Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

Phép Đối Trong Thơ Đường Luật


Nếu so sánh với các thể thơ khác, thơ Đường Luật có điểm đặc sắc nhất, độc đáo nhất chính là phép Đối ở hai câu 3-4 (Thực) và 5-6 (Luận).
Một bài thơ Đường Luật mà không có đối thì không còn là thơ Đường Luật.
Chính phép đối này đã từng khiến tôi rất khó khăn khi học và làm thơ Đường Luật.
Thế nào mới gọi là đối, đối thế nào cho đúng trong thơ Đường Luật?
Câu hỏi ấy luôn theo tôi trong thời gian trước.  Xin được nêu ra đây với mục đích trao đổi, học hỏi với Quý Cô Bác Anh Chị và những ai yêu thích thơ Đường Luật.

Các Phép Đối Trong Thơ Đường Luật

1 - Phép Chỉnh Đối : Đây là phép đối thông dụng nhất, các chữ của câu trên và câu dưới theo thứ tự đối nhau từng chữ một hay từng cặp chữ kép một.
 

Lom khom dưới núi tiều vài chú 
Lác đác bên sông chợ mấy nhà. 

Lưng khoang tình nghĩa dường lai láng
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh


2 - Phép Tá Đối :
Còn gọi là Bất Đối Chi Đối. Đối ý mà không đối chữ. Cách đối này, Tiền Nhân rất thích dùng theo quan niệm Ý trọng hơn Từ.

Vàng tung cánh hạc bay bay mãi
Trắng một màu mây vạn vạn đời


- Hai câu này nếu so chữ, chúng ta thấy chẳng hề đối theo phép Chỉnh Đối. Nhưng ý lại đối rất chặt chẽ
 

Rượu thấm hơi bầu khôn cũng dại
Cờ lâm nước bí dưới quên trên
 

Như hai câu trước, hai câu này cũng không hề đối nhau.
- Chữ Bầu là Danh từ, chữ Bí là Động từ có nghĩa tắt nghẽn, không thể đối. Nhưng tác giả mượn nghĩa chBí cũng là một loại trái như Bầu để đối lại
. "Khôn cũng dại" và "dưới quên trên", không cùng tự loại không thể đối, nhưng xét về ý thì đối rất chỉnh.

 
3 - Phép Đối Lưu Thuỷ : ý câu dưới tiếp ý câu trên 

Còn chăng lời hẹn bên trang sách,
Hay đã tàn theo ánh lửa đèn.


- Chúng ta thấy hai câu này không thể đối nhau. Nhưng 
ý được nối tiếp với nhau


4 - Phép Tiểu Đối:
Tự đối nhau
trong từng câu. Câu trên tự đối thì câu dưới cũng thếHai câu đều tự đối. Tự Đối dùng để đối với Tự Đối. 
Cướp của đánh người quân tệ nhỉ
Xương gà da cóc có đau khôn
 

- Cướp của đối với đánh người. Xương gà đối với da cóc.
                 

Nếu quả trời xanh ghen má phấn
Đừng mong cưới vợ để sinh con
 

- Trời xanh đối với Má phấn. Cưới vợ đối với Sinh con.
- Trong câu này có thêm phép Đối Lưu Thuỷ.

5 - Phép Đương (Đan) Đối: Còn gọi là Giao Cổ Đối. Từng nhóm hay từng chữ của câu trên đối chéo với  từng nhóm hay từng chữ của câu dưới

Chân bước vững đường chiều khấp khểnh
Rừng cây rậm rạp trúc vươn cao.
 

- Chân bước vững của câu trên đối chéo với trúc vươn cao của câu dưới
- đường chiều khấp khểnh của câu trên đối chéo với Rừng cây rậm rạp của câu dưới.
 

Bèo mây xuôi ngược nhiều sương nắng
Thương nhớ ngày đêm lẫn tủi hờn

- Bèo mây của câu trên đối chéo với Ngày đêm của câu dưới
- Xuôi ngược của câu trên đối chéo với Thương nhớ của câu dưới
Trong 2 câu này còn có Tiểu Đối:
- Bèo mây đối với Sương nắng.
- Thương nhớ đối với Tủi hờn.  

Kết Luận
Do ngày nay, những người làm thơ Đường Luật hầu hết đều làm thơ theo phép Chỉnh Đối, dần dà quên đi các phép đối khác. Từ nguyên nhân này, một số người đã ngộ nhận trong Thơ Đường Luật chỉ có một phép đối duy nhất. Vì thế, khi gặp một bài thơ áp dụng những phép đối khác, đã vội cho rằng sai luật đối, kể cả những bài thơ của các Tiền Nhân.

Huỳnh Hữu Đức 


Hồ Biểu Chánh, Ánh Hoàng Hôn Cựu Trào Qua Truyện Dài ''Tơ Hồng Vương Vấn''


Quê Nam Một Cõi
Chương Một

Nhắc tới Hồ Biểu Chánh, chúng ta nghĩ tới một tiểu thuyết gia theo khuynh hướng ''văn dĩ tải đạo'', lấy việc răn đời làm gốc. Nhưng đây cũng là kẻ viết theo khuynh hướng tâm lý ái tình, tuy nhiên đó là thứ tâm lý đóng khung trong lễ giáo, chết cứng và hóa thạch trong luân lý Khổng Mạnh, không thể vượt thoát ra một khung trời cao rộng gồm thiên hình vạn trạng nhân sinh quan phóng khoáng hơn và cởi mở hơn.

Hồ Biểu Chánh, bậc tiền bối của các cây bút Nam Kỳ chúng ta khởi nghiệp văn chuơng vào những năm cuối của thập niện 20 (của thế kỷ20). Đuờng lối viết lách của tiên sinh trước sao sau vậy, qua tới giữa thập niên 50 vẫn không thay đổi một mảy lông sợi tóc nào trong vấn đề nhân sinh quan, lý tưởng, trong cuộc sống phồn tạp và tiến bộ về văn hóa, tư tưởng, trong đường lối giáo dục của mọi tầng lớp hậu sinh của cụ.

Chúng ta phải tự hỏi, sau bao nhiêu vận nước nổi trôi, trải qua bao nhiêu thời đại, bao nhiêu thế hệ, vậy mà văn chương của Hồ Biểu Chánh vẫn còn được nhiều lớp độc giả hậu sinh chiếu cố? Có phải chăng tài hoa của cụ vượt dòng đào thải của thời gian? Có phải nó là tiếng đồng vọng lảnh lót và vang xa của cái thời đại mà cụ đã sống, đã cầm bút? Thật khó mà trả lời. Như chúng ta cũng thừa biết cái cấu trúc và cách dựng truyện của Hồ tiền bối cẩu thả, cách diễn tả của cụ thật bộc trực nếu không bảo là luông tuồng. Cụ ít khi viết văn, ít khi tả cảnh tả người chu đáo, thường là vài nét khái quát. Cũng như nhà văn Lê văn Trương, cụ hay thuyết lý, ưa trình bày cái nhân sinh quan của mình. Nhưng nhân sinh quan của cụ lâu lâu mới le lói một vài nét đặc thù của mình. Tuy nhiên, khi đọc tiểu thuyết của cụ, cớ sao người thưởng ngoạn bị cụ thôi miên hồi nào không hay. Cái chân tình, cái nhiệt thành của tình ý cụ lẫn cái nồng nàn của của bút pháp cụ quyến rũ người đọc một cách dị kỳ; cái thô vụng của cụ trở thành đậm đà tuyệt vời, cái bộc trực, cái xí xọn trong những lời đối thoại của từng nhân vật trở nên duyên dáng mặn mà khó tả.

