Hiển thị các bài đăng có nhãn Chân Diện Mục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chân Diện Mục. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2024

Người Bạn Vong Niên

 
PHẠM HUY VIÊN 1936-2021
(Bút Hiệu Chân Diện Mục)


Tháng 6 năm 1970 khi tôi xếp bút nghiên để sửa soạn cầm thước gỏ thì anh đã gỏ-đầu-trẻ đâu đó lâu lắm rồi. Nếu xếp về thứ bậc và tuổi tác, hổng chừng tôi phải gọi anh là thầy nữa là khác. Anh ra trường dạy dỗ đã lâu, có lúc nghe nói đã từng leo lên leo xuống mấy con dốc mà có lần nhà thơ Vũ Hữu Định đã kể lể ... phố núi cao phố núi đầy sương, anh khách lạ đi lên đi xuống .... 
Học trò cũ của anh có người tròm trèm tuổi tôi. Vậy mà hổng biết sao, ngay khi vừa gặp nhau, ngay giữa chỗ mà người ta thường nghiêm mặt lên giọng gọi là cửa Khổng sân Trình, giữa anh và tôi đã như quen biết lâu rồi ... Ngộ lắm. Cái gì đó ... cũng chẳng rõ là cái gì. Chỉ biết làm như có chỗ rất tương đồng. Ngặt cái, dù kể ra là đồng nghiệp mà cái chỗ tương đồng thì chẳng ăn nhằm gì hết với cái nghiệp mà đời đã đưa đẩy chúng tôi đến gặp nhau. Dù xuất thân từ chung một lò, được dạy dỗ uốn nắn mấy năm trường gần như cùng chung một sách, vậy mà khi gặp nhau, chúng tôi lại thấy giống nhau ở cái chỗ không ... có sách nào dạy. Thời đó, từ nhà trường đến xả hội, hai cái chữ dù không được sơn son thếp vàng đóng khung treo trong đình trong miểu nhưng vẫn coi như treo lủng lẳng một cách vô hình trên đầu quí vị làm nghề ... dạy học. Từ dạy con nít mới bập bẹ i tờ tới con trẻ đã đọc ro ro chữ quốc ngữ. Dạy gì không biết, chỉ biết mỗi ngày đóng bộ vận vô ra trường lớp là phải ... mô phạm. Y như quí vị sư sải ni cô là lúc nào cũng phải chắp tay ... mô ... phật vậy đó. 
Vậy mà, vừa khi gặp nhau, chúng tôi đã nhận ra nhau ở cái chỗ hao hao đó. Kiểu như hồi xưa người ta nói ... đồng thanh tương ứng. Giống nhau ở cái chỗ không giống ai giữa cái chỗ ai cũng giống nhau. 
Mô ... phạm. 

Tôi thì mới hai mươi ba, ngựa non háu đá. Anh thì đã dầy công hãn mã, trường ốc cũng đã mấy phen chìm nổi. Tôi, dân nam-kỳ-lục tỉnh. Anh, gốc Bắc 54, nghe đâu chung khóa với ông thứ trưởng giáo dục thời đó. – người ta ở thủ đô thăng quan tiến chức nghe mà ham, còn anh thì cứ tà tà hết cao nguyên sỏi đá tới đồng bằng mé mé rừng tràm, vô ra trường giảng Kiều với lại oán khúc cung phi cho em út. Tôi gọi anh là ... anh. Anh gọi lại tôi là ... ông. “Ông” không phải tại chức cao quyền trọng, không phải tại lớn tuổi ... Gọi là “ông” vì không biết gọi là gì cho xứng hợp. Phải chi tôi quê miền Bắc thì chắc anh gọi tôi là anh như cung cách xưng hô phải đạo của người ngoài ấy. Anh Chị dù đáng tuổi em út. Đằng này, tôi người Nam, sanh đẻ chưa tới tận cùng Cà Mau nhưng cũng đã xém xém miệt dưới. Dĩ nhiên, tiếng “ông” anh gọi tôi không kiểu cách, cũng chẳng ra điều trịnh trọng. Anh gọi tôi là “ông”, mà lại nghe gần gũi, chiều chuộng, nam-kỳ-quốc như là gọi ... chú em vậy đó. 

Ờ, thân mật lắm. 
Giữa anh và tôi. 5 năm, cùng dưới một mái trường trung học, anh và tôi như hai người đồng nghiệp chí thân. Nữa! Lại đồng nghiệp ! Không, không phải đồng nghiệp. Đồng nghiệp nghe ra ... mô phạm lắm. Nếu cần, thêm vào một chữ nữa thì không chừng ... vẹn vẽ hơn. Đồng nghiệp ... chướng! Kiểu như Bạch Cư Dị khi bị đày xuống Giang Nam rồi tình cờ gặp nàng ca kỷ trên bến Tầm Dương mà phán rằng cùng-một-lứa-bên-trời-lận-đận-gặp-gỡ-nhau-chẳng-lọ-quen-nhau vậy đó. Chúng tôi thân nhau không phải vì cùng nghề cùng nghiệp. Chúng tôi thân nhau vì cả hai đều lăm le muốn ... phá cái rào của nghề nghiệp. Thứ rào cản người ta đặt ra cho chúng tôi như cái khuôn bánh bông lan. Bột đổ vô rồi khuôn nào ra bánh nấy. Dĩ nhiên không đến nỗi ngây ngô như cái lối bảy-bước-lên-lớp từ ngày bác-hồ vô Nam cách cái mạng dân miền Nam. Nhưng mà cũng ba điều bốn chuyện lắm. Rằng thì là làm-thầy thì phải làm gương cho học trò. Học trò thì đồng phục áo trắng quần xanh, đầu tóc phải gọn gàng, hổng hớt cua thì cũng phải bảy ba cho vén khéo. Học trò đã vậy thì thầy cũng không được để tóc ... thề phủ ót. Học trò áo sơ-mi trắng ngắn tay, thầy áo sơ-mi tay khỏi ngắn mà điều khuy nút phải cài. Dài ra dài, không có cái lối tay dài mà xăn lên cho ngắn. Đi đứng phải chửng chạc, không có cái lối ngả ngả nghiêng nghiêng. Nói năng chi phải chừng mực, đâu ra đó. Nhất là quan hệ thầy trò thì dẫu đã hạ bệ rồi cái khung quân-sư-phụ nhưng trong nhà ngoài ngõ vẫn trao tráo những cặp mắt dõi soi. Còn bài vở thì khỏi nói, chương trình biểu sao nghe vậy. Sách giáo khoa in sẵn, cứ y theo đó mà ... trả bài! Quí vị đồng nghiệp cao niên của tôi như những tấm gương sáng bóng, cứ soi bóng mình trong gương sáng đó mà hành đạo. Chẳng vậy, mà mới gặp nhau, tôi với anh như hai kẻ lạc dòng, bỗng nhiên tìm ra cái bóng của chính mình, đang cùng lội lạc cái dòng mà mọi người chung quanh đang lội ... vòng vòng. Nghe đâu, những bài giảng của anh lắm khi cũng hay bốc tới cõi ... trời-trăng-mây-nước. Y như tôi, dạy Chinh Phụ Ngâm của bà Đoàn thị Điểm mà cứ lạc vô lục bát của Lê Thị Ý ngày-mai-đi-nhận-xác-chồng. Chẳng vậy mà chuyện phải đến đã đến. Chúng tôi như tìm được nhau ở cái chỗ không ai tìm đến. 
Bên ngoài trường lớp, những ly xây-chừng đen ngòm ở mấy cái tiệm nước của chú ba, pha đậm thêm bằng vài câu Đường Thi xa tít mù xa, vài hơi thuốc Capstan lơ lửng chút khói sương ở cái xứ mằn mặn mùi muối biển, trộn lộn với hơi giọng khàn khàn khi Lệ-Thu ngậm ngùi nắng-chia-nửa-bãi. Có khi ngồi lặng nhìn nhau nghe tin dữ từ một trận đánh đâu ở gần Miệt Thứ, những chuyển động chính trị phe nhóm ở Sài-gòn, những cò kè trả giá bốn bên hai phía ở Paris ... Rồi những chuyến rong chơi cuối tuần qua mấy khu vườn dừa, rẩy khóm ... Lắm khi xúi bẩy nhau bỏ lớp, có giang ghe xịp ghe cào tắp vô mấy hòn đảo hoang ngoài khơi ... đêm nằm trần trên những bãi cát vắng chân người, lắng nghe sóng vổ miên man vào lòng thiên cổ. Và vổ ngay vào chốn thăm thẳm của lòng mình. 
Rồi cùng cảm thán cái mênh mông vũ trụ, cái dằng dặc thời gian và cái vô nghĩa phận người ... từ đó, cùng tìm ra cái thân thiết vô ngôn dù tuổi tác chênh lệch. Anh thì đã vợ con đề huề, tôi thì vẫn còn ... sầu-lẻ-bóng. Mỗi lần ghé nhà, nhìn anh giữa một bầy con tíu tít, tôi cứ băn khoăn làm sao anh có thể hòa đồng được cái đầu thường vẫn lơ lửng giữa trăng sao với cái bổn phận làm chồng làm cha. Khó dữ đa. Vậy mà ngày tháng qua, anh vẫn đi lại giữa đời một cách an nhiên tự tại. Người ta có thể sống hai đời trong một kiếp ? Cạnh đó, cái khung mô phạm dựng sừng sững trước mặt, anh vẫn thản nhiên tới lui, thản nhiên không một chút e dè, nhẹ nhàng, lãng lướt không thua gì bộ pháp Lăng Ba Vi Bộ của Đoàn Dự trong Lục Mạch Thần Kiếm. 

Dẫu vậy, giữa cuộc phong trần, cũng không làm sao mà không trầy trụa. Đã có lúc, với tất cả mọi bẩn chật của một xả hội đang giãy giụa giữa hai lằn đạn của một cuộc chiến tranh ý thức hệ, anh cũng không thoát khỏi những va chạm, lắm lúc dù không đổ máu, cũng không thể còn lành lặn. Tôi biết, đã có lúc anh cũng phân vân chao đảo như không ít người trí thức thời đó. Bom đạn, chết chóc trên những bản tin chiến sự hằng ngày, cùng với những tệ nạn xả hội như hậu quả tất nhiên của một thời loạn lạc ... hẵn đã có lúc cũng làm anh băn khoăn về cái vị trí của mình giữa sự dằn co của hai chủ thuyết ... Cùng lúc với những va chạm vụn vặt hằng ngày giữa một bên là kẻ nắm chức vụ có bổn phận duy trì những giáo điều của trường lớp với một bên là người cứ chực chờ phá vở cái khung hẹp đó, dẫu không cố ý. Đã nhiều lần, giữa hai giờ lên lớp, lúc nghỉ xả hơi, trong cái phòng giáo sư hẹp té, anh ném ly tách vở tung lên bốn phía tường vách. Ai hiểu được gì những dày vò trong cái đầu vốn dĩ hay lẩn quẩn giữa cõi trăng sao mà cứ bị giữ rịt lại giữa nhỏ nhoi trần thế! 

