
anh là chàng lãng tử giữa giòng đời lênh đênh

Một hôm sông êm dịu
trong muôn trùng bao la
sóng thôi cuồn cuộn vỗ
cho êm lòng Thiên Nga

Sóng dù thôi cuộn chảy
vẫn xô giạt vào bờ
cánh lục bình vời vợi
nhìn nước chảy ngẩn ngơ

Tình thoáng qua rất vội
như mây bay ngang trời
ta là duyên bèo nước
giữa giòng đời nổi trôi

Anh thôi đừng luyến nhớ
phút giây qua hôm nào
dù cuộc đời là thật
hay lẫn lộn chiêm bao

HT Nguyệt Khuyết
Jun 9/2014


Khúc Nhạc Buồn Trong Ký Ức

(Viết cho những người bạn một thời bi thương trong đời tôi)

           Nếu ví cuộc đời của mỗi người như một bản trường ca có nhiều đoản khúc khác nhau, mỗi đoản khúc biểu tượng cho những diễn tiến buồn hay vui, hoan lạc hay bi đát đau thương xẩy ra trong cuộc đời của họ. VN với một dẫy dài lịch sử toàn là chiến tranh và loạn lạc, có lẽ không một ai trong chúng ta không ít hay nhiều cũng phải chịu những những khổ ải do bom đạn đem đến dù ở thị thành hay nông thôn.

            Cá nhân tôi cũng không ngoại lệ. Sinh ra và trưởng thành trong khói lửa của hai cuộc chiến tranh, vì vậy tôi có khá nhiều ký ức buồn đau trong cuộc đời ngay từ lúc sinh ra. Những cảnh chết chóc, đau đớn vì bom đạn đã được tôi chứng kiến từ khi mới 3,4 tuổi cho đến gần hết tuổi thanh niên. Khi mà số phận may mắn đã đem tôi đến Thuỵ Sĩ, một đất nước thanh bình, hơn 600 năm chưa biết gì về chiến tranh. Sống trong cái không khí thanh bình, thịnh vượng đó, đôi khi ngoái nhìn lại những khoảng thời gian đi qua trong đời mình. Nhớ đến những người bạn thủa ấu thơ cũng như những người bạn vì hoàn cảnh mà tôi quen biết họ. Những người đã có số phận hẩm hiu vì những bấp bênh của thời cuộc, họ đã trở về với đất đá khi tuổi còn xanh. Lòng tôi chợt trĩu năng vì cảm thương họ, muốn dành một chút thời gian để viết về những kỷ niệm vui buồn giữ tôi và họ như thắp một nén hương lòng tưởng nhớ và tôn vinh tình bạn của chúng tôi.

Nhập cuộc, vẫn cái lặng lẽ trong đời      
           

( Cần Thơ trước 1975)
             Cuối năm 1971 khi đang dậy học tại Cần Thơ, tôi nhận được lệnh từ bộ quốc phòng phải cắt ngang công việc dậy học để tham dự khoá 1/72  sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Cầm tờ giấy nhập ngũ trên tay, dù không ngạc nhiên vì biết chắc chắn nó phải đến  với mình sau khi hoàn tất việc học. Nhưng tôi cũng không thể che dấu được cảm giác thờ thẫn, lo buồn khi nghĩ đến tương lai, khi sắp phải bước vào một giai đoạn mới của đời mình. Nhất là lúc đó cường độ của cuộc chiến đang ở mức kinh hoàng của thời kỳ hậu Mậu thân, mùa hè đỏ lửa....
            Sau khi thu xếp xong tất cả những thủ tục hành chánh ở Cần Thơ. Từ giã bạn bè  quen biết, lên Sàigon với cái túi nhỏ đựng vài vật dụng cá nhân. Tôi hoà mình vào đám đông cùng với những người cũng như tôi,  đang sửa soạn đem số phận của mình vào một giai đoạn mới. Chúng tôi tụ họp ở khuôn viên Quân Vụ Thị Trấn, Sàigon để làm vài thủ tục cần thiết trước khi được chở đến quân trường Thủ Đức.

            Tôi nhớ rất rõ ngày hôm đó, ngày mà thêm một lần nữa cái cảm giác buồn tủi vì cô đơn lạc lõng lại đến trong đời tôi. Chung quanh tôi những vòng tay thương ái, ánh mắt ân cần, níu kéo lo buồn của mẹ cha, anh em, vợ con, người yêu ... dành cho họ lúc lên đường , xa rời cuộc sống dân sự. Còn tôi, thì vẫn dáng vẻ im lặng , lủi thủi một mình giữa đám đông bởi vì tôi chẳng có ai đến tiễn đưa, từ giã. Tôi không báo tin việc nhập ngũ của mình cho bất cứ ai trong gia đình cũng như bạn bè quen biết, chỉ vì nghĩ cuộc thay đổi của đời mình nhỏ bé quá chẳng cần thiết cho người khác phải quan tâm. Tôi trầm mặc ra vẻ vô ưu ( dù có chút buồn tủi ) trong cái ồn ào chia tay của người khác. Nhưng tôi cũng không thể dấu được cái cảm giác cô đơn, lạc lõng rất nhẹ nhàng trổi dậy trong  lòng mình khi nhìn thấy niềm vui ( hay chia buồn ) của tha nhân.

            Cuối cùng mọi thủ tục cần thiết đã xong. Tôi tìm một góc thoáng khoát trong khuôn viên của trang trại. Ngồi đưa mắt kín đáo dõi theo những ánh mắt ân cần, những bàn tay vướng víu của đám đông dành cho nhau nhưng cũng để cho lòng mình bay theo những ước mơ mà mình không có !