Cái ngôn ngữ dí dỏm, chót chét trong văn phong của Hồ Biểu Chánh thường làm cho chúng ta bật cười một cách thống khoái, dù cụ có cằn nhằn chì chiết nhân tình thế thái đi nữa. Chúng ta cảm nhận ngay sự thành khẩn của cụ. Chúng ta vụt cảm thấy tận đáy sâu của ngôn ngữ cụ, tận cái thiết tha của tình ý cụ có một hấp lực kỳ đặc, không dễ gì tìm gặp ở bút pháp kẻ khác:

Thợ trời thiệt là khéo léo, hóa sanh muôn loài, không bỏ sót loài nào, đã sanh con voi to, mà còn sanh con muỗi nhỏ, đã sanh con cọp để giết người, mà còn sanh bò heo để nuôi người. Mà thợ trời cũng thiệt trớ trêu, mỗi loài lại sanh nhiều thứ, hình dáng, màu sắc tánh chất đều không giống nhau, sanh rắn độc mà cũng sanh rắn hiền, sanh hoa thơm mà cũng sanh hoa thúi. Sanh loài người, Tạo hóa cho có mặt, có tay, có chưn, có gan, có ruột như nhau, mà cắc cớ sơn cho nhiều màu da, người thì trắng, kẻ thì vàng, người thì đen, kẻ thì đỏ. Mà dầu đồng một màu da với nhau đi nữa, tâm tánh cũng bất đồng, kẻ hiền người dữ, kẻ ngay người gian, kẻ dại người khôn, kẻ sáng nguời tối. Có một điểm, loài người dù đen, đỏ, trắng, vàng, dầu dữ, hiền, khôn, dại, phần nhiều đều giống nhau. Ấy là thói say mê tiền bạc, say mê đến nỗi không kể tội lỗi, không biết thúi hôi, không sợ chê khen, không màng phải quấy, áp nhau bu lại mà giựt dành, nếu giựt cho được rồi chết cũng vui lòng, mà nếu giựt không được lại phải chết cũng không sợ.
(Tơ Hồng Vương Vấn, các trang 148, 149) 

Viết theo văn dĩ tải đạo, bên Pháp đã có Delly, bên Anh đã có nữ sĩ Barbarra Cartland; họ ăn khách kinh khủng. Delly là bút hiệu của bà Jeanne Petitjean de La Rosière (sanh tại Avignon năm 1875, chết tại Versailles năm 1947) và ông Fréderic Petitjean de La Rosière (sanh tại Vannes năm 1875 chết tại Versailles năm 1949). Cả hai sáng tác lối 30 tác phẩm. Còn Barbarra Cartland viết lối 400 quyển tiểu thuyết. Nhưng đọc tác phẩm của họ, độc giả chỉ tìm được dăm ba tiếng đồng hồ để giải trí, rồi quên luôn những thú vị của mình đã trang trải trên những trang sách. Cặp Delly thường lấy tinh thần Bác Ái và Bao Dung của đạo Thiên Chúa làm nền tảng của câu chuyện, để đánh bóng thêm cho các nhân vật hiền lương mà Cộng Sản gọi là các nhân vật chánh diện thêm phần lộng lẫy. Nhưng đa số tác phẩm của Hồ Biểu Chánh thì không như thế. Ngoài chuyện tôn vinh quan niệm tích ác phùng ác, tích thiện phùng thiện, chúng còn có nhiều điều gì khác làm độc giả sống lại một đoạn đời quá khứ của mình hay giúp độc giả mường tượng cách sống của những lớp người thuộc những thế hệ trước thế hệ mình.
* * *
''Tơ Hồng Vương Vấn'' là một cuốn tiểu thuyết thấm nhuần đạo Phật lấy chuyện luân hồi quả báo làm căn bản để triển khai cái sở trường văn dĩ tải đạo của Hồ Biểu Chánh. Vai chánh là cậu học sinh Phan Vĩnh Xuân sinh vào thời Nho mạt nơi chợ Giồng Ông Huê (Gò Công). Cậu là họ trò của ông Giáo Huân, một thầy đồ Nho khả kính. Cậu được sư phụ mình cho biết vận nước biến suy, dù phải chuyển qua Tây học để gọi là kiếm cơm nuôi mẹ, dù gì thì dù cũng phải giữ tấm lòng chính trực, liêm khiết. Nước mất nhà tan, ham chi hư danh quyền tước để hãnh diện với thiên hạ. Bạn học của cậu là cô Lý Thị Tư, được thầy ban cho cái biệt danh Cúc Hương, vốn là gái chánh trực, lại thông minh, xinh đẹp. Vĩnh Xuân và Cúc Hương yêu nhau, lén lút tư ước với nhau. Cả hai hẹn hò gặp nhau ở nhà chị Hai Tỷ, một phụ nữ Việt kết hôn với tài phú Sấm, người Trung Hoa. Ngờ đâu cha mẹ Cúc Hương tham giàu ép buộc Cúc Hương lấy chàng công tử bột xuất thân gia đình giàu có ở hương thôn. Cúc Hương quyết tâm bỏ sinh mệnh để giữ tròn đạo nghĩa. Truớc ngày vu quy, cô giao 50 đồng bạc cho Hai Tỷ, bảo rằng với số tiền này , cộng với tiền trợ cấp của chánh phủ, Vĩnh Xuân có thể ăn học trong vòng 3 năm cho đến khi thành tài. Cô cũng gửi tấm lụa có viết chữ nho ''Xả Thân Nhi Thủ Nghĩa'' (bỏ thân để giữ tròn đạo nghĩa) cho chàng để chàng nhìn bút tích mà nhớ tới cô. Cô cũng không quên gửi một xấp lãnh và một xấp xuyến cho bà Hương văn Thanh , mẹ của Vĩnh Xuân may quần áo, gọi là quà tặng của cô dâu ...hụt. Cô dặn Hai Tỷ phải khuyên Vĩnh Xuân chí thú ăn học, để cô được toại nguyện. Rồi cô uống nha phiến pha trộn với dấm thanh để tự tử.

Vĩnh Xuân tuy đau khổ nhưng nhờ lời khuyên của ông Giáo Huân và Hai Tỷ nên theo lời dặn của Cúc Hương chí thú ăn học, đậu bằng Thành Chung, rồi thi vô ngành ký lục cũng đậu luôn. Chàng về nhà vào ngày 25 tháng chạp tức là ngày 23 tháng Janvier. Bữa sau chàng đi viếng mộ Cúc Hương thì vào quá 12 giờ khuya, chàng nằm chiêm bao thấy Cúc Hương từ giã chàng đi đầu thai và cho chàng biết kiếp sau nàng sẽ được tái ngộ cùng chàng, để kết hôn với chàng. 

Vĩnh Xuân được thuyên chuyển qua Mỹ Tho làm việc ở Tòa Bố(tức là Tòa Hành Chánh về sau). Chàng kết thân với ông Kinh Lịch Lương, đuợc ông dạy đàn, dạy làm thơ để rồi cả hai trở thành đôi bạn vong niên thân thiết. Chàng từng thố lộ với bà Kinh như sau:

-- Thưa bà, vì nghèo cực nên cực chẳng đã tôi phải theo tân học đặng làm việc lãnh lương nuôi mẹ. Tôi muốn ngồi yên trong một góc bàn mà biên chép, chờ cuối tháng lãnh lương ăn vậy. Tôi thưa thiệt với ông bà, tôi không ham danh lợi, ham lợi, nhứt là danh không chánh đáng và thứ lợi không hạp nữa. (trang 187)

Bà Kinh rất thuơng mến Vĩnh Xuân cố tình làm mai cho chàng cưới cô Cẩm Nhung, con gái út của Bà Chủ Thiệu ở Chợ Cũ (bên kia Cầu Quây). Vi sợ mẹ buồn nên chàng phải cưới Cẩm Nhung, một cô gái xuất thân từ gia đình giàu có, lại có bóng sắc chói chang. Đây là một cuộc hôn nhân miễn cưỡng vì chàng không sao quên được Cúc Hương. Còn Cẩm Nhung không quen làm vợ và làm dâu trong một gia đnh thanh bạch mà cách ăn ở sinh sống thiếu tiện nghi, nên cô đâm ra thất vọng. Lại nữa, gặp ông chồng thiếu nồng nàn, tình tứ nên cô thường về ở bên nhà mẹ, rồi sanh tâm ngoại tình, có thai với tình nhân. Vĩnh Xuân không muốn làm cho gia đình bên vợ mang tiếng xấu vì dầu sao Cẩm Nhung cũng đã sanh cho chàng một đứa con trai. Cho nên chàng khuyên Ba Khai, người anh trưỏng của vợ buộc Cẩm Nhung đút đơn vô tòa án xin ly dị, như thế cái tội ngoại tình của nàng sẽ được giấu nhẹm. Bà Chủ Thiệu và Ba Khai cảm cái đức quân tử của chàng nên âm thầm giúp đỡ chàng, vẫn xem chàng như con rể trong gia đình họ. Chàng vẫn gọi bà Chủ Thiệu bằng má trước sao sau vậy. Bà Chủ Thiệu và Ba Khai âm thầm giúp đỡ cách sống cho chàng được tiện nghi. Họ trừng phạt Cẩm Nhung, cấm không cho nàng ra khỏi nhà, cấm không cho nàng léo hánh lên nhà trên (tức là trung đường), cấm không cho nàng mặc quần hàng áo lụa, phải mặc vải bô thô xấu.