Một buổi chiều thứ năm, giữa mùa học năm nào, không biết có ai còn nhớ? Anh đăng đàn, thuyết giảng thơ Phạm Thiên Thư. Cả hội trường vài trăm người gồm bạn đồng nghiệp và học trò gần như có lúc cũng mê hoảng theo cơn mê hoảng của anh, không còn là một người làm thơ nói về một người làm thơ khác, không còn là một giáo sư văn chương nói về một dòng thơ lục bát, không còn là một Phạm Huy Viên nói về Phạm Thiên Thư. Mọi thứ, có lúc như ảo hóa, buổi chiều không còn là lúc ngày sắp tắt, hội trường không còn là chỗ hợp mặt thầy trò, thơ không còn là mớ chữ sáu tám nối kết nhau theo bằng trắc ... Tất cả đã hóa thân, đã hòa nhập, đã trộn lộn ... đến độ không còn biết đâu là thật đâu là giả, đâu là thực đâu là mộng, đâu là Phạm Thiên Thư đâu là Phạm Huy Viên ... Không. Không còn cõi đời cõi mộng. Trước mặt mọi người, trong lòng trong đầu mọi người lúc đó chỉ còn một ... gã-từ-quan-lên-non-tìm-động-hoa-vàng-ngủ-say! (*) 

Các bạn mến! Các em mến! 
Hôm nay, một ngày đẹp trời của Rạch giá.Tôi lạnh lùng nói tới Phạm Thiên Thư. Tôi say sưa trôi về thơ Phạm Thiên Thư với ngàn con sông, ngàn ngọn suối hoa vàng bập bùng trôi trong vô thức khi thế gian còn sáng chói tình yêu. Khi thế gian toàn là mai mơ với đỉnh núi trăng vần, với vực sâu trăng té, tà áo em trăng thõng thượt và mái tóc em trăng ngủ vùi. Từ chim thuở núi xa xưa, về đây rớt lại hạt mơ cuối rừng, từ em khép nép hài xanh, về qua giục nở hồn anh đoá sầu. Ừ! Thì mình ngại mưa mau, cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi, sông này chảy một giòng thôi, mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông! (**) 
Những năm 70 đó, thơ Phạm Thiên Thư đang là cái mode. Ai nấy, không nhiều thì ít, trên môi cũng lẩm nhẩm được vài ba câu lục bát Động Hoa Vàng. Buổi chiều đó, anh đã đem thơ xuống đời. Và nâng đời lên cõi thơ tuyệt đỉnh. Anh đã rao giảng thứ tình yêu Hoa Không có có không không cũng như không không mà có có. Tuyệt lắm. Người quen, kẻ lạ, sau buổi chiều đó ... có ai nhìn ra được một Phạm Huy Viên, kẻ lãng tử sinh không nhằm lúc nhằm nơi!!! 
Ít lâu sau, vì một lý do không ai rõ nhưng ai cũng biết, anh bị đổi đi một trường khác, ở đâu miệt Phụng Hiệp, Cần Thơ. Liên lạc trở thành thưa thớt.  Cho đến đâu khoảng một tuần trước ngày 30 tháng 4 năm 75, anh bỏ nhiệm sở quay về Rạch Giá, ghé tìm tôi một đêm. Vài câu thăm hỏi thông lệ. Và một kết luận. Mọi chuyện đã an bày. 

Những ngày đầu tháng 5 bi phẫn đó, người ta thấy anh lăng xăng theo những đoàn học sinh đi ... tiếp quản những cơ quan chính quyền cũ. Có người xì xào. Nhưng tôi, tôi biết, vốn dĩ anh là một người lý tưởng. Thứ lý tưởng trong sáng đến độ gần như ... ngây thơ, tin rằng ở bên kia tấm vách núi sừng sững có đầy hoa thơm cỏ lạ. Y như không ít những người trí thức miền Nam thuở đó. 
Còn tôi, thì vốn dĩ biết rõ gốc gác mình, tôi chờ lệnh ... tập-trung-học-tập-cải-tạo. Tháng 7, bừng-con-mắt-dậy thấy mình đứng giữa Khám Lớn Rạch Giá cùng với vài chục đồng nghiệp và đồng loại, chờ được xếp hạng phân hệ ... đưa đi học đào mương, gánh đất, gở rào, dọn đường ... hầu trở thành con-người-mới-xhcn. Năm ba bữa qua, chưa thấy nhúc nhích lệnh lạc, một buổi sáng giữa nhà giam, bỗng thấy công an gác tù đưa anh vào nhập bọn. Cả đám xôn xao. Hóa ra anh vừa trải qua một hoàn cảnh dở khóc dở cười trong chính sách bắt lầm hơn thả lầm của cộng sản. Do một ngộ nhận, đám công an đòi bắt giam chị khi chị đang bụng mang dạ chữa. Chẳng đặng đừng, anh đứng ra nhận thay cho chị. Vì vậy, khi không, anh lại vô tù nhập bọn cùng tôi. Dù cả hai, xét về lý lịch chẳng có chút nào tương đồng. Từ đó, chúng tôi lại có dịp sống gần nhau, dĩ nhiên trong một hoàn cảnh không lấy gì làm dễ chịu. Tuy vậy, giống như mọi thứ nhà tù trên mặt đất này, người ta có thể giam giữ thể xác tù nhân nhưng không kềm hãm được tinh thần của họ. Mặc cho mọi hò hét, hù dọa rồi dụ dỗ, đâu vẫn hoàn đó, cái đám tù cải tạo. Và riêng tôi, tôi thêm dịp sống gần anh, thêm lắm điều đồng điệu. Hơn năm trời trôi qua, trong nhà giam được mỹ hóa là trại cải tạo, rõ ràng anh là hiện thân của nhân vật Moritz trong tiểu thuyết Giờ thứ 25 của Virgil Gheorghiu. Người ta đi tù vì hoặc là sĩ quan hoặc chức tước của chế độ cũ. Anh không là sĩ quan. Anh cũng không chức tước ngoài cái danh xưng giáo sư trung học đệ nhị cấp có tiếng mà không có miếng. Anh chỉ là người đi dạy học. Dạy học thì khỏi đi tù. Mà anh thì đi tù cho được. Vậy nên khi vào tù, anh không thuộc loại nào hết sau khi người ta đã phân chia đủ thứ loại hạng. Bởi vậy, anh sống tấp vô đám tụi tôi với danh nghĩa là sĩ quan biệt phái mà gốc gác thì chẳng có một ngày thâm niên quân vụ. Vậy mà vẫn an nhiên ... ở tù chung với cái đám-tù-không-bản-án, và không-biết-ngày-ra. 
Chẳng vậy, mà qua đó, tôi được anh chỉ dẩn cho lắm điều mà không có trường lớp nào giảng dạy. Ngay trong góc tối mù của lòng thù hận, anh vẫn tìm ra niềm tin để giữ mình thong dong chịu đựng giữa vòng dây kềm kẹp. Biết bao nhiêu chuyện có thể kể ra những ngày tù tội dưới mấy cặp mắt cú vọ của cái đám gọi là quản huấn với lại quản giáo từ ngoài Bắc viện trợ vô. Mà thôi, ông Hà Thúc Sinh đã kể ra gần đủ trong bộ sách Đại Học Máu của ông rồi. 
Chỉ biết là trong hơn năm trời, ngủ chung trên những tấm thiếc lợp nhà được gở ra từ những trại gia binh cho đến ăn chung trong những lon sửa guigoz được chế biến thành chén dĩa cũng như bếp lò nồi niêu xoang chảo, anh lại còn tỏ lộ ra vẻ trải đời và đa tài rất mực. Vẫn với một thái độ ung dung của thi nhân-triết gia, anh nhận chịu mọi đày đọa bằng một thái độ ung dung tự tại. Chẳng vậy, ngay đến những chuyện chế-biến-nấu-nướng-đàn-bà anh cũng thông thạo một cách huê dạng. Bữa đó, gạo tù chắc được tịch thu trong các vựa lẫm của quí vị xì-thẩu, cá mắm thì là loại cá liệt, bị loại bỏ từ các ghe cào ghe xịp cặp bến mỗi chiều. Cứ như vậy ngày này qua tháng khác. Anh đâu chịu vậy. Mỗi bữa cơm, sau một ngày lao-động-vinh-quang, bằng mấy cái lon sửa guigoz đã được cắt gọt uốn ép thành bếp núc với lại nồi chảo, anh chế biến món này món nọ một cách tài tình. Anh chỉ dạy tôi cách cắt gọt rau cải, lượm lặt được ngoài ruộng rẫy bỏ hoang, đun nước nấu canh, chế biến thêm thắt cho bữa ăn có thêm chút mặn mà. Anh làm một cách nhẩn nha, từ tốn như đang sửa soạn cao lương mỹ vị. Tôi học được ở anh một bài học vô giá, sự thích ứng với hoàn cảnh! 
Vậy rồi tới lúc, thả tù. Dĩ nhiên, nhốt thì dễ mà thả thì khó. Lùa vô tù thì dễ như lùa vịt vô chuồng. Nhưng khi thả tù thì kỹ lưỡng rất mực. Họ lọc lựa, xét nét, từng loại, từng đợt mà họ gọi là hệ. Tới phiên cái đám gọi là hệ biệt phái như tôi được thả ra thì anh lại lọt sổ. Mà tới khi cái đám gọi là nợ-máu-với-nhân-dân, kẻ bị đày vô U Minh người bị đưa ra tận ngoài Bắc, cũng không có tên anh. Vậy là anh ở lại tiếp tục ... làm người tù không danh số. 
... Nhưng mà nhốt hoài chắc cũng thấy ... vô duyên, đến một lúc anh lại được thả ra cũng không có lý do như khi bị bắt vô –hoặc có lý do mà chắc chỉ có mấy cái túi vàng của đám cán bộ thời đó mới biết rõ. Ra khỏi cái rọ nhỏ của trại giam, nhập vào cái rọ lớn của đời sống bên ngoài đang tới hồi bon chen manh mún kịch liệt để kiếm miếng ăn, anh vẫn an nhiên tự tại như cái ngày đứng trên bục giảng mà kể lể chuyện kiều nhi thanh lâu hai lượt thanh y hai lần. 
Tù về, phủi tay cái một, anh vác cuốc đi làm rẫy. Mà làm cũng thong dong, điệu nghệ không kém gì làm lãng tử. Khoanh đất nhỏ nằm cạnh bờ vịnh, có nắng lửa nhưng cũng có gió mát, có mồ hôi nhưng cũng có những mầm xanh, anh chăm sóc mấy bụi chuối lão, mấy luống rau thơm, mấy con gà con vịt ... không thua gì lúc chăm chút mấy cái vần bằng vần trắc. 
Có lúc hết việc, tạt qua thăm, anh đãi tôi ly trà nóng, vấn điếu thuốc rê phì phà hơi khét lẹt, kể tôi nghe chuyện thời Chiến quốc rồi cười khinh khỉnh chuyện thay chúa đổi ngôi. 
Có hôm tình cờ gặp người học trò cũ bứng cho bụi bông súng, tôi than với anh không biết lội nên không dám lặn xuống ao nhà để cắm rễ xuống đáy. Tốt bụng như tự bao giờ, anh đạp xe tới nơi xắn quần nhảy ùm xuống nước, lặn sâu hai ba thước trồng cho được bụi bông súng quê mùa. 

