Thứ Bảy, 15 tháng 4, 2017

Con Tin Chúa Ơi - Sáng Tác LM. Duy Thiên - Quang Minh & Mây Trắng



Sáng Tác: Lm. Duy Thiên 
Tiếng Hát: Quang Minh & Ban Mây Trắng


Con Tin Chúa Ơi!



Một thoáng khao khát đam mê
Một thời vướng phải não nề thân tâm
Một thuở rơi lệ âm thầm
Một kiếp sa vực đời trầm khổ đau

Một tia ánh sáng nhiệm mầu
Một tình yêu mới khơi mào đời con
Một đêm tăm tối chẳng còn
Một cánh hoa cỏ mỏng dòn vững tin

Một lòng yêu Chúa Phục Sinh
Một đời cảm tạ ân tình Ngài ban!

Kim Oanh
Phục Sinh 2017


Đại Lễ Phục Sinh

 

Thế gian mừng Chúa Phục Sinh
Từ nơi cõi chết quang vinh lên trời
Tôi mừng tìm lại cuộc đời
Từ lâu mê muội một thời đi hoang
Tâm hồn nguội lạnh khô khan
Nhờ ơn Chúa đến đã mang nắng hồng
Trái tim tha thiết ấm nồng
Tôi nhìn Thánh Giá nghe lòng xót xa

Thế gian mừng lễ hát ca
Thành tâm tôi khấn vượt qua tủi sầu
Không còn ngọn sóng bạc đầu
Bão giông xô đẩy con tầu ngả nghiêng
Sống đời an lạc bình yên
Đi đến nhà Chúa con chiên trở về
Bên Cha hạnh phúc tràn trề
Có tình yêu Chúa vẹn thề niềm tin

Thế gian mừng Chúa Phục Sinh
Hân hoan chúc tụng tôn vinh danh Ngài
Tôi mừng vì hết thở dài
Vì được tình Chúa đoái hoài thương tôi
Cuộc đời thôi hết nổi trôi
Đường đi có Chúa sáng soi dẫn đường
Từ nay tôi sống kiên cường
Những ngày còn lại dặm trường theo Cha

Thế gian được Chúa thứ tha
Tôi mừng được Chúa cho qua tuổi sầu

Đỗ Hữu Tài
Sun Mar 31, 2013

5 Cái “Đừng” Của Cuộc Đời


Con người muốn được sống hạnh phúc, thanh thản mà trong tâm lại vẫn cứ ôm giữ , oán hận thì vĩnh viễn không thể nào đạt được. Hãy ghi nhớ 5 thứ “đừng” sau đây để cuộc sống không phải vướng bận điều gì nữa! 

Cái đừng thứ nhất: Có tiền đừng keo kiệt 

Tiền khi sinh chẳng mang theo đến, khi tử chẳng mang theo đi. Sức khỏe mới là thứ quan trọng hơn nhiều, có sức khỏe thì mới có tất cả. 
Trong dân gian có câu nói: “Không sợ kiếm ít tiền, chỉ sợ chết sớm”. Có sức khỏe thì ngại gì không kiếm được tiền. Vì sức khỏe, khi nào cần chi tiêu thì hãy chi tiêu, có tiền đừng keo kiệt. 

Cái đừng thứ hai: Có phúc đừng chờ đợi 

Con cháu đều có phúc của con cháu, đừng quá vì con cháu mà biến mình thành thân trâu ngựa. Nên danh thời gian hưởng thụ cuộc sống, đừng vì con cháu mà làm việc quá sức, làm cố quá là sát thủ nguy hiểm nhất của sức khỏe. 
Con cháu đều có phúc của con cháu, đừng quá vì con cháu mà biến mình thành thân trâu ngựa. 

Cái đừng thứ ba: Có tình yêu đừng buông bỏ 

Cuộc đời thật ngắn ngủi, tình yêu lại không dễ tìm kiếm, cho dù yêu hay được yêu đều là duyên phận, đều nên đón nhận, ngày hôm nay bạn buông bỏ, thì kiếp này nó sẽ không bao giờ đến với bạn nữa. 

Cái đừng thứ tư: Tức giận đừng để trong lòng 

Trong cuộc đời, ai cũng có thể phải gặp những chuyện khó khăn hay không vừa ý, đừng nên vì thế mà “nộ khí xung thiên”. Tức giận là tồn tại khách quan, không nên giữ ở trong lòng, nín thở thì khí sẽ ứ tắc, khí ứ tắc thì sẽ sinh bệnh. 
Gặp phải những sự việc khiến ta tức giận, hãy tìm người để khai thông nó, thổ lộ ra hết, như vậy sẽ gỡ bỏ nó nhanh hơn, nội tâm sẽ yên bình trở lại. 
Bạn bè chính là công cụ “thông tức khí” tốt nhất, cũng là nguồn động lực, khích lệ tinh thần, tiếp thêm sức mạnh tốt nhất cho bạn. 
Hãy làm cho mỗi ngày trong cuộc đời của bạn là một ngày vui sống. 

Cái đừng thứ năm: Có thù hận đừng ghi nhớ 

Lòng dạ khoáng đạt, dùng thiện lương nhân ái để đối đãi, không để ý những chuyện nhỏ, gạt bỏ ân oán, cũng không để thù hận trong lòng. Hãy làm cho mỗi ngày trong cuộc đời của bạn là một ngày vui sống. 

Người xưa sống được trường thọ vì họ có “tam bất thức”, chính là không cần biết 3 điều, không quan tâm ân oán, không quan tâm tuổi tác, không quan tâm bệnh tật. 
Hãy rèn luyện những điều này để sống thật vui vẻ nhé!

Trần Ngọc sưu tầm



Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Thơ Tranh: Niềm Mơ Ước Phục Sinh


Thơ: Kim Phượng
Thơ Tranh: Kim Oanh

Mừng Lễ Phục Sinh




Hân hoan mừng lễ Phục Sinh
Chúa cho con được cầu xin cùng Ngài
Cho người nghèo đói đủ xài
Mọi người quí mến không bài bác nhau
Giúp người già yếu ốm đau
Cho toàn thế giới khát khao tình người
Trẻ thơ luôn nở nụ cười
Cho người sốt sắng giữ 10 điều răn
Lòng người trong sáng như trăng
Người đang tội lỗi ăn năn sửa mình
Thế gian vui sống hoà bình
Vườn hoa nhân ái tự tình nở hoa
Cuộc đời đằm thắm câu ca
Như mây đùa gió thướt tha giữa trời
Nắng lên ấm áp cuộc đời
Bầy chim ríu rít những lời yêu thương
Đời con thôi khỏi vấn vương
Những năm lạc lõng gió sương dặm trường
Chúa ơi xin hãy dẫn đường
Cho con tìm lại khu vườn tuổi thơ
Từ nay con hết bơ vơ
Cây khô trổ lá ước mơ dạt dào
Tình yêu Thiên Chúa ngọt ngào
Tim con hớn hở đón chào Phục Sinh

Đỗ Hữu Tài
Sat Apr 15, 2006

Lời Ru Của Mẹ




Lời Ru Của Mẹ

Êm đềm giọng hát nhẹ đưa nôi
Từ thủa sơ sinh thấm đượm rồi
Âm điệu du dương câu dịu ngọt
Bổng trầm thanh thoát ý tinh khôi
In trong tiềm thức nâng hồn trẻ
Mở rộng khung đời xứng vị ngôi
Theo với tháng năm con hưởng trọn
Bao lời ru... mẹ thốt làn môi.

Trần Lệ Khánh
17-4-2017

***
Các Bài Họa:
Ngược Dòng

Cả giục câu hò cháy bỏng môi
Vừa loang ngõ vắng, vội phai rồi
Nao hè nắng bỏng trùm chăn dạ
Buốt dạ dày bầm mộng lá khôi
Để những thân cò quay cuối bãi
Cho từng lũ sói chiếm đầu ngôi
Trông vời mỗi bước đường xa mỏi
Buốt lạnh tâm đà giữ ấm nôi!

17 - 4 - 2017
Phạm Duy Lương
***
Tr
ẻ Mãi

Lời ru còn vẳng mãi đầu môi
Con mẹ giờ đây lớn thật rồi ?
Cái Ngủ… hôm nào nay xuất chúng
Con Cò… thuở ấy đã cừ khôi
Làm quan cả họ nàng chia ghế
Lãnh đạo khắp làng cậu soán ngôi
So với láng giềng ta trẻ nít
Bốn nghìn năm tuổi cứ nằm nôi!

Phan Tự Trí
*Cái ngủ, con cò – hình ảnh trong ca dao, lời ru
***
Thế Thái

Ngẫm cười đâu phải thưở còn nôi
Thế tục điêu ngoa lắm sự rồi
Khoát áo từ tâm lòng đểu giả
Giở trò độ lượng vẻ hài khôi
Lòng nhân đội lốt hòng che đậy
Đức hạnh tẩy trần để đoạt ngôi
Luân lý xói mòn trong dục vọng
Bên dòng ai oán mãi khua môi.

Liêu Đình Tự
***
Vui Dã Ngoạn

Tiếc gì chăng nữa cũng rời nôi
Nhớ lại ngày xưa quá thẹn rồi!
Cha bảo con à nên nhẫn nại!
Ông rầy cháu hỡi chớ kỳ khôi
Bây chừ dạ ổn nào mong chức
Buổi ấy tâm lành chẳng chọn ngôi
Thích thú theo chàng vui dã ngoại
Son hồng phơn phớt thắm bờ môi!

Như Thu
***
Tôi

Tôi cầm cây bút lúc thôi nôi
Mẹ bảo " con ta học giỏi rồi "
Cứ tưởng vào đời thì vững chãi
Đâu dè thua cuộc thiệt kỳ khôi
Tài hèn nên phải cam nhường bước
Sức mọn làm sao chiếm được ngôi?
Chữ nghĩa vã chăng còn ít ỏi
Dám đâu múa mép hoặc khua môi?

Thục Nguyên
***
Lưỡi Không Xương

Con cò mẹ hát lúc ru nôi
Thấm đậm vào tim nhớ chắc rồi.
Mở miệng ba lần chờ kiếm ý
Chọn từ ba khắc mới rung môi.
Suy thời Nhân đạo dường quên nhiệm
Lợi thế Ma đường vội lấn ngôi.
Cái lưỡi không xương đà loạn khẩu
Lời ru truyền thống góp mau khôi . . .

Trần Như Tùng
***
Tôi Yêu


Tôi yêu tiếng mẹ tự trong nôi
Vẫn nhớ, dù nay cách biệt rồi
Sâu lắng câu hò tâm lãng mạn
Dịu dàng khúc hát mộng tinh khôi
Đầu đình tát nước, người trao áo
Dưới nguyệt hẹn thề, sao đổi ngôi
Gần trọn cuộc đời luôn mãi giữ
Ngôn từ đất nước đẹp trên môi.

Sông Thu
***
Gượng Cười


Biết sẻ ai chừ, nỗi khúc nôi
Tàn canh huyễn mộng cũng tan rồi
Xe vừa ọc ạch đường miên viễn
Ngựa đã ê chề tiếng tuấn khôi
Chặc lưỡi đôi phen toan mặc kiếp
Co vòi mấy lượt dám ghen ngôi?
Đầy vơi một chén đưa ngang mặt
Gượng nuốt mà cười, dẫu đắng môi.

Nguyễn Gia Khanh


Đêm Huyền Nhiệm



Ô!Đêm nay thật là đêm huyền nhiệm
Phúc cho ai không thấy mà tin
Chúa đã sống lại từ trong cõi chết
Khi kinh qua bao nhiêu nỗi nhục hình

Máu đã đổ trên con người công chính
Cho tình yêu gắn kết lại tình yêu
Khi con tim có lý lẽ bao điều*
Mà lý trí không bao giờ biết được*

Con quỳ dưới tình yêu cây thập giá
Bên ánh đèn soi sáng đức tin con
Trái tim chúa mênh mông trời cứu độ
Dắt con đi qua vũng tối cuộc đời

Lạy Chúa con !Con là con chiên mới
Nhưng con tin Chúa sống lại trong tim
Một tình yêu tha thứ thật vô biên
Sẽ không chết từ ngôi hai thiên Chúa.
(* Lời của Pascal.)