Nhờ giỏi tiếng Pháp, tại Tòa Bố chỉ một thời gian ngắn Vĩnh Xuân làm thông ngôn cho quan Phó Tham Biện người Pháp, rồi làm thông ngôn cho quan Chánh Tham Biện (về sau gọi là Tỉnh Trưởng) cũng người Pháp. Rồi chàng thi đậu trong cuộc thi tuyển tri huyện. Trong bữa tiệc ăn mừng Vĩnh Xuân thành công trên đường hoạn lộ do bà Chủ Thiệu khoản đãi, Vĩnh Xuân xin bà và Ba Khai rộng dung hình phạt cho Cẩm Nhung. Chàng nhận lỗi rằng chính cái cách cư xử dung túng nhưng thiếu nhiệt tình của mình đối với vợ đã xô đẩy Cẩm Nhung vào con đường quấy.

Sau đó ít lâu, Vĩnh Xuân được vinh thăng tri phủ phải qua Cần Thơ nhận nhiệm sở mới. Mọi việc sắp đặt chỗ ở mới cho quan huyện Vĩnh Xuân do chính Ba Khai đảm nhiệm. Trước khi qau Cần Thơ, bà Hương Văn Thanh và Vĩnh Tân (con của Vĩnh Xuân)có đến Chợ Cũ từ giã bà Chủ Thiệu. Tại đây, Cẩm Nhung ra mặt nhìn con của mình. Thấy nàng dâu cũ của mình hương phai phấn lợt vì bao năm bị gia pháp trừng phạt lại thấy cô bi lụy thảm thiết, bà Hương Văn Thanh an ủi Cẩm Nhung hứa sẽ dạy dỗ Vĩnh Tân không quên công sinh thành của mẹ và hứa hễ có dịp là cho Vĩnh Tân về Chợ Cũ thăm mẹ và bên ngoại.

Năm đó quan Phủ Vĩnh Xuân lúc đó đã 40 tuổi, trong buổi nhàn du tình cờ ông gặp cô Hưởng, con gái ông Hương Nhì Tồn từ hình dung tiếng nói đến dáng đi cử chỉ đều giống hệt Cúc Hương. Ông dò la biết được cô Hưởng sanh vào lối 3 giờ khuya, đúng là hai giờ sau lúc nửa đêm Cúc Hương từ giã ông để đi đầu thai. Tin chắc cô Hưởng là hậu kiếp của Cúc Hương nên ông xin cưới cô. Và muốn cho chắc ăn điều nhận nhận xét của mình, sau đám cưới chàng đưa vợ về quê hương của mình để xem nàng có nhớ được gì không? Quả nhiên vừa tới Chợ Giồng thì người vợ trẻ của quan Phủ Vĩnh Xuân nhớ hết những người thân trong quá khứ trong đó có vợ chồng ông Giáo Huân và chị Hai Tỷ.

Trong truyện dài ''Tơ Hồng Vương Vấn'', người xấu (...) chỉ có vợ chồng Hai Mỹ (song thân của Cúc Hương). Họ vô tình giết con gái mình vì họ chuộng thói tham phú phụ bần. Còn ngoài ra người tốt thì đông đảo hùng hậu. Ngoài mẹ con của bà Hương Văn Thanh, còn có Cúc Hương, vợ chồng ông Kinh Lịch Lương, bà Chủ Thiệu, Ba Khai, bà Giáo Huân, chị Hai Tỷ đều là những kẻ mến đức chuộng tài. Họ mở tấm lòng hào hiệp đối đãi với Vĩnh Xuân. Còn ông Giáo Huân thì ra công rèn luyện đức dục cho Vĩnh Xuân, vun quén thiên lương và đức độ của chàng được mãi mãi sáng rực rỡ như gương. Cẩm Nhung cũng không phải là người xấu. Nếu cô sống vào thập niên 60 trở về sau thì cô sẽ đuợc người đời không cho cô là tội nhân mà là một nạn nhân của nền luân lý cổ quá cay nghiệt khắc khe. Luân lý ấy dìm cô vào mặc cảm tội lỗi làm cô nghĩ rằng mình có tội nặng, chứ thật ra chẳng những tội cô quá nhẹ mà cô còn đáng cho chúng ta ai hoài thương xót. Rất may, dù bị ảnh hưởng luân lý của Nho Giáo, nhưng Vĩnh Xuân cảm thông được nỗi éo le của vợ nên xin mẹ vợ và anh vợ nương tay trừng phạt cho vợ. 

Chuyện duyên nợ theo vòng luân hồi quả báo không phải chỉ có Hồ Biểu Chánh tiên sinh là kẻ tiền phong xướng ra trong văn chương. Vào thuở tiền chiến, trong hai quyển ''Kho Vàng Sầm Sơn'' và ''Đồng Tiền Vạn Lịch'', nhà văn Tchya đã viết cuộc tình của Nguyễn Anh Tề, con trai của Nguyễn Hữu Chỉnh, và Quận Chúa Võ An Trinh, con gái Võ văn Nhậm vào thời Tây Sơn dựng nghiệp. Cả hai trắc trở việc hôn nhân nên cùng sống thác với tình, hẹn kiếp sau sẽ thực hành cuộc tình duyên dang dở. Câu chuyện đó được gói ghém trong quyển ''Kho Vàng Sầm Sơn''. Khi qua quyển ''Đồng Tiền Vạn Lich'' thì Nguyễn Anh Tế thác sinh vao dòng dõi Nguyễn Hữu Chỉnh trở thành Nguyễn Hữu Tề, còn Quận Chúa Võ An Trinh đầu thai vào dòng họ Võ Văn Nhậm trở thành Võ Ái Trinh. Sau bao phen xung đột để chiếm đồng tiền Vạn Lịch mà họ cho rằng đó là cái chìa khóa mở kho vàng mà Nguyễn Anh Tề và Võ An Trinh chôn giấu ở Sầm Sơn. Nhưng họ chỉ tổ hoài công thôi. Họ không tìm được kho tàng mà tìm được dấu vết tình yêu giữa đôi bên với nhau từ thuở tiền kiếp.

Nữ sĩ ngươi Anh Elizabeth Goudge có viết trong quyển ''Tiếng Gọi Của Quá Khứ'' (''L'Appel du Passé'') cặp tình nhân dang dở thời tiền kiếp chết đi. Qua kiếp tái sinh chàng vẽ bức họa phong cảnh lâu đài mà cả hai đã từng sống. Nhờ vậy, hậu thân của nàng được phục hồi ký ức, nhớ lại cố nhân và cuộc sống xa xưa bên kia nẻo luân hồi để tìm đến chàng. Tin hay không tin thuyết luân hồi và thuyết thác sinh, nhưng nó cũng đã đóng góp cho văn nghiệp nữ sĩ Elizabeth Goudge một tác phẩm diễm lệ và cực kỳ thơ mộng. Nó đã giúp cho Tchya và Hồ Biểu Chánh thuyết phục một số độc giả suy nghĩ về cái thần bí của bánh xe luân hồi di chuyển không ngừng nghỉ trên vạn pháp và trên các hiện hữu.

* * *
Hồ Biểu Chánh viết tiểu thuyết theo lối thuyết thoại (la narration). Như đã nói, cụ kể chuyện tuồn tuột, ngon ơ, ít khi dùng óc quan sát để tả cảnh vật, tả ngoại hình các nhân vật. Thường là những nét phác thảo sơ sài, khái quát.
Đây là cảnh đi đò dọc từ chợ Mỹ Tho qua chợ Giồng Ông Huê (thuộc tỉnh Gò Công):

Đò lui. Hành khách chỉ có bốn người nên rộng rãi ai cũng nằm được. Gặp nước xuôi lại có gió xuôi bởi vậy ra khỏi vàm rồi trạo phu trương buồm mà chạy, khỏi chèo. Mặt trời vừa trịch bóng, đò đã tới Vàm Giồng, gặp nước lớn đi vô vàm, đi xuôi nữa. Chủ đò đoán trước bữa nay về tới chợ Giồng sớm lắm, chừng nửa buổi chiều.
Vĩnh Xuân nghe nói vậy bèn ngồi dậy. Bây giờ đò vô rạch Vàm Giồng, hai bên cây cối tập rạp, án gió không bọc buồm lên được. Trạo phu hạ buồm rồi gay chèo mà chèo, nhờ nước xuôi nên ghe đi lẹ lắm. (trang 93)
Đây là cảnh quan phủ Vĩnh Xuân đi chơi chợ Bình Thủy tình cờ gặp cô Hưởng (hậu thân của Cúc Hương) nên ông heo dõi cô thiếu nữ kia đến cầu Rạch Cam:

... Vĩnh Xuân vẫn theo coi nhà cô ở chỗ nào. Đi chừng một trăm thước thì tới một thớt vườn không lớn nhưng sạch sẽ dựa lộ, có hàng rào bằng cây trà, trong sân có trồng hoa, rồi sau sân ấy có một nhà lá ba căn xông, vách ván, cửa ván, nền cao, hai bên nhà dừa với mận trồng sum suê, còn phía sau thì cau chuối tịch mịch. (trang 406)

Những bối cảnh do tác giả dựng lên để lót nền cho cuộc tình sử giữa Vĩnh Xuân vá Cúc Hương cũng không được miêu tả chu đáo. Vẫn là nghệ thuật thuyết thoại theo lối văn chương trong các quyển địa dư, trong các quyển địa phương chí. Nhưng chính ở những dòng kể chuyện ấy, độc giả cũng có thể mường tượng những nét tạo hình ẩn trong cuộc bút trình của tác giả:

Rạch Vàm Giồng bên Cửa Tiểu, nhờ có kinh đào đi ngang qua chợ Giồng rồi thông với rạch Gò Công bên sông Bạo Ngược là sông Vàm Cỏ, bởi vậy địa thế giúp cho chợ Giồng biến thành một thị trường lúa gạo trong hạt Gò Công. Ở đây có nhiều người cất vựa trử lúa, trử gạo, từ ngoài đồng đem vô bán. Họ mua để bán lại cho những lúa gạo chở lên Chợ Lớn mà bán ngay cho mấy nhà máy hoặc cho mấy tàu khậu làm trung gian cho nhà máy.

Hồi đó, hễ đến mùa gặt lúa, thì chợ Giồng phồn thạnh lắm. Dưới kinh, ghe mua lúa đậu chật. Còn trên bờ, từ nửa buổi chiều cho tới canh một, ở ngoài đồng họ gánh gạo vô bán kể đến máy trăm người, mỗi xóm đi chung một tốp, lại có năm ba xe bò chở lúa đem vô nữa. Chợ lúa gạo nầy buổi chiều nhóm tại dốc cầu sắt. Đờn bà con gái dọn ngồi bên đường mà bán dầu lửa, nước mắm, hộp quẹt, trà tàu, cá khô, bánh trái, thúng rỗ, nón guốc, nia đệm, nghĩa là bán đủ thứ cần dùng ở chốn thôn quê. (trang 37)

Hồ Biểu Chánh ưa bàn luận nhân tình thế thái theo một bình diện phẳng, tức là dựa vào cái chung chung của cuộc sống rồi triển khai rộng ra, ít khi đào sâu vào những gì mà cụ tư duy.
Tự căn bản, ''Tơ Hồng Vương Ván'' chỉ là một pho diễm tình trà trộn bóng dáng tâm linh huyền hoặc. Cái giá trị văn chương của nó chẳng có bao nhiêu, nhưng bối cảnh lịch sử của nó làm chúng ta phải lưu ý. Đó là giai đoạn giao thoa giữa nền Nho mạt và văn hóa Tây phương sau khi Pháp thuộc-địa-hóa đất Nam Kỳ và đặt nền Bảo Hộ lên Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Hồ Biêu Chánh là con bậc thâm nho. Lúc nhỏ, cụ theo Nho học, nhưng sau đó cụ chuyển qua Tây học, rồi ra làm việc cho chánh phủ Thuộc địa. Do đó, cụ bị các bậc cựu nho eo sèo mai mỉa. Chính cụ cũng áy náy và ngờ ngợ hành xử và cuộc mưu sinh của mình có điều gì không ổn. Chính ở quyển ''Tơ Hồng Vương Vấn'' cụ mới có thể giải bày tâm sự và những điều khoắc khoải của mình:
Thế cuộc vần xoay, hết suy tới thạnh, nhơn quần tấn hóa, đổi cựu ra tân. Đó là định luật dĩ nhiên, dầu muốn dầu không ai ai cũng phải chịu, không làm sao sửa được.

Nhớ lại mà coi sau khi đánh phá đại đồn Chí Hòa rồi, binh đội Pháp lần lần xâm chiếm tất cả sáu tỉnh của đất Gia Định. Từ hạng nông phu cho tới học thức thảy đều tức tửi mà quay đầu về Phú Xuân, thì triều đình dường như im lìm bỏ xụi; còn chong mắt ngó vào đám anh hùng nghĩa sĩ thì các cụ Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Thủ Khoa Huân lần lượt thất bại tiêu tan.

Đứng trước ngả ba đường như vậy đó, phải đi ngả nào? Nếu cương quyết giữ nền nếp cũ thì lấy chi mà nương náu, còn nếu đổi thái độ cho xuôi dòng thì lỗi với tổ tiên, mà thẹn cùng cây cỏ. Trong lúc dân trí phân vân như vậy, nhà cầm quyền Php khôn ngoan, nên chăm lo gây thiện cảm với nhân dân. Người ta biết thâu phục đất đai thì dễ, nhứt là gặp xứ không có binh đội tổ chức hoàn bị; còn như thâu phục nhơn tâm là điều khó khăn, phải hay đổi văn hóa, phải un đúc tâm hồn, mấy viẹc đó phải dầy công phu, phải nhiều thế kỷ thì mới làm nên được. (các trang 7, 8)

Xin nghe cuộc đối đáp giữa quan Phủ Vĩnh Xuân và thầy Cai Tổng, tại một khách sạn tỉnh Cần Thơ:

-- ...Tôi nghe nói thuở xưa quan thanh liêm đi phó nhậm chỉ có một cây đờn cầm với một con hạc thế mà tới đâu cũng bố đức cho dân lạc nghiệp an cư. Đời nay không có hạc thì quan lớn đi phó nhậm với một cây đờn, tôi tưởng cũng đủ rưới âm đức cho nhơn dân xứ Cần Thơ nhuần gội.

-- Thầy Cai đem tôi mà sánh với quan đời xưa sao được. Nước đã mất chủ quyền, dân đã thành tôi mọi. Tôi làm quan, song cũng là tay sai của người ta, lịnh trên dạy phải làm sao tôi phải làm như vậy. Tôi cũng như anh đầu bếp nấu canh. Chủ nhà đưa mắm muối biểu nêm cho thiệt mặn. Tôi tráo trở làm cho lạt bớt đặng để ăn. Đó cũng đã đủ nát trí khôn rồi. Khỏi bị quấy rầy, bị quở phạt ấy là may, mong gì làm cho ngươi ăn khen canh ngon ngọt được. (trang 393)

Cúc Hương và Vĩnh Xuân tuy học theo đàng cựu dở dang nhưng cũng đã từng học các quyển ''Minh Tâm Bửu Giám'', Ấu Học Tầm Nguyên'', ''Tứ Thơ Thể Chú'', ''Đại Học'',

''Trung Dung'', ''Luận Ngữ''... Vĩnh Xuân có thể giải nghĩa rành rọt sách Mạnh Tử cho Cúc Hương nghe. Nhưng vì nhà nghèo, nếu đeo đuổi theo cái học của thời mạt điệp của ngành Nho học thì làm sao chàng kiếm tiền nuôi mẹ khi mẹ già yếu? Chàng chuyển sang Tân học. Vào thuở đó tại tỉnh Gò Công tình trạng Tân học ở bậc tiểu học như sau:

Trong khoảng đó, người ta nhận thấy tại Châu Thành Gò Công nhà nước có một trường sơ đẳng học, gồm năm lớp có một quan Đốc học người Pháp với năm giáo viên người Việt. Từ lớp nhứt đến lớp tư thì dạy Pháp văn nhiều hơn Việt văn, còn lớp năm là lớp chót thì giao cho một thầy nho biết chữ Quốc ngữ dạy trẻ đồng ấu học vần xuôi, vần ngược, rồi tập đọc, tập viêt quốc văn.

Học trò cả thảy chừng một trăm rưỡi, lớp chót được lối năm mươi trò, còn mấy lớp trên chung vài ba chục, tới lớp nhứt chỉ còn mười đến mười lăm là nhiều. Lại học trò toàn là con trai, chớ không có con gái, cha mẹ ở tại chợ, hoặc trong mấy xóm làng xung quanh cách chợ lối vài ba ngàn thước.

