Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Cung Thông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Cung Thông. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2019

Ký Sự Noumea (New Caledonia) - Tháng 7 Năm 2019

Vào đầu tháng 7 năm 2019, người viết (Nguyễn Cung Thông/NCT) và bà xã có dịp ghé thăm thủ đô Noumea của xứ New Caledonia (tiếng Pháp Nouvelle-Calédonie).
Bài viết này ghi lại vài nhận xét ngắn trong khoảng 11 ngày ở Noumea, chú trọng đến tiếng Việt dùng trong cộng đồng Việt Nam và nhận xét thêm về một số nhà ái quốc bị đày sang đây. Người viết xin cảm ơn các bạn địa phương đã giúp đỡ, trao đổi và chở đi gặp gỡ các gia đình người Việt ở Noumea: anh Roland Phạm Ngọc San, anh Phong Pascal Chu cùng gia đình anh Tình chị Thanh, gia đình anh Nguyễn Văn Miện, gia đình anh Diệm (Đinh Ngọc Riệm, Lãnh Sự Danh Dự) và rất nhiều gia đình khác nữa ở Noumea mà chắc cần hơn trang giấy này để ghi lại các chi tiết, nếu có sai sót gì thì xin các bạn đồng hương thông cảm và ‘nương tay’ cho, hay có thể liên hệ trực tiếp để làm bài viết chính xác hơn. Một tài liệu tham khảo quan trọng cho bài viết này là cuốn từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn. 
Các từ viết tắt trong bài này là VN (Việt Nam), TQ (Trung Quốc), VNTĐ (Việt Nam Tự Điển), TK (thế kỉ), A (tiếng Anh), P (tiếng Pháp), TTG (Tân Thế Giới, hay New Caledonia/A - Nouvelle Calédonie/P), HV (Hán Việt).

1. Hình chụp chung với các gia đình Chân Đăng 


Cụm từ Chân Đăng chỉ người VN đi làm mộ phu trên quần đảo Tân Thế Giới từ cuối TK 19. Nguồn gốc của cách dùng Chân Đăng là chủ đề của một bài viết trước đây2 (cùng tác giả NCT), bài viết này sẽ không bàn đến nữa. 

1) Nghiên cứu ngôn ngữ độc lập ở Melbourne (Úc)
email nguyencungthong@yahoo.com  

2) Bài "Tiếng Việt thời LM de Rhodes – chên đơng hay chân đăng/đâng/nâng? (phần 15)" cùng tác giả (NCT) vào đầu năm 2019. Có thể xem toàn bài trên mạng như 
Hình trên chụp người viết (NCT) cùng bà xã và anh chị em con cháu Chân Đăng dưới bức tượng Chân Đăng trong khu Á Châu (thành phố Noumea). Khu phố Á Châu cũng giống như các khu phố Tàu (Chinatown) trong các thành phố lớn, tuy nhiên các tiệm VN ở đây chiếm đa số so với các tiệm Tàu - ngược lại với trường hợp của Chinatown trong thành phố Sydney, Melbourne và Brisbane chẳng hạn (vào thời điểm tháng 7 năm 2019).
Nhân dịp viếng thăm Noumea thì người viết được đến gặp và trao đổi với gia đình cụ bà Bùi Thị Nhớn3 (trên 100 tuổi, một trong những người Chân Đăng cuối cùng). Xem hình bên dưới chụp ở nhà cụ Nhớn cùng gia đình.


Một điểm thú vị đáng được ghi lại ở đây là trong khi hàn huyên với gia đình cụ Nhớn, người viết được biết thêm là cụm từ Chân Đăng còn mang một nét nghĩa nữa hàm ý ‘già nua’ (hàm ý thuộc thế hệ cha ông) như theo lời chị Phạm Thị Hoa (con gái cụ Nhớn - người ngồi bên trái cụ). Vào khoảng đầu thập niên 1950, khi được gia đình giới thiệu/mai mối cho một ông người VN thì chị Hoa không đồng ý và nói "Tôi không muốn lấy ông Chân Đăng đó" (trích lời chị Hoa trong buổi nói chuyện tại nhà chị).

 2. Nem là chả giò 

Một món ăn rất phổ thông ở New Caledonia là nem. Sinh trưởng ở miền Nam, người viết rất ngạc nhiên khi nhận ra nem chính là loại chả giò mà mình rất quen thuộc. Nem hay nem rán ở miền Nam gọi là chả giò, chả cuốn, chả ram, chả nem so với miền Trung gọi là chả hay chả cuốn. Miền Bắc còn gọi chả giò hay nem là chả Sài Gòn. Hình bên dưới là một đĩa nem ở New Caledonia. Từ thời LM de Rhodes, ông đã ghi rõ nem là thịt bầm gói trong lá.
___________________
3) So với Youtube "GẶP NGƯỜI CHÂN ĐĂNG CUỐI CÙNG Ở NEW CALEDONIA" (27/7/2018) trước đây khoảng 1 năm - xem chi tiết trang https://www.youtube.com/watch?v=A1b052eTbA8  
thì năm nay cụ bà không còn khỏe lắm khi người viết (NCT) đến thăm gia đình. 

Hình chụp bên dưới - phù hợp với nét nghĩa nem (chua) trong các miền Trung và Nam hơn. Vấn đề trở nên thú vị khi thịt gói trong lá chuối cũng giống như món ăn bougna ở TTG và các đảo thuộc Thái Bình Dương. Có liên hệ nào chăng giữa các món ăn này - khi đi ngược dòng thời gian - không phải là trọng tâm của bài viết nhỏ này.

VBL trang 512

Một đĩa nem (chả giò) ở TTG 

3. Mùi là màu 

Khi viếng thăm nhà riêng ở Noumea, anh bạn mới quen tên là Phong Pascal Chu có kể lại chuyện gia đình về bà Binh Ngọc luôn dùng mùi chứ không dùng màu như mùi đen, mùi xanh. Anh bạn Phong rất ngạc nhiên về cách dùng từ như thế, nhưng người viết có giải thích là mùi là tiếng Việt từ thời VBL (xem hình chụp dưới) đến đầu TK XX thường dùng hơn là màu. Vì vậy mà các thế hệ cha ông có khuynh hướng dùng từ cổ như mùi thay vì màu.

VBL trang 489 

Gia đình của bạn Phong Pascal cũng từng đóng góp nhiều cho New Caledonia nên có một tên đường là Ngọc Chu-Văn (Ngoc CHU-VAN) - xem hình chụp bên dưới trích từ các phóng sự "Biết đâu nguồn cội - The Roots" "Người Việt ở Tân Thế Giới" của đài truyền hình VTV4.


Một điểm nên nhắc lại ở đây là tên đường Rue Ngoc CHU-VAN ngay bên cạnh tên đường Félix Franchette (người Pháp) cũng như tên đường Rue Nha DANG (Đặng Văn Nha4) ngay kế bên đường Louis Hénin (người Pháp) cho thấy phần nào đóng góp của người Pháp và VN trong lịch sử hình thành TTG.

_____________________
4) Ông Nha qua làm phu mỏ niken - trong thập niên 1930 - có con trai André Đặng Văn Nha (sinh năm 1936 ở TTG), là người giữ vai trò chủ chốt của hai nhà máy luyện niken tầm cỡ thế giới, theo cuốn hồi kí lịch sử "Bí ẩn Đặng" của hai tác giả Anne Pitoiset - Claudine Wéry. Cuốn này được dịch ra tiếng Việt và NXB Phụ Nữ phát hành vào tháng 2 năm 2010. Người đọc có thể xem bài viết liên hệ như trang 
Ông André Đặng Văn Nha qua Pháp học về sửa máy cùng với ông Chu Văn Ngà (chú của anh Phong Pascal), sau về lại TTG kinh doanh thương mại và trở thành "đại gia" và có tầm ảnh hưởng ở xứ này. 

4. “Quả gỗ” là quả cóc 

Một cách dùng khá đặc biệt ở Noumea là tên gọi quả cóc là quả gỗ - theo một số người Việt ở đây lâu năm thì quả này cứng và nếm như gỗ nên gọi là quả gỗ. Hình dưới chụp cây cóc đầy trái trước nhà anh chị Nguyễn Văn Miện5 (gốc Chân Đăng) ở Noumea - cùng với bà xã người viết (bên trái) và bà xã anh Miện (bên phải). 