Bằng Bùi Nguyên

Mùa Vọng Phục Sinh




Xướng: Mùa Vọng Phục Sinh  
(Good Friday 04 - 14 - 2017)

Phục Sinh Mùa Vọng Good Friday
Mười bốn tháng tư nhớ lấy ngày
Đại Lễ Easter, xe bus đậu
Holiday nghỉ học tuần này
Ca đoàn tiếng nhạc vang giao hưởng
Hoà tấu ngân nga hát thật hay
Nắng nóng mồ hôi như thấm áo
Ve sầu phượng vĩ thắm bông đầy.


Mai Xuân Thanh

Ngày 12 tháng 04 năm 2017

Bài Họa: Good Friday


Tháng Tư Mười Bốn Good Friday
Thứ Sáu Ba Giờ(*)chính ấy ngày
Ân sủng Ngài ban cho bạn đấy
Tội đời Chúa chuộc thế ta này
Xin ơn tha thứ người vô cảm
Nguyện sự bình an kẻ chẳng hay
Hiến lễ “Lời”(**) dâng là tột đỉnh.
Hôm nay mãi mãi vẫn đong đầy.


(*) Giờ chúa tắt thở
(**)Thiên Chúa Ngôi Hai

Thái Huy

4-12-17

Thứ Năm, 13 tháng 4, 2017

Thơ Tranh: Tình Yêu Cứu Độ


Thơ: Bằng Bùi Nguyên
Thơ Tranh: Kim Oanh


Mừng Chúa Phục Sinh



Chúa dang tay trên cây Thánh Giá
Con mỗi ngày thương quá nhìn Cha
Vì đời lận đận bôn ba
Cúi xin Chúa giúp vượt qua mỗi ngày
Chúa đớn đau vác cây Thánh Giá
Đi trên đường sỏi đá dẫm chân
Đòn roi rướm máu toàn thân
Ngậm ngùi con quyết xin vâng theo Ngài
Chúa đóng đinh trên cây Thánh Giá
Máu từng dòng nhuốm đỏ hai tay
Trên đầu đội chiếc mão gai
Chúa ơi sao chịu đắng cay cực hình ?
Chúa chịu chết trên cây Thánh Giá
Tình yêu Ngài thánh hoá nhân gian
Biết tìm đến Chúa vinh quang
Biết dọn mình khỏi khô khan phần hồn
Chúa sống lại trên cây Thánh Giá
Thế gian mừng ngày lễ Phục Sinh
Mọi người sống với đức tin
Lòng con sung sướng tôn vinh danh Ngài
Chúa Giêsu trên cây Thánh Giá
Con mỗi ngày thương quá nhìn lên
Thấy đời thôi hết bấp bênh
Con xin cảm tạ ơn trên mỗi ngày

Đỗ Hữu Tài
Sat Apr 23, 2011

Cho Con Vững Tin - Sáng Tác Lm. Nguyễn Duy - Gia Ân

(Thánh Đường Holy Name, Giáo Xứ Reservoir - Hình ảnh&Trình Bày: Uyên Nhi, Xuân Báu)


Sáng Tác: Lm. Nguyễn Duy 
Tiếng Hát: Gia Ân


Hoa Môi


Môi thì thầm nụ hoa môi
Môi thỏ thẻ gọi hương đời quyện nhau
Môi thơm tỏa khắp năm Châu
Môi duyên dáng thắm đẹp màu thương yêu
Môi dịu dàng nét mỹ miều
Môi trinh nguyên đổ diễm kiều vườn hoang
Môi đua sắc nở trang hoàng
Môi cầu nguyện Chúa Thiên Đàng ban ân

Môi nhân từ đáp khi cần
Môi tạ ơn phúc chuỗi lần Mân côi!

Kim Oanh
7- 4 - 2017
* Họa vận Mưa Môi của Từ Duy.

Ở Cuối Con Đường


Chào con đường đã đi qua
Bao nhiêu thương khó hằng sa vui buồn
Vai gầy mấy độ phong sương
Ân tình vay trả xin tròn nghiệp duyên

Chào đêm tiệc rượu say mềm
Cạn ly tàn cuộc chừng quên lối về
Đèn vàng chiếc bóng hoang mê
Tỉnh cơn phù phiếm bên hè phố khuya

Chào em tình cũ nghĩa xưa
Đò duyên rời bến qua mùa bão giông
Sông dài sóng nước mênh mông
Đôi bờ bồi lở chia dòng đời nhau

Chào ta đã bạc mái đầu
Câu kinh lành niệm qua cầu tử sinh
Dốc chiều nghiêng đổ trầm luân
Ân cần gieo hạt từ tâm đời mình

Du Tử Huỳnh 
05/04/2017

Thứ Tư, 12 tháng 4, 2017

Cõi Đời Cát Bụi Mịt Mù Cha Ơi - Sáng Tác Phú Quang - Ngọc Anh)


Sáng Tác: Phú Quang 
Tiếng Hát: Ngọc Anh 
Thực Hiện: Quýdenver

Lại Quên



Tháng tư đang đến mùa chay
Tâm tôi chưa tịnh còn say mê đời
Lại quên Con Một Chúa Trời
Mão gai Ngài đội chịu đời nhạo khinh

Thế mà mỗi lúc đọc kinh
Tôi không ngần ngại cầu xin cùng Ngài
Được ơn...cửa đóng then cài
Lại quên Chúa ở bên ngoài chờ tôi

Mùa chay vẫn sống lôi thôi
Vẫn không sốt sắng trong ngôi nhà thờ
Đọc kinh tâm trí thẫn thờ
Về nhà vội vã hững hờ xa Cha

Đến khi gặp nạn kêu ca
Cầu xin Chúa giúp vượt qua mọi bề
Lại quên xưa Chúa não nề
Vác Cây Thập Tự ê chề đắng cay

Tháng tư đang đến mùa chay
Tôi mong Chúa đón tôi quay về nhà
Nhà Cha hạnh phúc đậm đà
Có tình yêu Chúa thật là ấm êm

Để tôi thành khẩn từng đêm
Mỗi khi cầu nguyện lòng thêm rộn ràng
Để tôi được Chúa dịu dàng
Trên cây Thánh Giá nồng nàn nhìn tôi

Mùa chay hết sống lôi thôi
Đồng hành với Chúa song đôi trên đời
Tạ ơn Con Một Chúa Trời
Tôi mừng ngày lễ sáng ngời Phục Sinh

Đỗ Hữu Tài

Sat Apr 09, 2011

Cánh Phượng Rơi


Khi những cây phượng trong sân trường lác đác một vài bông hoa đỏ, tôi vui thích làm sao! Giờ chơi là dịp tốt nhất để mà ngắm những cành cây đẹp đẽ ấy. Tôi không có óc thẩm mỹ đặc biệt và cũng không biết làm thơ, nhưng tôi vẫn thấy những cành phượng thật là đẹp và thỉnh thoảng trong lúc thầy giảng bài, tôi lơ đãng cho hồn đi dạo ngoài sân trường ngắm hoa phượng và tay tôi bâng quơ ghi vài dòng chữ trên trang giấy vở có kẻ ô vuông, những dòng chữ chẳng phải là thơ, nhưng tôi đọc lại cũng thấy... thơ thơ.

Lá phượng xanh trông thật mát mắt, khác hẳn với màu hắc ám của cái bảng đen, nó cho tôi cảm giác như vừa được uống một ly thạch trắng, có thêm mấy giọt dầu chuối thơm tho, cái màu xanh dễ thương, tràn đầy hy vọng, tiềm tàng một sức sống dồi dào có một hấp lực thật đặc biệt đối với tôi và mấy đứa bạn. Chúng tôi đắm mắt trong màu xanh ấy để cho bao nhiêu mệt mỏi tiêu tan ; bạn tôi bảo đó là một cách để giết những con buồn ngủ vô cùng hữu hiệu.


Màu xanh của lá đẹp thế nào thì màu đỏ của hoa cũng đẹp không kém. Những bông hoa năm cánh, bốn cánh đỏ tươi, một cánh lốm đốm trắng, nổi bật giữa nền lá xanh, rung rung nhè nhẹ theo cơn gió thoảng, trong nắng vàng hanh sao mà quyến rũ thế! Bọn chúng tôi đã qua cái tuổi hái hoa phượng, bứt lấy nhụy làm gà đá ngày nào. Hấp dẫn thật nhưng... dã man làm sao. Bây giờ chúng tôi chỉ mong sao đôi mắt của mấy vị giám thị quay đi chỗ khác để vội vàng hái lén một vài bông thấp nhất nhẹ nhàng đem ép giữa lòng vở trắng. Bạn tôi hái được bông, chúng tôi xem đó là một chiến thắng lớn (ấy, chúng tôi cứ cho rằng vi phạm một lỗi gì mà giám thị không bắt được tức là đã chiến thắng, chắc mấy vị giám thị biết được tư tưởng quái lạ này cũng chẳng giận gì chúng tôi, vì ai chả biết bọn trẻ chúng tôi có nhiều ý nghĩ rất kỳ cục!). Trước khi trịnh trọng ép vào vở, bạn tôi hãnh diện giơ bông hoa trước mặt tôi, cao giọng : "Mi thấy có giống con phượng không nào? Cái đuôi của nó đây này!", nó vừa nói vừa chỉ cho tôi xem cái cánh có lốm đốm trắng; tôi gật đầu và thèm ghê lắm.

Nhưng chỉ ít ngày sau, hoa phượng không còn cao giá như trước nữa, hoa mọc và nở thật nhiều, hoa rụng đầy sân, chúng tôi tha hồ lựa chọn những bông thật tươi, thật đẹp và nguyên vẹn, không phải tranh giành nhau mà muốn bao nhiêu hoa cũng có. Nhìn lên trên cây, chao ơi, hoa nhiều ơi là nhiều, cả cây đã biến ra màu đỏ chói dưới ánh mặt trời. Màu xanh bây giờ đành giữ vai trò thiểu số, khép nép bên cạnh những chùm hoa đỏ rực rỡ và kiêu hãnh.

Chính lúc những bông hoa kiêu hãnh vì đang độ rực rỡ, tôi bắt đầu cảm thấy buồn. Phượng vẫn đẹp nhưng bớt phần thu hút rồi, tôi đang phải nghĩ tới những chuyện khác... Chẳng còn mấy ngày nữa thì nghỉ hè. Nghỉ hè, thực tình tôi không muốn nhắc tới hai chữ đó! Không phải tại tôi chăm chỉ (nếu biết có ai nghĩ vậy, chắc đủ làm tôi xấu hổ đỏ mặt), nhưng vì tôi bắt đầu thấy tiếc những giờ học vẫn đều đặn nối tiếp nhau bình thản trôi đi. Tiếc, vì không biết những niên khóa sau còn có được những giờ học êm đềm và vui tươi như năm nay không.

Thích nhất là những giờ Quốc văn, thầy tôi yêu nghề và yêu học trò, thầy giảng bài say mê hình như không biết mệt. Biết bao lần trong năm tôi đã ngẩn người nghe thầy ca tụng ngôn ngữ và văn chương Việt Nam, giọng thầy thiết tha, trầm ấm nhưng đầy phấn khởi. Thầy không dạy học trò chữ nghĩa suông, mà thầy dạy chúng tôi yêu tiếng Việt, ngôn ngữ của dân tộc tôi, của cha mẹ tôi, của ông bà và tổ tiên tôi. Nhờ thầy, chúng tôi có được niềm kiêu hãnh vì tiếng nước tôi, vì văn chương dân tộc tôi. Nhờ thầy, chúng tôi thấy hồn sông hồn núi hiển hiện giữa những dòng chữ đen trên giấy trắng. Nhờ thầy, chúng tôi biết xúc động mãnh liệt trước những trang sách ghi lại thời kỳ lập quốc của dân tộc, nhắc đến công cuộc tranh đấu để bảo vệ đất nước và chủ quyền của tổ tiên chúng tôi. Và cũng nhờ thầy, chúng tôi biết hổ thẹn vì một bài luận văn làm cẩu thả tư tưởng trống rỗng, chữ dùng vụng về để nhận được những lời phê trách cứ của thầy, kèm theo một điểm kém, dẫn đầu bằng một con số không, con số hàng đơn vị đứng sau, tủi hổ, trơ trẽn.