Muốn lấy thêm học trò đông, lại cũng muốn Pháp ngữ được thông dụng trong mấy làng xa, Tham Biện mới mở tại bốn chợ trong bốn tổng, mỗi chợ một làng dạy Pháp văn gọi là ''Trường tổng'' gồm hai lớp: lớp nhỏ dạy cho biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ, rồi lên lớp lớn bắt đầu dạy Pháp văn. Trong lúc nói đây, trong hạt có bốn trường tổng đặt tại bốn chợ: Rạch Giá (Đồng Sơn), Giồng Ông Huê (Vĩnh Lợi), Cửa Khâu (Tăng Hòa) và chợ Tổng Châu (Tân Niên Tây)...(các trang 10, 11)

* * *
Trong sự nghiệp văn chương nguy nga đồ sộ của Hồ Biểu Chánh, bút giả HTA chọn quyển ''Tơ Hồng Vương Vấn'' thay vi những quyển tiểu thuyết nổi tiếng lừng lẫy khác của cụ như ''Nặng Gánh Cang Thường'' (phóng tác theo vở bi kịch ''Le Cid'' của Corneille), ''Ngọn Cỏ Gió Đùa'' (phóng tác theo quyển ''Le Misérables'' của Victor Hugo), (phóng tác theo quyển ''Chút Phận Linh Đinh'' của Hector Malot),''Cay Đắng Mùi Đời'' (phóng tác theo cuốn ''Sans Famille'' cũng của Hector Malot), ''Kẻ Thất Chí'' (phóng tác theo quyển (''Crime et Châtiment'' của Dostoievski)... Bút giả nhận thấy ''Tơ Hồng Vương Vấn'' ngoài chuyện gay cấn éo le đã từng thôi miên và mê hoặc độc giả mà còn phản ảnh được một giai đoạn lịch sử, một chuyển biến gần như lột xác về phương diện văn hóa.

Tác giả đã xắn ra một mẩu đời của mình để đưa vào tác phẩm. Tác giả lại còn xắn tim óc của mình để rải vào tác phẩm. Cái văn dĩ tải đạo của cụ có thể đã lỗi thời. Nhưng người thưởng thức có đầu óc sáng suốt, cótinh thần tìm hiểu chuyện quá vãng theo kiểu ''ôn cố nhi tri tân'' sẽ chấp nhận mọi cách giải bày tâm sự, hoài bảo, khuynh hướng, lý tưởng của cụ. Ngoài ra song song với tấm lòng thành khẩn của cụ, người ta còn bắt gặp cái tinh thần tồn cổ một cách khả ái của cụ, chứ họ không kinh hãi cái nệ cổ đi đến mức cuồng tính một cách ngoan cố của các bậc hủ nho khác.

Trong quyển ''Le Pavillon des Femmes'' (''Ngôi Nhà Lầu Phụ Nữ''), nữ sĩ Pearl S. Buck có bàn về quyển ''Kim Bình Mai''. Đại ý rằng nếu ai thích tìm thú nhục cảm thì ''Kim Bình Mai'' là quyển dâm thư đúng nghĩa. Nhưng nếu ai muốn tìm xã hội tham nhũng thối nát dưới triều đại Nam Tống do Hoàng Đế Tống Cao Tôn trị vì thì quyển truờng giang tiểu thuyết này cũng sẽ đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của đương sự. Như thế, tùy theo mục đích thưởng ngoạn của kẻ đọc sách. Riêng về quyển ''Tơ Hồng Vương Vấn'' của Hồ Biểu Chánh, nếu ai muốn tìm thú giải trí theo thị hiếu bình dân thì đây là quyển diễm tình hấp dẫn. Còn nếu ai muốn biết xã hội Việt Nam vào buổi giao thời thì đây là quyển sách bồi bổ kiến thức cho đương sự. Có điều đáng chú ý là vào thời Pháp thuộc, Hồ tiền bối của chúng ta không dám bộc bạch tâm trạng kẻ sĩ của mình qua nhân vật Vĩnh Xuân vì cụ sợ chánh quyền Thực dân gây trở ngại cho bước tiến thủ trên hoạn lộ của cụ. Phải đợi tới thuở bình minh của nền Đệ Nhất Cộng Hòa, cụ mới dám bộc bạch mọi nỗi niềm u ẩn của mình.

Hồ Trường An

Thơ Tranh: Em Có Đi Rồi


Trích Thơ: Mặc Thái Thủy
Thơ Tranh: Kim Oanh

Em Đi



Từ lúc vắng em quạnh phố phường
Đất trời ôi cũng quá thê lương!
Sương mờ lối cũ giăng màn nhớ
Liễu úa đường xưa nhỏ lệ buồn.
Mắt biếc, hồ Thu còn luyến sắc
Tóc huyền, gió Hạ vẫn lưu hương.
Em đi mang cả hồn mây nước
Và trọn hồn anh ngập mến thương!

Quang Tuấn



Trời Đất Tây Bắc


Rừng núi chập chùng, thung lũng xa...
Một vùng trời đất rộng bao la
Sương giăng mờ mịt, mây sà thấp
Suối lượn quanh co, thác nhạt nhoà
Khói toả thơm lừng hương bắp nướng
Hồn say nghiêng ngả rượu cần pha
Ngẩn ngơ tay dệt rời khung cửi
Vừa vãn chợ tình buổi sáng qua !...

Phương Hà
***
Chiều Miền Quê


Mặt trời lững thững tận phương xa
Xóm nhỏ an lành chẳng tiếng la
Thình thịch tiếng chày ai vọng mãi
Du dương nhịp sáo trẻ chưa nhoà
Khói chiều cuộn toả như mây lẫn
Bếp lửa hừng lên tựa nắng pha
Sông nước miền quê đầy chất phát
Sẽ nghe rung cảm một lần qua

Quên Đi
***
Vịnh Hạ Long

Lênh đênh sông nước gió cùng mây 
Một bức đảo hòn cứ bủa vây 
Núi đá dị kỳ trồi mặt biển 
Dáng hình âu yếm siết vòng tay 
Thuyền buồm nho nhỏ len hang động 
Suối lạch um tùm phủ cỏ cây 
Cảnh sắc nhìn hoài chẳng thấy chán 
Bồng lai hạ giới chính là đây 

Mailoc
10-17-14
***
Miền Quê Lúa Nước

Quê nhỏ vùng sâu bước dấn xa
Ruộng đồng ẩn hiện giữa bao la
Vàng màu lúa trổ bờ đê khuất
Thẳng cánh cò bay chiếc bóng nhòa
Ưỡn ẹo đường đi con nước liếm
Oi nồng nắng đốt ráng chiều pha
Vơi đầy ngày tháng triều lên xuống
Số phận nhọc nhằn khó vượt qua!

Nguyễn Đắc Thắng
***
Bài họa 1

Bờ cõi quê ta một dãi xa,
Núi rừng Tây Bắc vốn bao la.
Non xanh suối lượn ngòong ngoèo thấp,
Nước trắng thác, ghềnh chảy nhạt nhòa.
Thăm thẳm đường truông lồng bóng nguyệt,
Lờ mờ thỏai dốc ráng mây pha.
Êm đềm thiếu nữ miền sơn cước,
Hiếu khách ân cần sẽ ghé qua!


Mai Xuân Thanh

Bài họa 2

Rừng xanh núi thẳm dốc đàng xa,
Thung lũng đồi cao vẳng tiếng la.
Thấp thóang người đi tìm trẻ lạc,
Chập chờn khói tỏa bóng như nhòa.
Đâu đây phảng phất mùi khoai nướng,
Đến đó lên đèo uống nước pha.
Khung cửi cô nàng vừa mới dệt,
Cõi bờ Tây Bắc ghé ngang qua...


Mai Xuân Thanh
Ngày 17 tháng 10 năm 2014

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2014

Mùa Thu Buồn Tê Tái


      Chiều nay sương mù bao phủ, mưa nhè nhẹ bay, gíó lạnh lùa qua chiếc áo ấm, tôi đang đi dưới vùng trời xa lạ, không phái quê hương tôi. Thoắt cái hơn một nửa thế kỷ đã qua đi, những kỷ niệm cũ chợt hiện ra. Mình bỗng nhìn thấy mình: Ôi đã già nhanh đến thế...!