            Rồi khi những chiếx xe quân xa chở chúng tôi lăn bánh qua chiếc cổng của trường sĩ quan,  đổ chúng tôi xuống vườn Tao Ngộ của quân trường . Những tiếng hét la ồn ào có chút bạo lực pha sự đe doạ nhiếc mắng từ các huynh trưởng khoá đàn anh. Họ dàn chào chúng tôi, khởi đầu cho một ngày gia nhập đời lính. Họ là những người khoá trước. Được phái đến dẫn dắt nhưng cũng để gột rửa, xoá đi dáng dấp hào hoa phong nhã còn vương lại trong đời sống của những kẽ thư sinh . Họ dậy cho chúng tôi từ cách đi đứng chào kính bình đẳng trong quân đội. Họ biến đổi những mái tóc bềnh bồng được uốn ép tỉ mỉ của chúng tôi ( vài người trên tóc họ vẫn còn vương chút mùi thơm của mỹ phẩm ) thành những mái tóc gần như hớt trọc luôn luôn thấm đẫm mồ hôi chẳng bao giờ biết đến lược gương .

            Với khoảng hơn một tuần lễ được các huynh trưởng tẩy rửa và dậy cách làm quen với đời sống quân đội. Chúng tôi được phân chia vào những đại đội có trang trại riệng biệt trong khuôn viên rộng lớn của quân trường . Tôi được xếp vào đại đội 17, một đại đội phần lớn là những người đã tốt nghiệp đại học , đã đi làm, có chức vị trong xã hội. Có người đã từng là giám đốc, giảng viên đại học, trưởng ty, nghệ sĩ ..v..v.. của các cơ quan, trường sở từ khắp nơi gửi đến.

            Sau thời gian huấn nhục, kéo dài khoảng 4 tuần lễ, chúng tôi đã có phần dễ thở hơn như được về phép cuối tuần, tự tổ chức lấy những sinh hoạt hàng ngày cũng như lúc học tập. Đại đội 17 của chúng tôi mang tiếng là một đơn vị lè phè,  có lẽ vì đại đội có nhiều người lớn tuổi, đã có chức vị trước khi nhập ngũ nên việc tập luyện không được nghiêm chỉnh lắm. Nhưng cũng có thể vì sự thiên vị của các sĩ quan cán bộ hướng dẫn nên sinh ra ỷ nại trong học tập chăng ? Cuối cùng chúng tôi bị chia nhỏ, chuyển đổi với các đại đội khác cùng khoá . Tôi được đổi đến đại đội 16 , một đại đội toàn là những hạ sĩ quan từ khắp các chiến trường có thành tích tốt nên được đề bạt theo học khoá sĩ quan. Phần lớn họ là những người ở khoảng tuổi trên dưới 20, đã có kinh nghiệm vài ba năm trên chiến trường, vì vậy thể lực của họ rất tốt cũng như rất nghiêm túc trong việc tập luyện. Ngay tuần lễ đầu tiên tôi đã mệt nhoài để theo kịp họ ở mức tối thiểu, nhưng rồi mọi khó khăn cũng qua. Môi trường quân đội không dễ gì bị gục ngã khi người ta bắt buộc phải hoà nhập vào tập thể.

            Có lẽ khi chuyển sang Đại đội 16 , bên cạnh sự cực nhọc nhưng cũng là khoảng thời gian ghi dấu rất nhiều kỷ niệm buồn vui  trong cuộc đời của tôi nhất . Tôi được gần gũi nhưng người lính từ chiến trường trở về, họ kể cho tôi nghe rất nhiều về những nỗi hiểm nguy cũng như sợ hãi trong chiến tranh. Cũng từ họ tôi cảm thông những ước mơ đôi khi rất đơn giản và nhỏ bé của họ trong những ngày lăn lộn trên chiến trường đùa giỡn với sống chết. Đến nay dù thời gian đã lùi vào dĩ vãng quá xa, với hơn 40 năm đằng đẵng, nhưng tôi luôn luôn nhớ đến họ. Những người bạn chỉ thoáng qua trong đời tôi nhưng không kém phần thân thương, khi rời xa nhau. Rồi vì ngẫu nhiên nào đó tôi gặp lại họ hay những người khác nói về họ lại làm tôi thẫn thờ vì toàn là những  câu truyện nhuốm mầu bi đát. 

Người bạn ngủ mê trong nghệ thuật:

(Thư viện Sào Gòn)

            Vào khoảng thời gian gần cuối khoá, một lần tôi có dịp lên thư viện của  trường, ngẫu nhiên gặp anh Thuần, giảng viên trường mỹ thuật Sàigòn. Anh cũng từ đại đội 17 chuyển sang Đại đội 16 như tôi. Trong một căn phòng nhỏ rất bề bộn không khác gì một nhà rác toàn những mảnh giấy báo được xé cắt cùng với đủ các vật dụng khách lăn lóc khắp nền nhà. Giữa phòng một khung vẽ rất lớn hình chữ nhật dính các miếng giấy báo to nhỏ , hình dáng, đủ mầu sắc khác nhau do anh xé hay cắt dưới cái nhìn nghệ thuật của riêng anh. Cạnh bên khung vẽ một cái chậu nylong đựng keo dán và hàng chục lọ sơn đủ mầu sắc với những chiếc cọ vẽ to nhỏ khác nhau vương vãi khắp nơi . Anh quàng chiếc áo khoác bằng vải thô trắng dính đầy sơn, mặt mũi, râu, tóc lem luốc, trông như một tên hề. Đứng trước khung vẽ, đôi mắt anh nhíu lại, thỉnh thỏang đưa tay lên chà xát vào trán ra chiều suy nghĩ, rồi anh lựa chọn lấy một miếng giấy báo, quết tí keo dán dính trên khung .  Anh hiện ra trong mắt tôi không có tí gì giống người lính thông thường mà là một người hoạ sĩ (có chút mát thần kinh) đang  đắm mình vào nghệ thuật.