...................... Ngày tháng qua đi, ục ịch hay thoăn thoắt, đánh-tư-sản-mại-bản hay đốt sách văn-hóa-đồi-trụy, kinh-tế-mới hay cải-tạo-công-thương-nghiệp, dẹp khờ-me-đỏ hay chống bọn-bành-trướng-phương-Bắc, anh và tôi vẫn có dịp qua lại gặp nhau, năm ba bữa nửa tháng. Có khi anh đạp xe lọc cọc tìm tôi, có khi tôi lếch thếch lội bộ tìm anh, gặp nhau vẫn thân thiết như bao giờ dù thời buổi đó ai nấy cũng hay giữ lòng giữ kẽ. Khoảng thời gian đó, hẵn cũng như nhiều người nội trợ khác, trước mức sống bị tụt xuống đến mức thảm hại, chị đã dấn thân ra .. chợ trời. Chắc nhờ vậy, anh lại vung tay hào sảng như hồi cách-mạng chưa thành công. Đầu ngõ vào nhà, có một tiệm nước. Chị mở cho anh một trương mục ở đó. Nói là trương mục cho có vẻ hiện đại. Chớ hồi đó, gọi là ghi sổ. Ăn uống gì xong, thì búng tay gọi chủ. Chủ tiệm cứ mở sổ ra ghi, cuối tháng chị tạt ngang, sẽ thanh toán một lần. 

Năm lần bảy lượt, anh hay rủ rôi ghé tiệm, gọi hai cái xây-chừng, vài ba điếu thuốc lá lẻ, rồi hai anh em phì phà tâm sự, chuyện đầu trên xóm dưới, chuyện cá chậu chim lồng ... 
Thuở đó tôi nghèo sát ván. Đi tù về, tay chân vác mướn cơm cháo còn chưa đủ nuôi thân nói gì cà phê cà pháo. Nhờ có anh mà tôi có lại chút hơi hướm ngày xưa ... Tính ra ân tình lấy gì đong cho hết ! Vậy đó, rồi mấy năm sau, nhờ may mắn được người quen cho có giang vượt biển. Tôi bỏ đi, cũng y như hàng triệu người miền Nam bỏ nước ra đi không kịp một lời từ giả. 
Ở xa, dặm trường đã xa mà cảnh tình càng xa lăm lắm. Bạn bè sống hai đời đối nghịch nhau. 
Bên nây ngày thì bên kia đêm. Chính trị thì như đêm với ngày. Vã lại, tôi còn nợ một lời nguyền với chính tôi. Tại vậy, mà xa rồi là xa luôn. Không còn dịp gặp lại. Anh sống đời anh. Tôi đời tôi. Nắng mưa, đói no, bệnh hoạn mạnh ai nấy chịu. Lòng băn khoăn mà cứ chừng như thời gian vẫn đợi ... Hai mươi, rồi ba mươi, rồi bốn mươi năm. Chớp mắt. 

Thứ sáu rồi, 26-3-2021, hồi 8 giờ 8 phút sáng, ngụm cà-phê đầu ngày còn nửa chừng trong miệng, điện thư của người quen báo tin anh mất, quê nhà. Một chút sững sờ. Một tiếng chắc lưỡi. Rồi thôi. Tôi làm gì đây khi dòng đời thì chảy xuôi ... Và chúng ta cũng trôi xuôi theo cái dòng chảy không ngừng nghĩ đó. Thệ giả như tư phù bất xả trú dạ. Thêm một chút ngậm ngùi cho cái số nghiệt ngã của phận mình, phận anh phận tôi, chung cùng trong một phận nước. Dẫu không liên lạc, nhiều năm nay, đôi khi tôi mơ hồ biết chút tin anh. Đôi khi một bài thơ, đôi khi một bài nghiên cứu về lịch sử, địa dư, một giai thoại văn chương ... với một bút hiệu lạ nhưng cũng là anh, nửa ẩn nửa hiện. Bốn mươi năm. Nhắm mắt tôi còn hình dung ra anh, cao, gầy, giọng Bắc đã pha ít nhiều phù sa sông Cữu, ăn nói từ tốn nhưng không kém phần uyên bác. Bốn mươi năm. Đủ để xóa nhòa hết mọi di tích một thể chế. Nhưng trong tôi, anh vẫn nguyên vẹn tiếng nói-giọng cười-dáng đi và nhất là mớ kỷ niệm chung của một thời có hoa có bướm, lẫn lẫn đâu sau mấy vạt áo tơ dài, thõng thượt(**) như câu thơ nửa chừng ... bỏ lửng. ... 

Rồi người cũng bỏ đi xa 
Bỏ trăng gió úa, bỏ hoa mộng tàn 
Câu thơ bỏ lỡ, ngỡ ngàng! 
Về tìm lại Động Hoa Vàng ngủ say 
Nối thêm cho đủ mộng dài ... 

Yên nghĩ anh há! 

Cao Vị Khanh
(*) thơ Phạm Thiên Thư 
(**) trích bài nói chuyện về thơ Phạm Thiên Thư của Phạm Huy Viên 
(***) chữ của PHV

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021

Tân Châu


Nghe cái tên Tân Châu thì biết ngay rằng nó là Mới.
Tôi đã nhiều lần nói rằng trước khi người Pháp " mở mang " thì miền này đã rất là xôi đậu (?). Người Việt cũng có, nhưng người Việt ở Miêt Trên! Trong một bài trước tôi đã nói Sa Đéc có lẽ là nơi ở của một ông Samdek người Miên, Lai Vung có lẽ là nơi chiếm cứ của ông Lái Vung như Nặc Ông Giun chẳng hạn! Khi người Pháp tới thì ông Tân Châu bừng tỉnh lên như một Công Chúa ngủ Trong Rừng! Tân Châu bừng tỉnh lên với rất nhiều giống dân cạnh tranh ! Rồi Tân Châu lớn và đông dân ! Tân Châu có tới hai mươi mấy xã ấp !!! Không hiểu từ Tân Châu nhìn qua Bắc và Tây Bắc chỉ thấy nước mênh mông!

Cái tôi thích thú, tôi lao vào nghiên cứu là cái " Mỹ A "
Người ta cứ nói Tân Châu là xứ Lụa, Sai bét!!!
Nếu mà Tân Châu có trồng Dâu Tằm thì tôi đưa vai cho người ta đập. Nếu có một cây cho trái ăn chua ngoài Bắc gọi là trái dâu da đất! Đó là cây dâu đích thực của miền Nam và người ta chỉ gọi nó là Dâu! Dâu đích thực! Còn cái thứ dâu nuôi tằm thì phải gọi là dâu tằm! Buồn thay, cây dâu này không có ở Tân Châu! Tôi quả quyết là kh6ng nuôi tằm, lấy sơi tơ từ tằm  mà mua tơ tằm từ Campuchia , Người Pháp lặp xưởng may thì mua nguyên liệu từ Campuchia. Người pháp lập xưởng, nhưng tơ tử ... Miên, thuốc làm cho sợi bền chắc... mua từ Miên! chỉ có thợ là Việt, còn các thứ là Miên!
Ôi! Cái trái Mặc Nưa nó là trái từ bên Miên (giống như trái cậy Cậy của Việt Nam) cái chất chát tuyệt vời làm cho sợi bền chắc(ở ngoài Bắc người ta lấy nhựa cậy làm quạt, làm bìa sách ...

Tôi muốn viết nhiều trang để tôn vinh cái cô nàng Mỹ A!!! cái lụa Mỹ A nó chẳng giống lụa tí ti nào! Nó dày, nó cứng, đi nghe sột soạt! Nhưng các bà già quê ở đây mê cái cô nàng lụa này! Tôi chăng khoái lụa Mỹ A, nhưng các bà già ở đây cứ mê cái cô nàng lụa này vì nó bền tới ... ba đời.
Tôi chẳng biết những nhân tài nào đã làm ra cái lụa Mỹ A đáng mê này ... nhưng mà ... quần lụa để tới ... ba đời ... thì đáng tôn vinh, ca tụng lắm chứ !!!

Chân Diện Mục

Chủ Nhật, 6 tháng 6, 2021

Tỉnh Đường Làm Bằng Cây Lá


Mỗi lần nghĩ tới Tỉnh đưởng Chương Thiện tôi lại mắc cười! Đó là Tỉnh Đường làm bằng cây lá!. Chả là vì hồi đó chiến tranh mở rộng, người ta thành lập một loạt các tỉnh mới! Tỉnh Chương Thiện (Vị Thanh sau này) , tỉnh Phú Bổn ở Yaun Pa ( một phần của Cao Nguyên ) Tỉnh Bình Tuy ( một phần của Phan Thiết ) tỉnh Hậu Nghĩa (Huyện Đức Hòa ,Đức Huệ bây giờ). đây là những điểm nóng! Phe tả xâm nhập, đánh phá, khuynh đảo!

Ôi! Chiến tranh tàn khốc! Nghe nói " Mới " tưởng bở! Nhưng dân thì thở dài... vỉ đêm đêm nghe tiềng đại bác! Tôi khoái nhất cái tỉnh Chương Thiện vì nó không giống ai!!! Nó là con đưởng quan trọng để giữ cả tỉnh nam Cần Thơ. Xưa kia đi từ Cần Thơ qua Rạch Giá phải theo con đường qua phà Cái Tư. Nay thì Vị Thanh là trung tâm của tay nam Cần Thơ. Khi người ta thành lập tỉnh Hậu Giang thì Vị Thanh phát triển rất mau. 
Thị xã Long Mỹ rất sung, con đưởng số 6 rất đẹp, cầu Cái Tư xây rất hoàng tráng. Những xã như Vị Thủy, những ngã ba như Gò Quao, Sóc Ven càng lên đởi. Tóm lại, những tỉnh mới mà người ta lập thời đó, bây giờ chỉ có Chương Thiện là giầu đẹp hơn cả. 
Tỉnh Phú Bổn chỉ là chống con đường xâm nhập từ Tây Nguyên xuống đồng bằng(cái ông Nguyễn Bính Thinh chỉ vì lên An Khê và bị thương nên lấy bút hiệu là An Khê luôn). 
Bình Tuy là con đường nam tiến của Phan Thiết. Huyện Hàm Tân không giầu, nhưng La Gi gần đó lại lên Thị Xã. Đặc biệt là cái anh Hậu Nghĩa. 
Củ Chi thì không có gì đặc biệt, Nhưng Đức Hòa thì có đấy, đặc biệt là giáp Miên! Cái vùng gọi là Mỏ Vẹt được người ta tới hoài (xưa ông Lê Duẩn đã từng xâm nhập miền Nam qua đường này). Nay thì người ta kiến thiết hơi hơi đồ sộ, chắc mời gọi người Miên qua đây đánh bạc vì từ Nong Pênh qua đó cũng gần(!), Ngày nay nói đến hậu Nghĩa thì người ta xa lạ lắm!