      Có những ngày nắng đẹp, chỉ mấy năm trước mà thôi, bầu trời trong như pha lê, lững lờ đôi làn mây trắng. Xe tôi bon bon trên xa lộ, giữa 8 giòng xe cộ ngược xuôi. Hàng chục vạch trắng do khói tuôn ra từ các phản lực cơ thẳng tắp đan chéo nhau trên nền trời xanh. Cả một đất nước vĩ đại với cuộc sống cũng vĩ đại đang diễn ra quanh tôi. Lòng tôi tràn ngập ánh hào quang chói lọi. Thành thật mà nói, lúc đó một niềm vui hãnh diện và tự hào đang hiện đến trong tôi. Cuộc sống đều đều tiếp diễn,ngày tháng năm dài cứ thế trôi qua...

      Tôi sống ở miền nam, có mấy người thân ở miền bắc. Hai miền xa cách nhau hàng ngàn dặm. Mỗi năm tôi phải làm một chuyến du hành thăm họ. Nhiều lần không đủ thì giờ lái xe hơi, tôi phải đáp máy bay. Này đây, xứ sở mới của tôi đang trải dài vô tận dưới cánh phi cơ. Nền trời quang đãng, tôi có thể nhìn thấy rõ từng vạch thẳng hay ngoằn ngoèo của hệ thống xa lộ_mạch máu của đất nước mênh mông này .Nhưng nếu bầu trời u ám, nhiều tầng mây che lấp cả thế giới bên dưới, tôi không thể nhìn rõ được cái gì. Lúc đó đầu óc tôi bắt đầu lan man suy nghĩ. Tôi nghĩ ngợi gì đây, vui hay buồn, bi quan hay lạc quan, thất vọng hay hy vọng. 
      Buồn lắm bạn ơi! Bạn hãy tưởng tượng cùng tôi. Từ trên máy bay nhìn xuống cõi trần gian âm u mịt mù bên dưới, tôi có thấy gì đâu. Thế mà sự thật dưới đó đang diễn ra một cuộc sống của những con người_nhân loại của chúng ta .. Những giòng xe nhỏ li ti như đàn kiến chầm chậm bò trên những con đường nhỏ như sợi chỉ xanh,và cả những con sông cũng giống như sợi chỉ bạc ngoằn ngoèo trên tấm thảm xanh của cây cỏ núi rừng trùng điệp. Những chòm nhà nhỏ xíu như chiếc hộp bẹp dí dính sát vào nhau,và ngay cả những toà nhà chọc trời cũng chỉ như cái que tăm nhỏ xíu cắm trên cái bàn cờ kẻ ô theo hình học kỉ hà. Vạn vật hầu như bị ép dẹp bẹp dí xuống đất bởi những tầng mây đen đè xuống. Và gì nữa đây những con người nhỏ xíu đang chậm chạp cọ quậy bám víu lấy kiếp sống ngắn ngủi của cuộc đời. Tất cả những cái đó tôi không nhìn thấy, nhưng tôi tưởng tượng chúng đang diễn ra dưới đó: cái thế giới nhỏ bé lạ lùng, cái trần gian lặng lẽ, cô đơn, buồn tẻ vô cùng. Dưới đó, cuộc sống con người như được thu nhỏ lại, bao kín trong một vỏ bọc âm u. Nó chỉ biết nó tự tại trong mối tương quan với chính nó, không muốn hoặc không nhận thấy có một con mắt bên ngoài thế giới nhìn thấy,quan sát, để ý đến...và như vậy nó biến thành một vật vô ý nghĩa, Rồi một ngày nào đó, nó cũng biến đi, giống như con sâu con bọ, sống rồi chết đi, không lưu lại một ấn tượng kỷ niệm nào nơi kẻ khác. Vậy mà cái thế giới đó lại không hề biết thân phận nó. Sống bề ngoài có vẻ an bình, nhưng bề trong nó lại xâu xé nhau,đến nỗi có thể giết nhau. Trần gian là bể khổ, đời sống là bến mê, cuộc sống là vô thường. Sống mà không biết mình đang sống, hay sống mà không biết mình đang chết, đang ngụp lặn trong một cõi âm u...


      Còn trên đây, trong lòng chiếc phản lực cơ lớn này, có một kẻ xuất thân từ thế giới ấy nhưng đang trải qua những giây phút tách rời khỏi thế giới ấy, để tâm tư phiêu lãng trong vũ trụ bao la. Chiếc phi cơ tôi đang bay cũng là một sinh vật nhỏ xíu. Tôi cũng chỉ là một sinh vật nhỏ bé, tầm thường như các sinh vật của thế giới ấy. Đã không ít có một số sinh vật đã và đang sống ở thế giới ấy cũng ý thức được như tôi về sự tồn tại mong manh của kiếp người, sự cực khổ đớn đau trong cuộc sống. Nhưng có khác một điều: trong giây phút này đây, chỉ riêng một mình tôi đang ở tình trạng thuận lợi để có được cái cảm nhận mãnh liệt nhất rằng mình đang được thoát ly. Ô kìa, vầng hào quang đang chói lọi chân trời, khoảng mênh mông vô cùng tận của vũ trụ đang mở ra để ta như một hạt bụi nhỏ đang bay bay. Trong lòng ta không một dục vọng đam mê, không một ý tưởng cạnh tranh giành giật, không một vấn vương hận thù. Rồi mai đây hạt bụi cũng sẽ tan biến nhỏ dần đi hơn nữa, nhưng hạt bụi đó vẫn mang cả một tâm hồn ta bay bay mãi trong vũ trụ bao la vô tận.*

[ * Người viết chưa nói hết cảm nghĩ của mình trong Muà Thu Buồn Tê Tái, chưa diễn tả về những hình ảnh địa ngục hay thiên đàng ở thế giới dưới cánh máy bay, cũng như chưa đối chọi hai cuộc sống cách nhau nửa vòng trái đất.]

ChinhNguyen/H.N.T ,
 GA.Nov.16.2008-Oct.15.2011
(Nguồn:Web... Oct 15.11,sửa đổi từ TRE Magazine #210,30/9/11)

Câu Đối: Thi Ca Và Bạn Hữu


Câu Đối: Quên Đi
Tranh Câu Đối: Kim Oanh


Thương Ai


Mỗi tối em buồn mắt lệ sa,
Mùa Thu kỷ niệm sắp đi qua.
Thương ai mảnh khảnh trông đài các,
Vóc liễu nhành mai bóng xế tà.

Nửa kiếp bơ vơ buồn viễn xứ,
Chạnh lòng quê mẹ cách xa nhà.
Nước non cẩm tú đâu nguồn cội,
Mỹ quốc nhìn về dạ xót xa.

Chiếc thân lẻ bóng mới long đong,
Tâm sự ngổn ngang mấy chuyện lòng.
Một kiếp phù sinh nghe ấm lạnh,
Quảng đời lận đận, chuyển mùa đông.

Môi hồng má thắm, tình bay mất,
Chớp bể mưa nguồn cách núi sông.
Mơ ước thanh bình ta mở tiệc,
Dân an quốc thái đặng vui chung

Mai Xuân Thanh
Ngày 23 tháng 10 năm 2014

Giấc Sầu Ðông


1
Chén ngọc đã mờ khi dứt Ðông
Đêm nay xuân đến rãi hương nồng ... ....
Ngàn mai ướm mặt màu tươi thắm
Vạn cúc chen nhau cảnh rực hồng
Đứng ngắm cõi lòng thương cố hữu
Tìm đi tâm trí tiếc rừng thông
Phải chăng chữ luyến trong tâm tưởng
Gói chặt đời người giữa lá vông
2
Nhặt lá vông khô gửi ái tình
Nhọc nhằn mơ đến sự phồn vinh
Đong hoài nỗi nhớ còn chưa đủ
Gióng mãi cõi sầu vẫn lặng thinh
Một bến sông Gianh đêm cách nguyệt
Đôi bờ Bến Hải mộng chung hình
Hồn mơ tiếng nhạc buồn duyên kiếp
Nàng hỡi , lòng tôi lại xót mình