             Thấy tôi  bước vào phòng, giơ tay chào anh, anh chỉ hất nhẹ đầu rồi lại đắm mình vào nghệ thuật. Tôi im lặng ngắm nhìn tác phẩm chưa hoàn chỉnh của anh với thái độ thích thú. Có lúc tôi dí sát mặt vào bức tranh để đọc, để xem rất kỹ những ý nghĩa lời viết hay hình ảnh trên những mảnh giấy báo hay tạp chí mà anh dùng như những vật thể tạo ra bức tranh. Có lẽ sự thích thú và cách xem tranh của tôi đã làm cho anh vừa lòng nên anh quay sang nói chuyện với tôi tí chút. 

            Anh giải thích cho tôi hiểu về chủ đề  “ Giã biệt “mà anh gửi gấm vào tác phẩm. Nội dung lời viết, hình ảnh của những miếng giấy đủ hình dạng được anh dính trên khung ngoài việc tạo hình tượng của bức hoạ nó còn mang theo ý nghĩa làm thâm thuý hơn cho chủ đề của tác phẩm. Đứa con trai trong tác phẩm , chân bước về phía trước nhưng quay đầu lại nhìn bà mẹ già nua, nghèo khổ, miệng nở nụ cười vui khác hẳn vẻ lo buồn của bà mẹ. Trên vai người con, chiếc ba lô mầu xám tro nổi bật lên tấm ảnh một cô gái xinh tươi, kèm theo một mảnh báo in hình trái tim đỏ chói biểu tượng trong hành trang của kẻ ra đi vẫn có một bóng hình .
           
            Cứ như vậy anh đã chỉ từng góc cạnh bức tranh. Đọc cho tôi nghe những câu viết trên những miếng giấy báo hay tạp chí bằng tiếng Anh, tiếng Việt.  Anh giải thích cho tôi hiểu cái chủ đề mà anh muốn gửi gấm vào tác phẩm của mình. Cuối cùng anh cho biết đang cố gắng hoàn tất tác phẩm này trước ngày mãn khoá  như một dấu vết nghệ thuật mà anh muốn gửi lại nơi đây. Nhà trường đồng ý cho anh tham dự các buổi huấn luyện ở mức tối thiểu,  công việc chính của anh là tạo ra một bức tranh nghệ thuật dành cho hội trường chính của quân trường .

            Trong buổi lễ mãn khoá, một người bạn cho tôi biết anh cũng được tốt nghiệp như mọi người bình thường khác và được gửi lên Sư Đoàn 1 Bộ Binh đồn trú tại Quảng trị.  Còn tác phẩm “ Giã biệt “ của anh có được hoàn tất đúng thời hạn hay không, không ai biết  và nếu hoàn tất nó đã được bầy biện nơi đâu. Sau ngày tốt nghiệp vài tháng mặt trận Quảng Trị trở nên sội động với những trận đánh kinh hoàng , vỡ núi tan bia ở Cổ thành Quảng Trị, sông Thạch Hãn....Dù luôn luôn cầu mong cho anh an toàn , nhưng tôi nghĩ dạng người mơ mộng luôn luôn bay bổng , sống hết mình cho nghệ thuật của mầu sắc như anh có lẽ không dễ dàng thoát khỏi khói mù bi đát của chiến cuộc . Nhưng biết đâu ( một sự biết đâu rất bé !) trong cái không khí tanh hôi máu xương và thuốc súng đó anh gặp một kỳ tích nào đó được yên bình, giúp anh tìm ra nguồn sáng tạo mới mẻ cho một chủ đề độc đáo nào đó trong hội hoạ  . Đó không phải là một khám phá tuyệt vời của anh trong nghệ thuật sao ?! Tôi cầu mong điều này là sự thật và ao ước được chiêm ngưỡng tác phẩm mới tiềm ẫn sắc mầu bi tráng của anh.

Người bạn với hình xâm và những bản nhạc buồn:

( Pleiku )

            Có lẽ người bạn khắc vào trí nhớ và tình cảm của tôi sâu đậm nhất, đó là Mừng văn Thông, người dân tộc thiểu số Pleiku. Thông xuất thân từ trường Thiếu sinh quân Vũng Tầu rồi theo học khoá Hạ sĩ quan Đồng Đế ( Nha Trang ).  Ra trường ,được điều lên sư đoàn Bộ binh 22,  tại Kontum. Sau khoảng 2 năm chiến đấu với nhiều thành tích Thông được đề bạt theo học khoá sĩ quan Thủ Đức. Nhờ vậy chúng tôi có dịp quen biết nhau.

            Thông kém tôi 5 tuổi, nên coi tôi như một người anh để học hỏi trong nhiều lãnh vực. Đặc biệt, sự đồng cảm về văn chương và âm nhạc đã kết nối tình thân của chúng tôi rất nhanh. Thông chơi đàn guitar và hát khá chuẩn, nhiều lần với giọng hát rất truyền cảm và dáng vẻ dìm trọn cảm xúc mình vào ý nghĩa của bản nhạc, Thông đã làm cho tôi và các bạn khác cảm động muốn chẩy nước mắt.

            Trong những buổi học tại bãi tập ban ngày cũng như ban đêm, tôi và Thông luôn luôn tìm dịp để tâm sự hay giải trí bằng văn chương, âm nhạc. Chính nhưng dịp gần gũi này mà Thông đã bị tôi kéo vào mê say những bài thơ tình yêu lãng mạn nổi danh thời tiền chiến cũng như những bài thơ đương thời.