Vào thập niên 1930, Việt Nam Tự Điển (Hội Khai Trí Tiến Đức) không ghi quả cóc so với các nghĩa khác như con cóc, cóc (chẳng) biết. Chính VNTĐ đã ghi cách dùng chân đăng với nét nghĩa mở rộng là cuộc sống tạm bợ, do đó sự vắng mặt của quả cóc cho thấy loại cây trái này không thông dụng và không gây sự chú ý từ các học giả VN khi soạn VNTĐ vào giai đoạn này. Điều này cũng có thể giải thích phần nào, khi qua TTG làm phu mỏ, cộng đồng người VN (đa phần là từ các tỉnh duyên hải Bắc Bộ) cũng không thấy dùng tên gọi "quả cóc" mà lại dùng "quả gỗ" - tên này người viết không thấy dùng ở trong tài liệu tiếng Việt đã xem qua cho đến thời điểm này. Cũng nên thêm một chi tiết ở đây là tác giả Mai Hương6 (Học Viện Quân Y) cho biết là ngoài Bắc còn gọi quả cóc (miền Nam) là quả sấu tầu. 

Từ thời tự điển của các giám mục Béhaine/Taberd (1772/1773-1838), cóc đã có một nét nghĩa nữa là cây cóc7, một thứ cây có gỗ rất cứng, nhưng không thấy ghi "quả/trái cóc". Khả năng lẫn lộn các cách gọi (sấu, trám, cóc ...) có thể là do có nhiều loại cóc (và sấu). Trong cuốc Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa, không thấy ghi quả/trái cóc nhưng có ghi quả sấu với tên (chữ Nho) là nhân diện: 
____________________
5)Anh Nguyễn Văn Miện đã về hưu, sinh năm 1945 ở TTG, con ông Nguyễn Văn Hậu (Chân Đăng) làm mỏ kền, số đăng kí là 2707. Khai sanh của anh ghi nhầm tên anh thành Én (mẹ của anh Miện tên là Nguyễn Thị Én), nên để tránh các rắc rối về sau, anh thêm hai mẫu tự Mi vào trước tên Én để thành Miện (theo lời anh Miện kể lại). 
6) Trích từ bài viết "Lợi ích sức khỏe của quả cóc" của Ths Mai Hương (Học Viện Quân Y) đăng trên trang Thời Báo.today (24/6/2017) hay trang Sức Khỏe & Đời Sống (17/5/2019) …v.v.
7) Học giả Huỳnh Tịnh Của thi ghi cây cóc là "tên cây, vỏ nó giống như da cóc" - Đại Nam Quấc Âm Tự Vị. Cóc có một dạng chữ Nôm dùng cốc HV 谷, hay thêm vào bộ trùng 虫 để chỉ (con) cóc. 
Nhân diện quả sấu vị cùng ngọt chua (trang 195) 
Nhân diện tử quả sấu (theo học giả Nguyễn Văn San trong Đại Nam Quốc Ngữ)

Các tài liệu Hán cổ cho thấy nhân diện tử 8 人面子 là một cách gọi quả cóc! Ngoài ra, cũng vì hình dạng và mùi vị mà quả cóc còn gọi là Nam Dương cảm lãm, Thái Bình Dương cảm lãm 太平洋橄欖、南洋橄欖 (cảm lãm là một cách kí âm/đơn âm hóa của trám). Các dữ kiện trên cho thấy khả năng lẫn lộn tên gọi loại quả này rất cao vì có nhiều giống rất gần nhau, cùng hình dạng và mùi vị ... Có lúc còn gọi cóc là táo (nam toan tảo 南酸棗), hay cau (tân lang thanh 檳榔青 theo Hải Nam Thực Vật Chí)!

5. "Về Việt" là về Việt Nam 

Trong các cuộc nói chuyện giữa người VN ở Noumea, đặc biệt có cách dùng "về Việt" có nghĩa là về thăm Việt Nam. Cách dùng ngắn gọn này có lẽ chỉ hiện diện ở trong ngôn ngữ các cộng đồng người Việt sống ở nước ngoài, do đó mới phái sinh nhu cầu về thăm lại VN. Khuynh hướng nói gọn lại còn thấy trong tiếng Việt như Mỹ (Mỹ quốc, America), Sinh là Singapore, Mễ (Mễ Tây Cơ, Mexico) ...v.v.

6. Cách dùng bị so với thể bị động/thụ động (passive voice) 

Trong các cuộc nói chuyện với chị Ngọc Điệp, chủ nhà hàng Along Beach (Hạ Long Beach, tiếng Pháp đa phần không phát âm phụ âm h), người viết nhận thấy cách dùng bị của chị khá thú vị - như câu nói về nhà của chị ở gần biển (Anse Vata) "nhà tôi hơi bị mát". Cách dùng này giống như một số cách dùng trong tiếng Việt hiện nay, phản ánh phần nào kết quả của quá trình giao lưu ngôn ngữ9 đang xẩy ra giữa các cộng đồng người Việt ở Noumea và VN. Đây là một chủ đề liên hệ đến các khuynh hướng thay đổi trong ngữ pháp tiếng Việt hiện đại, cần được bàn sâu hơn và không nằm trong phạm vi của bài viết này. 

7. Họ "Cale" ở Noumea và các thế hệ cách mạng bị đày ở TTG 

Trong sổ niên giám điện thoại TTG, ngoài các họ phổ thông như Nguyễn, Phạm, Trần, Đinh - người viết thấy có ghi họ Cale (Calé, Ca-Lê) khá lạ - thoạt nhìn thì không thấy liên hệ gì đến tiếng Việt hay người Việt. Nhưng theo một số tài liệu/báo chí địa phương (Le Casino des Caledoniens) và trao đổi với gia đình con cháu thì họ Cale này xuất phát từ cách gọi Cả Lê, một cách gọi rất tôn trọng cho ông Lê Ngọc Liên (tên thật là Lê Manh Doan). Vì những hoạt động chống lại thực dân Pháp (td. đòi độc lập cho VN) nên ông Cả Lê bị đày sang TTG. 
Xem bảng án từ phiên tòa xử ông bên dưới, trích từ trang 10 
 8) Đại Nam Quốc Ngữ (sđd) còn ghi nhân diện tử, quỷ diện tử là các tên gọi của quả sấu. 
9) Một cách dùng lại không có bị như bài báo điện tử VNmedia (26/6/2019) có tựa đề "Á hậu Hoàng Oanh không áp lực khi đảm nhận vai trò MC Người kể chuyện tình" - xem trang này chẳng hạn 
hay bài báo (25/6/2019) "Nhiều sĩ tử không áp lực trước kỳ thi vì đã đỗ đại học" trang này 
https://vnexpress.net/giao-duc/nhieu-si-tu-khong-ap-luc-truoc-ky-thi-vi-da-do-dai-hoc-3942892.html v.v 10) Văn Khố các tỉnh hải ngoại và lãnh thổ hải ngoại thuộc Pháp (les Archives nationales d’outre-mer hay viết tắt là ANOM) có nhiều tài liệu rất hiếm quý như hồ sơ của ông Cả Lê Ngọc Tiên, Nguyễn Thuận Phong ... Các nhà cách mạng bị đày sang Tân Đảo, Tân Thế Giới ... Rất tiện để tham khảo chi tiết mà không cần phải đi đến địa phương để tìm kiếm - xem chi tiết trang này này http://anom.archivesnationales.culture.gouv.fr/caomec2/ v.v

Một điểm quan trọng cần nhắc ở đây là cộng đồng VN đã có mặt ở TTG từ những thập niên 1870, 1880 sau khi Pháp xâm chiếm Nam Kỳ (1859), tuy không nhiều như từ đầu TK XX qua những ‘chương trình mộ phu’ quy mô. Dựa vào tài liệu lưu trữ của Văn Khố các tỉnh hải ngoại và lãnh thổ hải ngoại thuộc Pháp (ANOM, xem phụ chú 8), các "tù nhân" VN bị đày qua Tân Đảo và Tân Thế Giới là Nguyen Van Xung (năm 1867), Tran Van Hap (1867), Tran Van Tuong (1867), Nguyen Van Ke (1866), Tran Van Lai (1865), Ho Son (1867), Le Van Dang (1868), Le Van Loi (1868), Ngo Van Xom (1868), Nguyen Van Banh (1868), Phan Van Da (1868), Tran Van Quoi (1868), Vo Van Nguon (1868), Hu Toa Dao (1869), Le Van Chu (1869), Le Van Giau (1869), Nguyen Van Khanh (1869), Nguyen Van Nhieu (1869), Nguyen Van Phuong (1869), Nguyen Van Thai (1869), Vo Van Nghi (1869) ...v.v.


Tên của ông Lê Ngọc Liên và Nguyễn Thuận Long11 trong danh sách "tội nhân" đi đày ở TTG, các tên họ cho thấy gốc người Pháp (Âu Châu), Algiers (Phi Châu), Việt Nam (Á Châu) ... Để ý trong danh sách trên có tên ông Phan Trọng Kiên12, cũng bị đày qua TTG cùng chuyến tàu "Calédonien" với các ông Nguyễn Thuận Long và Lê Ngọc Liên. Ông Kiên là anh của ông Phan Văn Trường (1876-1933), đều có những hoạt động ái quốc như tham gia dạy học cho Đông Kinh Nghĩa Thục ở Đông Ngạc và thường xuyên gặp nhiều trục trặc với chánh quyền Pháp đương thời.