Thầy tôi giảng bài, chấm bài, sửa bài thật mê say, chúng tôi nghĩ là thầy không biết mệt. Thật là một nhận xét sai lầm, tôi biết thế nhân một lần có việc đi qua cửa phòng giáo sư, tôi không có ý tò mò nhưng vô tình đưa mắt nhìn vào, thầy tôi ngồi giữa những giáo sư khác, tay thầy cầm ly nước trà, nhưng thầy không uống, vì... thầy đang ho, thầy hơi cúi mình về phía trước và mặt thầy đỏ gay! Tôi bước vội để khỏi phải nhìn hình ảnh đau lòng ấy, nhưng còn giọng ho, nó vẫn quấn lấy tôi tưởng như không bao giờ dứt! Tuần lễ ấy tôi tỏ ra rất ngoan ngoãn, tôi chăm chỉ làm bài, vào lớp không nói chuyện, tôi tránh ăn quà trong lớp... tất cả chỉ vì tôi muốn an ủi thầy, muốn thầy nhận ra rằng thầy vẫn có những đứa học trò ngoan... như tôi, để thầy đừng chán nản trong công việc. Tôi bực mình và chỉ muốn cãi nhau với những bạn vẫn vô tình cười đùa trong giờ thầy giảng, làm thầy phải ngưng lại, gõ bàn hay nói to hơn nữa. Tôi nhận ra từng cái cau mày của thầy, dù rất nhẹ nhàng, kín đáo.

Nhưng thật đáng trách cho tôi! Tôi chẳng phải là học trò ngoan như đã nghĩ. Tuần lễ sau, hình ảnh thầy tôi trong cơn ho rũ rượi, gập mình về phía trước, mặt đỏ gay đã mờ nhạt trong ký ức tôi, tôi không còn lấy làm áy náy nữa, và tôi trở về với cái bản tính tự nhiên của tuổi học trò. Tôi lại thích lười, tôi soạn bài qua quít, đôi khi còn không soạn là khác. Vào lớp tôi lại nói chuyện như điên, mà sao chúng tôi lắm chuyện đến thế, chuyện nào cũng thấy cần nói và cũng thích nói, hình như chính lúc thầy giảng thì lại càng có nhiều cái phải nói hơn nữa. Tôi lại lén đem vào lớp những trái cốc, trái me, chua một cách vô cùng quyến rũ ; tôi bỏ sẵn trong cặp những thanh kẹo cao su và sô cô la, có lần tôi còn mang theo cả bắp nấu! Hay ít ra thì cũng một gói ô mai hoặc vài chiếc kẹo bạc hà... Tôi phân phát cho tụi bạn trong giờ học và cả bọn tiêu thụ một cách thú vị đang khi thầy để hết tâm lực giảng bài trên bục giảng. Khổ cho thầy ; hình như chỉ có bảng đen và bàn ghế nghe lời giảng của thầy thôi, còn chúng tôi đang mải cho cơ quan phát thanh kiêm tiêu thụ thực phẩm hoạt động tích cực. Thỉnh thoảng tôi cũng có hơi hối hận, khi thầy nhìn tôi hoặc hiền từ, hoặc nghiêm khắc ; nhưng chỉ được một lúc thôi, rồi đâu lại vào đấy. Hình như thầy có vẻ thất vọng về tôi rồi.

Nhưng bây giờ sắp nghỉ hè, tôi không thiết nói chuyện, không thiết ăn quà nữa. Tôi sắp phải xa thầy tôi, một người thầy đáng kính, rất tận tụy, rất yêu thương chúng tôi. Hồi tưởng lại, tôi thấy thầy thật cao thượng, thầy không giận chúng tôi bao giờ, dù chúng tôi có hư hỗn, có lười biếng. Sự nhẫn nại của thầy thực tình tôi không hiểu nổi, tại sao thầy có thể giữ như vậy được nhỉ? Tôi có con em, thỉnh thoảng nó có nhờ tôi chỉ hộ cho bài toán; tôi nói một lần nó không hiểu cũng đã đủ làm tôi tức giận ký cho mấy cái vào đầu. Thầy tôi thì không thế, không bao giờ như thế. Tôi sắp xa thầy tôi, niên khóa sau thầy vẫn dạy lớp này, nhưng tôi đã qua lớp khác, tôi không còn dịp gần thầy để chứng tỏ lòng tôi hối hận, tôi thương mến thầy nữa.

Không biết thầy có buồn phiền vì tôi không? Trong năm không biết bao nhiêu lần tôi đã phạm lỗi. Khổ chưa, sao tôi lại dại dột thế để bây giờ cứ hối hận hoài! Chả hiểu thầy có biết là tôi hối hận không? Hay thầy vẫn thất vọng về tôi, vẫn nghĩ tôi là đứa học trò hư hỏng và vô ơn. Tôi muốn được gục đầu trước mặt thầy để nói lời này :"Thầy ơi, đúng rồi, con hư hỏng, con vô ơn, con làm thầy buồn không biết bao nhiêu lần. Nhưng con biết lòng thầy luôn quảng đại, con biết thầy chẳng chấp gì với con, thầy sẵn sàng tha thứ tất cả mọi lỗi lầm của con, những lỗi vì tuổi trẻ bồng bột mà con cứ phạm đi phạm lại hoài. Thầy ơi! Con biết thế, nhưng con muốn thầy gật đầu, cái gật đầu xác định sự tha thứ để con khỏi phải áy náy mãi vì những lỗi lầm đã phạm".

Tôi biết chắc, nếu tôi nói được lời ấy, thầy sẽ hiền từ nhìn tôi, và gật đầu tha hết mọi tội lỗi cho tôi. Dù sao tôi vẫn buồn, nghỉ hè... nghỉ hè...


Tôi thơ thẩn trong sân trường nghe ve kêu buồn thảm, mùa hè, phượng vĩ và ve sầu là bộ ba không xa rời. Đã buồn, nghe ve kêu lại buồn hơn, tôi nghĩ loại động vật kỳ lạ này có biệt tài làm rung động hồn người bằng tiếng kêu của mình, nghe buồn ghê đi, buồn hơn cả sáu câu vọng cổ u hoài cất lên bằng một giọng ca điêu luyện. Những bài ca của người Chiêm Thành mất nước có lẽ cũng chỉ buồn đến thế này là cùng. Tò mò, tôi ngước mắt nhìn lên cành cây, tìm kiếm. Kia rồi! Chàng nhạc sĩ đa cảm đang đậu kia, chàng say mê với âm nhạc, đôi cánh chàng rung lên đều đặn và toàn thân chàng cũng nhẹ run.

Buồn bã, tôi vào lớp tuy đang là giờ chơi. Mấy dãy bàn ghế trống trơn coi mới tiêu điều làm sao! Từ đầu năm học đến giờ tôi không hề chú ý đến cảnh tượng này. Tôi lặng người với ý nghĩ buồn buồn không rõ rệt, và bỗng nhiên tôi nghĩ đến chỉ mấy ngày nữa thôi, lớp học sẽ trống vắng như thế này mãi, khi mà các bạn tôi không còn mỗi buổi đến đây, tất cả đều trở về với nếp sống riêng tư. Sẽ không còn những lần vào lớp sớm, bước chân son nhún nhảy, lách mình qua những dãy bàn ghế và mỉm cười với một bạn đến sớm hơn, đang ngồi nhấm một khúc bánh mì. Sẽ không còn những ngày trời mưa vào lớp muộn, lặng lẽ cất áo mưa vào góc lớp, len lén cúi đầu đi qua mặt thầy về chỗ và bè bạn nhìn mình cười mỉm. Không còn những giờ ra chơi cùng bè bạn đùa vui như tuổi hồn nhiên chưa hề mất, cũng không còn những chiếc bánh con hay ly nước nhỏ mua cho nhau ngoài giờ học, hoặc chiếc kẹo xinh xinh, trái ô mai chua quyến rũ lén đưa nhau trong lớp. Những lần ganh đua nhau từng điểm, từng nửa điểm cũng sẽ không còn, và cũng qua đi những giờ học ngồi bên nhau, hồi hộp và thích thú chờ thầy trả và sửa những bài làm.


Quyển lưu bút truyền tay đã gần giáp vòng, những dòng chữ làm bằng chứng cho tình bạn mến thương dần dần lấp kín những trang giấy trắng. Tôi sung sướng và buồn rầu đưa tay chậm mở từng trang, từng khuôn mặt lần lượt hiện ra bên những hàng chữ. Tôi lặng lẽ ngắm kỹ từng người, với ai cũng có ít nhiều kỷ niệm, vui hay buồn, nhưng tất cả đều đáng quí.

Tôi không phải là người hoàn toàn nên cũng có lần làm các bạn tôi buồn vì chuyện này hay chuyện khác. Tôi muốn làm sao các bạn tôi quên hết những điều đó đi, để đến lúc phải giã từ, chúng tôi chỉ giữ cho nhau những cảm tình thật đẹp. Ngày mai, trong thời gian tạm không gặp mặt hay vĩnh viễn xa nhau, tôi nghĩ rằng mỗi người trong chúng tôi đều mang theo cho mình những kỷ niệm yên vui, trong đó có khuôn mặt những người bạn học, để ai nấy không thấy cô đơn trên con đường mình đang dấn bước. Tôi mong ước một lần nào vui đùa trên bãi biển hay đi dạo giữa rừng thông, hoặc đắm mình trong khung cảnh tĩnh mịch của đồng quê, một người bạn nào đó chợt nghĩ đến tôi chốc lát, hay hơn nữa, trong yên lặng, mời tôi cùng vui đùa trên bãi biển, chạy ào xuống vùng nước trong xanh, cùng lặng lẽ sóng đôi đi giữa những hàng thông cao vút để nhận ra mình bé nhỏ, cùng say mê đắm mình trong vẻ yên lặng tuyệt vời của đồng quê nội cỏ. Nếu có dịp như vậy, thì sung sướng cho tôi làm sao!

Mấy hôm nay, trong giờ học tôi hay quay nhìn những người bạn ngồi phía sau hay bên cạnh, thầy la tôi sao có cái đầu mà không giữ yên, cứ ngó ngoáy hoài. Tôi thầm xin lỗi đã làm phiền thầy nhưng cái đầu vẫn cứ muốn quay qua quay lại. Giờ chơi các bạn cứ tản mác đâu đâu, chỉ giờ học mới qui tụ đông đủ. Tôi muốn nhìn cho thật kỹ cái cảnh êm đềm chúng tôi ngồi sát bên nhau học tập. Tôi muốn nhìn thật kỹ khuôn mặt từng người, linh động và đẹp hơn trong hình ảnh. Các bạn tôi, "mỗi người một vẻ" nhưng đều "mười phân vẹn mười" ; tôi thích nhìn những đôi mắt to, ngơ ngác như mắt nai tơ, trong sáng như ngọc quí và rạng ngời như thể nắng vàng ; tôi thích nhìn những bờ môi phơn phớt đỏ, hơi mím nhẹ khi nghe thầy giảng, hoặc đơn sơ ngậm lấy cán bút lúc làm bài gặp chỗ kho khó ; tôi muốn ngắm hoài khuôn mặt những bạn tôi, vẻ hồn nhiên chưa mất hết và những nét suy tư bắt đầu xuất hiện, những khuôn mặt ngây thơ mà cũng thật khôn ngoan, dịu dàng mà cương quyết, những khuôn mặt thần tiên của tuổi học trò. Vài ngày nữa, những khuôn mặt này tôi chỉ còn gặp trong tưởng tượng, tôi buồn rầu nghĩ đến lúc chia tay. Các bạn hình như cũng nghĩ như tôi nên những ngày này ai cũng có vẻ kém tươi và thoáng một chút gì nghĩ ngợi. Thật là những tư tưởng "nhỡ" gặp nhau (người ta có thành ngữ : "Những tư tưởng lớn gặp nhau", nhưng chúng tôi tự nhận tư tưởng của mình chưa phải là tư tưởng lớn).