Tóm lại thời bình người ta cũng ngó tới những nơi hẻo lánh để chứng tỏ ta đây cũng biết lo cho dân nghèo!!!

Chân Diện Mục

Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021

Cơm Chưa Chín

(Tưởng Nhớ 49 ngày của Thầy Chân Diện Mục)

Bãi Xàu hay Bai Xau có nghĩa là Cơm Chưa Chín! Quân Việt đánh tới, quân Miên nấu cơm chưa chín , bỏ chạy bê theo nồi cơm chưa chín(!)
Đây là cửa sông Hậu Giang, có cù lao Dung giữa sông, nhưng xa biển nên cửa biển chỉ có một cửa! Người Pháp gọi là cửa Bassac. Nhưng người Việt phía Trà Vinh gọi là cửa Định An, phía Sóc Trăng gọi là cửa Hậu Giang! Nơi nào tránh bão tấp vào bờ gọi là Cửa, nhưng người Pháp chỉ có một cửa mà thôi!

Nơi này có lịch sử thú vị lắm! Xưa Mạc Thiên Tứ có đóng quân ở đây: Phía Cần Thơ gọi là Trấn Giang,phía Sóc Trăng gọi là Trấn Di, rồi các cụ nói trại là Trần Đề, Tranh Đề, Chanh Đề... Thật là những người không rành sử! Những ông cướp cửa sông cửa biển, chứa bạc bầy đặt viết lách... mới là phiền cho người ta chớ! Không tin quý vị tới Hà Tiên bây giờ thì sẽ gặp Điện Cô Năm, em gái Mạc Thiên Tứ, Điện rất đắt khách thập phương. Cô Năm có thật trên đời chắc mắc cười quá.

Cái vũng Thơm làm bánh Bía bán ra tới Hà Nội và các nơi... cũng chẳng ai biết Thơm (Vũng Thơm là vũng Lớn chứ chẳng có Thơm Tho gì cả.
Tôi khoái nhất là con sông Mỹ Thạnh. Đây là con sông duy nhất đổ thẳng ra biển chứ không nằm trong số chín con sông . Trong một bài trước tôi đã nói chỉ có bẩy tám sông ... chứ chẳng có 9 đâu ??? Làm gì có rồng linh thiêng nào đâu? Cửu Long chỉ là Kroong chứ có rồng thiêng nào đâu?
Tôi đọc sử thấy có hồi cảng sông Mỹ Thạnh (Bãi Xàu) xuất cảng gạo đứng thứ nhì Việt Nam, chỉ sau Saigon. À! Thì ra cái thời Mỹ Nhật đánh nhau, không xuất cảng lên phía Bắc được, mấy chú Ba tầu bèn xuất gạo sang Singapore... là nghề của chàng mà, chỉ biết pán puôn làm giầu trên hết!
Từ hồi Tầu Cộng đầu tư vô tỉnh này... làm nhà máy điện... Huyện nghèo nhất Sóc Trăng đã lên Thị Xã Trước đây người Tầu nghe nhãn Bạc Liêu ngon nhất Việt Nam, bèn làm khô, chế biến xuất khẩu kêu là long nhãn, giá rất hời, không biết là xuất từ bạc Liêu hay Sóc Trăng!

Bây giờ Bãi Xàu là một Thị Xã phát triển rất nhanh, rất lớn. Ôi! Cái cửa sông Hậu, càng ra gần biển càng lớn! Dễ rộng đến cả cây số. Tôi đi với gia đình, lu bu không ăn trưa ở Bãi Xau sợ nó chưa chín.
Đi qua chùa Miên thấy rất đẹp rồi táp vào Trần Đề ăn trưa. Trần Đề xung lắm, có Tàu đi Côn Đảo mỗi ngày mà!

Trần Đề nhà cửa mọc lên như nấm, có hàng trăm ghe đậu!!! Tôi ăn cơm ở Mỏ Ó, nước sông Hậu tràn tới tận chân quán! Côm rất dẻo trước phong cảnh nên thơ, có lẽ chẳng thua cơm gạo nàng thơm Chợ Đào Cần Đước (gạo này mất tích rồi ,làm sao so sánh)
Dù sao các bạn cũng nên đi Trần Đề một phen, không cần nhớ đến công Trấn Di của người xưa!!!

Chân Diện Mục



Chủ Nhật, 4 tháng 4, 2021

Nhớ Mãi

 
(Nhà Thờ Phú Nhai)

Nhớ mãi những ấn tượng thời thơ ấu.
Hình như có người nào nói: Ai không có thời thơ ấu thì là một cuộc sống không đáng sống(?) Tôi đã sống một thời thơ ấu thật vui vẻ, thật thơ mộng, thật đáng sống!!! Bây giờ hồi tưởng lại thấy nó thật là mê ly, thật là thoải mái, cứ như mình đã được lên Thiên Đường. Ô Mê ly!!! 
Không như ông Tế Hanh: Ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ! Đâu phải chỉ có mùa Hè tôi mới được nhẩy nhót!

Ôi những ngày nặn đất làm pháo, lấy lá mit làm con trâu nghé ọ, những ngày lấy cọng rơm cọng rạ làm kèn thổi! Những ngày trốn nắng vào ngồi trong miếu! Những khi đuổi bắt con muông muỗng nướng ăn chơi (!) Ai mà không vô vườn người khác hái trái cây ăn chơi (?) Lớn lên tôi có cái diễm phúc là được trọ học rất nhiều nơi. Tôi không thể nào quên cảnh trí Giao Thủy, Xuân Trường! Giao Thủy có nhà thờ Phú Nhai cao 49 mét xây bằng đá rất đẹp! Xuân Trường có làng Hành Thiện (Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện, nơi đó có rất nhiều nhân tài! Nơi đó có rất nhiều ông thầy mà tôi bái phục. Chính nơi đây có ông Thầy Đặng Vũ Tiến dậy toán rất giỏi. Chính nơi đây có ông Đặng xuân Bảng viết sử nổi tiếng ( hình như là bác của ông Đặng Xuân Khu)Cái điều làm tôi mê nhất là đường làng! Đường lát gạch , nhưng không lát gạch nằm mà dựng từng viên gạch lên khó mà bể nát, khó mà mòn nổi (!)

(Nhà Thờ Phát Diệm)

Rồi tôi lại được học ở Phát Diệm! Phát Diệm có nhà thờ đá, ông sáu Trần Lục xây(không biết là ông thiết kế hay kỹ sư Tây gà cho??? Nhà thờ đá rất đẹp, đẹp tuyệt vời!!! Từ Lầu Chuông Gác Trống, Từ cái hồ rất đẹp phia trước xây bằng đá, đường viền quanh hồ bằng đá rất đẹp! Phía sau có đắp non bộ, thiết kế đường lên trời, đường xuống địa ngục. Hồi đó tôi hay ra phía vườn sau lần mò ... đường lên Thiên Đường, Đường xuống Địa Ngục. Nhà thờ có những khu vườn rất rộng rất đẹp trồng cúc thơm ngọt ngào . Tôi rất bái phục cái ông Linh Mục tên là Khấn. Mong đến giờ cha Khấn dạy để được nghe những câu chuyện lý thu! Ớ! Ai tới Việt Nam mà không ghé nhà thờ Phát Diệm thì quả là điều thiếu sót (?)

Chân Diện Mục
 

Thứ Ba, 30 tháng 3, 2021

Long Hồ Vĩnh Long Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Thầy Phạm Huy Viên(Chân Diện Mục)

 


Vườn Thơ Thẩn Thành Kính Phân Ưu Cùng Gia Đình Thầy Chân Diện Mục


Vào Trang Nhà hay tin, khóc tiễn vĩnh biệt Viên!

Phạm Khắc Trí

***
Tây Đô Cuồng Sĩ

Tây Đô Cuồng Sĩ đã đi rồi!
Thơ Thẩn Vườn thơ xót lệ rơi.
Trung Trực trường xưa còn vẳng bóng,
Đoàn Phan chốn cũ vẫn vang hơi.
Tây Đô một thuở lưu bao vẻ,
Rạch Giá những năm đã vắng lời.
Vĩnh biệt Thầy Đồ Chân Diện Mục,
Bao lòng thương tiếc mãi không thôi !!!

Đỗ Chiêu Đức
03-28-2021
***
Xin Thành Kính Phân Ưu
cùng Tang Gia Giáo Sư Chân Diện Mục
Trân trọng kính Họa cùng Thi Sĩ Đỗ Chiên Đức

Thắp Nén Hương Xa

Cuồng Sĩ Tây Đô đã khuất rồi
Bánh xe lãng tử thả vòng rơi
Vườn Thơ Thẩn giữ câu thâm ý
Nghĩa Đệ Huynh gìn tiếng lặng hơi
Chưa thấy bao giờ người tán chữ
Còn nghe đôi lúc khách khiêm lời
Giáo sư Thi Sĩ vui tiên cảnh
Để lại đời chân thiện mỹ thôi.

Hawthorne 28 - 3 - 2021
Cao Mỵ Nhân
***
Phương Hà xin thành kính phân ưu cùng gia quyến thầy Chân Diện Mục Nguyện cầu hương hồn Thầy sớm phiêu diêu nơi miền cực lạc.
PH xin mượn bài họa thơ anh Đỗ Chiêu Đức để bày tỏ niềm thương tiếc Thầy

Tiếc Thương
(Thương tiếc Cuồng sĩ Tây Đô Chân Diện Mục)

Cuồng sĩ thi nhân khuất núi rồi
Học trò bao lớp lệ tràn rơi
Văn đàn khắp chốn còn lưu bóng
Tác phẩm một đời vẫn ấm hơi
Dẫu biết trần gian là giả tạm
Mà sao nỗi nhớ vẫn khôn thôi
Vườn thơ luyến tiếc loài cây quý
Độc giả muôn phương cũng nghẹn lời

Phương Hà
***

Thành Kính Phân Ưu cùng gia đình Thầy Chân Diện Mục và Vườn Thơ Thẩn
Cầu nguyện linh hồn Thầy sớm tiêu dao nơi miền Cực Lạc
Mai Thắng họa bài thơ của sư huynh Đỗ Chiêu Đức để thương tiếc và tiễn biệt Thầy

Thắp Nén Hương

Tự giữa Vườn Thơ Thẩn mất rồi
Ven miền đất biển một chiều rơi
Tây Đô Cuồng Sĩ còn vang tiếng
Khí phách hào phong đã vẳng lời
Bậc giáo sư nghề ôm trọn sức
Tình thi phú mộng cảm toàn hơi
Thầy Chân Diện Mục người niên trưởng
Tiễn biệt tâm lòng kính phục thôi!