Bia mộ của ông Lê Ngoc Liên (hay Cale ~ Cả Lê)


Có thể xem thế hệ ông Lê Ngọc Liên và Nguyễn Thuận Long là thế hệ thứ hai của các nhà cách mạng bị đày vì lòng yêu nước. Hình dưới chụp bia mộ của ông Nguyễn Thuận Long và nén nhang thắp lên để tưởng niệm nhà ái quốc đã hy sinh nơi xứ người (NCT, 4/7/2019). Mộ
__________________
11) Hai ông đều bị đày đến TTG cùng với ông Phan Trọng Kiên trên con tàu "Calédonien" vào ngày 16/5/1914. Mộ của hai ông Nguyễn Thuận Long và Ca Lê Lien cùng ở nghĩa trang Cimetière du 4è kilomètre (Noumea). Tất cả 6 tên người VN trong danh sách trên đều là tội phạm chính trị (complot contre la sûreté de l'Etat - âm mưu xâm phạm/phá hoại nhà nước/NCT) theo hồ sơ tòa án, 6 vị trên cùng đến TTG trên tàu Calédonien. 
12) Phan Trọng Kiên là anh thứ ba của LS Phan Văn Trường, anh cả là Phan Tuấn Phong (1865-1923) trong một gia đình có truyền thống yêu nước như tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục ...v.v… Năm sinh ông Kiên là 1871, phù hợp với hồ sơ tòa án xử đày ông đi TTG vào năm 1913 (ghi tuổi ông là 43 tuổi, có lẽ thêm 1 tuổi theo kiểu âm lịch). Ông Phong bị đày ra Côn Đảo từ năm 1909, đến năm 1911 thì được tha, đưa về đất liền, xác bị quăng xuống biển. Ông Phan Trọng Kiên thì bị đày qua TTG. 

Của ông Nguyễn Thuận Long ghi rõ bằng ba thứ chữ Việt, Pháp và Nho - phản ánh ngôn ngữ thông dụng vào đầu TK XX. Ngoài ra, chữ ái quốc 愛囻 với chữ quốc viết bằng bộ vi (bao quanh, hàm ý lãnh thổ và lãnh hải của một nước) và dân 民 (hàm ý trăm họ, dân chúng ở trong một nước). Cách viết này không còn dùng nữa so với các dạng13 國 国 (quốc). Bia của ông Nguyễn Thuận Long ghi rõ "người quốc dân chân chính" so với tiếng Pháp grand patriote annamite (nhà ái quốc VN vĩ đại - NCT). Cả hai bia đều ghi bị đày vì lý do chính trị (déporté politique - hàm ý chống lại nhà cầm quyền đương thời là thực dân Pháp). Phân tích cách viết các chữ (Việt, Pháp, Nho) trên bia mộ14 trên cho ta nhiều thông tin rất thú vị và cần được tìm hiểu sâu xa hơn và không là trọng tâm của bài viết nhỏ này.

__________________
13) Chữ quốc 囯 gồm bộ vi 囗 (chu vi, lãnh thổ và lãnh hải) hợp với chữ vương ở trong 王, hàm ý nước có vua làm chủ (quân chủ) - dạng này từng hiện diện vào năm 507 SCN. Chữ quốc 国 gồm bộ vi 囗 và chữ ngọc ở trong 玉 (hàm ý dân chúng/ngọc ngà châu báu/tài sản trong một nước): chữ giản thể này được dùng (ưa chuộng) sau cách mạng lật đổ chế đổ quân chủ để lập ra thể chế dân chủ ở TQ. Trong quá trình hình thành chữ Hán, có khoảng 50 cách viết chữ quốc và mỗi cách viết đều có một nét nghĩa đặc biệt. 
14) Có khả năng một số bia mộ viết bằng chữ Nho của người Việt Nam mà ta vẫn tưởng là mộ của người Trung Quốc hay Nhật Bản … Người viết có bàn với anh Roland Phạm Ngọc San về vấn đề này ...v.v... Một câu chuyện đáng nhắc lại là theo anh Patrick (gốc ở Tân Đảo, đang làm hội trưởng hội ái hữu VN ở TTG) thì ở mỏ kền Noumea có những cửa phòng người VN (những mộ phu người Việt đã từng sống ở đây) ghi bằng chữ Nho ngoài cửa. Anh Patrick chắc là như vậy vì anh đã kiểm lại hồ sơ những mộ phu làm ở đây thì thấy toàn là người VN và anh có hình các hàng chữ này. 

Giấy khai tử (giấy chứng tử) của ông Nguyễn Thuận Long (10/11/1929), với chứng nhận của ông Ca Lé Lien và quan chức Pháp, dòng dưới cùng có chữ ký của ông Ca Lé Lien. Hình chụp từ tài liệu còn lưu trong Văn Khố15 TTG (Archives de la Nouvelle-Calédonie). Nhân đây, người viết xin được cảm ơn các ông Ismet Kurtovitch và JeanMoé Leonidas (thuộc Văn Khố TTG) đã tận tình giúp đỡ khi tra tìm tài liệu ở cơ quan này. 


_______________
15)Xem thêm chi tiết trên mạng của Văn Khố TTG TTG https://archives.gouv.nc/fr. Cùng với Văn Khố các tỉnh hải ngoại và lãnh thổ hải ngoại thuộc Pháp (ANOM), bạn đọc có thể tra cứu khá chính xác hồ sơ liên hệ đến các "tù nhân" VN đã bị đày ra ngoại quốc trong thời Pháp thuộc. 

Tóm lại, những ngày ở Noumea đã cho người viết biết đến nhiều thành viên của cộng đồng VN ở TTG, nhất là những buổi trò chuyện về ngôn ngữ, văn hóa và đời sống hiện nay ở địa phương này. Những chuyến về Việt thăm hỏi bạn bè, cùng những chuyến qua Noumea của các ca sĩ nổi tiếng từ VN, cho thấy giao lưu ngôn ngữ/văn hóa đã xẩy ra liên tục từ ngày có người VN định cư ở Tân Đảo và TTG. Ngoài ra, môi trường mạng Internet và báo chí/truyền thông cũng làm khoảng cách giữa người Việt khắp nơi gần nhau hơn trước, tuy nhiên các cách dùng như nem (chả giò), hiệu (cửa tiệm), lợn (heo), dứa (thơm) phản ánh đa số cộng đồng VN từ miền Bắc VN phù hợp với diễn biến lịch sử cận đại của cư dân Tân Đảo và TTG. Một số nhà ái quốc VN như Nguyễn Thuận Long, Lê Ngọc Liên, Phan Trọng Kiên16 (xem hình chụp danh sách bên trên) đã bị đày và qua đời ở TTG: nhờ vào các tài liệu của Pháp/bản xứ mà ta có thể hiểu rõ hơn hoàn cảnh các nhà cách mạng này đã phải sống đời lưu vong. Lịch sử VN cận đại, nhất là trong giai đoạn chống Pháp giành lại độc lập, đã viết rất ít (hay không đề cập đến) các vị này - có lẽ đến lúc phải cập nhật lại lịch sử cận đại cho thêm chính xác. Qua bài viết nhỏ này, hy vọng người đọc cảm thấy hứng thú để tra cứu tìm tòi thêm về tiếng Việt ở nước ngoài cũng như những nhà ái quốc đã bị vùi dập cả cuộc đời mà ít người biết đến. Các ảnh hưởng vùng (Nam, Trung, Bắc) và những mốc thời gian (1859, 1955, 1975) đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành cộng đồng người Việt và tiếng Việt ở nước ngoài.

8. Tài liệu tham khảo chính 

1) Pigneau de Béhaine (1772/1773) - Bá Đa Lộc Bỉ Nhu "Dictionarium Annamitico-Latinum" Dịch và giới thiệu bởi Nguyễn Khắc Xuyên, NXB Trẻ (Thành Phố HCM - 1999). 

_______(1774/Quảng Đông  Địa phận Đàng Trong tái bản năm 1837) "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ" 聖教要理國語 viết bằng chữ Nôm theo dạng Hỏi-Thưa. Y Doãn Ninh/Lê Bảo Tịnh phiên âm và chú giải, La Vang Tùng Thư xuất bản (Mỹ). 

2) Claudy Chêne (2019) "La situation des engagés Tonkinois sous contrat en NouvelleCalédonie et aux Nouvelles- Hébrides: d’une crise Tonkinoise à une crise permanente en Océanie" Revue TRANSVERSALES du Centre Georges Chevrier - 14 

________(2004) "Déportation tonkinoise en terre calédonienne" bài viết đăng trong cuốn "Île d’exil, terre d’asile" NXB Musée de la Ville de Nouméa.
3) Huỳnh Tịnh Của (1895/1896) "Đại Nam Quấc Âm Tự Vị" Tome I, II - Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4 rue d'Adran (SaiGon). 