            Tôi còn nhớ một ngày học chiến thuật trong một khu rừng, gặp hôm trời mưa như xối nước. Những chiếc lều cá nhân của chúng tôi gần như hoàn toàn vô dụng, ai ai cũng ướt như chuột lột. Trong khi chờ đợi giờ cơm trưa, Thông cởi bỏ chiếc áo để vắt cho ráo nước, ngẫu nhiên tôi nhìn thấy trên phía trái vòm ngực của Thông có xâm hình một con dao cắm vào một trái tim đang chẩy máu. Dưới hình xâm một giòng chữ mầu đen : Hận kẻ bạc tình ! Nhìn hình xâm, ký ức kéo tôi lại thời còn là sinh viên, nhiều lần trên đường phố hay trong con hẻm nghèo nàn nơi gia đình tôi sinh sống. Nhiều lần tôi cũng nhìn thấy những hình xâm với những câu văn , hình vẽ rất ngớ ngẩn, lạ kỳ trên cánh tay, bả vai hay lồng ngực của những người lính hay những tên du đãng. Tôi và lũ bạn sinh viên vẫn coi đó là một trò cười, một màn trình diễn “cải lương“, cường điệu  tình cảm thấp kém về văn hoá ! Chẳng hạn, xâm một bà già lụm khụm bên giòng chữ “ Xa quê hương nhớ mẹ hiền “. Hay một trái tim rướm máu kèm theo lời than trách  :“ Này em yêu ! Xin đừng làm tim anh tan nát !“ . Hay một ngôi mộ với giòng chữ bi thương “ Em chết tôi xây mộ, Tôi chết ai là người an táng cho tôi ?“..v..v...

            Nhưng khi có dịp gần gũi họ, nghe họ tâm sự về những vết thương, nỗi buồn ẩn chứa trong các hình xâm, câu viết “sến “đó, hay chứng kiến sự mong manh của cuộc đời họ trong chiến tranh....  Tôi đã không bao giờ mang cái  “cải lương “  đó ra làm trò vui đùa nữa mà ngược lại trong lòng tôi chứa đầy cảm giác cảm thương , mong được nghe họ kể lể về niềm đau dấu kín trong các “ tác phẩm “ trên thân thể họ.

            Tối hôm đó, trong căn lều cá nhân trên bãi tập. Thông kể cho tôi nghe về cuộc tình đứt đoạn ẩn chứa trong hình xâm trên ngực của mình. Sau khi ra khỏi trường Thiếu sinh quân Vũng Tầu, Thông về nhà bố mẹ tại Pleiku nghỉ phép 2 tuần lễ trước khi theo học khoá hạ sĩ quan tại Đồng Đế, Nha trang . Qua mai mối, Thông quen và yêu thương một cô gái trong buôn làng. Mối tình không có gì trắc trở, những lá thư thắm thiết yêu đương qua đường bưu điện là sợi dây cột chặt họ với nhau . Những lần viếng thăm , chăm nuôi của cô gái vẫn dành cho Thông đều đặn cho đến hết khoá học. Ra trường Thông được chuyển lên sư đoàn 22 bộ binh ở Kontum, cũng là lúc tình yêu mờ nhạt, Thông hoàn toàn không biết lý do . Rồi mối tình thực sự chấm hết khi người yêu im lặng bỏ buôn làng đi lấy chồng. Mang cái cảm giác xót đau bị tình phụ, Thông muốn để lại một dấu tích trên thân thể như nhắc nhở mình đừng quên nỗi đau vì phản bội.

            Có lẽ Tài năng đàn hát của Thông mới là cái độc đáo đã ghi sâu vào ký ức bạn bè sâu đậm nhất. Tôi nhớ, hôm đó là đêm giao thừa duy nhất và đáng nhớ nhất trong thời gian quân ngũ ngắn ngủi của tôi. Lệnh cắm trại 100% , chúng tôi không phải đi học bãi nhưng vẫn phải chia nhau ra làm tạp dịch và canh gác doanh trại. Ban đêm, tiểu đội của tôi được phân chia canh gác cho một đoạn tuyến của quân trường . Không biết có phải vì bản chất yêu văn nghệ hay có chủ đích mừng xuân, Thông mang theo cây đàn guitar và xấp nhạc ra tuyến. Thế là chúng tôi đã có một đêm giao thừa đơn sơ nhưng  đáng nhớ đầy thi tứ lãng mạn. Với khoảng 4, 5 người chúng tôi quây quần nhau trong ụ gác. Thông vẫn là người chủ quản, đem niềm vui và cả nỗi nhớ của ngày tết cho mọi người, Thông say sưa hát từ bài này đến bài khác. Hình ảnh khuôn mặt xạm đen pha chút khắc khổ của người thanh niên sơn cước trong bộ đồ xanh tác chiến. Ôm chiếc guitar, ánh mắt nhìn bông lung ra khoảng trống bên ngoài, tối đen của ụ chiến đấu,Thông như chìm mình vào chính tiếng hát của mình . Tôi ngẩn ngơ ngắm nhìn cái đẹp vững trãi, đầy nét phong trần hoà trộn trong vẻ nghệ sĩ của Thông một cách say sưa.

            Thông hát rất nhiều , có những bài hát đã làm chúng tôi cảm động  chỉ biết im lặng ngồi nghe.  Như bài  “Phiên gác đêm xuân “ : Khơi dậy nỗi cô đơn, nhớ nhà của người lính chiến nơi chiến trường trong  đêm giao thừa. Tiếng súng xa xa vọng lại như tiếng pháo mừng xuân :

            Đón giao thừa một phiên gác đêm ,chào xuân đến súng xa vang rền. Xác hoa tàn rơi trên báng súng, ngỡ rằng pháo tung bay , ngờ đâu hoa lá rơi.
..........................
            Chốn biên thuỳ này xuân tới chi ? Tình lính chiến khác chi bao người. Nếu xuân về tang thương khắp lối, thương này khó cho vơi thì đừng đến xuân ơi !