Mai Thắng 
210330

***
Thành Kính Phân Ưu cùng Tang quyến Thầy Chân Diện Mục. Và nguyện cầu Hương Linh Thầy sớm an vui nơi cõi Vĩnh Hằng

Tâm Hương Thành Kính

Trống động trời lay vắng bóng Thầy
Bao lời khẳng khái hãy còn đây
Tình thâm nghĩa trọng luôn gìn giữ
Thơ Thẩn Vườn Thơ phủ áng mây

Để lại cho đời bao tiếc thương
Biết rằng sinh tử lẽ vô thường
Mà sao không thể ngăn dòng lệ
Trọn kính dâng Thầy một nén hương

Kim Phượng
***
Song Quang xin chia buồn cùng gia đình bạn thơ Vườn Thơ Thẩn Chân Diện Mục, cầu nguyện linh hồn Cuồng Sĩ Tây Đô được sớm an nhàn nơi Tiên cảnh.
Xin mượn vận thơ Kim Phượng,xin phân ưu cùng gia đình Thầy Phạm Huy Viên.

Hương Lòng Kính Dâng

Từ đây thêm vắng bóng Ông Thầy
Cuồng Sĩ Tây Đô mãi mến đây
Tình nghĩa bao năm đà gắn bó
Bây giờ bao phủ bởi vầng mây

Vườn thơ “thơ thẩn” sẽ sầu vương 
Tử biệt sinh ly vốn lẽ thường 
Nhưng vẫn tiếc thương Thầy kính mến
Dâng làn khói nguyện nén tâm hương 

Song Quang
***
Vĩnh Biệt Chân Diện Mục

(Kính dâng hương hồn Cuồng Sĩ  C.D.M)

Vườn Thơ Thẩn tiễn Chân Diện Mục
Nén hương lòng nghi ngút lệ rơi!
Bảng đen phấn trắng một thời
Phan-Đoàn,Trung Trực ngậm ngùi người đi.

Ôi vận nước! Cuồng si nhà giáo
Tấm thân gầy đau đáu im hơi.
Quê hương tâm sự bời bời
Bạn bè, trò cũ bao người tiếc thương!

Nay Vĩnh Hằng con đường trên ấy 
Người mm cười quên khuấy trần gian.
Bụi trần phủi sạch hành trang
Mừng anh siêu thoát thênh thang Niết Bàn.

Mailoc

***
Thầy Chân Diện Mục

Họ tên thật Phạm Huy Viên. Ông sinh năm 1936 tại Nam Định, di cư vào Nam năm 1954. Học Đại Học Sư Phạm Sài Gòn khóa 1957-1960, ban Việt Hán. Dạy học tại Rạch Giá, Đà Lạt, Cần Thơ. Nghỉ dạy năm 1978. Làm đủ thứ nghề: làm rẫy, đi buôn.... Cuối cùng viết văn thơ tại nhà nhưng không in hay đăng báo.

Thầy vừa qua đời vào ngày 26/3/2021 sau một thời gian vắng bóng nơi "Vườn Thơ Thẩn.
Thầy ra đi để lại bao thương nhớ cho Thân hữu cũng như Bạn Văn Thơ.
Thật đau xót khi được tin Thầy Phan Huy Viên Chân Diện Mục qua đời. Thành kính chia buồn cùng gia đình và nguyện cầu hương linh Thầy sớm về cõi lạc.

Khóc Thầy Chân Diện Mục

Than ơi!
"Thơ Thẩn" từ nay thiếu vắng Thầy
Bao lời thương luyến vẫn không vơi
Thơ văn chữ nghĩa thầy không bán
Chỉ gởi đàn em với học trò

Tin dữ bất ngờ gieo sửng sốt
Rúng động "Vườn Thơ" rúng động người
Cái tâm nhà giáo Thầy luôn sáng
Chân Diện Mục sao vội bỏ đàn...?

Quên Đi
***
Chúng tôi vừa nhận được tin buồn:
Cựu Giáo Sư Trung Học:
Thầy Phạm Huy Viên - Nhà Thơ Chân Diện Mục
( Nghệ Danh Cuồng Sĩ Tay Đô )
Sinh năm 1936, mất ngày 26/03/2021 vạ̀o lúc 2 giờ sáng tại Việt Nam
Hưởng Thượng Thọ 86 tuổi

Chúng tôi xin thành kính chia buồn cùng Hiền Tỷ Trần Thị Kim Chi và tang gia hiếu quyến
Chúng tôi xin thành tâm cầu nguyện Ơn Trên ban hồng ân cho Hương Linh Thầy Phạm Huy Viên - Chân Diện Mục sớm được Siêu Thăng Tịnh Độ

Thương Tiếc Cuồng Sĩ Tây Đô

( Qua thơ Tây Đô Cuồng Sĩ - Đỗ Chiêu Đức )

Cuồng Sĩ Tây Đô vĩnh biệt rồi
Vườn Thơ Thẩn khóc mắt châu rơi
Sư huynh thượng thọ người thiên cổ
Thi Sĩ cao niên vạn lý hơi
Bến nước Ninh Kiều đà vắng bóng
Cần Thơ phố xá luyến lưu lời
Thầy Chân Din Mục nay hoài niệm
Tiếc bậc tài hoa, nhớ mãi thôi...

Mai Xuân Thanh
Ngày 27/03/2021
***

Thầy Chân Diện Mục kính mến.
Dù em chưa được học thầy, nhưng qua Văn Thơ thầy gửi đến trang Long Hồ Vĩnh Long, thầy đã để lại trong lòng em sự kính trọng. Từ khi được vào nhóm Vườn Thơ Thẩn, em được làm học trò thầy. 
Thầy ơi! từ nay em không còn dịp nhận những sáng tác của thầy, những đoản văn của thầy rất thâm thúy,  hầu như gửi gắm cho thế hệ sau học hỏi, trau dồi.
Vườn Thơ Thẩn sau khi anh Cao Linh Tử từ giã ra đi, nay lại vắng thêm thầy. Thật đau buồn....

Em xin chia buồn cùng gia đình Cô, và hiệp nguyện cho Hương Linh Thầy an nghỉ yên bình nơi Miền Tiên Cảnh.

Đọc Thơ Nhớ Thầy

Thôi thế từ nay hết nhận bài
Thầy đâu còn viết để chuyền tay
Bao năm cặm cụi gom thơ, chuyện
Gửi đến khắp nơi để tỏ bày

Từng câu từng chữ rất thâm sâu
Nhắn nhủ bao điều thế hệ sau
Vĩnh Viễn tiễn Thầy về Tiên Cảnh
Vườn Thơ Thẩn biệt nỗi niềm đau

Kim Oanh
***

Vườn Thơ Thẩn ơi,
Bàng hoàng và xúc động hay tin anh Phạm Huy Viên ( Chân.Diện.Mục) đã ra đi bỏ lại Vườn Thơ Thẩn chúng ta. Tôi tìm lại được đôi bài thơ Đường phỏng dịch của anh, đọc và bùi ngùi nhớ người anh người Thầy hiền lành của hai mái trường Nguyễn Trung Trực và Phan Thanh Giản năm xưa.
Thương Tiếc, xin dâng nén hương lòng và cầu chúc hương hồn Cuồng Sĩ an vui nơi Cõi Vĩnh Hằng.
Thân kính 

Mailoc
(1)
Thu Trực Cấm Cung

Ảm vân thảm đạm tỏa trường không
Nguyệt sắc vô quang thu sắc lung
Khổng tước điện đầu đề tế vũ
Ngô đồng tri giác lạc sơ phong
Viễn biên vũ hịch lai hà cấp
Đại nội sanh ca lạc vị chung
Hàn thấu trùng liêm miên bất đắc
Tịch liêu độc đối nhất đăng hồng
Trương gia Mô

Dịch nghĩa:

Mây mù buồn thảm phủ khắp không gian
Trăng tối mù , sắc thu lồng
Chim công ở đầu điện kêu dưới mưa nhỏ
Lá ngô đồng rơi trước gió chớm thu
Ngoài biên hịch về việc binh bay về tới tấp
Trong cung ca múa vui vầy chưa dứt
Lạnh thấu qua nhiều lớp rèm , ngủ không được
Một mình cô đơn đối diện ngọn đèn hồng

Dịch Thơ:

Mùa Thu Vào Cung

Mây mù thảm đạm không trung
Trăng treo èo uột thu lồng bóng ma
Đầu cung chim nghẹn mưa sa
Lá rơi lác đác như là tiễn ai
Ngoài biên tới tấp sớ bay
Trong cung hoan lạc đêm dài lại đêm
Trước rèm lạnh thấu vào tim
Mình ta bạn với ngọn đèn âm u

Chân Diện Mục
***
Mùa Thu Vào Cung

Trời u ám mây giăng bàng bạc 
Đêm thu lồng , mờ nhạt trăng thâu 
Đầu cung tước khóc mưa ngâu 
Ngô đồng lả tả gió sầu chớm thu 
Sớ khẩn từ biên khu tới tấp 
Trong hoàng cung tất bật lạc hoan 
Xuyên rèm gió buốt tâm can 
Một mình đối bóng đèn vàng suốt đêm 

Mailoc phỏng dịch 
Cali 6-14-14
***
(2)
Viễn Vọng Hữu Hoài

Khách lộ phong trần cận bạch đầu,
Bi sầu nan thượng Trọng Tuyên lâu.
Vân niêm vãn thụ thiên sơn trụng,
Vũ tẩy hàn sa bán thủy phù.
Quan tái chinh sầu văn lạc địch,
Càn khôn độc lập vọng quy chu.
Thập niên cố quốc Mai hoa tự,
Mộng lý mô hồ mịch cựu du.

Tran Thien Chanh
***
Dịch nghĩa:

Nhìn Ra Xa, Cảm Hoài

Trải gió bụi ở đất khách, đã gần bạc đầu,
Buồn thương khó nỗi lên lầu Trọng Tuyên.
Mây giăng, cây chiều dày trên ngàn núi,
Mưa rửa, cát lạnh lửng lơ trên dòng nước.
Đang lúc sầu nơi quan ải, nghe tiếng sáo rụng,
Một mình giữa đất trời, ngóng bóng thuyền về.
Mười năm nhớ nhung chùa Hoa mai nơi quê cũ,
Trong giấc một mịt mờ tìm kiếm những bạn chơi xưa.