4) J. F. M. Génibrel (1898) "Dictionnaire annamite français" Imprimerie de la Mission à Tân Định (SaiGon). 
________________
16) Thí dụ như ông Lê Van Dang (xem danh sách trong trang 7), bị đày qua TTG vì tội cố sát một người Pháp, sinh ra ở Huế (1826) và bị kết án ở Sài Gòn (1868) là đi đày chung thân (sans pourvoi - không được khiếu nại/ khoan hồng - NCT). Ông đến TTG (1870) trên con tàu Sybille và qua đời ở Ducos (31/3/1897). Xem chi tiết hồ sơ tòa án và thông tin thêm của ông còn lưu trữ trên trang này (ANOM) http://anom.archivesnationales.culture.gouv.fr/bagnards_dossiers_individuels/?nom=&nomEpouse=&prenoms=&alias=&date=&from=&to=&numMatricule=&territoire=Nouvelle-Cal%C3%A9donie&typenote=&note=&q=&order=dateAsc&start=2681&id=79482

________(1906) "Petit dictionnaire annamite français" Imprimerie de la Mission à Tân Định (SaiGon). 

5) Hội Khai Trí Tiến Đức (1931/1954) "Việt Nam Tự Điển" Nhà in Trung-Bắc Tân-Văn xuất bản năm 1931, NXB Văn Mới in năm 1954 (Sài Gòn, Hà Nội). 

6) Lã Minh Hằng (2013) "NGUỒN TƯ LIỆU TỪ VỰNG THẾ KỈ 17 - QUA KHẢO SÁT TRUYỆN ÔNG THÁNH INAXU" - bài viết cho Hội Nghị thông báo Hán Nôm Học năm 2013 - có thể xem toàn bài trang này http://xuandienhannom.blogspot.com.au/2013/12/nguon-tu-lieu-tu-vung-ky-17-qua-khao.html

_______(2013) "Khảo cứu từ điển song ngữ Hán-Việt Đại Nam Quốc Ngữ - nguyên bản Nguyễn Văn San" NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội 7) Nguyễn Quang Hồng (2015) "Tự điển chữ Nôm dẫn giải" Tập 1 và 2 - NXB Khoa Học Xã Hội/Hội Bảo Tồn Di Sản Chữ Nôm (Hà Nội). 

8) Nguyễn Hồng (1959) "Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam - Quyển 1 - Các Thừa Sai dòng Tên 1615 - 1665" NXB Hiện Tại (Sài Gòn). 

9) Gustave Hue (1937) "Dictionnaire annamite-chinois-français" Imprimerie Trung-hoà - NXB Khai Trí (Sài Gòn) in lại năm 1971 theo bản gốc năm 1937. 10) Trương Vĩnh Ký J.B.P. (1884, 1920) "Petit dictionnaire francais annamite" Imprimerie de l'union Nguyễn Văn Của (SAIGON) 

11) Hoàng Thị Ngọ (1999) "Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh" NXB Khoa Học Xã Hội (Hà Nội).
________ (1999) "Phật Thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh - chữ Nôm và tiếng Việt" NXB Khoa Học Xã Hội - Hà Nội. 

12) Alexandre de Rhodes (1651) "Phép Giảng Tám Ngày" - Tủ Sách Đại Kết in lại từ Tinh Việt Văn Đoàn (1961 - Sài Gòn) với phần giới thiệu của tác giả Nguyễn Khắc Xuyên. 

_________(1651) “Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum” thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La; bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính - NXB Khoa Học Xã Hội, Thành Phố HCM (1991).
_________ “Tường Trình về Đàng Trong 1645” bản dịch của Hồng Nhuệ, NXB Ánh Sáng Publishing, Escondido (California/Mỹ, 1994?).
__________ "Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646" dịch giả Nguyễn Khắc Xuyên - Tủ sách Đại Kết, Thành phố HCM (1994).

13) Vũ Thanh Sơn (2009) "284 anh hùng hào kiệt của Việt Nam" NXB CAND 14) Jean Louis Taberd (1838) - tên Việt là cố Từ - "Dictionarium Annamitico-Latinum" Serampore (Bengale). 

15) Nguyễn Cung Thông (2015) "Con người suy nghĩ bằng bụng, dạ, ruột, gan hay tim … óc? (phần 6.1)" có thể xem toàn bài trang này http://www.daophatngaynay.com/vn/tai-lieu/tu-dien-tham-khao/12869-con-nguoi-suy-nghi-bang-bung-da-ruot-gan-hay-tim-oc.html ... (2016) "Cách nói xuống thuyền, trên trời, ra đời, Đàng Trong/Ngoài ... thời LM Alexandre de Rhodes (phần 1)" có thể xem toàn bài trang này http://chimvie3.free.fr/baivo/nguyencungthong/ncthong_CachDungXuongThuyenTrenTroiVa RaDoiP1.pdf (2016) "Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min ... Tiếng Việt thời LM de Rhodes" - có thể xem toàn bài trang này http://chimvie3.free.fr/baivo/nguyencungthong/ncthong_CachDungXuongThuyenTrenTroiVaRaDoiP1.pdf

(2018) "Tiếng Việt thời LM de Rhodes - dạng bị (thụ) động (passive voice) - phần 8" - có thể xem toàn bài trang này chẳng hạn http://chimvietcanhnam.blogspot.com/
(2019) "Tản mạn về tiếng Việt 'hiện tượng đồng hoá âm thanh' (phần 4) – phong phanh hay phong thanh?" - có thể xem toàn bài trên trang này chẳng hạn https://nghiencuulichsu.com/2019/01/07/tan-man-ve-tieng-viet-hien-tuong-dong-hoa-am-thanh-phan-4-phong-phanh-hay-phong-thanh/…v.v.

(2019) “Tiếng Việt thời LM de Rhodes - chên đơng hay chân đăng/đâng/nâng? (phần 15) - có thể xem toàn bài trên trang này chẳng hạn  ...v.v.
(2019) “Tiếng Việt thời LM de Rhodes: mùi, mồi, vị và bùi có cùng gốc - hiện tượng cảm giác kèm/synesthesia (phần 17)” - có thể xem toàn bài trang này http://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/tieng-viet-thoi-lm-de-rhodes-mi-moi-vi-v-bi-c-cng-goc-hien-tuong-cam-gic-kmsynesthesia-phan-17/ …v.v.

(2019) “Tiếng Việt thời LM de Rhodes: các từ chỉ màu sắc như ‘mùi xanh, sắc xanh, sắc biếc’ (phần 18)” - có thể xem toàn bài trang này http://conggiao.info/tieng-viet-thoi-lm-de-rhodes-cac-tu-chi-mau-sac-nhu-mui-xanh-sac-xanh-sac-biec-phan-18-d-50952  …v.v… 

16) Pierre-Gabriel Vallot (1898) "Dictionnaire franco-tonkinois illustré" NXB F.H. Schneider (Hà Nội). 

17) VTV Đài Truyền Hình VN (2007) YouTube (3/2017) "Ký sự Tân Đảo" loạt bài phóng sự về người VN ở Tân Đảo và Tân Thế Giới.
18) VTV4 (31/7/2015) YouTube "Biết đâu nguồn cội - The Roots" bộ phim tài liệu về lịch sử hình thành và phát triển 120 năm của cộng đồng người Việt tại Nouvelle Calédonie.

Nguyễn Cung Thông 

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2019

Tiếng Việt Thời LM De Rhodes: Các Từ Chỉ Màu Sắc Như 'Mùi Xanh, Sắc Xanh, Sắc Biếc'


Phần này bàn về các từ chỉ màu xanh như xanh, thanh và biếc vào thời các LM de Rhodes và Maiorica sang truyền đạo ở An Nam cho đến thế kỉ XX. Ít người biết xanh cũng gắn liền với nền thi ca Việt Nam qua truyện Kiều: hai nhân vật chính là Thúy Kiều và Thúy Vân. Tên gọi Thúy 翠 nghĩa là màu xanh lục, một tên thường đặt cho phái nữ. 

Từ ‘xanh’ hiện nay lại mang thêm một nghĩa thời thượng và đặc biệt liên hệ đến môi trường sạch (không ô nhiễm, không bị đen[1]), khác xa với nét nghĩa nguyên thủy và cơ bản của xanh từ thời cổ đại. Đảng Xanh (Green party/A) cũng xuất hiện ở các nước tân tiến với đại học xanh, kỹ nghệ xanh, môn hóa học xanh (Green chemistry) và phong trào "ngày chủ nhật xanh" vào năm nay (2019) ở VN. Bài này giới hạn vào các nét nghĩa của xanh/thanh, đặc biệt là cách dùng mắt xanh trong tiếng Việt. Các tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm của LM de Rhodes soạn: cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đôn Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn books.google.fr . Các chữ viết tắt khác là SSS (Sách Sổ Sang Chép Các Việc), NCT (Nguyễn Cung Thông), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), P (tiếng Pháp), ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), PG (Phật Giáo), CG (Công Giáo), VN (Việt Nam), TQ (Trung Quốc), HV (Hán Việt), BK (Bắc Kinh). Trang hay cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để người đọc tiện tra cứu thêm. Dấu hoa thị * là dạng âm cổ phục nguyên (reconstructed sound). Không nên lầm số phụ chú và số chỉ thanh điệu đứng sau một âm tiết. 