            Rồi hình ảnh, người lính cô đơn đứng ngẩn ngơ dưới trời mưa, buổi chiều nơi biên giới, không biết đi về đâu. Cái lạnh lùng, ngơ ngác khi nhớ đến người thương mà buông tiếng thở dài, chán ngán với mộng khanh tướng, công hầu trong bài “ Chiều mưa biên giới “:

            Chiều mưa biên giới anh đi về đâu ? Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu? Kìa rừng chiều âm u rét mướt, chờ người về vui trong giá buốt, người về bơ vơ !
.............................
            Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay ? Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng. Đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng , người tìm về trong hơi áo ấm, gợi niềm xa xăm......
            Lòng người còn tơ vương khanh tướng , thì đường trần mưa bay gió cuốn còn nhiều anh ơi !
           
            Sau ngày mãn khóa Thông  trở lại đơn vị cũ, sư đoàn 22 bộ binh, tôi không còn liên lạc hay biết tin tức gì về Thông nữa cho đến cuối năm 1973. Trong lần về Sàigon lo hồ sơ đi Nhật, bất chợt tôi gặp một người bạn cũng trong đại đội 16 với tôi và Thông.  Anh ta và Thông được chuyển lên SĐ 22 , cùng đóng ở một đồn sát biên giới Lào Việt. Trong một đêm vào khoảng giữ tháng 3 .1973 đồn bị tấn công và Thông  tử trận. Di vật của Thông để lại trong chiếc ba lô là một xấp thư cũ của cô bạn gái viết cho Thông nhiều năm trước, vài tập nhạc, chiếc đàn guitar và một cuốn thơ Nguyên Sa mà tôi viết tặng khi còn học tại Thủ Đức.

Món quà không bao giờ được nhận, người bạn không dấu tích.

(Tân Đinh trước 1975)

            Trần văn Chiến một thành viên rất trầm lặng  và kín đáo trong tiểu đội,  có lẽ chúng tôi chưa bao giờ thấy anh cười vang hay to tiếng trong tất cả sinh hoạt . Một dạng người chỉ biết im lặng mỉm cười đứng ngoài nhìn người khác ồn ào, kích động hơn là nhập cuộc. Điều mà tôi ngạc nhiên nhất là không biết lý do nào đưa đẩy anh bước vào binh chủng Nhẩy dù,  một binh chủng  không thích hợp cho dạng nguời nhu mì, nhỏ nhẹ như anh. Chiến thua tôi 2 tuổi nhưng đã có gia đình và 2 con nhỏ.  Ba của Chiến và 2 cô em gái và cả vợ của Chiến đều học hành đến nơi đến chốn và làm nghề giáo trong Sàigon. Chiến học hành lết bết , chỉ xong bằng trung học và bị động viên và xung phong vào sư đoàn Dù .

            Trong những lần về Saigon ứng chiến, tôi có đến nhà Chiến vài lần ở khu Tân Định. Ngay khi bước vào căn nhà , tiếp xúc với đại gia đình của Chiến, tôi không thể tin được sự khác biệt hướng đi của Chiến với tất cả mọi người trong gia đình. Trong một lần ngồi với nhau bên ly cafe, Chiến tâm sự :

            -Cái sai lầm của bố mẹ tôi là đã định hướng cho tôi quá kỹ lưỡng, ngay từ khi tôi còn là một đứa bé tiểu học. Dù bố tôi là một nhà giáo nhưng ông quên một điều, tôi là đứa con có cá tính, khác hoàn toàn với các cô em gái của tôi. Tôi không muốn bị ai xếp đặt dù người đó là ông bố mà tôi kính sợ. Cuối cùng tôi đã theo bạn bè để rời xa cha mẹ tìm những cái kích động cho riêng tôi.

            Mãn khóa sĩ quan, Chiến cũng như các người khác, anh trở về binh chủng nhẩy dù nơi mà anh đã phục vụ trước kia. Thỉnh thoảng anh và một vài người bạn cùng đơn vị tạt vào Cần Thơ thăm tôi. Chúng tôi lại có dịp  ngồi quanh bàn nhậu hay quán cà phê  trên bến Ninh Kiều để nghe chuyện chiến trường . Môt lần vào khoảng cuối năm 1973, sau mấy ngày cuối tuần rong chơi ở Sàigòn, tôi trở lại Cần Thơ , cô thư ký cho biết có 2 người nhẩy dù đến thăm tôi nhưng không gặp. Tôi chỉ nghe thoáng qua, vì chuyện bạn bè đến kiếm tôi gần như rất thường xẩy ra, họ đến không gặp rồi họ đi. Nhưng sau đó vài tuần tôi lại có dịp lên Saigòn, ngẫu nhiên tôi gặp Chiến trên phố. Kéo nhau vào cà phê , lúc đó tôi mới biết người đến Cần thơ tìm  tôi là Chiến và người lính phục dịch ( anh gọi là thằng Robert !) . Tôi còn nhớ nụ cười mỉm kèm theo câu nói có chút dí dỏm của anh :
           
            -Đúng là xui xẻo ! Hôm đó mình rỗng túi, bụng đói meo, lết bết đến tìm cậu mong  “ăn chực  “  và xin tiền cậu mua vé xe đò về Saigon, nhưng không gặp !