Phỏng dịch:

Gió bụi đường xa đầu đã bạc
Buồn lên lầu vắng nghĩ liên miên
Mây chiều giăng mắc trên ngàn thẳm
Mưa rửa phù sa bãi nổi lên
Tiếng sáo buồn vương lên quan ải
Mình ta đứng ngóng bóng con thuyền
Mười năm đất mẹ xa xôi quá
Nhớ bạn cùng chơi thuở thiếu niên

Chân Diện Mục
***
Xa Trông Thương Cảm

Khách phong trần , mái đầu trắng xóa 
Dằng dặc buồn , vất vã lầu cao 
Chiều buông mây núi giăng sầu 
Cát trơ bãi lạnh mưa rào cuốn trôi 
Sầu quan tái ,bồi hồi tiếng sáo 
Đứng một mình đau đáu thuyền quây 
Mười năm chùa cũ khôn khuây 
Bạn xưa kỷ niệm mộng đầy nhớ thương 

Mailoc phỏng dịch

Tình Quê


Trước sân anh thơ thẩn
Đăm đăm trông nhạn về

Ôi! Tôi không có trông chờ ai hết! Nhưng mà tôi trông chờ nhiều người! Người đó là ai, tôi không trả lời được.
Ông Hàn Mặc Tử trông chờ tưởng tượng, tôi cũng trông chờ tưởng tượng! Dĩ nhiên ông Hàn không trông Lệ Thanh. Mộng Cầm, Mai Đình! Tôi trông người Việt Nam!!! Tôi mong người Việt hiểu tôi ~ Chúng ta cùng sinh ra từ một bọc mà!!!

Người Việt phải vươn lên, sánh vai cùng năm châu bốn biển!? Phải hiểu rằng xưa ta nhà quê, nhà quéo(!). Ta cùng một cội mà ra(!) Cối với cội dĩ nhiên đồng âm rồi! Xưa ta sống với CÂY chứ không sống với nhà cao cửa rộng(?). Lúc đầu ở trong hang đá! Ra ngoài nắng quá dĩ nhiên đụt dưới gốc cây! Cây nó thân thiết với người vô cùng! Cây đa cái miếu ! Cây đa bến cũ!
Khi ta biết trồng trọt rồi, cây vẫn là người bạn thân thiết nhất ! Nói đến quê là nhớ đến người bạn thân dù là cây cổ thụ hay cây ngay trước nhà:
Một cây cù mộc, một sân quế hòe
Dù là mái đình hay mái miếu, ta vẫn nhìn thấy cây thân thiết từ xa. Dù là ngàn dâu hay cây ăn trái . Ta nhìn xa gần, bên nương bên rạch ta thấy ấm lòng, ta thấy dội lên  hồi hộp;"Tình Quê " 

Người nào không có TÌNH QUÊ thì không còn là người???

Chân Diện Mục

Vĩnh Biệt Thầy Phạm Huy Viên( Nhà Thơ Chân Diện Mục)

 


Thứ Năm, 4 tháng 3, 2021

Khai



Bút dỉ mực nhòe lại bảo khai
Vo tròn tờ giấy vứt đi thôi
Hứng đâu gọi chữ? Ồ! Rơi rớt!
Chữ rổn rảng cười: Bớ Lão Lai!
Ra sân múa võ, ai thưởng thức
Cha mẹ đâu còn ghé mắt chơi
Xuân này chữ nghĩa trêu ta đó
Văn võ thừa thôi, nhẩy thảnh thơi

Chân Diện Mục
mồng 5 tết


Thứ Tư, 24 tháng 2, 2021

Ngọ



Ai bảo chăn trâu là khổ
C
hăn trâu sướng lắm nhé
Ai bảo chăn trâu buồn tẻ
Chăn trâu vui lắm nhé
Ngồi gõ sừng trâu mường tượng tiếng tù và
Ngồi nhìn đuôi chú bạn
tưởng tượng quạt lông
Mát rượi cõi lòng
Ôi ông bạn
Xuống nước như tiềm thủy đĩnh
Ngoi lên rẽ nước xô bờ
Nhăn răng phun nước phì phì
Vào miếu ai người làm bạn
Về ven đê làm bạn cỏ non
Nghiêng tai nghe tiếng sáo diều
Ồ tiếng gì nhỉ
Dù người gọi ngươi là Sửu hay Ngưu
Theo làn gió tiếng bay bay trong nắng chiều ven đê

Chân Diện Mục

Thứ Năm, 18 tháng 2, 2021

Khai


Bút dỉ mực nhòe lại bảo khai
Vo tròn tờ giấy vứt đi thôi
Hứng đâu gọi chữ? Ồ! Rơi rớt!
Chữ rổn rảng cười: Bớ Lão Lai!
Ra sân múa võ, ai thưởng thức
Cha mẹ đâu còn ghé mắt chơi
Xuân này chữ nghĩa trêu ta đó
Văn võ thừa thôi, nhẩy thảnh thơi

Chân Diện Mục
Mồng 5 tết


Thứ Hai, 25 tháng 1, 2021

Thầy

 

Hồi xưa các cụ nói Quân sư Phụ! Vua là trên hết, rồi tới Thầy, sau cùng mới là Cha!
Tôi thấy hồi xưa Thầy với Cha mơ hồ lắm (!). Chứng cớ là có nơi gọi Cha là Thầy! Dĩ nhiên Sư với Thầy đồng âm đấy và đồng âm với cả âm Thờ mới khổ cho nhà khảo cứu!
Hồi xưa người ta coi ông Sư không hẳn là ở trong chùa, nhưng chùa cũng là Thầy, là người dạy dỗ dân, là ông trưởng, không biết là trưởng làng, trưởng xóm, trưởng cái nhà đặc biệt!!!

Cái chùa Phật Tích ở Bắc Ninh không phải là cái chùa của một ông sư đắc đạo... lập chùa dạy dân. Nếu quý vị nào đến Bắc Ninh thì thấy nơi này ghi là Cổ Phật Chỉ! Vết tích nơi ở của ông ta (!) (!) Nhiều khi không nhà, chỉ một cái hang! hay gớc cây (!).Sau này người ta còn thấy cái đồng âm nữa, Đó là Sãi!
Chùa Thầy ở Nam Hà Nội không thờ một ông Sư đắc đạo, gõ mõ tụng thiên kinh vạn quyển, những cuốn sách từ Tầu, Ấn Độ!!! Sau này cái từ Sãi đã bị coi thường! Nhưng xưa thì Sãi, Thầy, Sư, Thờ (rồi sau này người ta làm chùa để Thờ (!)

Tôi sinh ra trong một gia đình Cổ Học nên rất kính trọng quý vị!
Từ bé xíu, học tiểu học, tôi đã chắp tay, khoanh tay kính trọng quý vị (Dĩ nhiên không bằng cha vì gia đình tôi Khổng Học mà).

Khi học Tiểu Học tôi thấy Thầy cũng bình thường thôi, sau này ... tôi còn thấy ông ta dốt nữa (?) Ông Thầy dạy Phạm Hồng Thái ám sát Toàn Quyền Pháp ở Sa Điện. Sau này đọc đến đó tôi thấy người ta viết Sa Diện! nên tôi cho là thầy dốt. Thầy cũng dạy tôi rằng: Quan lập chiến công hiển hách, được vua cho làm lễ Ôm Gối ... tức ôm gối chăn như cha con ... Sau này tôi lại thấy không phải thế! Ông Vua ngồi trên một cái đôn ở Sa Trường, quan Võ tay không bò lết tới... ôm đầu gối ông Vua! Tôi lại thấy Thầy học dốt (?). Sau này trưởng thành tôi vẫn biết ơn các thầy đó vì các tích xưa Thầy làm sao biết hết!!! 

Khi học tới Đệ Nhị Niên ban Thành Chung ( tức Đệ Lục, tức Lớp Bảy). Tôi nghe ông thầy kể chuyện giết thằng Tây dân sự rồi ba người sát nhân đó chia nhau cái nón cái sơ mi, đôi giầy, tôi lại không phục vì thằng Tây đó dân sự mà(!). Lớn một chút nữa, lớp Đệ Ngũ, tôi học một ông Cố Đạo người Bỉ, ông này dạy nhiều điều hay ho, nhưng chúng tôi lại gọi ông là Bỉ Nhân(?)
Lên lớp 12 ( Đệ Nhất ) tôi được học với các Thầy rất nghiêm, tận tâm của trường Chu văn An, tôi rất phục, rất kính trọng!
Các bạn tôi coi thường các thầy, sau lưng thường gọi Thằng, không phải tư cách các thầy mà là trào lưu của học sinh thời đó.

Thầy Nguyễn Khắc Kham

Cái ấn tượng tốt đẹp in sâu vào óc tôi cho tới tận ngày nay (2020) vẫn là các Thầy Đại Học.
Thầy Nguyễn Khắc Kham mà có lần tôi đã viết nguyên một bài dài về Thầy.Thầy rất uyên bác, cực kỳ uyên bác, thầy biết sáu ngoại ngữ, thầy có trong nhiều hội văn học thế giới. Thầy về nước với hoài bão lớn lao. Thầy được bổ làm Vụ Trưởng Văn Hóa Vụ (tức Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa sau này. Thầy được mời đóng góp, hiệu đính Tự Điển Nhật Việt, cô là người Nhật). Thầy đi khắp Thế Giới diễn thuyết về Văn Hóa Việt Nam.
 
(Thầy Nguyễn Đình Hòa)

Sau 1975 thầy và thầy Nguyễn Đình Hòa đã lập hội Việt Học ở Mỹ và Thầy đã đóng góp rất nhiều. Người thầy thứ hai mà tôi rất tôn kính là thầy Nghiêm Toản. Thầy Nghiêm viết rất nhiều về Cổ Học, Sử, Văn Học Sử ... 
Thật là đáng buồn khi ngày nay không ai còn biết cuốn Việt Nam Văn Học Sử Toản Yếu của thầy. Ở trong trường thầy rất nghiêm, không nói đùa bao giờ. Tôi nhớ thầy luôn đi Taxi. Có một hôm anh bạn thấy thầy ra cổng bèn rà xe nhà của anh qua, mời thầy lên, nhưng thầy không lên. Ấy! Thầy nguyên tắc là như thế ... lỡ sau này người ta nhờ vả thì sao? Chuyện về thầy thì nhiều, mà đều khiến tôi tôn kính.

(Thầy Nghiêm Toản)

Thầy Lê Ngọc Trụ không nổi tiếng. Thầy rất đơn giản, xuềnh xoàng, tận tụy, hết lòng vì người đọc sách. Thầy làm Giám đốc Tổng thư viện Quốc Giao73 đường Gia Long . Nhưng cái này tôi hết nhớ nổi ... hình như người ta không coi thầy là quan lớn Giám Đốc mà chỉ coi như Thủ Thư!!!. Thầy luôn đóng một bộ Cánh, tôi không biết có giống bộ Kaki của ông già chủ tịch nước không? Ai đọc sách hay kiếm sách thì thầy chỉ dẫn tận tình ... khỏi lục Fitc ... thầy chỉ cho ... có ngay!. Thầy viết Chính tả Việt Ngữ, Hỏi ngã . Thầy có dạy vài giờ ở Đại Học Sư Phạm,Đại Học Văn Khoa. Giờ thầy dạy rất khô khan nhưng tác phong của thầy thì ta nhớ mãi: Giản Dị, Khiêm Tốn, Tận Tâm ...