Theo lịch sử con người thì mắt thường có màu nâu, sau đó mới bắt đầu có mắt xanh[2] (blue eye/A) và di truyền cho đến ngày nay. Thế giới có khoảng 8% dân số có mắt xanh, nhưng ở vài địa phương bên Âu châu thì phần trăm này có thể lên đến 80%. 

Trong tiếng Việt, mắt xanh có phải chỉ con mắt màu xanh (hay "mắt xanh mũi lõ") như người phương Tây đã bàn đến ở trên? Ngôn ngữ và thi ca Việt Nam có những câu dùng mắt xanh một cách lãng mạn và tích cực, thí dụ như câu 2181/2182 trong truyện Kiều 

闭𥹰𦖑㗂𦟐桃
Bấy lâu nghe tiếng má đào
眜撑拯底埃𠓨固空
Mắt xanh chẳng để ai vào, có không 

Hay "ông ấy là người có mắt xanh, đã phát hiện và nâng đỡ nhiều nhà khoa học trẻ.","Lọt vào mắt xanh." … cũng như các bài thơ đã phổ nhạc như Chiều tím hay Tự Tình Dưới Hoa[3] của thi sĩ Đinh Hùng (khoảng giữa thập niên 1950 khi ông di cư vào Nam): 

Chưa gặp em, tôi vẫn nghĩ rằng: 
Có nàng thiếu nữ đẹp như trăng, 
Mắt xanh lả bóng dừa hoang dại,
Thăm thẳm nhìn tôi không nói năng. …v.v… 

Như vậy, mắt xanh thật sự có nghĩa là gì - ta hãy đi ngược dòng thời gian để tìm hiểu cho thêm chính xác cách dùng mắt xanh và các từ liên hệ. 

1. Từ thời VBL, LM de Rhodes (1651) đã nhận ra xanh có những nét nghĩa khác nhau như (a) xanh lá cây (viridis/L ~ green/A ~ vert/P) (b) yên lặng (không có gió bão) - VBL cho thí dụ là "blời xanh xanh[4] (trời xanh xanh)" (c) xanh là đen - VBL ghi thí dụ như "râu xanh, taóc (tóc) xanh" - để ý VBL trang 821 lại ghi thứ tự chữ ngược[5] là "xanh tóc" (capillus niger/L ~ tóc màu đen) và VBL trang 644 ghi "xanh râu" (barba nigra/L ~ râu màu đen) (d) xanh là gầy guộc/ốm yếu (xanh xao) - VBL cho thí dụ là "xanh mặt" 

VBL trang 883 
VBL trang 882 

Điều đáng chú ý là các LM Béhaine/Taberd (1772/1773-1838) từng ghi xanh và thanh có cùng một nghĩa (viridis/L) hay là xanh lá cây tuy cách kí âm (chữ Nôm) khác nhau: xanh[6] ghi là 𣛟 so với thanh 青. Tiếng La Tinh viridis lại có gốc là động từ vireo (“to be verdant, to sprout” ~ mọc lên - cho ra dạng vert/P là xanh lục), do đó màu xanh lá cây có liên hệ trực tiếp với cây cối khi vừa mọc lên. Điều này tương ứng với cách gọi xanh trong tiếng Việt (và Hán), cũng liên hệ đến sanh (sinh): Thích Danh 釋名 (khoảng 200 SCN) ghi青, 生也, 象 物之生時色也 thanh, sanh dã, tượng vật chi sanh/sinh thì sắc dã (hàm ý màu xanh là của cỏ cây mọc vào mùa xuân) - xem thêm chi tiết trong mục về chữ thanh/xanh phần sau.. Như vậy cũng giống như quá trình hình thành chữ green (Anh) là xanh, có nguồn gốc là *gʰreh (sinh ra, mọc ra) - từ Middle English grene < Old English grēne < Proto-Germanic *grōniz (so với tiếng West Frisian grien, Hà-Lan groen, Low German grön, green, greun, German grün, Swedish grön, Danish và Norwegian Nynorsk grøn, Norwegian Bokmål grønn), gốc của các dạng trên là động từ tiền Ấn-Âu Proto-Indo-European *gʰreh₁- (“to grow” ~ mọc lên). 

Thời VBL đã có phân biệt các màu (mùi) xanh (lá cây) và biếc (xanh da trời): trang 35/VBL ghi sắc biếc (color celestis/L ~ màu của bầu trời/NCT). So sánh các cách dùng trong câu 22a, Cư Trần Lạc Đạo Phú của vua Trần Nhân Tông (1258-1308) "Chơi nước biếc, ẩn non xanh", trang 15a Quốc Âm Thi Tập/Ức Trai Di Tập của Nguyễn Trãi (1380-1442) "Con mắt hòa xanh đầu dễ bạc, lưng khôn uốn, lộc nên từ" ... Rõ ràng là thời VBL và trước đó, tiếng Việt đã có khả năng phân biệt hai màu xanh (lá cây, xanh lục) và biếc (xanh da trời, xanh lam). Tuy nhiên, cách dùng "trời xanh xanh"/VBL cũng cho thấy khả năng lẫn lộn giữa hai màu này vào thời LM de Rhodes cho đến thời LM Béhaine/Taberd (ghi xanh và thanh với cùng một nghĩa là viridis/L) và cho đến ngày nay[7]. Để chỉ trời xanh, các từ HV có thể là thanh thiên 天 ~ bích không 碧空 ~ 蒼旻/苍旻 thương mân ~ 蒼天/苍天 thương thiên ~ huyền thiên 玄天 ~ 青霄 thanh tiêu ~ 青冥 thanh minh 青 [8] ... Trong đó, các từ thanh/bích và huyền đều có khả năng ghép với mắt để cho ra dạng mắt xanh, mắt biếc và mắt huyền để chỉ mắt đen - thời VBL chỉ ghi cách dùng mắt xanh mà thôi và không thấy ghi từ huyền. 

Hiện tượng lẫn lộn các màu xanh - xanh lá cây/lục, xanh da trời/xanh lam, xanh đậm - thật ra không chỉ xẩy ra trong tiếng Việt, nhưng cũng hiện diện trong các ngôn ngữ khác trên thế giới như tiếng Nhật, Thái, Hàn, Lakota Sioux (dùng một từ để chỉ xanh lá cây/green và xanh da trời/blue) ...v.v... Một cách giải thích khuynh hướng lẫn lộn trên là tế bào cảm giác màu xanh lá cây/lục và màu xanh lam có mức hấp thụ hay phản ứng (response) nằm xa nhau, nên mắt người phân biệt về các màu xanh không tốt (hay độ chính xác của phân màu nhỏ). Còn tế bào cảm giác màu đỏ và màu xanh lá cây có mức hấp thụ rất gần nhau (do đó độ chính xác khi phân màu rất cao) nên vậy mắt người phân biệt được rất nhiều màu nằm giữa màu đỏ và xanh lá cây. Thí dụ như 7 màu cơ bản của cầu vồng đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm và tím: giữa đỏ và lục có màu cam và vàng, không có màu cơ bản nào giữa lục (xanh lá cây) và lam (xanh da trời). Biểu đồ phản ứng tương đối (Relative Response) của mắt bên so với độ dài sóng (Wavelength) dưới trích từ trang unm.edu


Trở lại với nét nghĩa "đen" của xanh đã được ghi trong VBL, đây không phải là ngẫu nhiên mà LM de Rhodes đã nhận ra - dù ông rất có thể không biết đến điển tích và các nét nghĩa cổ hơn của thanh/xanh từ tài liệu Hán cổ như các chi tiết trình bày trong phần sau. 

2. Các nét nghĩa của thanh/xanh 

2.1 Chữ thanh 青 𤯞 chỉ màu xanh lá cây (thanh mẫu thanh 清 vận mẫu thanh 青 bình thanh, khai khẩu tứ đẳng) có các cách đọc theo phiên thiết 倉經切, 音鶄 thương kinh thiết, âm thanh/tinh (TVGT, ĐV, QV, TV, LT, TG 字鑑, LTCN 六書正𨫠).

TVGT ghi 从生丹 tùng sanh đan (cho thấy liên hệ đến sanh/sinh), cũng như Thích Danh (còn gọi là Nhĩ Nhã 爾雅) 釋名 ghi 靑,生也 thanh, sanh/sinh dã.