            Ngỡ ngàng, có chút ân hận, tôi nói vài lời xin lỗi và hỏi Chiến sau đó với cái túi rỗng thì làm sao no bụng mà về Saigon được.  Vẫn nụ cười mỉm đùa dỡn, trên khuôn mặt khá điển trai , bình thản anh trả lời, không có tí gì cay đắng:
           
            -Thì lại nhờ thắng Robert chây mặt ra xin xỏ tụi lơ xe đi ké về Saigon chứ sao ?!Còn cái đói thì có chết đâu mà lo !

            Nghe bạn nói, như một chuyện đùa dỡn đã qua, nhưng tôi vẫn có cảm giác chỉ vì mình mà bạn phải làm cái trò không vui đó.  Đưa tay vỗ nhẹ vai Chiến tôi nói rất chậm :
           
            -Xin lỗi cậu , lần này về lại Cần thơ tôi sẽ đưa cho cô thư ký vài trăm , bất cứ lúc nào cậu đến thăm mà không có tôi. Khỏi cần cậu nói gì, cô ta sẽ tự động đưa cho cậu. Ít nhất món tiền đó đũ chi cho bữa cơm bình dân và tiền vé xe về SG ... !

            Chiến cười ( vẫn kiểu cười mỉm, têu tếu cố hữu ), hứa chắc chắn sẽ đến để nhận món quà đó ! Nhưng cho đến đầu năm 1974 tôi chuẩn bị xa VN . Món quà vẫn y nguyên, Chiến không đến nhận như đã hẹn. Rồi bận rộn với giấy tờ tu nghiệp, tôi chẳng còn bụng dạ nào nghĩ đến món quà đó nữa! Mãi sau này , năm 1988 trong lần về VN rong chơi, chợt nhớ đến Chiến, với khá nhiều công sức  dò hỏi tôi tìm được căn nhà của gia đình Chiến ở Đa Kao. Căn nhà gạch 3 tầng khang trang vẫn còn đó, nhưng chủ nhân hoàn toàn xa lạ.  Qua vài người hàng xóm họ cho biết đầu năm 1975 Chiến bị mất tích trên chiến trường miền trung. Vợ con và bố mẹ Chiến đã vượt biên, hiện đang định cư tại Mỹ. Rồi cũng lần về VN đó, tôi tạt xuống Cần thơ gặp lại một số người quen , trong đó có cô thư ký. Cô ta cho tôi biết món quà vẫn không có ai nhận ! Tôi cười, có chút buồn bã trả lời cô ta :

            -Nó là món quà đó sẽ không bao giờ có người nhận !

Một đám cưới với một tuần trăng mật không chân dung :

            Với nhiều năm làm việc và sinh sống ở Cần thơ, tôi đi gần như hầu hết các tỉnh thành và thị xã của đồng bằng sông Cửu Long, nhưng có lẽ  Mỹ Tho là một trong vài thành phố tôi yêu thích nhất. Một thành phố cất giữ khá nhiều dấu tích và kỷ niệm của tôi trong những năm còn sống ở VN. Ngày đó, mỗi khi có dịp từ Cần Thơ về SG rong chơi hay công việc, tôi thường dành thời gian tạt vào Mỹ tho, nhiều khi chỉ để ăn một bữa cơm trưa hay tô hủ tíu trong nhà hàng nổi hay đi dạo dọc công viên Lạc Hồng gần trung tâm thành phố. 

            Mỹ Tho càng gần gũi, yêu kiều với tôi hơn khi tôi quen biết Thanh, một người bạn cùng tiểu đội và cũng là dân chính hiệu của thành phố Mỹ Tho. Thanh kém tôi 2,3 tuổi, trước khi theo học Thủ Đức khoá 1/72 Thanh là một trung sĩ nhất Địa Phương Quân thuộc tiểu khu Sa Đéc, vì vậy sau khi ra trường anh cũng như mọi người khác phải trở lại đơn vị cũ. Dù Sa Đéc gần với Cần thơ hơn Mỹ Tho nhưng tôi chưa một lần nào đuợc tiếp đón anh tại Cần Thơ. Nguợc lại tôi đã nhiều lần đến Mỹ Tho gặp anh và thăm gia đình, ba mẹ của anh. Tình thân của tôi và gia đình anh khá tốt, nhờ họ mà tôi biết khá nhiều về các di tích văn hoá lịch sử của tỉnh Tiền Giang, tôi thường cho họ hạt giống và cá giống do tôi có được từ Cần Thơ.  Cũng chính vì vậy đám cưới của Thanh ( hình như vào khoảng tháng 10 năm 1973 ?) tôi đã đến tham dự .

            Một đám cưới khá huy hoàng, ăn uống, hát hò kéo dài suốt hai ngày liền, bạn bè cũng như cấp trên cấp dưới trong tiểu khu Sa Đéc đều đến tham dự. Có lẽ vì lý do quân vụ nên anh chỉ được phép nghỉ khoảng một tuần lễ để lo việc lễ hỏi và lễ cưới. Tôi còn nhớ vị Đại uý cấp trên của anh đã hứa trước khách mời và gia đình hai họ là sau đám cưới, anh chỉ phải trở về tiểu khu khoảng một tuần lễ, rồi anh sẽ  lại có phép trở lại Mỹ Tho làm một cuộc tuần trăng mật với vợ  .