Tôi nguệch ngoạc trên trang giấy trắng những vần thơ vụng dại:

Thương thương mắt lạ hôm nào 
Bên nhau bỡ ngỡ cùng trao nụ cười 
Xa rồi ngày của xuân tươi 
Tóc bay đường gió mọc mời hạ sang 
Run run tay nắm ngỡ ngàng 
Cho nhau trọn vẹn miên man ý hè 
Đường chiều trong bóng lá me 
Hẹn thôi, gặp lại khi ve dứt buồn.

Tôi thầm hẹn gặp lại các bạn tôi khi nào chàng nhạc sĩ Ve Sầu thôi trình bày khúc nhạc bi ai của chàng, nhưng tôi biết rằng sẽ có những bạn xa tôi, rồi không bao giờ tôi còn gặp lại. Bạn tôi sẽ xa rời tổ ấm học đường tung cánh bay vào đời sống, bạn tôi sẽ lặng lẽ rời xa bổn phận học trò để nhận lấy những bổn phận khác, ý tưởng đó làm tôi thấy nôn nao. Tôi ích kỷ muốn giữ mãi bạn tôi trong vòng đai thân ái. Mai kia, trong niềm vui họp mặt ngày khai giảng, chắc chắn cũng có những xót xa của một vài sự vắng mặt, điều tôi không thích chút nào nhưng sẽ phải lãnh nhận.

Tôi quay sang người bạn thân nhất, tự nhiên thấy dạt dào thương mến. Người bạn tôi mới chỉ quen đầu năm nay nhưng sao mà thân thiết. Chúng tôi thương mến nhau với tất cả vẻ thành thật của tâm hồn mới lớn, với tất cả mọi sự trong sạch, không hề tính toán của trái tim đang độ hoa niên. Có lẽ tôi và bạn tôi chưa hiểu thấu tâm hồn nhau như đôi bạn Bá Nha, Tử Kỳ trong truyện cổ Trung Hoa, mỗi đứa vẫn có những tâm tình riêng, đời sống riêng, suy tư riêng và những gì thầm kín nhất trong đáy con tim, chúng tôi muốn giữ riêng làm vốn liếng cho một đời người, nhưng, chúng tôi sẵn sàng thông cảm nhau, qua ánh mắt, tôi cũng có thể biết bạn tôi đang có chuyện buồn, ngược lại, qua một vài cử chỉ luống cuống, bạn tôi cũng hiểu tôi đang có điều lo nghĩ. Chúng tôi biết cùng vui niềm vui của nhau và biết cùng buồn với nỗi buồn của bạn. Chúng tôi bắt chước nhau trong cả một màu áo, một kiểu guốc hay một vài cử chỉ làm duyên. Chúng tôi thương mến nhau nhưng không có sự suy tính sâu xa của tình bạn Lưu Bình, Dương Lễ, chúng tôi chỉ thấy cần giúp nhau trong khi cấp bách, không thể chần chờ hay suy tính hơn thiệt, bởi vậy chúng tôi vẫn lén thầy đưa bài làm cho nhau xem hoặc tìm cách nhắc bạn mỗi khi bạn bị gọi đọc bài mà ngắc ngứ. Thầy biết và có nói đến hậu quả tai hại của những hành động ấy, tôi và bạn tôi hiểu lời thầy, nhận thầy nói phải, nhưng rồi... vẫn không đành lòng thấy bạn ngồi cắn bút hay ngập ngừng không đọc tiếp được bài phải trả, và lại... tìm cách giúp nhau.

Tôi nhìn bạn tôi và tự nhiên muốn thốt những lời bày tỏ lòng thương mến, tôi muốn nói thầm bên tai bạn : "N. ơi, sắp sửa không còn được cùng nhau nhẹ nhàng gót bước đến trường, không còn lúc nhắc nhau bài học hay lén chuyển cho nhau bài làm. Hai màu áo sẽ không còn cạnh nhau cho hòa hợp, trái ô mai sẽ nhấm nháp một mình, những cử chỉ làm duyên chắc cũng một phần nào trơ trẽn, vì chỉ có một. Nụ cười rồi sẽ bớt tươi, đôi mắt vẫn to, đen, nhưng phần nào bớt trong sáng và tâm hồn thì vương thêm một chút u buồn". Tôi thổn thức như muốn khóc, có lẽ đó là dấu hiệu chứng tỏ một tâm hồn yếu đuối. Cũng được, có sao đâu, tôi luôn luôn yếu đuối trong tình bạn.

... Một đám mây bay ngang che khuất mặt trời, sân trường tối dịu lại làm tim tôi cũng tìm được chút êm đềm. Chuông ra chơi reo vang, một mình tôi bỏ xa đám đông, tha thẩn trong sân trường rồi ngồi bên gốc phượng. Bóng mát bao phủ lấy tôi như bàn tay bà mẹ hiền lành. Hồn tôi dịu lại, tôi bâng quơ đưa một cánh phượng lên môi hôn, Mùi thơm ngai ngái đặc biệt của bông hoa đỏ chợt nhắc tôi tất cả những gì xa xôi mà tôi tưởng chừng đã quên hẳn. Tôi chợt thấy hai dãy hành lang xa hun hút mà tôi thường thích ngắm. Những giờ học có việc phải ra ngoài, tôi thường nhân dịp đứng ở cuối hành lang phóng mắt về tận đầu bên kia để tìm cảm giác cô đơn, lúc ấy học trò ở trong lớp cả nên hành lang vắng vẻ không một bóng người ; với tôi, hình ảnh tượng trưng nhất cho một tâm trạng cô đơn là dãy hành lang xa hun hút đó. Cũng hai dãy hành làng này đây, những ngày Chúa nhật có khi thơ thẩn lại trường, tôi thường đi chậm từng bước một trên đó để thấy mình đa cảm, vì lúc đó tự nhiên tôi muốn khóc tuy chẳng có chuyện gì buồn.

Tôi yêu dãy hành lang bởi vì nó là trường của tôi, cũng như tôi thương thương bụi hoa giấy trong sân, cũng như tôi mến những lớp học trật tự xếp hàng bên nhau, âm thầm và lặng lẽ chứng kiến những sinh hoạt nhộn nhịp của tuổi học trò. Tôi thương cả cái sân nứt nẻ chật ních xe cộ trong giờ học và trống vắng một cách đáng buồn khi học trò đã lần lượt về nhà. Trường tôi oai nghiêm như một nhà mô phạm, nhưng lại tươi tắn như cô gái đang độ tròn trăng và dễ thương như em bé chưa biết suy tư còn hồn nhiên sống những ngày đuổi hoa bắt bướm. Tôi thấy như vậy và không bao giờ tự hỏi tại sao tôi lại "thấy" kỳ cục thế, tôi không có thói quen phân tích những tình cảm đột nhiên phát hiện.

Một kỷ niệm thật xa xôi về trường tôi bỗng đâu hiện ra rõ rệt : tôi như sống lại một ngày đầu niên khóa, một ngày mà cơn mưa to nhất mùa làm ngập cả thành phố. Giờ tan học chúng tôi co ro đứng trên hành lang không về được. Những hạt mưa theo gió tạt mạnh vào người làm chúng tôi lạnh lùng, ướt át. Trời tối đen và gió mưa ào ạt ; nhìn những ngọn cây tơi tả trong mưa, vật vờ trong khung trời xám đục tôi thấy thương làm sao. Tôi cảm thấy ngôi trường thân yêu như đang rùng mình vì lạnh và mỗi khi một lằn sét sáng lòe trên bầu trời u ám tiếp theo là những tiếng sấm long trời lở đất, ngôi trường như cũng giật mình sợ sệt trong khi chúng tôi ôm nhau kinh hãi. Dù sao ngôi trường cũng bao bọc chúng tôi trong lòng nó như gà mẹ ủ con dưới cánh. Đứng ở đây tôi thấy yên tâm và thân mật tuy có lạnh lùng, ướt át.

Trời tạnh, chúng tôi lần lượt ra về, đi qua sân, phải xắn cao ống quần vì sân ngập đầy nước, chân tôi mát lạnh, tôi bước đi mà cứ tưởng mình đang bắt chước Thục Phán trong trang cổ sử, cầm sừng tê theo thần Kim Quy xuống biển. Ra khỏi cổng, tôi quay trở lại nhìn trường trước khi đi tiếp; trường tôi lúc đó sao mà tiêu điều thảm não, nó đáng thương chi lạ làm tôi chợt có cảm tưởng nó không còn phải là vật vô tri. Tôi nghĩ nó đang nhìn chúng tôi thầm trách sao bỏ về tìm bữa cơm nóng sốt và chăn ấm nêm êm, bỏ nó một mình trong đêm nay, tối tăm, lạnh lùng, ướt át.

Lần khác cũng lại trời mưa, tôi đau khổ lội bộ giữa con phố vắng tanh ngập nước. gần đến trường thì nghe tiếng trống vào học đã điểm, tôi vừa lo sợ vừa vui thích nhẩm lại một bài học thuộc lòng lớp năm vì nó thật hợp với hoàn cảnh lúc đó. Bài học thuộc lòng của tôi thế này:

Hôm nay trời lại mưa phùn 
Đường em đi học lầy bùn khổ chưa? 
Trên đầu không nón che mưa 
Có đôi guốc vẹt lại vừa đứt quai 
Tay em che vạt áo dài 
Một tay xách guốc với hai ống quần 
Bùn sâu đến mắt cá chân 
Sách em cắp nách mấy lần chực rơi 
Xa xa trống đã điểm rồi 
Em còn lờ lững ngoài trời đội mưa.

Bước qua cổng, nhìn lên ngôi trường cao lớn, tôi thấy như nó cười ranh mãnh, có ý bảo : "Chết rồi, đi học muộn nhé, thầy phạt cho xem!"

Còn bao nhiêu kỷ niệm nữa, nhưng không hiểu sao hai kỷ niệm tôi vừa nhắc lại đều có trận mưa, có lẽ bạn tôi nói đúng, nó bảo : "Mày có một tâm hồn ướt át". Sự thật, không muốn kể thêm nữa chỉ vì nếu tiếp tục tôi sẽ rất buồn. Bây giờ ngồi trong sân trường tìm lại những kỷ niệm về trường, mai mốt sẽ ngồi đâu để tìm lại những kỷ niệm đó? Có lẽ ở đâu cũng có thể được, nhưng chắc chắn đều với một tâm trạng xót xa.

"Yêu nhau yêu cả đường đi, ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng", yêu trường, không những tôi chỉ yêu ngôi nhà to lớn, bụi hoa giấy đẹp giản dị, những lớp học lặng lẽ đầy vẻ suy tư, cái sân thân yêu và hiền lành... mà tôi còn yêu cả con đường dẫn tôi đến trường, con đường nho nhỏ, đẹp hiền dịu với đầy bóng mát của những cây cao, thẳng tắp. Tôi thích đi trên con đường ấy, tự nghĩ rằng lúc đó mình cũng dịu dàng và duyên dáng thêm lên. Thích nhất là những ngày hoa lan nở, nhà hai bên đường trồng rất nhiều lan làm cho cả con phố thơm dìu dịu, mùi thơm trong sạch như tâm hồn đôi tám chưa một vết nhơ cuộc đời...