千定反 thiên định phản (LKTG): để ý vần -inh (như thinh so với vần -anh trong dạng thanh)

子零反 tử linh phản (ThVn 釋文)
子丁切 tử đinh thiết (NT, LT)
子丁反 tử đinh phản (ThVa 釋文)
子丁切 tử đinh thiết (TV, VH, TTTH)
千定切 thiên định thiết (TTTH)
TNAV ghi vận bộ 庚青 canh thanh (dương bình)

CV ghi cùng vần/bình thanh 清 請 圊 青 鯖 (thanh tình/thỉnh chinh)
CV cũng ghi cùng vần/bình thanh 精 菁 青 旌 旍 晶 蜻 鶄 睛 (tinh thanh tình)

七情切 thất tình thiết (CV, TVi) - TVi ghi âm thanh 音清子盈切 tử doanh thiết (CV, TVi) - TVi ghi âm tinh 音精七星切,音清 thất tinh thiết, âm thanh/thinh (CTT) ..v.v...

Giọng BK bây giờ là qīng jīng so với giọng Quảng Đông cing1 ceng1 và các giọng Mân Nam 客家话:[梅县腔] ciang1 [海陆丰腔] ciang1 [东莞腔] ziang1 [台湾四县腔] ciang1 [宝安腔] ciang1 [陆丰腔] ciang1 [客语拼音字汇] qiang1 qiang4, giọng Mân Nam/Đài Loan là chheN1, tiếng Nhật sei shou và tiếng Hàn cheng.

Dựa vào các phương ngữ và phiên thiết, một âm cổ phục nguyên của thanh là *shleːŋ mà tiếng Việt cò bảo lưu dạng xanh (tiếng Sách là sɛŋ, tiếng Mường Bi là xanh). Nghĩa cổ nhất của thanh là xanh lá cây[9] (phù hợp với cách ghi nhận của Thích Danh/Nhĩ Nhã), như theo Tuân Tử (316 TCN? – 237 TCN?) 荀子: Thanh thủ chi ư lam, nhi thanh ư lam 青取之於藍, 而青於藍 - màu xanh từ cỏ lam mà đậm hơn cỏ lam (Khuyến học 勸學). Nét nghĩa màu xanh lá cây phù hợp với các dạng khắc/vẽ cổ đại của chữ thanh: tượng hình cây cỏ mọc trên một cái giếng nước (井 tỉnh) - xem các hình bên dưới về quá trình hình thành chữ thanh, có thể tham khảo thêm chi tiết trên trang này chẳng hạn hanziyuan.net
Sau thời VBL, LM Taberd (1838, sđd) còn ghi serenum/L là "trời thanh" (trời chẳng có mây, trời lặng), và viridis/L là xanh (da trời). LM Génibrel (1898, trang 859 sđd) sau đó cũng ghi thức xanh[10] là couleur verte (xanh lá cây), thức thanh là couleur bleue và thức đen là couleur noire. VBL cũng ghi biếc là xanh da trời (sắc biếc ~ color celestis/L - VBL trang 35). LM Béhaine/Taberd thì ghi biếc là bích HV 碧 (caeruleus[11]/L ~ xanh da trời). Như vậy là vào thời VBL, tiếng Việt đã dùng hai từ xanh (lá cây) và biếc[12] (xanh da trời) để phân biệt hai màu khác nhau này. Tới thời LM Génibrel (1898, sđd) cũng còn ghi hai cách dùng thanh cân (khăn búi tóc màu xanh lá cây - coiffure de couleur bleue) và bích cân (khăn búi tóc màu xanh da trời - coffure de couleur verte). Tuy nhiên vấn đề trở nên phức tạp hơn khi thanh cũng có nghĩa là lặng yên, còn đọc là thinh và viết bằng bộ thủy hợp với chữ thanh hài thanh 清. VBL trang 767 ghi các thí dụ như thinh trời (trời không có gió, yên lặng), thinh biển (biển không động, biển lặng hay không có sóng). Chính nét nghĩa "lặng" (VBL) cho ta cơ sở giải thích cách dùng "làm thinh[13]" (giữ yên lặng - VBL trang 767) với nghĩa tương tự trong tiếng Việt hiện đại. Đây là một chủ đề thú vị cần bàn sâu thêm, nhưng không nằm trong phạm vi bài viết này. Một nghĩa cổ nữa của thanh là đen mà rất ít người biết đến. 

2.2 Thanh nghĩa là màu xanh da trời[14]/xanh nước biển 

Hồng Phạm Ngũ Hành Truyện (Lưu Hướng viết vào thời Tây Hán) ghi 時則有青眚青祥. thì tắc hữu thanh sản thanh tường. TVGT giải thích 青,東方色也 thanh, đông phương sắc dã. Điều này cho thấy thanh đã chỉ hai màu xanh lá cây và xanh lam (xanh nước biển, xanh lơ, xanh da trời) trong các tài liệu Hán cổ.

2.3 Thanh/xanh là màu đen - mắt xanh 

Sau nghĩa màu xanh, thanh còn có nghĩa là màu đen[15] như thanh ngưu 青牛 con bò đen, thanh hồ 青狐 (con cáo đen), thanh bố 青布 vải đen, thanh y 青衣 áo đen - thanh y nhân 青衣人 chỉ người giúp việc (sai vặt), xưa thường mặc vải đen … Theo Tấn Thư (năm 648), quyển 49, truyện viết về Nguyễn Tịch 阮籍 (210-263) - một nhà thơ và nhạc sĩ nổi tiếng vào thời Đông Hán, cũng là một trong Trúc Lâm Thất Hiền (bảy nhà văn/học giả thời Hán ở rừng túc). Tương truyền khi mẹ Nguyễn Tịch mất, bạn bè thân như Kê Khang đến thăm (đem theo rượu) nên ông rất thích thú - điều này thể hiện trên nét mặt của ông qua mắt xanh hay lộ tròng mắt đen (thanh nhãn 青眼, còn gọi là thanh mục 青目, thanh lãi 青睞). Khi tiếp người ông không ưa thì nhìn nghiêng và để lộ tròng mắt trắng (bạch nhãn 白眼). Cách dùng thanh nhãn (mắt xanh) còn thấy vào thời Đường, như qua thơ của Đỗ Phủ (712-770) trong Đoản Ca Hành: trọng tuyên lâu đầu xuân sắc thâm,thanh nhãn cao ca vọng ngô tử; hay thời Tống trong thơ của Hoàng Đinh Kiên (1045-1105): chu huyền dĩ vi giai nhân tuyệt, thanh nhãn liêu nhân mĩ tửu hoành. Nhà văn Bồ Tùng Linh (1640-1715) trong truyện "Liêu Trai Chí Dị - Tửu cuồng"cũng dùng thanh nhãn: cổ trọng ấp tạo mạo nhân,thả chúc thanh nhãn…v.v… Mắt xanh cũng hiện diện trong VBL sau 16 thế kỉ để chỉ mắt đen, và cho đến ngày nay với nghĩa đã mở rộng (thay đổi) tuy vẫn còn mang tính tích cực (so với mắt trắng/trắng mắt mang tính tiêu cực).

2.4 Mắt xanh chỉ bạn thân

Nghĩa đen của mắt xanh (mắt đen) đã mở rộng để chỉ bạn bè thân thiết như trong thơ của Quyền Đức Dư (759-818): khách sầu thanh nhãn biệt, gia hỉ ngọc nhân quy ("Tống Lô Bình - sự vụ châu tỉnh cận"); Nhà sử học Tư Mã Quang (1019–1086) thơ: hô nhân thủ thứ cụ bôi bà, thanh nhãn tương phùng hỉ vô cực…v.v… 

2.5 Mắt xanh chỉ thời niên thiếu 

Thanh/xanh còn mở rộng nghĩa để chỉ tuổi trẻ như thanh niên 青年, thanh xuân 青春, mắt xanh. Nhà thơ đời Đường Trương Hỗ (785—849) từng dùng mắt xanh để chỉ thời niên thiếu: tương phùng thanh nhãn nhật,tương thán bạch đầu thì ("Hỉ Vương Tử Tái - thoại cựu"). 

2.6 Cách dùng mắt xanh trong tiếng Việt hiện đại 

Màu xanh thường tiêu biểu cho hình ảnh thoải mái, yên bình và tích cực như trời xanh, tóc xanh, cây xanh, non xanh, mây xanh ... Nghĩa mở rộng và tích cực của mắt xanh (thanh nhãn) là để thể hiện sự ưng ý (vừa lòng, hàm ý khen) như cách nhìn của nữ giới đối với nam giới (truyện Kiều, câu 2182 đã trích ở phần trên). Ngoài ra, mắt xanh còn chỉ sự phát hiện nhân tài như như trong cách nói[16] "ông ấy là người có mắt xanh, đã phát hiện và nâng đỡ nhiều nhà khoa học trẻ". Ca dao tục ngữ cũng nêu cao tính tích cực của mắt đen so với mắt trắng 

Người khôn con mắt đen sì
Người dại con mắt nửa chì nửa than …
Con lợn mắt trắng thì nuôi
Những người mắt trắng đánh rồi đuổi đi …
Những người mắt trắng môi thâm 
Trai thì trộm cắp gái dâm cướp chồng[17] ...v.v... 