            Khoảng hơn một tuần lễ sau đám cưới , trên đường về Saigòn, tôi lại ghé vào Mỹ Tho định mang cho bố mẹ Thanh một số hạt giống hoa và rau cải như đã hứa với họ hôm đám cưới . Từ xa tôi nhìn thấy những dải phướn đám ma treo dọc theo hàng hiên căn nhà khá uy nghi của gia đình Thanh. Cảm giác ngỡ ngàng đã làm đôi chân tôi chậm lại, tôi nghĩ ngay đến dáng dấp già nua của ba mẹ Thanh vì một căn bệnh nào đó mà ra đi. Trong đầu tôi hiện ra những câu chia buồn cho đúng phép. Nhưng khi vừa bước qua ngưỡng cổng căn nhà , nhìn vào căn phòng khách, tôi như muốn quỵ xuống vì không thể tin nổi. Tấm hình chụp Thanh trong bộ quân phục xanh với cặp lon chuẩn uý trên cổ áo vẫn còn sáng chói,  được để trên bàn thờ khói hương nghi ngút !

            Ba mẹ Thanh cho biết, anh trở lại Sa Đéc chỉ được vài ngày, đã lo xong việc mướn nhà gần chỗ đóng quân. Dự định vài ngày sau sẽ về Mỹ Tho để dẫn vợ đi hưởng tuần trăng mật như tính toán rồi sẽ dẫn vợ mới cưới về thẳng căn nhà mới thuê ở Sa Đéc. Nhưng trước một ngày về phép, nơi đóng quân của anh bị pháo kích, không may anh đã tử trận.

            Một đám cưới đông vui bè bạn, họ hàng thân nhân. Những ly rượu nồng ấm kèm theo những món quà cưới, lời chúc tụng tốt đẹp cho lứa đôi hoà cùng những  câu vọng cổ, những bản nhạc mừng vui trong ngày cưới. Tất cả đã trở thành vô nghĩa trớ trêu trong khoảng thời gian quá ngắn ngủi, chưa trọn một tuần lễ sau đám cưới . Lời ước hẹn tuần trăng mật để có vài tấm ảnh kỷ niệm ghi dấu niềm vui quan trọng và đẹp đẽ nhất của một đời người, Cuối cùng cũng chỉ là hư ão, một tuần trăng mật không chân dung!

            Từ đó tôi không bao giờ liên hệ với gia đình của Thanh nữa. Tôi chẳng còn lý do nào để đến thăm gia đình, bố mẹ Thanh hay mang cho họ những hạt giống hoa, cây cỏ... như lời hứa hẹn nữa. Tôi không muốn việc thăm viếng của mình đào sâu nổi đau khổ của gia đình Thanh.  Hãy để cho những u buồn trở về với lặng im , quên lãng !

Có những bất hạnh mà chết đi lại là một giải thoát:
           
            Có lẽ Hùng là người bạn có số phận bi đát nhất trong khoá SQ Thủ Đức 1/72 mà tôi được biết . Hùng kém tôi 3 tuổi , sinh viên năm thứ 2 Đại học Luật Sàigòn, vì không qua được kỳ thi cuối năm nên anh bị gọi nhập ngũ.  Hùng cũng có  sở thích thơ văn nên chúng tôi khá hoà hợp khi tâm sự về những vấn đề liên quan đến báo chí , văn chương. Gia đình ba mẹ Hùng thuộc loại khá giả ở khu Bàn Cờ, mỗi khi tình hình chiến sự bất an, chúng tôi không được về phép vì cắm trại 100% . Hùng luôn luôn được  cô bạn gái, bà mẹ và các cô em gái chăm nuôi rất chu đáo. Nhờ vậy đứa con “ bà sơ “ như tôi lại được dịp   “ăn ké “!

            Ra trường Hùng được chuyển lên sư đoàn 18 Bộ binh ở Long Khánh , từ đó chúng tôi không còn dịp nào gặp nhau nữa . Thỉnh thoảng  khi có việc về Sàigòn tôi cũng tạt vào hỏi thăm Hùng qua bố mẹ và các cô em gái. Họ cho tôi biết Hùng có vài lần tạt về thăm gia đình và dẫn bạn gái “ bát Bonard“ nhưng rất vộị vàng rồi đi ngay !

            Khoảng một tháng trước ngày đi Nhật, hồ sơ đi tu nghiệp của tôi có chút khó khăn về tờ giấy an ninh quân đội.  Đang lúc túng quẩn không biết nhờ vả ai, tôi chợt nhớ có lần Hùng cho tôi biết ba của Hùng là đại uý trong nghành An ninh quân đội . Chẳng còn cách nào hơn, tôi đánh bạo đến nhà Hùng coi như một cuộc tìm may! 

            Nhưng ngay khi bước vào nhà Hùng. Chưa kịp chào hỏi gì, mẹ của Hùng đã khóc và nói với tôi Hùng bị mìn rất nặng, đang nằm ở quân y viện Cộng Hoà đã gần một tháng rồi. Ngay hôm đó tôi và gia đình Hùng lên thăm Hùng. Lúc nhìn thấy bệnh tình cũng như những kích động về tâm lý của Hùng tôi không thể nói được một lời mà chỉ biết nhìn người bạn mà ứa nước mắt. Trong  một cuộc hành quân, đơn vị của Hùng vướng phải mìn giết chết 4 người và bị thương nhiều người khác. Hùng bị đứt hết hai chân đến háng, bộ phân sinh dục cũng bị phá nát! Khi được chở đến quân y viện Cộng Hoà, không biết lý do tâm lý ra sao mà Hùng nhất định đòi gia đình bắt cô bạn gái túc trực săn sóc Hùng và còn bắt gia đình lo chuyện cưới hỏi . Khi tôi đến thăm, Hùng tỏ vẽ nóng giận, nói những lời rất khó nghe và xua đuổi tôi về. Chẳng biết làm sao hơn, bà mẹ và các cô em gái nhẹ nhàng xin lỗi để tôi ra về mang theo dòng nước mắt và cảm giác kinh hoàng còn đọng trong trí nhớ .