3
Lại xót , mình tôi nỗi oán ai
Đứng bên dòng nước chảy dông dài
Cúi đầu mong nhớ con thuyền đậu
Quay bước vấn vương dấu nguyệt mài
Liễu úa vừa giăng manh chiếu ngọc
Mây hờ che khuất cảnh thiên nhai
Nhọc thêm ánh mắt người bi lụy
Lỡ một đường duyên bởi chữ tài
4
Bởi chữ tài nên tiếc ánh kim
Huy hoàng một thuở biết sao tìm
Cố neo chữ nhớ về non nước
Đành gửi tiếng sầu lặng trái tim
Bất khuất cuộc đời trong cõi nhục
Nhọc nhằn thân xác giữa xà lim
Nhưng lời nói thật không hề dứt
Tranh đấu cho đời chẳng thể im
5
Chẳng thể im mình đợi gió xao
Nào anh nào chị đứng lên nào
Người về cùng đón chung ngày tết
Ta lại ngồi bên uống rượu đào
Chốn cũ nghe chìm tim chợt thắt
Chuyện xưa kể đến dạ như ngào
Bao năm có phải đà tan hết
Một mối hận lòng xưa rất đau
6
Rất đau chữ ấy để riêng ta
Giọt đắng đêm sương bước khập khà
Mỏi mệt chôn mình trong gió tuyết
Âu lo ngấn lệ giữa canh gà
Ngày tan ánh nhật dương mờ nhạt
Đêm rạng liễu trăng bóng khuyết tà
Vây chặt gót chân người trở lại
Quê hương tiếng vọng nỗi buồn tha
7
Chẳng hề tha thứ đến trăm năm
Giấc mộng nàng ơi , có thắm đằm
Rối trí tâm tư treo váng nhện
Dật dừ hồn phách lạc nong tằm
Ngày qua gửi nhớ nơi vãng khuất
Đêm tới neo sầu chốn biệt tăm
Dòng suối lệ nào ru nước mắt
Chảy giữa cõi đời kẻ đến thăm
8
Kẻ đến thăm nàng đợi giấc xưa
Chiều nay trời ướt đẫm cơn mưa
Bạn tình đã mất trong đêm tiễn
Giọt lệ nào vương dưới mắt đưa
Thả dáng vầng mây che ánh khuyết
Rọi đời khuôn ngọc lấp cung thừa
Gửi người năm ấy vào hư tưởng
Hỏi mộng tình yên trở lại chưa
9
Trở lại chưa em để hát ca
Nụ hôn tràn ngập chỉ riêng ta
Mộ buồn tôi viếng em đời kiếp
Đồi nhớ vườn mơ tưởng mái nhà
Khói lạnh chìm mây hồn oán thán
Sương mờ khuất nẻo giọt sầu tha
Ngày qua tháng hạ dài đi mãi
Có biết tôi vừa gửi bước xa
10
Gửi bước xa xôi chốn đọa đày
Nặng lòng tâm sự với ngàn mây
Lối xưa có lẽ trăng vừa lặn
Đường cũ phải chăng bóng đã gầy
Màn nắng thu tàn trơ cánh phượng
Dấu mờ sương tạnh ủ tàn cây
Lấp đầy tiếng vọng từ vô tận
Ơi hỡi , tình ơi tôi vẫn đây
11
Vẫn đây mưa đến dội từng cơn
Lạnh buốt tim nghe tiếng dỗi hờn
Lụy ướt bờ mi chìm đôi mắt
Tâm chìm cõi mộng ẩn thiên sơn
Lại nghe giọt ứa miền tâm tưởng
Bỗng tiếc đêm khuya ánh nguyệt vờn
Có lẽ cõi đời là chốn tạm
Tháng ngày tôi vẫn kiếp chăn đơn
12
Chăn đơn thả mắt ngắm trăng bè
Tàn cuộc xuân qua đến cảnh hè
Trời bỗng rũ mành mưa xối xả
Mây vừa đen ngọn bóng nghiêng che
Ướt lòng cứ tưởng đời đã dứt
Khép mắt thì nghe mộng trở về
Mấy chục năm trôi xa bất tận
Nàng ơi , nỗi nhớ vẫn còn mê

Đông Hòa Nguyễn Chí Hiệp
01.02.2009

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

Kính Mời Họp Mặt Thường Niên CHS Tống Phước Hiệp - NK 62-69


Kính gởi Anh Chị Cựu Học Sinh Tống Phước Hiệp Niên Khóa 62 - 69.

Hằng năm vào tháng 12, các Cựu Học Sinh Niên khoá 62 - 69 chúng ta có buổi họp mặt thường niên. 
Năm nay, buổi họp mặt Lần " 6 " sẽ được tổ chức:
- Lúc 11 giờ sáng, 
- Ngày Chủ Nhật 14-12-2014.
- Tại Nhà Hàng Thiên Tân, 
   Đường Phạm Thái Bường, Phường 4 
   Thành phố Vĩnh Long

Nay xin thông báo và kính mời các Anh  Chị đến tham dự đông đủ.

Trân Trọng

Thay mặt Nhóm Tổ Chức
Huỳnh Hữu Đức 
         
* Mọi thắc mắc xin liên lạc:

- Hoàng Thị Thơ : số điện thoại  01244662424
                             Email : hoangthithoVL@gmail.com

- Lê Ngọc Điệp : Số điện thoại  0918066445

- Hoàng Xuân Khải : số điện thoại  01247589015
                                 Email : hxkhai@gmail.com

- Huỳnh Hữu Đức : số điện thoại  0942332776
                               Email : namvat@yahoo.com

Hai Bờ Sông Hậu



Quê mẹ không gian luôn bỏ ngõ
Chờ ta về tỏ rõ tâm tình
Thời gian trôi tưởng đâu mất dấu
Tiếng thơ ai réo gọi lòng mình.

Sông Hậu bình minh ngày lên hẹn
Hai chuyến phà đưa ngược hướng nhau
Em đến lớp anh đi đến sở
Nắng đón gió mai thở ngọt ngào!

Đất Vĩnh bờ đông quê em hở?
Tây Đô vùng nhớ áo trắng bay?
Mơ tương lai sáng, tình lên sóng
Yêu đương vương vấn? Vẫn còn say?

Sông Cửu đôi bờ dày mơ mộng
Bảng đen phấn trắng nghiệp đời tôi
Một thuở vung tay xây ước vọng
Bất phùng thời gió cuốn mây trôi!

Anh Tú

Sau Vườn Lãm Thúy - Viên Ngọại Nguyễn Khắc Nhân - Hồi Thứ Năm

SAU VƯỜN LÃM THÚY - TÁC GIẢ : VIÊN NGỌAI
Phỏng theo Nguyên tác Truyện Kiều của Nguyễn Du.


HỒI THỨ NĂM

Khốc ngộ ma đầu trao trụy lạc
Trùng thi phong nguyệt ngộ anh hùng
Tạm dịch : Cơ trời đưa đẩy hoá ra
Gặp người cắng cổ gọi là Phu Nhân,

Kiều từ ngày trốn khỏi Quan Âm Các, sang Chùa Chiêu Ẩn được Sư Giác Duyên cho tá túc, chờ đợi Sư Huynh, những mừng được chốn nương thân, không ngờ đâu sự việc đưa đẩy một bữa nọ nhân ngày Vu Lan ,có người Đàn Việt sang lễ Phật, nhìn thấy chuông vàng khánh bạc lạ bèn cất lêm xem
bất đồ nhìn thấy hàng chũ nhõ có đề chữ Quan Âm các Hoạn gia, bèn nói với Giác Duyên chuông khánh này sao giống y như chuông khánh Chùa Quan âm của nhà Hoạn Thư, Giác Duyên giật mình lo sợ nhân lúc đêm thanh liền hỏi lại Trạc Tuyền, Nàng liền thưa thật với Giác Duyên và nói bây giờ sự đã nhường này, phận hèn dù rủi dù may tại người Giác Duyên nghe nói rụng rời,nửa thương nửa sợ bồi hồi chả xong,, được dịp Bạc Bà sang Chùa dự tiệc trai, Giác Duyên liền nói thật với Mụ Bạc ý định gởi Kiều sang nhà Họ Bạc để tránh cái nạn Trộm Chuông Chùa, ai có ngờ đâu Bạc Bà lại là một Mụ Tú bà trá hình chuyên dụ dỗ buôn người bán cho Lầu xanh, Khi Kiều sang nhà Họ Bạc, thì Mụ tìm đủ mọi cách để hăm doạ Kiều, buộc nàng phải lấy cháu Bà ta là Bạc Hạnh rồi chở sang Châu Thai, bán vào lầu xanh, nhưng trên đời có cái rủi thì lại có cái may, vào lầu xanh Kiều lại nổi tiếng là tài hoa phong nhã, Từ Hải là một tay giang hồ ngang dọc vẫy vùng biển khơi nghe tiếng tìm đến mua hoa, thấy Kiều tài hoa phong nhã, lại gồm đủ cầm kỳ thi họa, hai bên đều tương đắc Từ Hải bỏ tiền ra chuộc Kiều vế làm Phu Nhân.