3. Cơ sở giải thích sinh vật của điển tích ‘mắt xanh’ 

Tương tự như nguồn gốc của chữ xanh - từ cây cối lúc mọc hay sanh ra, dù là tiếng Anh/Pháp hay Hán - mắt xanh (mắt đen) cũng có thể giải thích qua cấu trúc của con mắt con người. Đồng tử (pupil/A), lỗ tròn bên trong mống mắt, có khả năng thay đổi kích thước tùy theo mức độ ánh sáng của môi trường và trạng thái (tinh thần và thể chất) của cá nhân. Hình sau trích từ trang idesign.vn


Xem lại điển tích về Nguyễn Tịch có mắt xanh và mắt trắng, khi ông thích và chú ý đến người nào (hay sự vật gì) thì đồng tử của ông mở rộng để tiếp nhận ánh sáng vào mắt nhiều hơn, và để ông nhìn thấy nhiều chi tiết mà mình muốn nhìn hơn. Chính sự nở ra (dilation) của đồng tử làm cho mống mắt trở nên đen hơn bình thường và từ đó ta có cách dùng mắt xanh (thanh nhãn ~ mắt đen) để chỉ sự ưng ý hay tích cực. Ngược lại với trường hợp mắt xanh, khi không muốn "nhìn ai" thì đồng tử nhỏ lại và làm cho màu mống mắt nhạt đi hay trở thành "mắt trắng" hơn so với bình thường. Bạn đọc có thể xem chi tiết về hoạt động giãn nở của đồng tử mắt tùy theo cường độ ánh sáng trên youtube trang này chẳng hạn google.com hay trang youtube.com …v.v… 

Tóm lại, mùi xanh/mắt xanh (VBL) cho thấy tiếng Việt vẫn còn bảo lưu dạng cổ xanh của thanh và có khuynh hướng dùng thanh để chỉ màu xanh da trời so với xanh chỉ màu xanh lá cây. Điều này phù hợp với quá trình cấu tạo chữ thanh, một màu liên hệ đến giai đoạn cây cối vừa mọc ra (sanh ra - xanh tươi). Tiếng Trung (Hoa) hiện đại ít dùng từ thanh/xanh[18] so với lam (xanh da trời) và lục (xanh lá cây). Vào thời LM de Rhodes cho đến thời LM Béhaine/Taberd, tiếng Việt đã dùng biếc (sắc biếc/VBL) để chỉ màu xanh da trời so với xanh (mùi xanh/VBL) chỉ màu xanh lá cây. Tuy nhiên, biếc sau này lại dùng để chỉ cây cối xanh sẫm (truyện Kiều[19]) và không thông dụng như xanh và do đó tạo ra sự pha trộn (dùng chung) của hai màu xanh như trong tiếng Việt hiện đại. Vấn đề trở nên thú vị khi thanh hay thinh có nghĩa là trong (lặng yên, bộ thủy hợp với chữ thanh biểu âm), làm cách dùng trời xanh hay trời thanh có phần giống nhau, đặc biệt là khi trời trong (không mây) thì cũng là lúc trời có màu xanh tự nhiên - hai hiện tượng này luôn đi đôi với nhau. Thanh còn có nghĩa là màu đen, dẫn đến cách dùng thanh nhãn (‘mắt xanh’ thật ra là 'mắt đen') thể hiện sự vui lòng hay ưng thuận. Nét nghĩa này có thể giải thích bằng sự nở ra (mở rộng kích thước) của đồng tử con mắt khi muốn quan sát điều mình thích thú hay khi mình chú ý đến ai[20]. Màu xanh lá cây còn được dùng trong bảng Swadesh (Swadesh list) để so sánh liên hệ giữa các ngôn ngữ vì các từ chỉ màu xanh thường được dùng khá ổn định[21] (không vay mượn trừ khi trong cùng một họ ngôn ngữ). Tính chất ổn định thấp của chữ thanh (xanh) còn thấy trong cách dùng thanh lâu 青樓: thời cổ đại chỉ cung điện của vua chúa hay các bậc quyền quý, nhưng từ thời Đường Tống lại có nghĩa là kĩ viện[22]. Hi vọng người đọc thấy thích thú/quan tâm với các gợi ý của bài này và sẽ tìm hiểu sâu xa hơn về tiếng Việt phong phú của chúng ta, cũng như khám phá thêm những hiện tượng ngôn ngữ thú vị dựa vào các tiến bộ khoa học cận đại. 

4. Tài liệu tham khảo chính và phê bình thêm 

1) Đào Duy Anh (1974) "Từ điển truyện Kiều" NXB Khoa Học Xã Hội (Hà Nội). 
2) Gabriel Aubaret (1867) "Vocabulaire français-annamite & annamite-français & grammaire" in năm 1867, viết xong năm 1863. Sĩ quan hải quân Aubaret thông thạo chữ Nho và chữ quốc ngữ. 
3) Pigneau de Béhaine (1772/1773) - Bá Đa Lộc Bỉ Nhu "Dictionarium Annamitico-Latinum" Dịch và giới thiệu bởi Nguyễn Khắc Xuyên, NXB Trẻ (Thành Phố HCM - 1999). 
(1774/Quảng Đông - Địa phận Đàng Trong tái bản năm 1837) "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ" 聖教要理國語 viết bằng chữ Nôm theo dạng Hỏi-Thưa. Y Doãn Ninh/Lê Bảo Tịnh phiên âm và chú giải, La Vang Tùng Thư xuất bản (Mỹ).
4) Huỳnh Tịnh Của (1895/1896) "Đại Nam Quấc Âm Tự Vị" Tome I, II - Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4 rue d'Adran (SaiGon). 
5) J. F. M. Génibrel (1898) "Dictionnaire annamite français" Imprimerie de la Mission à Tân Định (SaiGon). 
(1906) "Petit dictionnaire annamite français" Imprimerie de la Mission à Tân Định (SaiGon). 
6) Nguyễn Quang Hồng (2015) "Tự điển chữ Nôm dẫn giải" Tập 1 và 2 - NXB Khoa Học Xã Hội/Hội Bảo Tồn Di Sản Chữ Nôm (Hà Nội). 
7) Nguyễn Hồng (1959) "Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam - Quyển 1 - Các Thừa Sai dòng Tên 1615 - 1665" NXB Hiện Tại (Sài Gòn). 
8) Trương Vĩnh Ký J.B.P. (1884, 1920) "Petit dictionnaire francais annamite" Imprimerie de l'union Nguyễn Văn Của (SAIGON) 
9) Lý Lạc Nghị (1997/1998) "Tìm về cội nguồn chữ Hán" Jim Waters biên soạn, GS Trần Nghĩa/Vương Lộc hiệu đính - NXB Thế Giới (1998, Hà Nội). 
10) Alexandre de Rhodes (1651) "Phép Giảng Tám Ngày" - Tủ Sách Đại Kết in lại từ Tinh Việt Văn Đoàn (1961 - Sài Gòn) với phần giới thiệu của tác giả Nguyễn Khắc Xuyên. 
(1651) “Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum” thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La; bản dịch của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính - NXB Khoa Học Xã Hội, Thành Phố HCM (1991). 
“Tường Trình về Đàng Trong 1645” bản dịch của Hồng Nhuệ, NXB Ánh Sáng Publishing, Escondido (California/Mỹ, 1994?). 
"Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646" dịch giả Nguyễn Khắc Xuyên - Tủ sách Đại Kết, Thành phố HCM (1994). 
11) Jean Louis Taberd (1838) - tên Việt là cố Từ - "Dictionarium Annamitico-Latinum" Serampore (Bengale). 
12) Nguyễn Cung Thông (2016) "Cách nói xuống thuyền, trên trời, ra đời, Đàng Trong/Ngoài ... thời LM Alexandre de Rhodes (phần 1)" có thể xem toàn bài trang này chimvie3.free
(2016) "Cách nói tôi, ta, tao, tớ, qua, min ... Tiếng Việt thời LM de Rhodes" - có thể xem toàn bài trang này chimvie3.free.fr
(2018) "Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes - Kinh Lạy Cha (phần 5A)" có thể xem toàn bài trên trang nghiencuulichsu.com hay facebook.com ...v.v... 
(2018) "Tiếng Việt từ thời LM de Rhodes - Kinh Lạy Cha (phần 5B)" có thể xem toàn bài trên vandoanviet.blogspot.com …v.v… 
13) Tuệ Tâm (2018) "Màu xanh – Màu sắc tượng trưng cho hy vọng của phương Đông" bài viết đăng trên mạng Tinh Hoa trang tinhhoa.net
14) Pierre-Gabriel Vallot (1898) "Dictionnaire franco-tonkinois illustré" NXB F.H. Schneider (Hà Nội). 