( Thầy Lê Ngọc Trụ)

Ngưới thứ tư mà tôi hắc tới đây là thi sĩ Vũ Hoàng Chương! Chẳng có ai gọi thầy là Đại Thi Hào, nhưng người ta nói và viết về thầy nhiều lắm Đây là vị thầy mà tôi vừ kính trọng vừa thân thiết, vừa ... Thương!
Thơ văn của thầy thì nói ngàn trang không hết vì thầy có cuộc sống phong phú. Những mối tình của thầy thì người ta tán ra tán vào nhiều rồi. Tôi rất bái phục cái tâm hồn nhạy cảm, tha thiết, bao dung của thầy.
Thầy ca tụng và yêu nhiều người đẹp, nhưng thầy cũng ca tụng đất nuóc: Trả ta sông núi! Ca tụng người đạt đạo: Trái tim Bồ Tá . Ra Ngoại Quốc dự Hội Nghị làm cho cô Nữ Thi Sĩ người Bỉ yêu ... Việt Nam!!!. Và trong nghịch cảnh, thầy không hề giận đời . Khi ở tù về, thầy ở nhờ bà Mộng Tuyết ... bị bà ... đuổi!!! Có lẽ vì thầy vẫn ro ro khi người ta rình mò bắt cái thứ Quốc Cấm này.
Một điều người ta không biết về Vũ Hoàng Chương là anh chàng này trào phúng tếu táo lắm !Người ta tranh nhau về hai câu thơ trào phúng Châu Chấu Đá Voi
Chính Thầy nói với tôi là hai câu đó của thầy:

Hai chân tanh tách làm luôn mãi
Đống thịt lù lù vẫn thế thôi

Có một thời tôi rất thân với thi sĩ Vũ Hoàng Chương nhưng không bao giờ dám lờn mặt. Vẫn coi vị Đại Thi Hào này là: Đại Thầy!

Thầy Vũ Hoàng Chương

Chân Diện Mục

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2021

Sa Đéc

 

Đường về Miền Tây hồi xưa phải qua Sa Đéc, thậm chí đi Miên cũng phải qua Sa Đéc!
Bản đồ ngưởi Pháp xưa vẻ Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc vắt ngang qua hai con sông Tiền và Hậu! Bản Đồ này sau đem về Pháp nên sau này chẳng ai được xem , tham khảo bản đồ này! Thưa quý vị cái địa điểm Phong Nhiêu ở tuốt phía Bắc sông Tiền đấy!!! 

Thưa quý vị Trước khi đặt tỉnh thì cái thủ phủ của Sa Đéc nó ở tận bên Cái Bè đấy. Tổng Đốc Trần Bá Lộc ở trên đó và cậu con cưng Trần Bá Thọ cũng ở trên đó , và ông thầy dạy cậu hai Thọ là Phan văn Thạnh cũng ở trên đó . Ông thầy Thạnh (hay Trị) chán cái anh học trò này và chán luôn cả cái vùng này:

Nực cười Hòa Khánh quá nên bư
Cha mẹ chằng nuôi, nuôi Đạo Tư

Chỉ có cô em của Thọ là bà Đốc Phủ Mầu kinh doanh cái Cù Lao Năm Thôn ở giữa sông Tiền ! Nhưng cuối cùng bà Mầu cũng bỏ của chạy lấy người. Đất thì quá mầu mỡ đi chứ (!) nhưng những kẻ tối rượu sâm banh sáng sữa bò nào biết gọi hồn đất theo kiểu Việt Nam!!!
Thưa quý vị, đây là giữa đường , trạm dừng chân của người Pháp và người Việt khi đi qua Miền Tây và Cao Miên! Họ đi qua Mỹ Tho tới Cái Bè rồi Sa Đéc, Lấp Vò để qua Miên. Tại sao lại đi vòng vèo như thế! Chắc là nơi đó đang sinh tụ đông dân và trình độ cao (?) (dĩ nhiên đi đường Tây Ninh và các đường khác không được, vì người Pháp cai trị Miền Nam bằng Ca Nô mà!
Tôi đồ chừng là những người buôn cây , gỗ quý đã tiếp chuyển hay là sơ chế những gỗ quý từ Miên về ...

Chợ Lấp Vò, Chợ Lấp Vò, chốn chốn người no
Chả biết từ đây lên Tân Châu dân trí thế nào, nhưng người Pháp đặt Tân Châu làm một quận khá lớn , rồi đông dân .Người Việt cũng ăn ké theo, mặc cho đi ghe nhỏ khá nguy hiểm vì con sông Vàm Nao (nước chảy đứ đuôi xà).

Tôi cũng nhắc lại một điểm là vùng này còn nhiều người Miên và người Chà. Tôi đồ chừng Sa Đéc là nơi ở của một ông " Vua " Miên SamDek , Lai Vung là nơi ở của một ông Lãnh Tụ Chà: Lai chính là Lái ( Lái Vung ) . Lái là một Lãnh Tụ Chà cũng như ông Lái Gấm bị xử tử dưới thời vua Thiệu Trị !
Lấp Vò sau này suy tàn , nhưng Sa Đéc cứ nhẩn nha đi lên!

Cũng nên nói qua về cái thăng trầm củ tỉnh lỵ hay thị xã ... Cái danh hiệu tỉnh lỵ hay thị xã cũng làm cho tôi bận tâm nữa! Sau 1975 người ta thành lập tỉnh Đồng Tháp, tỉnh lỵ đặt ở thị xã Sa Đéc ! nhưng ở bên kia sông đất rộng mênh mông, dễ xây cất, dễ xây cất, kinh doanh nên người ta dời tỉnh lỵ qua đó, ngày nay phát triển quá mau nên ... Sa Đéc có vẻ lép vế (?) nhưng tôi vẫn thích cái vẻ cổ kính của Sa Đéc. Điều làm tôi ngạc nhiên không ngờ là nó đẹp, đep cổ kính! Dọc sông Tiền rất đẹp và nên thơ. Trước đây đi xe đò qua tôi tưởng nó bé! Ai ngờ nó đẹp cổ kính! Mặc dù bên kia hoành tráng hơn, nhưng tôi vẫn thích vẻ đẹp cổ kính bên này!

Truyền Thuyết nói rằng con gái Nha Mân rất đẹp. Truyền thuyết này có từ thời Gia Long lận(?). Vua Gia Long chạy loạn tới đây gặp một người con gái đẹp mê hồn , ngài định lập làm Phi . Nhưng chạy loạn Tây Sơn thất điên bát đảo , bá thiên bá di nên ... thất lạc ... Đây là một xã không giầu , nhưng khi tôi đến 2020 thì xã này đường xá nhà cửa rất khang trang, mến khách , thức ăn ngon mà rẻ (!) ... thật không hổ là con cháu của một bà Phi ... hụt(?)
Một chuyện để đời hơn của Sa Đéc là Bữa Tiệc "Thịt Bò Lồi", Người ta đốt một đống củi lớn, gác một con bò lên trên , khi bò ta nở căng lên, người ta lấy một con dao nhỏ sắc bén lụi dô một phát vào đùi, thịt bên trong lồi ra, người ta bèn xẻo, nhậu tươi ... quá đã!
Cụ Vương Hồng Sển còn nói những màn Văn nghệ đẹp mắt... vui tai!!! Thật đúng là một bữa tiệc dành cho các chức sắc cao cấp... nhà giầu mà có máu văn nghệ ngút ngàn! Tôi nghĩ vượt xa bữa tiệc của Từ Hi Thái Hậu đãi các sứ thần liền tù tì 5 ngày đêm ... bẩy chục món!!!

Chân Diện Mục

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2020

Nay Và Xưa


Nói chuyện ngày nay ai cũng biết, vì nó đập vào mắt mỗi ngày! Thế thì nói chuyện xưa thích thú hơn (!). Người ta muốn biết chuyện xưa nó ra làm sao?

Hồi xưa tôi đã từng đi xe thổ mộ từ Phú Nhuận đi Chợ Lớn! Nghe tiếng chuông gọi khách, thích thú lắm! Người ta đi chợ rau vào khoảng Thuận Kiều. Cái chợ này gọi là Chợ Rẫy. Cả khu chung quanh này cũng gọi chợ rẫy. Sau này bệnh viện do Nhật Bản viện trợ, Lớn nhất, kỹ thuật cao nhất cũng được mang tên Chợ Rẫy!
Người mua rau muốn biết chuyện xa hơn: Cái Cộ! Cái Cộ là cái xe không bánh!!! trượt trên bùn lầy hay vùng nước cạn. Nhưng ngày nay nào ai biết cái Đồng Ông Cộ nó nằm ở chỗ nào? Chỉ biết là đa số nó chở hàng từ Bắc xuống Nam, nó nuôi dưỡng nhiều người chở hàng chớ bộ!

Ôi ! Những vườn rau, vườn khoai, vườn lài... chết tiệt hết rồi (!) Ngày nay người ta chở rau từ Đà Lạt và nơi xa về Sài Gòn. Ôi những cảnh cũ người xưa biến mất rồi! Ngày nay người ta ngồi ở nhà, phôn một cái là có đủ thứ, nhớ chuyện xưa ... mà chi.. no béo gì!!!

Ôi! Sài gòn người ta nhớ đù thứ! Ngồi đâu cũng thấy nhớ! Ngồi ở Catina nhớ cà phê ở Vườn Hoa Chi Lăng! Ngồi ở Thương Xá Tax ngắm Sài Gòn thì thấy nhớ... nhớ gì đâu. Nhưng nhiều người văn minh hơn(?) thích ngồi ở quán cao tầng hơn! Ngồi ở quán cao mấy chục tầng thì chẳng thấy cái Tương Xá Tax. Cũng chẳng ai nhắc tới Givral! Brodart! Passage Eden!

Bây giờ siêu thị mọc lên khắp nơi, nhưng tôi nhớ và thích những món hàng mua ở Eden năm xưa.
Nhớ hồi xưa tôi ở học gần trường đua Phú Thọ, cái sân cỏ rộng mênh mông của nó hôm nào mưa thì có hàng vạn con ễnh ương kêu điếc tai, không ngủ được. Bây giờ các ông lớn chia da xẻ thịt, nghĩ mà thương cho cái sân cỏ. Bây giờ giầu lên (?) có ông Mỹ nói Việt Nam phát triển Thần Kỳ (?) Nhưng lại có ông Mỹ nói Việt Nam theo chủ nghĩa Tư Bản sauvage. Bây giờ thay đổi nhiều lắm! Nhưng tôi vẫn nhớ chuyện xưa, nhất là thân phận sinh viên nghèo.