Tôi vò nát bông hoa đỏ trong tay lúc nào không biết. cái cảm giác buồn buồn vẫn còn nguyên vẹn. Nào những kỷ niệm đẹp, nào những phút gần gũi ngôi trường thân ái... tất cả rồi lại một lần nữa ra đi. Kỷ niệm đã qua, dĩ nhiên là vậy, nhưng hiện tại rồi cũng sẽ qua, cái hiện tại tôi ngồi dưới gốc phượng, vò nát cánh hoa tươi, tìm về những ngày xa xôi cũng sẽ không còn nữa. Tôi sẽ xa dần, không những thầy kính yêu, bạn thương mến mà cả ngôi trường chất đầy những kỷ niệm êm đềm. Nghĩ đến đây, tôi thấy tim mình như muốn tan ra...


Phượng rơi! Từng cánh lặng lẽ trên đầu tôi, trên vai tôi, và chúng yên lặng nằm cạnh chân tôi một cách ngoan ngoãn. Ve vẫn kêu hoài điệu nhạc thảm thê như tiễn đưa những cánh phượng lìa cành. Và mùa hè vẫn chậm chạp nhưng đều đặn trở về trong yên lặng, cái yên lặng đáng ngại, cái yên lặng đầy vẻ sâu độc, nó trở về để đẩy tôi xa dần những hình ảnh thân yêu của cả một năm học yên vui. Tôi cúi đầu muốn khóc.

Thật ra tôi chẳng muốn và cũng chẳng có quyền trách ai, tôi hiểu lẽ tuần hoàn trong vũ trụ, tôi đã biết trước cái ngày buồn rầu sẽ đến ; nhưng tôi, tôi chỉ là một học trò nhỏ bé và rất dễ rung động, làm sao tôi có thể không buồn trước những mất mát? Người ta có thể trách tôi, nhưng không ai cấm được tôi buồn rầu và tiếc nuối.

Một cánh phương rơi... 
Hai cánh phượng rơi... 
Ba cánh phượng rơi...
Tôi đỡ lấy cả ba và nâng niu trong đôi bàn tay bé nhỏ. Cánh thứ nhất cho thầy kính yêu, cánh thứ hai cho bạn mến thương, cánh thứ ba cho trường thân ái.

Lại một cánh phượng rơi... Cánh này dành riêng cho tôi đó.

Quyên Di
Mùa phượng 1970

Đêm Trăng Trên Sông - Lẽ Nào?



Đêm Trăng Trên Sông

Bỗng thấy vầng trăng ở đáy sông
Nhìn lên trùng điệp áng mây lồng
Bầu trời rực rỡ muôn tia sáng
Mặt nước lung linh vạn pháo bông
Lấp lánh ngàn sao, chèo khuấy gợn
Lao xao ngọn gió, sóng xoay vòng
Tiếng tiêu nhắn gởi lời tha thiết
Hỏi bạn tri âm có hiểu lòng?

Phương Hà
***
Bài họa:
Lẽ Nào?


Biết ngày xưa ấy, sáo sang sông
Nhưng chín năm qua, sáo sổ lồng
Lủi thủi một mình ôm gối chiếc
Bồi hồi trăm sự nhớ chăn bông?
Bờ kênh Nhiêu Lộc, chờ bao đổi
Cửa sắt nhà em, lượn mấy vòng
Đã hẹn mà sao không thấy đến?
Lẽ nào hờ hững lại cam lòng?

Thục Nguyên
***
Mười Hai Bến Nước


Người đâu ăn ở lại hai lòng
Tựa lũ chim khôn kiếm nhãn lồng
Già kén càng ham mơ mẩy hạt
Kẹn hom lại muốn hẹn vàng bông
Nhác trông núi nọ mà cong đít
Lại ngắm đồi đây liệu thoát vòng?
Mười một đã qua còn bến nữa !
Nước ròng thêm tủi nhớ dòng sông! 

Phan Tự Trí
***
Sông Khuya Trăng Lẻ


Rì rào sóng bạc vỗ bờ sông
Kẽ lá trăng khuya dợn bóng lồng
Mặt nước loe vàng bung ánh lụa
Lưng trời tỏa ngọc dát màu bông
Làn tiêu quyến luyến thương cài nhịp
Điệu lý mơn man nhớ bện vòng
Chẳng được cùng vui thuyền với biển
Tình xưa canh cánh,mãi nao lòng!

Lý Đức Quỳnh
***
Sông Khuya Dạo Bước


Thẩn thơ nhẹ bước dạo bên sông.
Trăng sáng mênh mang mặt nước lồng
Thăm thẳm trời đêm vì tú điểm
Bềnh bồng nguyệt tỏ áng mây bông
Thuyền đơn đỗ lặng bờ im vắng
Khói sóng nương theo gió cuốn vòng
Vẳng tiếng huyền cầm khơi nỗi nhớ...
Hình xưa...Thơ cũ...xuyến xao lòng..!

Trần Lệ Khánh
***
Hoan Cảnh


Đêm khuya Nàng Nguyệt tắm trên sông
Gió mát, trăng thanh thỏa quyện lồng
Bên bến bờ lau cành xạo xạc
Dưới thuyền khách lữ dạ bềnh bông
Sáo tre sầu lẻ ru hồn lạc
Hạc trắng duyên đôi vỗ cánh vòng
Trời đất giao hòa, ôi diễm tuyệt
Hỏi sao nhân thế chẳng xao lòng?

Cao Bồi Già
01-04-2017
***
Mong Đợi

Chờ người từ buổi bước sang sông
Như thể chim non kẹt khóa lồng
Mơ áng mây cao trời lộng gió
Tìm thời gian cũ chuyện lông bông
Ngày qua đêm lại trong quanh quẩn
Tháng đợi năm trông giữa xoáy vòng
Tình nhớ khôn phai cùng kỷ niệm
Có không, em hiểu cạn tơ lòng ?

Trịnh Cơ
 (Paris)
31/03/2017
***
Thuyền Hoa

Hai nhà thủa ấy cách dòng sông
Rẽ sóng thuyền hoa mặc gió lồng
Cha đã thương nàng trao chuỗi ngọc
Mạ thì cưng trẻ sắm đôi bông
Dâu hiền e ngại chào dăm khách
Rể quý lăng xăng tiếp mấy vòng
Chan chứa ân tình câu nghĩa nặng
Trăm năm hòa hiệp sắt son lòng!

Như Thu
***
Du Thuyền Đêm Trăng


Rúc rích thuyền hoa bỡn sóng sông
Trăng nghiêng soi bóng khách du lồng.
Lung linh bọt trắng vây dầm gỗ
Rực rỡ cúc vàng đậu áo bông.
Gió chuyển lời thơ vang khắp hướng
Vàng gieo ngấn nước biết bao vòng.
Ngân Hà đưa bạn bơi trên bạc
Gửi tới Hằng Nga vạn nỗi lòng 

Trần Như Tùng
***
Trăng Tắm


Ô kìa ! ả nguyệt tắm trên sông
Thân khỏa nàng khoe vạn ánh lồng
Tha thướt loang dòng tươi rói ngọc
Nuột nà tỏa sóng trắng ngần bông
Đê mê ngỏ ý mây sà bóng
Bẽn lẽn giăng tơ gió lượn vòng
Ta sỗ sàng tay quờ tuyệt mỹ
Bỗng trăng vụn vỡ…tái tê lòng!

Nguyễn Gia Khanh
***
Nghịch Cảnh

Vàng gieo ngấn nước một dòng sông
Núi biếc mây cao soi bóng lồng
Mặt đất xôn xao thuyền cập bến
Bầu trời rực sáng pháo từng bông.
Người đi biền biệt không quay lại
Như sáo sang sông chẳng lộn vòng.
Biết đến bao giờ trông thấy mặt?
Hỏi ai không thấy xốn xang lòng!

Huy Phương
***
Một Chiều Trên Sông

Ta gặp nàng thơ trên bến sông
Một chiều thu lạnh khói sương lồng
Dáng ai xõa tóc soi dòng nước
Lữ khách dừng chân ngắm áo bông
Đò dọc em qua làn sóng gợn
Bãi ngang anh đợi gió mây vòng
Xa nhau từ dạo tàn binh lửa
Kẻ ở người đi quặn thắt lòng.

Ngô Văn Giai

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

Họp Mặt Cựu Giáo Chức & Học Sinh Trường Kỹ Thuật Vĩnh Long Lần Thứ I - Tại TP. Cao Lãnh


Được tin Quý Thầy Cô và các Bằng Hữu Gia Đình Kỹ Thuật Vĩnh Long tại khu vực Thành Phố Cao Lãnh sẽ tổ chức 
“HỌP MẶT CỰU GIÁO CHỨC VÀ HỌC SINH TRƯỜNG KỸ THUẬT VĨNH LONG 
KHU VỰC CAO LÃNH LẦN THỨ I, NGÀY 22/4/2017”

Thời gian: 9 giờ ngày thứ Bảy 22/4/2017 (26/3 âl)
Địa điểm; Nhà hàng Phong Lan 
Số 47A , QL30, Phường Mỹ Phú, TP Cao Lãnh, Tỉnh Đồng Tháp

Ban Liên Lạc Cựu Giáo Chức và Học Sinh 
Trường Kỹ Thuật Vĩnh Long 
Chúc Mừng: 
Họp Mặt Gia Đình Kỹ Thuật Vĩnh Long Khu Vực Cao Lãnh lần thứ I 
Cao Lãnh, ngày 22/4/2017
“Vui vẻ và thành công tốt đẹp”

Kính mời: 
Quý Thầy Cô và các Bằng Hữu Kỹ Thuật Vĩnh Long ở các tỉnh và khu vực ngoài TP Cao Lãnh nếu có quan tâm “cuộc Họp Mặt Gia Đình Kỹ Thuật Vĩnh Long  tại Khu Vực Cao Lãnh”: xin kính mời quý vị cùng đến dự họp mặt (mở rộng) để tăng thêm phần vui vẻ, long trọng và đoàn kết trong gia đình Kỹ Thuật Vĩnh Long. 

Xin vui lòng ghi tên tham dự với Ban Tổ Chức (trước ngày 20/4/2017): 
Điện thoại BanTổ Chức:
 - Nguyễn Hồng Tư 0908034477 
- Văn Ý 01226509630
-o0o-o0o-

Thư Mời Họp Mặt

Thơ Tranh: Tự Tại


Thơ: Quên Đi
Thơ Tranh: Kim Oanh

Ngẩn Ngơ Nơi Này



Thương con chim sẻ ngoài sân
Nhỏ nhoi số phận phân vân đứng ngồi
Trưa hè cháy đọt mồng tơi
Biển khơi sóng dậy đất trời gần nhau.

Đường đời bất hạnh úa màu
Từng đêm ngồi viết vài câu tạ từ
Ngày xưa chậm trả lời thư
Em hờn em giận chẳng ử - khoát tay.

Trời chiều ráng nhạt hồng phai
Dìu nhau đi mấy dặm dài phân vân
Tay trong tay dạ ân cần
Giờ đây cách biệt bần thần chờ trông.

Sông chiều bó gối ngồi mong
Giận người phương ấy đèo bồng bỏ đi
Có khi nào ? Được mấy khi ?
Em về ướp mộng xuân thì với thơ ?!

Xót xa con nhện giăng tơ
Cho tôi cay đắng ngẩn ngơ nơi nầy…

Dương hồng Thủy

Đêm Trăng Trên Sông - Sông Trăng



Đêm Trăng Trên Sông

Bỗng thấy vầng trăng ở đáy sông
Nhìn lên trùng điệp áng mây lồng
Bầu trời rực rỡ muôn tia sáng
Mặt nước lung linh vạn pháo bông
Lấp lánh ngàn sao, chèo khuấy gợn
Lao xao ngọn gió, sóng xoay vòng
Tiếng tiêu nhắn gởi lời tha thiết
Hỏi bạn tri âm có hiểu lòng?

Phương Hà
***
Sông Trăng


Lung linh bóng nguyệt giữa dòng sông 
Thấp thoáng thuyền ai với gió lồng
Đầu núi ngàn mây trông tựa tuyết 
Lưng trời cánh hạc ngắm như bông
Lăn tăn sóng vỗ, chèo khua động 
Thánh thót sương sa, én lượn vòng
Phong cảnh hữu tình, câu xướng hoạ
Vần thơ tri kỷ mãi ghi lòng.