Kiều sang nhà Họ Bạc
129- Có nhà Họ Bạc ở bên kia
Quen lối sang Chùa tự thưở xưa
Tạm gởi Nàng về nơi ấy đã
Rồi sau tìm cách tránh dây dưa,

Kiều bị Bạc Bà ép duyên
130- Tội trộm chuông chùa nặng lắm thay
Bây giờ tính toán nước nào đây
Có chồng có vợ không ai hỏi
Bac Hạnh cháu nhà kíp nối dây

Thúy Kiều đắn đo
131- Đường cùng dù tính đến chữ tòng
Toan liệu thế nào phải đả thông
Mai mốt sau này chung với chạ
Bán hùm buôn qủy , trở thành không,

Bạc Bà an ủi Kiều
132- Đây Chàng Bạc Hạnh cháu nhà ta
Thân thích ruột già chẳng phải xa
Con cứ an tâm xong truyện đã
Châu thai thương nghiệp, hẳn hoi mà.

Kiều Bạc kết hôn
133- Bây giờ cùng đất, lại xa chân
Người ấy cùng ta gá nghĩa nhân
Biết mặt biết người cùng biết nết
Giao bôi thỏa nguyên chữ Châu Trần

Kiều Bạc cùng thề
134- Hay tin Họ Bạc định ngày mai
Sửa soạn nhang đèn, với lễ trai
Kiều . Hạnh hết lời cầu Nguyệt Lão,
Chứng cho đôi trẻ, đẹp duyên hài

Kiều Bạc suôi thuyền
135= Thuận buồm suôi gió thẳng ra khơi ,
Tháng lụn ngày trôi, cũng khá dài
Bữa nọ hoàng hôn vừa xế bóng
Từ từ thuyền ghé bãi Châu Thai

Bạc Sinh lên bờ trước
136- Thuyền vừa đậu bến thảnh thơi rồi
Bạc Hạnh lên bờ để kiếm nơi
Định giá xong suôi chàng trở lại
Dắt nàng vào thăng ổ …làng chơi.

Tú Bà rước Kiều vào lầu xanh
137- Xem người, xem nết đã xong rồi
Thuê Kiệu rước Nàng rất hẳn hoi
Vào cửa Thanh Lâu Kiều mới rõ
Chém cha cái kiếp,… thế này thôi,

Kiều than thân
138- Thoạt trông Nàng đã thất kinh rồi
Cái kiếp má đào chửa chịu thôi
Bên cạnh mấy cô ngồi đợi khách
Nhìn người tôi lại ngán cái mình tôi,

Thanh lâu tự thán
139- Đầu xanh nào có tội tình chi
Gia biến lọt vào cảnh thị phi
Thân phận lạc lòai nào xá quản
Cũng liều mặt phấn, để qua đi

Gặp khách biên đình
140- Gió quang mây tạnh buổi êm trời
Bỗng khách Biên đình ghé lại chơi
Hàm én mày ngài, năm tấc rộng
Một chèo vùng vẫy khắp nơi nơi

Từ Hải gặp Kiều
141- Qua chơi được biết tiếng Nàng Kiều
Con mắt anh hùng cũng đã siêu
Tri kỷ một đời đâu dễ thấy
Trạch vàng, đất sỏi có bao nhiêu…

Kiều tiếp Từ Hải
142- Khen cho con mắt cũng tinh đời
Đoán giữa trần ai có một người
Cái thế anh hùng vang tiếng tốt
Ngang trời dọc đất dễ như chơi

Từ Hải nói
143- Bấy lâu nghe tiếng má đào hây
Nhích lại gần đây tỏ mặt này
Bên sắc bên tài xem rõ kỹ
Muôn chung ngàn tứ đấy cùng đây

Thúy Kiều nói
144- Thưa rằng lượng cả đã bao dong
Một tấm lòng qùy vẫn đợi trông
Hẳn có rồng mây củng hội ngộ
Hoa hèn cỏ nội cũng ung dung,

Từ Hải đáp
145- Một lời đã biết đến ta đây
Nghìn tứ muôn chung hẳn có ngày
Hợp ý hai bên cùng hớn hở
Lọ gì việc ấy phải cầu may

Từ Hải chuộc Kiều
146- Ngỏ lời nói nhỏ với băng nhân
Ta cậy người ra đứng giữa phân
Mai mối chuộc Kiều ra khỏi cạm
Cùng ta kết nghĩa chữ Châu Trần

Kiếu thoát vòng trụy lạc
147- Tiền trăm trao đủ chẳng phân vân
Một tấm giấy hồng mở cửa ngăn
Từ đấy tự do Kiều với Hải
Đường đường mạnh phụ đấng phu nhân

Kiếu Hải chung sống
148- Trai Anh hùng sánh gái Thuyền quyên
Loan phượng hòa hai ý vẹn tuyền
Thất bào bát tiên đều có đủ
Tình càng thấm thiết dạ càng yên..

Từ Hải giang hồ
149- Nửa năm hơi tiếng mới vừa quen
Từ Hải động lòng Cá Nước lên
Dặn lại phu nhân chờ đợi đã
Chầy ra năm nữa hẳn là hên

Kiếu nói với Từ Hải
150- Nàng rằng phận gái chữ tòng xưa
Thiếp quyết theo Chàng lúc sớm trưa
Sẻ ngọt san bùi cùng nếm mật,
Có Chàng có Thiếp gọi là thưa

Từ Hải nói
151- Bằng nay bốn bể lại không nhà
Theo nữa làm chi, ở tại gia
Cờ xí rợp trời loa dậy đất
Rước Nàng nghi thất muộn gì a,

Từ Hải lên ngưa
152- Quyết lời rứt áo vội đi ngay
Cá nước rồng mây đã tới ngày
Lướt gió chim bằng bay vạn dậm
Năm thành đạp đổ, trở bàn tay,

Long vân gặp hội
153- Trào đình riệng một góc trời đông
Văn võ gồm hai , giữ một vùng
Gió táp mưa sa nào xá quản
Phong trần mài một lưỡi gươm xong

Long vân hội ngộ bài hai
154- Thừa cơ trúc trẻ ngói như không
Lừng lẫy uy tài khắp cõi đông
Giá áo túi cơm, đều quét sạch
Giang hồ vùng vẫy đã nên công

Kiều ở nhà nhớ Từ Hải
155- Nàng từ chiếc bóng qúa song mai
Đằng đẵng đêm thu nhớ tưởng hoài
Vó ngựa bóng cờ hằng ấp ủ
Nóng lòng chờ đợi chữ tương lai,

Nhớ Từ Hải bài hai
156- Cánh hồng bay bổng tuyệt vời xa
Con mắt mỏi mòn cũng đã hoa,
Chiếc bóng năm canh thao thức mãi
Trông vời trời bể , rộn lòng ta,

Kiều nhớ nhà
157- Đoái trông muôn dậm gốc cây phần
Thông cỗi, Huyên già, đã mấy xuân
Tưởng nhớ tấm lòng bao xiết kể
Quê người đất khách những phân vân

Nhớ nhà bài hai
158- Tấc lòng cố quốc, nỗi tha nhang
Rộn rã trăm đường những ngổn ngang
Bay bổng cánh hồng đang ngóng đợi
Rợp trời cờ xì tiếng loa vang

Từ Hải đón Kiều
159- Còn đang dùng dắng truyện vu vơ
Chợt thầy giáp binh đến bất ngờ
Quen biết mọi người đều thúc dục
Khuyên Kiều tạm ẩn chốn phòng thơ

Đón Kiều bài hai
160- Gíáp binh mười vị đã khấu đầu
Đều gọi Phu nhân hãy tới mau
Được lệnh rước Nàng lên kiệu trước
Dựng cờ nổi trống sẽ theo sau

Từ Hải đón Kiều
161- Hoả bài tiền lộ ruổi càng mau
Thể nữ cung nga tới tấp hầu
Tiếng trống Nam đình vừa lắng giọng
Hiên ngang Từ đã xuống thang lầu

Từ Kiều sánh vai
162- Chỉnh tề tươm tất vẻ cân đai
Cá nước rồng mây đã trổ tài
Kiều Hải cùng nhau đều sánh gót
Thong dong rảo bước tới phòng trai,

Mùa Thu Năm Kỷ Sửu sau tiết Cốc Vũ
Dương lịch ngày 29-4-2009
Viên Ngoại : Nguyễn Khắc Nhân(Thái Hanh)