Gác trọ về khuya cơn gió lùa
Trăng gầy nghiêng bóng cài song thưa

Nghĩ lại thì thấy nó thơ mộng ... nhưng mà ... nhưng mà: Thơ mộng trên mây

Ôi! Trái đất quay đến chóng mặt Bây giờ chẳng thiếu thứ gì, nhưng tôi thấy nhớ... nhớ... thiếu những món xưa, người xưa, cảnh xưa!!! ... dù xưa nó cũng có cái gì chẳng hay ho cho lắm: Đại Thế Giới!!! Đại Thế Giới làm người ta tan cửa nát nhà... mà có người ca tụng đấy! Có những cái xưa mà nay tôi không biết nó bị phá hay hô biến: Hồ Bơi! Hồ Catinat thì sinh viên thích! Hồ An Đông thì người ta chê dơ vì các cô gái Tầu đem con ghẻ Tầu xuống đó(?) Hồ Chi Lănh ở trên con đường lớn, khá đẹp và rông rãi, đắc địa! Buổi tối mà có mưa rơi... rồi các cụ già(có những cụ nổi tiếng như: Phan Thê Roanh, Đông Hồ ... ) mướn một nàng ca kỹ xưa ngâm thơ Tỳ Bà Hành... thì tuyệt cú mèo, buồn thúi ruột. Nhưng có một hồ bơi khiến các chàng bàn tán ... rôm rả! Đó là hồ bơi của trường Trung học Gia Long. Hồ do ông Phó Tổng Thống tài trợ! Nhưng ông Tướng Hào hoa này chỉ chứng tỏ mình chịu chơi, chứ ổng không có thì giờ tới ngắm cá nàng ... Tắm!!!

 

 


Chân Diện Mục


Thứ Hai, 24 tháng 8, 2020

Đò Chiều


Sông nước chảy về đâu cho đò ta cỡi sóng
Cỏ ven đê rước đò mát chiều nay
Ôi lạnh lùng ngàn năm xưa vẫn thế
Sáo diều êm tràn ngập góc thi nhân
Ta đếm, ta đếm những tháng ngày trôi biệt
Lòng nao nao lả lướt mái chèo khua
Ngắm nước đục lòng bâng quơ tự hỏi
Chiều ơi chiều có hò hẹn cùng ta
Vung tay buồn vẫy gọi đám mây xa
Và ấm áp khi sẽ về quê mẹ

Chân Diện Mục

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2020

Thần Tượng


Thanh niên nào mà không coi một số người đi trước là Thần Tương!
Hồi trẻ tôi đã từng thần Tượng những người như Nhượng Tống, Nhất Linh, Lỗ Tấn, Phan Khôi, Kim Dung và những nhân vật tiểu thuyết như Trương Vô Kỵ, Lệnh Hồ Xung.

Càng về sau tôi càng nghĩ đến đất nước mình ... và những nhân vật đã đến với tôi: Đăng Thai Mai, Nguyễn Đăng Thục ... Ôi! Những nhân vật này nào có thua gì Lâm Ngữ Đường, Đinh Linh! Thế là tôi nhào đi tỉm nhữnh nhân vật mà người ta ca tụng hàng ngàn trang.

Về Văn Học thì Đào Tấn thua gì Soljenissine, Pastenak!

Ôi! Về chính trị thì người ngoại quốc ca tụng Quang Trung đã đầy ứ ra rồi. Nhưng tôi muốn vẽ một Quang Trung khác! Không phải một Quang Trung cưới Công Chúa! Không phải một Quang Trung tranh quyền với anh! Không phai một vị vua mở cõi bình thường! Mà là một vị anh hùng Bách Chiến Bách Thắng! Tôi muốn so sánh ngài với Thành Cát Tư Hãn!!!
Vâng! Quang Trung còn hơn cả Thành Cát Tư Hãn!!!

Từ những kẻ tầm thường, tới những kẻ láo lếu tư xưng anh hùng, đều coi Quang Trung như sấm sét, đòn của Trời!!!
Quang Trung không xưng Đại Hoàng Đế nhưng vua Tầu phải gườm! Tuần Phủ Quảng tây Tôn Vĩnh Thanh phải tâu vua tầu đừng sai Tôn Sĩ Nghị đánh miền Nam!
Những loạn thần thời Trịnh còn rơi rớt lại đáng kể gì! Những mưu sĩ ốm o ngồi gãy móng tay như Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích cũng phải bò lết lại! Những võ tướng thời chúa Nguyễn! Những dân dữ dằn thượng du kể gì! Những hàng thần người Chiêm, người Cao Man kể gì! Những kẻ phiêu lưu từ Nghĩa Hoà Đường kể gì!
Ngài đã đi qua vùng rừng núi Hầm Hô(Có người chắc dốt chữ Nôm chỉ biết chữ Nho nên vị tướng ở đây được Quang Trung phong hầu là Hám Hổ Hầu) Qua vùng rừng núi Hầm Hô, Đá Đen, Những vị Nữ Chúa Thi Đậu, Thị Hoả rạp người hàng phục! vị tướng Chiêm Thành họ Đăng (được phong sau này) đã phải bò lết lại làm tướng và làm con rể Quang Trung!

Chẳng biết ngài đi bộ, hay ngựa, hay voi (!) nhưng chắc ngài chưa tới thì cỏ đã rạp mình đón nhà Đai Chinh Phục! Đúng là người ta sợ Vía, sợ bóng, sợ gió !!! Con người đó cứ như là Thần trên mây nhảy xuống!!!

Chân Diện Mục

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

Người Nghèo Mần Thơ



Câu nói nghe chói tai! Người nghèo biết mần thơ sao? Sao lại không? Ca dao cũng là thơ chứ! các cụ coi khinh thơ con cóc, thơ bình dân, thơ với… thẩn!!! 
Nhưng quả thật có những câu phát xuất từ quê nghèo nhưng… nhưng… các cụ nghe… thì… hết hồn! 
Những câu dung tục, thô tục thì… vẫn cứ là thơ! 

Có lẽ các cụ gọi những bài mình sáng tác là… thi. Ừ, thì Thi vẫn cứ là Thơ nhưng… cao cấp hơn (?) 
Ông Trương Tửu chả biết có thần phục mẫu quốc(?) không? Nhưng ông gọi Ca Dao là Kinh Thi Việt Nam!!! 
Cha mẹ ơi! Người nghèo nghe chữ Kinh… thì hết hồn rồi! Bởi Kinh chỉ dành cho Phật Gia, Đạo Sĩ, Nho Sĩ!!! 
Quốc Sĩ vô song là ngươi Hàn Tín! Ông Hàn Tín chuyên giết người được… khoác chữ Sĩ! Ông Doãn Quốc Sĩ không làm thơ cũng xưng Quốc Sĩ??? . Nhưng nòi chung, hình như có chữ SĨ thì người ta kính trọng! 
Dân nghèo chẳng bao giờ khoác trên vai chữ SĨ! 

Có những bài rõ ràng là của dân nghèo, rõ ràng là sáng tác từ quê… nhưng rất hay, rõ ràng là từ người có học  nhưng học lóm!!! 
Đặc biệt là con cò! Con cò thân thiết với dân quê Việt Nam lắm! Có ông sưu tầm những bài về con cò! Không biết mấy trăm bài, hay lắm! 

Con cò đậu cọc cầu ao 
Ăn sung sung chát ăn đào đào chua 
Chiều chiều ra đứng cổng chùa 
Trông lên Hà Nội thấy vua đúc tiền 
Ruộng tư điền không ai cầy cấy 
Liệu cô mình ở vậy được chăng 
Mười lăm cửa bể anh đã đóng đăng 
Cửa nào lắm cá anh quăng chài vào 
Anh quăng phải ngọn cái con sông đào 
Vừa sâu vừa chảy 
Anh bỏ anh đi 
Kén vợ đã bẩy năm nay 
Tình cờ anh gặp nàng đây 
Như cá gặp nước như mây gặp rồng 
Mây gặp rổng bát văn bát vũ 
Cá gặp nước con ngược con suôi 
Chồng Nam vợ Băc em ơi 
Sao em không kiếm một người như anh 
Chim vàng đậu đám cỏ xanh 
Kìa kìa chim phượng đỗ cành dâu da 
Ta thương người , người chẳng thương ta 
Cành kiêu kiêu bổng cành na na chìm 

Bài ca rất hay, nhiều tâm sự, có hồn thơ! Chả biết tâm sự hỗn độn như thế nào nhưng cứ là thơ, là ca 
Người nghèo cũng biết thả thơ ca vào nghề ươm tơ , nghề buôn chè Tầu: 

Cô kia thắt giải lưng xanh 
Có về Nam định với anh thì về 
Nam Định có bến đò chè 
Có tầu Ngô Khách có nghề ươm tơ 
Ươm tơ phải giữ mối tơ 
Một trăm mối đứt phải chờ mối anh 
Dân nghèo khoái nói về con chim , con cá , con … chó ! 
Sông dài cá lội biệt tăm 
Phải duyên chồng vợ , ngàn năm cũng chờ 

Con ngựa thì: Tuấn mã phi nước đại qua cửa quan lớn. Đúng lúc bà lớn đánh địt… Ngựa phi qua phi lại ba vòng mà lỗ đít bà lớn chưa khít (?) 

Con chó thì: 

Khi nằm với vợ thì phải đứng 
Quanh năm chẳng được chén chè Tầu .

A Ha! Thơ người nghèo nhiều sắc thái quá . Nhiều mầu sắc , nhiều tâm sự , nhiều tưởng tượng quá ta 
Người nghèo chỉ mua vui cho người giầu thôi… chẳng có tài vật gì để… trả ơn!!! 

Ơn này biết lấy gì mà trả 
Xin quỳ hai gối chống hai tay 

Nhất là những người diễn viên (chả biết giầu hay nghèo, dĩ nhiên người ta liệt vào hạng nghèo!) Những ứng khẩu của các ông này chẳng được kể là thơ. 

Vua chèo còn chẳng ra chi 
Quan chèo đi nữa khác chi thằng hề 

Cụ Nguyễn Khuyến đã mượn lời vợ người phường chèo. Còn tôi, tôi đã gặp một anh Kép có hồn thơ(!) 

Tôi là anh kép Minh Tơ 
Tôi đi quân dịch lơ mơ bên rừng 
Gặp cô bán rượu tôi ưng 
Tôi dắt vào rừng uống rượu với tôi 
Uống xong quên cả đất trời 
Miệng thơm mùi rượu hai người ngủ chung 
Giữa rừng căng một chiếc mùng 
Chiều xuân gió lộng đì đùng súng vang 

Chân Diện Mục