Thanh Trương
***
Đông Hồ  


Kỷ niệm Đông Hồ nơi bến sông
Cùng nhau trà đạo dưới đèn lồng
Trăng rằm soi bóng chao làn nước
Ngư phủ câu đêm lượn mấy vòng
Khung cảnh thanh bình trên cõi thế
Đèn màu lấp lánh giữa bồn bông
Xa xa thấp thoáng nhà chân núi
Một chốn thần tiên luống chạnh lòng!

NS
***
Dậy Hương Lòng


Thuyền đang lướt nhẹ giữa dòng sông
Cá quẫy làm tan ánh nguyệt lồng
Dưới bến thương anh chàng thổi sáo
Trên bờ mến thiếu nữ cài bông
Chòm sao gác núi trôi từng đợt
Đám vạc kêu đêm lượn mấy vòng
Ngắm cảnh trời khuya xao xuyến lạ
Ai mà chẳng chút dậy hương lòng

Phạm Kim Lợi
***
Một Cảnh Đời


Chị về... ngơ ngẩn xóm bờ sông
Hiu hắt giòng trong nắng úa lồng!
Em gái ngày nay vừa hé nụ
Bằng lăng buổi đó mới ra bông
Mười hai bến nước...ôi đành phận
Một kiếp đời hoa... cũng chạnh lòng!
Tay bế, tay bồng, thân rã rượi
Trầm luân còn xiết chặt bao vòng?.

Thy Lệ Trang
***
Xóm Nghèo Tôi


Làng mạc êm đềm dọc bến sông 
Câu thơ tuyệt diệu dưới trăng lồng
Mượt mà vườn chuối cây ra quả
Mát rượi ruộng đồng lúa trổ bông
Mến dãy tre xanh - cau đứng thẳng
Thương con đường nhỏ - lối đi vòng
Mình về tình nghĩa đầy trong xóm
Câu nói thân yêu thật ấm lòng

Lê Viên Ngọc
***
Trên Sông Đà

Một chiếc thuyền nan lướt giữa sông
Lung linh đáy thẳm bóng trăng lồng
Chèo khua dạt nước lùa từng mảng
Mái đẩy gom sao chụm những vòng
Lấp lánh tinh cầu như dát ngọc
Mỏng manh mây trắng tựa thêu bông
Quê nhà cảnh trí hồn xao xuyến
Nhớ nửa tri âm thổn thức lòng

Thanh Hoà
***
Trộm Nhìn Ai Tắm Trên Sông


Ánh dương lấp ló gợn dòng sông
Sương khói mờ bay đẹp bóng lồng
Ai đó phong lưu khoe dáng ngọc
Kẻ nào hèn mọn trộm thân bông
Ngửa mình tay khoát đeo dăm lượt
Cúi mặt chân khua bám mấy vòng
Nhum nhúm căng đều da muốt trắng
Đêm về thổn thức mãi trong lòng

Nguyễn Vĩnh Bảo
***
Đêm Trăng Trên Sông


Trăng vừa ẩn hiện dưới triền sông
Chợt tải muôn nơi trải bóng lồng
Chợt ánh màu hoa phô vạn sắc
Chợt bùng đáy nước vỡ nghìn bông
Chợt trầm sợi cảm soi đường phố
Chợt bám dòng trôi xoáy cuộn vòng
Chợt vẳng tiêu buồn đêm tĩnh mịch
Thuyền xuôi nỗi nhớ bủa vây lòng!

Uyên Du 
170402
***
Thuyền Mộng


Sương khuya giăng kín mặt dòng sông 
Vi vút heo may tiếng gió lồng 
Kẻ bước sao mờ rơi tán lá
Người đi trăng khuyết lặn vườn bông
Lời thề tiền kiếp còn quanh quẩn 
Câu hẹn ngàn năm vẫn xoáy vòng 
Tri kỷ đêm nay say ánh Nguyệt 
Thuyền trôi sóng sánh giấc mơ lòng 

Minh Thúy
***
Bài Cảm Tác:
Đời Ta
(Riêng gữi anh Kim-Lợi 
và Châu-Thạch) 

Ghềnh thác đời ta tựa khúc sông 
Bao năm cá chậu với chim lồng 
Không bờ không bến nên trôi dạt 
Có cửa có nhà cũng tựa không 
Đất nước trải dài nào rẽ lối 
Giang-sơn thống nhất lại chung vòng 
Tuy nghèo mà vẫn yên vui sống 
Nhớ lại ngày xưa thấy tủi lòng 

Hàn-sĩ

Về Miền Tây - Bài 1



Viết bài này để xin kính cẩn tưởng niệm đến hương linh của ông ngoại và ông chú Ba, những con dân kỳ cựu của Vĩnh Long, đã kể lại cho cháu nghe về “Thành Xưa Tích Cũ” và những vùng đất mà hai ông đã đi qua trong khắp các vùng Miền Tây, cũng như tưởng nhớ đến hai anh Hứa Hoành và Nguyễn hữu Trí với những đêm trà đàm “Nhớ Về Miền Tây” tại vùng 9, trại tỵ nạn Bataan, Philippines, vào những tháng ngày cuối năm 1984. Người viết xin thành thật cáo lỗi trước, vì đây không phải là một bài biên khảo, mà chỉ là những chi tiết được ông bà kể lại hay những mẩu chuyện được các bậc đàn anh kể cho nghe trong những buổi trà mạn đàm, nên có thể không chính xác về địa danh hay niên đại.

Nói đến Miền Tây Nam Việt mà không nói một chút về Sông Cửu Long quả là một thiếu sót lớn lao, vì sông Cửu Long chính là “Mẹ” đẻ ra cả vùng đồng bằng trù phú miền Nam nói riêng, và nói chung là cả một vùng chạy dài từ cao nguyên Tây Tạng ra tận đến biển Đông. Sông Cửu Long phát nguyên từ Tây Tạng, vượt qua trăm ngàn ghềnh thác từ thượng nguồn Tây Tạng, qua Trung Hoa, đến Miến Điện, Thái Lan, Lào, Miên, rồi cuối cùng chảy qua Việt Nam và đổ ra biển với chín cửa. Trước khi chảy vào Việt Nam, dòng Cửu Long chia làm hai nhánh là sông Tiền và sông Hậu. Sông Tiền sâu và rộng, chảy qua các tỉnh Châu Đốc, Cao Lãnh, Sa Đéc, Vĩnh Long, Bến Tre, Mỹ Tho, Gò Công, và đổ ra biển bằng sáu cửa là những cửa Tiểu (nằm trong tỉnh Mỹ Tho, bây giờ là Tiền Giang), Đại (nằm trong hai tỉnh Bến Tre và Tiền Giang), Ba Lai (Bến Tre), Hàm Luông (Bến Tre), Cổ Chiên (Trà Vinh và Bến Tre) và Cung Hầu (Trà Vinh). Sông Hậu nằm về phía Nam của sông Tiền, nhỏ và cạn hơn, chảy qua các tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, và đổ ra biển bằng ba cửa Định An (Trà Vinh và Sóc Trăng), Ba Thắc và Tranh Đề (Sóc Trăng). Đây là một vùng đất bao la phù sa mầu mỡ, với sông nước bao la, kinh rạch chằng chịt. Trong thời Nam tiến và ngay cả đến hồi Pháp thuộc, vùng này đầy dẫy thú hoang như voi, cọp, cá sấu, trâu rừng, heo rừng, nai, khỉ, rắn, rùa, cua đinh, càng đước, vân vân. Năm 1865 tại Sài Gòn có triển lãm một cặp ngà voi Đồng Tháp nặng đến 140 kí lô. Năm 1880, chỉ trong vòng hai tháng mà 189 con cá sấu đã bị dân chúng giết để lãnh thưởng tại Rạch Cò thuộc tỉnh Sóc Trăng. Hàng năm đến mùa nước nổi, voi tràn xuống cánh đồng Phụng Hiệp và bị người ta bắn hạ đến trên 40 con. Khi kinh Phụng Hiệp được đào từ năm 1903 thì voi tại đây mất môi trường sống, nên chúng di chuyển về Sóc Trăng, người Pháp phải nhờ thợ săn voi giỏi từ Cao Miên xuống vùng này để tiêu diệt số voi còn lại.

Lịch sử của đồng bằng châu thổ sông Cửu Long hay Nam Kỳ đã được thành hình từ lâu đời, tuy vậy, con người chỉ xuất hiện trong vùng này khoảng trên dưới 4.000 năm nay mà thôi. Nam Kỳ Lục Tỉnh, sản phẩm bồi đắp của sông Cửu Long, là một vùng đất bao la mầu mỡ và trù phú, là vựa lúa cho cả nước, đã bao lần thay ngôi đổi chủ. Trước thế kỷ thứ 5, vùng Bà Rịa thuộc vương quốc Bà Lợi (theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì vương quốc Bà Lợi là một vương quốc nhỏ nằm trong vùng mà có lẽ bây giờ là vùng Đồng Nai và Bà Rịa) và Nam Kỳ thuộc vương quốc Phù Nam (vương quốc này được thành lập vào thế kỷ thứ nhất Tây lịch). Khoảng những năm 545-627, sau chiến tranh giữa Chân Lạp và Phù Nam thì hai vương quốc Bà Lợi và Phù Nam suy yếu thì vùng Bà Rịa và Nam kỳ bị Chân Lạp lấn chiếm. Ngày nay người ta tìm thấy ở các vùng Ốc Eo (Long Xuyên) rất nhiều di tích của dân tộc Phù Nam. Nối chân người Phù Nam là dân Thủy Chân Lạp. Tuy nhiên, họ không khẩn đất lập dinh điền như chúng ta, mà họ chỉ là những dân bán du mục, đi đó đi đây thu hái hoa màu thiên nhiên để sống. Bắt đầu thế kỷ 17 trở về sau này, dân Việt Nam bắt đầu tiến dần về phía Nam, khai khẩn những vùng đất mà bây giờ chúng ta gọi là Nam Trung phần như Mô Xoài (Bà Rịa) và Trấn Biên (Biên Hòa). Sau đó chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1619-1687) gả hoàng nữ thứ 9 là công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp để đổi lấy hai vùng Tầm Bôn (Tân An) và Lôi Lạp (Gò Công). Sau đó vào năm 1623, chúa gửi quân sang giúp rể là vua Miên Chei Chetta II chống lại sự xâm lăng của quân Xiêm, nên Vua Chetta cho dân Việt di cư vào vùng Đồng Nai sinh sống. Lúc ấy, dân Miên tuy có oán hận vua của mình chỉ vì lấy một bà công chúa mà để mất đi một vùng đất bao la bát ngát. Tuy nhiên, một thời gian sau đó, công chúa Ngọc Vạn rất được sự kính mến của dân Miên và dân Miên quen gọi bà là Cô Chín Xinh, có lẽ vì thế mà sau này người Pháp đọc trại ra Nam Kỳ là Cochinchine.

Lại có một giả thuyết khác cho rằng năm 1863 khi Pháp cho một phái đoàn do Doudart de Lagréé đến vương quốc Cao Miên để thương lượng việc bảo hộ và được vua xứ này chấp thuận ngay. Khi Doudart hỏi vua Norodom “phần đất Nam Kỳ gọi là gì để ghi vào hiệp ước bảo hộ?” Vua Norodom trả lời ngay “Cô Chín” nên người Pháp phiên âm thành Cochin, về sau vì có sự trùng tên Cochin với một thuộc địa Bồ Đào Nha bên bán đảo Ấn Độ, nên họ gọi Nam Kỳ là Cochinchine, tức là Cochin Trung Hoa để phân biệt với Cochin-Indo.