            Với tình trạng bi thương như vậy, tôi chẳng còn can đãm đến thăm Hùng hay nhờ vả ba của Hùng như dự tính nữa. Nhất là thời gian đó tôi muốn khùng lên, vì phải lo biết bao giấy tờ cần thiết trong khoảng một tháng trời còn lại cho một cuộc ra đi. Sang Nhật được vài tháng , từ một người bạn cho tôi biết sau khi xuất viện, Hùng trở về nhà. Anh như người bất bình thường, chửi bới tất cả mọi người vì mặc cảm tàn phế, nhất là đau khổ vì cô bạn gái không bao giờ đến thăm anh nữa. Rồi một hôm, không có ai ở nhà , Hùng đã treo cổ tự vận !

            Tôi đã lịm người khi biết được tin buồn đó, viết liền 2 lá thư về chia buồn với gia đình Hùng nhưng không bao giờ nhận được hồi âm ! Tôi hoàn toàn cảm thông cho im lặng đó. Với  nỗi đau mất mát quá to lớn như vậy, chẳng ai rảnh để nghĩ đến chữ lịch sự mà hồi âm cho tôi nữa. Đôi khi tôi tự đặt vào hoàn cảnh bi đát của Hùng, có lẽ nếu đũ can đảm tôi cũng sẽ tìm một giải thoát giống như Hùng mà thôi. Giải thoát cho chính mình và cho cả những người thân thương của mình là điều thực tế nhất. Kéo dài sự sống trong bất hạnh khổ đau chỉ là sự đầy đoạ chính mình, mẹ cha, người thân của mình  mà thôi.


Những đoản khúc mới tiếp theo:

(Thụy Sĩ)

            Cuối tháng 3 năm 1974 hồ sơ tu nghiệp của tôi đã hoàn tất . Cầm chiếc vé máy bay trong tay, nói vài lời từ giã bố mẹ và mấy đứa em, tôi im lặng xách cái túi nhỏ bước qua khu kiểm soát của phi trường để lên máy bay .Ngồi trên máy bay nhìn xuống phía dưới xuyên qua những đám mây trắng lửng lờ bay bên ngoài . Từ độ cao khoảng 8000 mét tôi thấy quê hương mình yên bình qúa, những làn sóng biển lăn tăn tiếp nối nhau di chuyển vào bờ biển miến trung, chẳng có dấu hiệu gì của Việt Nam đang bao trùm bom đạn, chết chóc cả. Nhưng tôi vẫn cảm nhận được rất rõ,  hình ảnh thanh bình đó chỉ là ảo giác mà khoảng cách không gian, với 8000 mét trên cao đã tạo ra trong thị giác của tôi mà thôi . Thật sự  thì Việt nam vẫn đang ngập trùm trong chiến tranh đã đến đỉnh điểm của chết chóc. Chính vì nhận chân được sự thật như vậy nên tôi vẫn chưa có cảm giác là mình đang trên đường rời xa đất nước.

            Nhưng một lúc sau, khi nghe cô tiếp viên của Việtnam Airlines cho biết máy bay chuẩn bị đi vào không gian quốc tế,  chúng ta đang bay trên quần đão Hoàng Sa nơi mà Trung Cộng đã dùng vũ lực chiếm đóng! Lúc đó tôi mới thực sự có cảm giác là mình đang trên lộ trình rời xa đất nước. Ít ra , tôi cũng xa  VN  đang sôi sục đạn bom được 3 năm, khoảng thời gian không dài nhưng cũng chẳng thể gọi là ngắn với một nơi mà người thanh niên vẫn phải dùng đơn vị từng ngày để đo đếm cuộc sống của họ. Tôi chợt nói nhỏ một câu chào giã biệt Việt Nam ( Good bye Vietnam ) ! Và cũng chính lúc đó tôi chợt nghe thấy bản trường ca của đời tôi vừa chuyển sang một đoản khúc mới. Dù tôi không còn nghe thấy tiếng trống, tếng phèng la( cymbal), tiếng kèn trompete chối tai trong tấu khúc thúc quân ngoài trận địa nữa. Nhưng tôi vẫn nghe đựợc những tiếng réo rắt của vài loại kèn, loại sáo mô tả một dạng cực nhọc mới trong đời tôi. Chuyện đèn sách, thi cử lại trở về với tôi kèm thêm việc phải dành dụm tiêu pha để cưu mang cho cha mẹ, lũ em đang réo gọi từ quê nhà.

( Japan)

            Nhưng tất cả đã ra ngoài tính toán, gần 6 năm sau ngày rời bỏ quê hương tu học tại Nhật, thời thế đã đổi khác và tôi thực sự đã phải nói câu chào từ biệt Việt Nam và Nhật bản  ( Good bye Vietnam & Japan ) để sang Thuỵ sĩ. Bản trường ca của đời tôi lại chuyển sang một đoản khúc mới . Đoản khúc của yên bình và nhàn nhã. Âm vang của những nốt nhạc cao chót vót, thấp tận cùng xen kẽ nhau mô tả sự đổi thay dồn dập trong đoản khúc vừa qua trong đời tôi không còn nữa. Nó đã được thay bằng những âm vang trầm êm của cây Đại vĩ cầm hoà hợp với tiếng sáo du dương êm nhẹ diễn tả sự bình thản vui ca trong không gian trong sạch hiền hoà của Thuỵ Sĩ . Trong đoản khúc yên bình đó hình như tôi chợt nghe được tiếng dương cầm phù họa của vợ tôi cùng với vài tiếng vui cười của lũ con tôi trong một ngày Thuỵ sĩ tuyết rơi tuyệt đẹp.

Hết

            Lưu An

( Tháng 8 năm 2014)