Nguyễn Cung Thông 

[1] Tại sao lại không dùng môi trường trong/sạch, trắng hay các màu khác mà lại mà lại dùng màu xanh lá cây? 
[2] Theo một báo cáo khoa học gần đây từ đại học Copenhagen (2008) cho thấy đầu tiên có một người (ancestor - ông bà/tổ tiên) có mắt xanh cách đây khoảng 6 đến 10 ngàn năm. Đây là do sự đột biến gene (genetic mutation) - xem toàn bài trang này chẳng hạn sciencedaily ...v.v... 
[3] Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc (1957) qua tựa đề "Mộng dưới hoa" rất nổi tiếng về sau. Có một số tài liệu ghi câu thơ thứ ba là "Mắt xanh là bóng dừa hoang dại". 
[4] Theo cấu trúc Việt ngữ thì xanh xanh là hơi xanh, có lẽ "trời xanh xanh" (VBL) là trời thanh (trong) xanh vì thanh vẫn có thể hoán chuyển cho xanh. Quá trình biến đổi từ phụ âm xát/đầu lưỡi thành phụ âm tắc/đầu lưỡi chưa hoàn toàn chấm dứt vào thời LM de Rhodes sang An Nam: thí dụ như vi sang vẫn có thể dùng vi thang, lơ xơ ~ lơ thơ, Thuận (Thŏận) Hóa ~ Sinua, nguyệt sa (nguyệt thoa). 
[5] Điều này cho thấy khả năng tính từ có thể đứng trước danh từ vào thời VBL như cả trong các cách dùng cả lòng (tiếng Việt bây giờ là lớn gan), cả tiếng (tiếng Việt bây giờ là lớn tiếng), cả sáng, cả bụng, cả gan, cả giận, cả lời (tiếng Việt bây giờ là nhiều lời), cả sức … Thành ngữ tiếng Việt vẫn bảo lưu nét nghĩa cả (lớn): cả gan, cả ăn cả ỉa, cả mô là đồ làm biếng, cả vú lấp miệng em, cả lưng rộng háng, cả hơi lớn tiếng …v.v… 
[6] Xanh có các dạng chữ Nôm dùng bộ mộc 𣛟 (có lý hơn vì liên hệ đến cây cối), chữ thanh 青 hay sau này lại dùng bộ thủ 撑, chữ sanh/sinh 生, chữ sanh/sinh biểu âm hợp với chữ thanh biểu ý ...v.v... 
[7] Có thể tiếng La Tinh không có từ đặc biệt chỉ màu xanh da trời (so với viridis ~ xanh lá cây) nên tiếng Pháp dùng từ bleu, tiếng Ý blu có gốc Germanic - tiếng Tây-Ban-Nha và Bồ-Đào-Nha lại dùng azul có gốc Ả-Rập. Tiếng Pháp bleu nhập vào tiếng Anh để cho ra dạng blue. 
[8] Minh bộ mịch 冥 là tối tăm, thăm thẳm (như bầu trời cao xa) - không nên lầm với Thanh Minh (tết) 清明 với minh bộ nhật 明 lại có nghĩa là vào khoảng thời gian ngày mùng 4 đến ngày mùng 6 tháng 4 hàng năm. 
[9] Còn gọi là xanh lá cam theo Aubaret, P.G. Vallot hay Génibrel (sđd). 
[10] ĐNQATV (Tome II) trang 370 ghi màu thanh là màu xanh, sắc thanh là sắc xanh. 
[11] caeruleus là chữ ghép từ caelum (bầu trời) hợp với hậu tố -uleus (làm nhỏ lại). Caeruleus có các nghĩa (a) thuộc về biển (b) thuộc về trời (c) liên hệ đến sông hay thần sông (d) màu đậm (xanh đậm) (e) tối tăm, ảm đạm 
[12] Học giả Mao Hoảng 毛晃 (thời Tống) ghi rõ nghĩa của biếc là 深靑色 thâm thanh sắc (màu xanh đậm ~ xanh da trời). Vốn từ HV còn có các từ lam 藍, thương 蒼 chỉ màu xanh thẫm. Lục 綠 là màu xanh (lá cây). Các từ biếc, lam, lục thường dùng chung với xanh trong tiếng Việt để chỉ nghĩa rõ hơn như xanh lam, xanh biếc, xanh lục ... Các từ ghép khác cho rõ nghĩa hơn (Taberd/1838) là xanh lè, xanh lẻo, xanh dờn dờn, xanh nghịt nghịt ... 
[13] LM Béhaine/Taberd (17172/1773-1838) lại ghi thinh chữ Nôm là thanh 聲 bộ nhĩ. Điều này dẫn đến các cách giải thích khác nhau về nguồn gốc cách dùng "làm thinh". GS Trần Quốc Vượng đề nghị “làm thinh” nói lên Phật tính trong tiếng Việt, cũng như áo ấm và áo lạnh, đánh bại và đánh thắng (Trong Cõi) …v.v… 
[14] Aubaret (1867, sđd) ghi là sắc da trời, xanh da trời, màu xanh da trời (bleu/P). 
[15] Theo "Từ nguyên" Thương Vụ Ấn Thư Quán, Bắc Kinh (2004). Các nghĩa khác của thanh như địa danh, họ của người TQ, vỏ cây tre không nằm trong phạm vi của bài viết này. Cách dùng mắt xanh (thanh nhãn) tương tự như mây xanh (thanh vân 青雲) với nghĩa không hẳn liên hệ đến màu xanh (như trong ngôn ngữ hiện đại). 
[16] Trích từ bài viết "Mắt xanh là gì?" của Phạm Tuấn Vũ - đăng trên trang mạng Bình Định on line (26/5/2018). 
[17] Các câu ca dao này có thể thay đổi trong dân gian như "ví chẳng hại chồng thì cũng hại con", tuy nhiên vẫn mang hàm ý chính là chê bai (tiêu cực). 
[18] Vấn đề trở nên phức tạp khi âm *xanh thời xưa cũng từng chỉ màu đỏ như chữ hiếm thanh 綪 (tần số dùng 93 trên 238569519) cùng cách đọc với thanh (xanh) 倉經切,音靑 thương kinh thiết, âm thanh (TV). Chữ hiếm xanh/sanh/trinh 赬 䞓 𧹙 浾 泟 cũng có nghĩa là màu đỏ. Đây là các chủ đề cần được tra cứu sâu xa hơn để hiểu rõ hơn các cách dùng đặc biệt trên. 
[19] Truyện Kiều dùng thanh (xanh) 2 lần, xanh 12 lần, biếc 4 lần, lục (xanh lá cây) 3 lần. Trời xanh (dùng 1 lần): trời xanh quen thói má hồnng đáng ghen (câu 6). Mắt xanh xuất hiện 1 lần trong truyện Kiều. 
[20] Cũng như máy ảnh (camera) cần ánh sáng để chụp hình cho rõ, mắt người dựa vào kích thước của đồng tử để nhìn thấy chi tiết hơn. Đồng tử của mắt sẽ mở rộng khi phải tập trung (não bộ) để giải quyết vấn đề, hay khi đối diện một trường hợp hiểm nghèo (đồng tử mở lớn ra để cho thấy chi tiết hơn) và khi dùng một số chất kích thích như cocaine, amphetamine ... 
[21] Xanh/thanh hiện diện trong tiếng Việt và tiếng Hán cho thấy nhà ngôn ngữ Morris Swadesh không thật sự chính xác khi dùng từ chỉ màu xanh cho bảng so sánh gồm 100 từ (1971). Cũng như tiếng Tagalog (ở Phi-Luật-Tân) dùng từ asul chỉ màu xanh da trời và berde chỉ màu xanh lá cây (mượn từ tiếng Tây-Ban-Nha azul và verde) dù đã có từ bugháw và lunti(án) từ xa xưa. Nghiên cứu của Eric W. Holman và đồng nghiệp gần đây (2008) cho thấy mức ổn định (stability) của từ xanh lá cây (green/A) là 21.1% so với từ chỉ con chí (louse/A) 42.8% và số 2 (two/A) 39.8%. Thí dụ như bảng so sánh Leipzig–Jakarta (2009) không có từ chỉ màu xanh (blue, green) nhưng có từ chỉ màu đen (black/A) và đỏ (red/A) như trong bảng Swadesh. 
[22] Kỹ viện là chỗ các kỹ nữ tá túc (nhà chứa, nhà thổ, lầu xanh ~ thanh lâu). Đây cũng là nghĩa hiện đại của lầu xanh. Trong truyện Kiều, lầu xanh xuất hiện 8 lần so với thanh lâu 1 lần: Lầu xanh có mụ Tú Bà (câu 809). 
[23]Nghiên cứu ngôn ngữ độc lập ở Melbourne(Úc)
email nguyencungthong@yahoo.com

Nguyễn Cung Thông