Cho tới bây giờ vẫn chưa có tài liệu đích xác về khởi điểm của cuộc Nam tiến; tuy nhiên, cuộc Nam tiến của dân Nam diễn ra rất sớm, có lẽ trước thời các chúa Nguyễn đặt chân đến Nam Kỳ rất lâu. Theo sử liệu thì trước khi người Phù Nam lập quốc vào những năm trước đầu Tây lịch thì vùng đất này đã có những dân tộc cổ đại sinh sống như người Stieng và người Mạ. Tuy nhiên, đến khi người Việt bắt đầu cuộc Nam tiến vào thế kỷ thứ 17, có năm sắc dân chính là Việt Nam, Chiêm Thành, Lão Qua, Phù Nam và Chân Lạp, về dân số thì các dân tộc này ngang ngữa về số lượng. Sau một thời gian thì dân Việt lại tăng vượt trội hơn các dân tộc khác, trong khi các dân tộc khác chẳng những không tăng mà có phần suy giảm vì do sự du canh và điều kiện rừng thiêng nước độc ở các vùng này. Trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn bị áp lực từ phương Bắc, nên muốn sinh tồn Việt Nam không có con đường nào khác hơn là mở đất về phương Nam. Thế nên từ khi nhà Ngô giành lại độc lập năm 939 (sau gần 1.000 năm Bắc thuộc từ năm 110 trước Tây lịch đến năm 939 sau Tây lịch), đất nước ta bắt đầu mở ra một kỷ nguyên độc lập với các triều đại nối tiếp về sau này như Đinh, Lê, Lý, Trần...

Lúc đó tổ tiên chúng ta còn ở quanh vùng Bắc Việt, từ Thanh Hóa trở ra. Không đầy 2 thế kỷ sau đó, Việt Nam đã tiến xuống Quảng Bình và Quảng Trị (năm 1069). Đến năm 1307 thì vua nhà Trần gã công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm để đổi lấy hai châu Ô Lý (bây giờ là vùng Bắc Thừa Thiên). Năm 1425, Việt Nam chiếm Thuận Hóa (vùng phía trung và nam Thừa Thiên bây giờ). Năm 1471 chiếm Qui Nhơn, 1611 đến Phú Yên, 1653 đến Nha Trang. Năm 1658, Chân Lạp xin thần phục chúa Nguyễn. Năm 1680, chúa Nguyễn chính thức cho nhóm quan quân lưu vong của nhà Minh bên Tàu khai khẩn vùng đất Đồng Nai. Năm 1693 quân chúa Nguyễn tiến đến Phan Thiết. Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai ông Nguyễn hữu Kỉnh (có sách viết là Nguyễn Hữu Cảnh) là Kinh Lược đất Chân Lạp và chia đất Đông Phố ra làm dinh huyện để tiện việc cai trị. Ông lấy đất Đông Phố để lập ra huyện Phước Long, Biên Hòa lập ra dinh Trấn Biên, và đặt Sài Gòn là huyện Tân Bình. Sau đó đặt ra 2 dinh là Trấn Biên (Biên Hòa) và Trấn Phiên (Gia Định). Năm 1705, ông đem quân tiếp nhận vùng đất Tầm Phong Long (nay là hai vùng Long Xuyên và Châu Đốc). Nghĩa là trong khoảng 7 năm từ năm 1698 đến 1705, quan Thống Suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đã chính thức tuyên bố chủ quyền của Việt Nam trên phần đất Nam Kỳ với đầy đủ những thủ tục hành chánh mà chưa có dân tộc nào đã làm trước đây, như đặt địa danh, kiểm tra dân số và thiết lập bộ máy hành chánh cho đến ngày nay. Năm 1708, Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên, chúa Nguyễn chỉ nhận trên danh nghĩa, nhưng vẫn để cho dòng họ Mạc trấn giữ đất Hà Tiên. Năm 1753, nhân cơ hội vua Chân Lạp là Nặc Ông Nguyên lấn hiếp người Côn Man, chúa Nguyễn bèn sai Nguyễn Cư Trinh vào dàn xếp và lãnh lệnh chúa Nguyễn ở lại tiếp tục khai khẩn đất hoang và lập khu dinh điền mới. Từ đó coi như phần lớn đất đai của xứ Thủy Chân Lạp đã nằm dưới sự kiểm soát của Việt Nam. Trong khi đó Mạc Cửu và con là Mạc Thiên Tứ tiếp tục khai khẩn những vùng Hà Tiên, Phú Quốc, Long Xuyên (Cà Mau), Rạch Giá, Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (Sóc Trăng và Bạc Liêu). Năm 1755, các ông Trịnh Hoài Đức, Ngô nhơn Tịnh và Lê quang Định cũng lập ra thi xã, thắp sáng ngọn đuốc văn hiến nơi góc trời cực Nam của tổ quốc. Đến năm 1780 thì Mạc Thiên Tứ chính thức dâng đất Hà Tiên (bấy giờ bao gồm các vùng Hà Tiên, Phú Quốc, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cần Thơ). Đến đây coi như cuộc Nam tiến đến chót mũi Cà Mau và Hà Tiên đã hoàn tất. Mặc dù thời ấy dân ta hãy còn rất ít so với người dân bản địa ở đây như người Phù Nam và Chân Lạp, nhưng người Nam sống rất hài hòa với các dân tộc khác. Kỳ thật ngay sau khi Lê Lợi giành được độc lập từ tay giặc Minh thì các vua nhà Lê đã nghĩ đến việc Nam tiến để giải quyết nạn dân số tăng quá nhanh. Tuy nhiên, bấy giờ chỉ có những người bị tội lưu đày biệt xứ thì mới phải đi vào trong Nam, rồi về sau này vào thời vua Lê Thánh Tôn, ngài mới chính thức lập ra chức quan gọi là “Thu Ngự Kinh Lược Sứ” với nhiệm vụ chiêu tập lưu dân gồm những người tình nguyện, những tội phạm lưu đày và những người trốn lính trốn sưu, để khai khẩn đất hoang ở phương Nam. Những lưu dân này cứ lấn dần và lấn dần về phương Nam. Thoạt tiên, họ lấn qua Chiêm Thành, rồi đến Thủy Chân Lạp, hễ nơi nào đất đai trù phú là họ di cư đến. Thuở đó đất rộng người thưa, nên ai muốn đi đâu thì đi, muốn khai khẩn vùng nào thì tự nhiên khai khẩn mà không hề bị một rắc rối nào với chính quyền. Lại nữa, đất Nam kỳ ngày trước cũng không thuộc Chân Lạp, mà là đất của Phù Nam, đã bị tiêu diệt hồi thế kỷ thứ 7. Sau các chúa Nguyễn dùng lưu dân như cách “tằm ăn dâu,” đi thẳng vào những vùng có cư dân Chân Lạp mà ở chung với họ. Một thời gian sau, vì phong tục tập quán khác biệt nên đa số dân Chân Lạp (Miên), hoặc rút về Lục Chân Lạp, hoặc tìm cách co cụm với nhau thành những phum hay sóc, sống biệt lập với người Nam. Trước khi chúa Võ Vương gã công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp thì các vùng Tầm Bôn (Tân An), Lôi Lạp (Gò Công), Ba Thắc, Sóc Trăng, Trà Vang (Trà Vinh), Bạc Liêu và Bến Tre vẫn còn trực thuộc Chân Lạp. Một thời gian sau khi vua Chân Lạp dâng 2 vùng Tân An và Gò Công, thì một biến cố xãy ra là vua Nặc Ông Tôn bị Nặc Hinh đánh đuổi, bèn chạy về Hà Tiên cầu cứu với Mặc Thiên Tứ, Thiên Tứ cho người dâng sớ về triều Nguyễn xin cứu giúp Nặc Ông Tôn. Chúa Nguyễn sai Trương Phúc Du đem binh đánh dẹp và đưa Ông Tôn về làm vua Chân Lạp. Nên sau đó Nặc Ông Tôn hiến đất Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa Đéc) cho chúa Nguyễn. Cùng lúc ấy, Mạc Thiên Tứ cũng đã ổn định xong các vùng Ba Thắc, Trà Vang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Bến Tre. Như vậy là toàn bộ đất Nam Kỳ đã thuộc quyền chúa Nguyễn.


Nói về cuộc Nam tiến ngoài quan Thống Suất Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh ra thì Nguyễn Cư Trinh là người có công rất lớn trong việc đánh dẹp cũng như bình định lãnh thổ. Về phía người Minh Hương ngoài 2 ông Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ ra, còn có các ông Trịnh Hoài Đức, Ngô nhơn Tịnh và Lê quang Định cũng có công rất lớn. Đến thời Gia Long thì đất Nam Kỳ vẫn còn chia làm 3 dinh và 1 trấn là Trấn Biên dinh (Biên Hòa), Trấn Phiên dinh (Gia Định), Long Hồ dinh (cả miền Tây ngoại trừ Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Hà Tiên), và Hà Tiên Trấn, lúc đó bao gồm Hà Tiên, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Mãi đến đời Minh Mạng, sau khi tổng trấn Gia Định thành là Lê văn Duyệt qua đời, nhà vua mới đổi dinh và trấn ra tỉnh. Lúc đó Nam kỳ mới chính thức được gọi là Nam Kỳ Lục Tỉnh, gồm các tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Trong hai thời kỳ làm Tổng Trấn Gia Định thành, Đức Khâm Sai Chưởng Tả Quận Công Lê Văn Duyệt đã đem hết tài sức của mình ra để biến cho miền Nam có một bộ mặt mới tươi sáng và rực rỡ hơn bao giờ hết. Ngài chẳng những là một vị văn quan thanh liêm chánh trực, mà còn là một võ tướng có tài dẹp loạn trị an, qua những cuộc bình trị “Mọi Vách Đá” năm 1807, rồi Kinh Lược Trấn Thanh Nghệ, dẹp tan đám tham quan ô lại Lê Quốc Huy. Ngài còn “Vì dân trừ bạo”, ngang nhiên dám xử trảm tên Huỳnh Công Lý (cha của một thứ phi rất được Minh Mạng sủng ái). Lòng can đảm của Đức Tả Quân còn lộ rõ qua việc dâng sớ xin tha cho bà Tống thị Quyên (vợ của Hoàng tử Cảnh) và hai lần vua Minh Mạng cử người vào Gia Định để giữ những chức vụ quan trọng đều bị Ngài từ chối và trả về với lời lý do rằng đó là những tên “hại dân hại nước”. Một trong những người đó là Bạch Xuân Nguyên là người đã đưa đến cuộc bạo loạn thành Gia Định của Lê văn Khôi vào năm 1833. Trong khi ở triều đình thì vua Minh Mạng u mê nghe theo nịnh thần, chỉ một bề cấm đạo và giết hại các giáo sĩ, thì ở trong Nam không có sự cấm đạo cũng như không có sự bế môn tỏa cảng trong suốt hai thời làm Tổng Trấn của Ngài. Nói tóm lại, sự phát triển nhanh chóng và phồn thịnh của miền Nam một phần lớn nhờ ở sự ưu đãi của thiên nhiên, nhưng một phần khác cũng nhờ vào tài cai trị khéo léo của Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt. Thay vì bế môn tỏa cảng thì Ngài đã chấp nhận giao thương với các tàu buôn Tây phương và các nước quanh vùng như Trung Hoa, Miến Điện, Thái Lan. Hơn nữa, Ngài không chịu thi hành lệnh cấm đạo của triều đình. Về nội trị thì Ngài rất quan tâm đến đời sống của dân chúng. Ngài cho đào kinh dẫn thủy nhập điền, khuyến khích dân chúng khai khẩn hoang địa, và tạo điều kiện tốt cho những sắc dân khác sinh sống bên cạnh người Việt. Chính Ngài đã biến Nam Kỳ thành một vùng đất trù phú, mầu mỡ và là một vựa lúa khổng lồ cho cả nước. Tuy nhiên, ngay khi Ngài vừa mất thì vua Minh Mạng vì tư thù hẹp hòi, bãi bỏ ngay chức Tổng Trấn, đưa Bạch Xuân Nguyên vào làm Bố Chánh thành Phiên An, và đây cũng chính là đầu dây mối nhợ của một cuộc tao loạn làm hủy hoại tiềm lực cả vùng Nam Kỳ và đây cũng là một trong những lỗ hỏng quân sự và phòng thủ chính khiến cho Pháp lấn chiếm Nam Kỳ về sau này. Vụ án Lê văn Duyệt cho chúng ta thấy Minh Mạng cũng thù hiềm nhỏ nhen, ích kỷ hẹp hòi không kém gì vua cha Gia Long của ông. Khi Lê văn Khôi và nhân dân Nam Kỳ bị Bạch Xuân Nguyên bức hiếp phải nổi lên làm giặc thì ở kinh thành, Minh Mạng chỉ một bề vì tư thù và sự tự ái với Đức Tả Quân mà khoâng cần truy nguyên căn cố thế nào, chỉ hạ lệnh đem toàn bộ 1831 người, kể cả đàn bà trẻ nít trong thành ra chém sạch rồi chôn chung vào một mã gọi là “Mã Ngụy” Đức Tả Quân là một Đại Khai Quốc Công Thần của vương triều nhà Nguyễn, mà ngay cả Gia Long còn phải miễn bái. Đáng lý ra Minh Mạng phải kính nể Ngài như Gia Long không sai khác, đằng này vì hẹp hòi ích kỷ nhỏ nhen, mà Minh Mạng đã hành xử với Đức Tả Quân còn thua cách hành xử của một kẻ tiểu nhân. Thật tình mà nói, nếu muốn nói cho hết sự hẹp hòi ích kỷ của vương triều nhà Nguyễn thì không biết phải nói đến bao giờ mới hết. Các chúa thời Nguyễn sơ đã có công mở đất phương Nam bấy nhiêu, thì con cháu của các Ngài về sau này có tội với tiền đồ và dân tộc bấy nhiêu. Thôi thì những công những tội ấy hãy để cho lịch sử phê phán. Bây giờ chúng ta chỉ nói về Nam Kỳ Lục Tỉnh thân yêu của chúng ta mà thôi.

Hết Phần 1 (từ trang 1- 4)
Người Long Hồ

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

Nguyễn Đăng Khoa-CHS Tống Phước Hiệp NK: 62-69


 Từ trái qua: Lê văn Hoàng (Hoàng lùn, đã mất), không nhớ, La vĩnh Hùng, Thầy Tỏ, Khai, Lê văn Hội (đã mất), không nhớ..,Khoa đội nón, đứng góc phải của ảnh.
 Khoa bên phải của ảnh

Nguyễn Đăng Khoa 

Lần Giường Mẹ Dậy



Trời mưa mái lá dột hai đầu
Tiếng cuốc kêu hoài dưới lũng sâu
Con ở nơi xa đâu có biết
Lần giường mẹ dậy dói mo cau[1]

Huy Phương
[1] Dói (phương ngữ): Che chỗ bị dột.

Đêm Trăng Trên Sông (Vườn Thơ Thẩn)




Đêm Trăng Trên Sông

Bỗng thấy vầng trăng ở đáy sông
Nhìn lên trùng điệp áng mây lồng
Bầu trời rực rỡ muôn tia sáng
Mặt nước lung linh vạn pháo bông
Lấp lánh ngàn sao, chèo khuấy gợn
Lao xao ngọn gió, sóng xoay vòng
Tiếng tiêu nhắn gởi lời tha thiết
Hỏi bạn tri âm có hiểu lòng ?

Phương Hà
***
Bài họa

Đêm Trăng Trên Sông

Vầng trăng vằng vặc ở ven sông,
Lơ lửng ngàn mây bóng nước lồng.
Rực rỡ bầu trời soi tám hướng,
Lung linh mặt nước vỡ ngàn bông.
Sao trời lắp lánh chèo khua nước,
Ngọn gió lao xao sóng xoáy vòng.
Réo rắc tiếng tiêu trầm bổng thoảng,
Tri âm ai đó có nao lòng ?!

Đỗ Chiêu Đức
***
Lễ Hội Hoa Anh Đào

( Washington DC )

Xác đào lả tả rắc trên sông,
Từng đợt như mưa mỗi gió lồng.
E ấp nhụy hoa bao cánh bướm,
La đà vai khách những chùm bông.
Dưới thuyền chậm rãi chèo khua nước,
Trong nắng lưa thưa én liệng vòng
Bước bước co ro trong giá lạnh,
Tay trong tay nắm mắt như lòng.

Mailoc
4-01-17
***
Hoài Niệm Tình Xưa

Chia tay bịn rịn ở bờ sông,
Tách bến thuyền bơi giữa gió lồng.
Tay vẫy người yêu mờ khuất dạng,
Miệng chào tri kỷ nhạt đầu bông.
Cố nhân áy náy chèo qua ải,
Lữ khách bâng khuâng ghé lại vòng.
Cách biệt lâu năm ra hải ngoại,
Tình xưa kỷ niệm nhớ trong lòng.

Mai Xuân Thanh
Ngày 01 tháng 04 năm 2017
***
Trăng nước

Một thuyền một khách một dòng sông
Hiu gío mà sao vẫn lộn lồng
Trăng sáng mờ xa sương bám núi
Chèo đưa lên xuống nước tung bông
Bâng khuâng tiếng hạc vang lan nhẹ
Lơ đãng trời mây uốn lượn vòng
Ta cảnh thất thần quăng sáo trúc
Hồ trường dốc cạn tạm an lòng.

Thái Huy
***
Trăng Trên Sông


Quê tôi cũng có một dòng sông
Chỡ nặng vầng trăng số phận lồng
Soi sáng luồng ngư ông bủa lưới
Hiện bên bờ ruộng lúa lên bông
Đói nghèo mượn ánh vàng Cung Quảng
Tròn khuyết đeo vai nặng chiếc vòng
Mặt nước xanh trong giờ bẩn đục.
Hằng Nga vẫn đến chẳng nao lòng.

Cao Linh Tử
3/4/2017
***
Đêm Trăng Trên Sông

Trăng vừa ẩn hiện dưới triền sông
Chợt tải muôn nơi trải bóng lồng
Chợt ánh màu hoa phô vạn sắc
Chợt bùng đáy nước vỡ nghìn bông
Chợt trầm sợi cảm soi đường phố
Chợt bám dòng trôi xoáy cuộn vòng
Chợt vẳng tiêu buồn đêm tĩnh mịch
Thuyền xuôi nỗi nhớ bũa vây lòng!

Mai Thắng
170403
***
Hoàng Hôn Ven Sông

Hoàng hôn phủ kín cả ven sông
Nửa mảnh trăng suông, bóng nước lồng
Tiếng ểnh ương kêu nghe rả rít
Chim bìm bịp gọi thấy nao lòng
Đò chèo rời bến người vội vã
Mái đẩy xua đi sóng xoáy vòng
Lẳng lặng ánh dương chìm khuất nẻo
Sao trời lấm tấm điểm ngàn bông

Song Quang

Hai Phương Trời Cách Biệt - Hoàng Trọng - Bảo Yến


Sáng Tác: Hoàng Trọng
Ca Sĩ: Bảo Yến
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình

Phóng Sự


Cái người đầu tiên viết phóng sự thành công là ai? Người đầu tiên xứng đáng đeo Mề Đay để vinh danh phóng viên là ai? Hẳn nhiên là Ngô Tất Tố rồi! Nhưng cái danh hiệu Phóng Viên Tài Ba , Phóng Viên Chân Chính là do nhân dân phong tặng chứ không phải người Pháp (!) . Dĩ nhiên các chính quyền sau này cũng không đủ chính danh để tôn vinh cụ (?) .

Chả hiểu cụ vào cửa Khổng sân Trình tới đâu? Cụ Lều Chõng ra sao? Nhưng ai cũng phải công nhận cụ chữ nghĩa đầy mình . Cụ có cổ học nhưng lại khoái chữ Tây và văn minh Tây (!) mặc dù các quan cai trị Đông Dương thì … khá là Đểu!!!
Cụ viết khá nhiều, nhưng tôi đọc cuốn phóng sự “ Việc Làng “ thì rất giựt mắt, chạm nọc và … thấm thía vì … tôi sanh tại thôn quê ! làng tôi rất là thơ mộng … cho đến khi tôi đọc Việc Làng của cụ! Tôi cũng đã từng đọc: Đồ Phồn , Vũ Trọng Phụng , Nam Cao , Tú Mỡ , Hoàng Đạo … nhưng … chưa đã! Tới khi cụ Ngô cho những quan làng và những dân làng thèm thuồng, ngấm nghé miếng thịt giữa làng thì … tôi hết chịu nổi!!!

Lúc đó ông Phạm Quỳnh hô hào Cải Lương Hương Chính. Rồi những ông làm báo Minh Tân, Thanh Nghị, Tao Đàn … muốn tiến nhanh …” đi tắt đón đầu “ người Pháp , 
Dĩ nhiên là dân quê đọc … hiểu … chết liền! Trong số những người như Phan Kế Bính , Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học … muốn bàn giao cổ học cho những người tân học (!) thì Ngô Tất Tố sừng sững như một cây cổ thụ… một người Khổng Lồ!
Đọc văn của cụ ai mà không xốn xang, bàng hoàng, tủi hận … và suy nghĩ hoài: Làm sao bây giờ! Ôi cái phong tục, cái truyền thống nơi làng xã mà hàng ngàn người ca tụng… nó hay ho như vậy sao???
Làm thế nào bây giờ! Làm thế nào để không ca tụng những ông tù trưởng ở trần đóng khố Nghiêu Thuấn ! Làm thế nào để đẩy mấy ông Tống Nho đi chỗ khác chơi… Hãy vứt béng cái trò Lý Học của Tống Nho vào sọt rác! Làm thế nào để tư tưởng ta vượt khỏi lũy tre xanh. Làm thế nào để ta đêm nằm không phải kéo chiếu chăn lên xuống để ấm đầu, ấm chân… trong khi nghe những tiếng sáo diều rên rỉ… buồn thúi ruột!!!

Làm thế nào bây giờ? Nếu ở trong nhà mà nói chuyện cải lương… thì ông già cho mấy cái bạt tai! Ở làng mà nói chuyện cải lương thì các kỳ hào sẽ nói: A! Thằng này gây sự! Ở trong nước mà nói chuyện cải lương thì các ông lớn chụp ngay cho cái nón phản động!!! Ôi ! Truyền thống là cái gì mà sao nó nặng gấp ngàn lần xiềng xích!
Miếng thịt giữa làng có ý nghĩa gì mà người ta ăn một miếng sẽ… hãnh diện ba đời! Các quan lớn ngày nay… ra ngoại quốc ăn ngon thì … nó lại là chuyện khác!
Ôi! Cái sĩ diện hão nó đã ăn sâu vào xương tủy dân ta rồi. Người ta viết gia phả nói ông cha mình là vĩ nhân, anh hùng, được ăn miếng thịt giữa làng, giữa nước, giữa… Liên Hiệp quốc!!!
Người ta viết (tôn lên hoài) những Danh Nhân, Cao Tăng, Anh Hùng… để dính máu ăn phần một cách rất thịnh soạn, và xin ấn, xin lộc các ngài sao cho … ba đời ăn không hết !!!
Cái phong tục truyền thống này còn lưu lại trong “ĐÁM MỔ BÒ “ của Phạm Lưu Vũ chăng? Cái nét đẹp bền vững, đậm đà bản sắc dân tộc này của làng xã (hạt nhân của đất nước này) nên bảo tồn chăng?
Ôi! Cái tư duy làng xã này… có lẽ… nó theo ta mấy thế kỷ nữa… khi các nước văn minh đã lên cung trăng… và sao hỏa!!!

Tôi nghĩ: Có lẽ ta không nên phát những tờ giấy “gia đình văn hóa“ cho một số gia đình… mà ta nên phát cho mỗi người một cái gương soi(!) để người ta nhìn vào cái bản mặt mình nó có một chút truyền thống nào không?

Chân Diện Mục