Thứ Bảy, 16 tháng 8, 2014

Những Mùa Trăng Tháng Tám


Tôi về lại một mùa trăng tháng tám
má tôi buồn đôi mắt ướt bên song
hàng bông bụp trước nhà tôi xanh ngắt
nở đôi bông vừa đủ nhớ âm thầm

con sông nhỏ mừng tôi con nước đứng
vườn cây xanh hoa bưởi gọi hương về
tôi đứng ngó cuối con đường thanh vắng
những ngôi nhà đau phổi ở thôn quê

ôi chế độ bây giờ ưu việt quá
em bỏ trường theo chúng bạn đi xa
thương thằng út quê mùa như cỏ dại
nên chút mây giăng trên mắt mẹ già

tôi về lại một mùa trăng tháng tám
em đi rồi hoa cúc nở nhà ai
mơ nhãn chín thương bầy dơi lãng mạn
lượn quanh tôi ngàn cánh nhớ ưu hoài

tôi về lại một mùa trăng tháng tám
bếp cũ chiều nghiêng hoa khế bay
mẹ tôi mắt đỏ buồn trong khói
cười để mênh mông tiếng thở dài

Lâm Hảo Khôi

Thơ Tranh: Ngày Lễ Mẹ


Thơ: Hoàng Dũng
Thơ Tranh: Kim Oanh

Chữ Hiếu Qua Ca Dao Của Người Đất Vĩnh


Nhân Mùa Báo Hiếu, chúng ta cùng đọc lại những câu ca dao đậm tình hiếu nghĩa có nguồn gốc từ Vĩnh Long


Ơn cha nặng lắm ai ơi
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang

Không gì bằng cơm với cá
Không gì bằng má với con


Anh hiếu bao nhiêu gọi rằng hiếu nghĩa?
Em hiếu thế nào được gọi Hiếu – Ân?
Chớ qua đây Trung Hiếu vẹn toàn
Như sông Cổ Chiên ngày đêm xuôi chảy chẳng màng lợi danh!

Công cha nghĩa mẹ chưa đền
Hiếu trung chưa trả sao em ôm mùng mền theo trai?

Cái ngủ con ngủ cho lâu
Mẹ con đi cấy ruộng sâu chưa về

Cái ngủ con ngủ cho say
Mẹ con vất vả chân tay tối ngày


Anh thương nàng hết bảy, còn ba
Để thương cha mẹ già cùng với hai em

Bông ngâu rụng xuống gốc ngâu,
Em còn phụ mẫu dám đâu tư tình.
Bớ người khăn trắng hồ dương,
Lại đây kết nghĩa tình thương cho rồi.

Con ơi con ngủ cho lâu
Má còn nhiều việc bù đầu sớm khuya
Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ mẹ (bạn) chín chiều ruột đau.

Thà tôi mặc rách, để cha mẹ mặc lành
Công cha mẹ sinh thành mới có con vợ của tôi

Chiều nay đi ra sông cái
Em tự ải cho rồi
Chớ sống làm chi biệt ly quân tử
Thà thác cho rồi được chữ hiếu trung

Tre già che bóng măng non
Tình sâu nghĩa nặng mãi còn ngàn nam

Chiều chiều ra ngõ hái rau
Thương cha nhớ mẹ ruột đau như dần

Có con, nghĩ mẹ thương thay
Chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau

Đạo mẹ cha mất đà khó kiếm
Nghĩa can thường chẳng hiếm chi nơi!

Lên non khấn vái Phật trời
Cầu mong cha mẹ sống đời với con

Lưu ly nửa nước, nửa dầu
Nửa thương cha mẹ nửa sầu lỡ duyên

Má ơi đừng đánh con hoài
Để con kho cá bầm xoài má ăn

Má ơi! đừng đánh con đau
Để con bắt ốc hái rau má nhờ
Má ơi đừng đánh con hoài
Để con bắt ốc gọt xoài má ăn.

Mẹ già ở túp lều tranh
Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con

Ngồi buồn nhớ mẹ thuở xưa
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương

Huỳnh Hữu Đức Sưu Tầm

Thơ Tranh:Giọt Buồn

Nỗi buồn từng giọt nhẹ rơi...

Thơ & Thơ Tranh: Suối Dâu


* * *
Chào bạn Suối Dâu,
Bạn cho ăn ké với. nhưng ké với bài Giọt Tình

Giọt Tình

Giọt tình rơi nhẹ bên hiên
Gợi buồn kỷ niệm triền miên ngập lòng
Trăng chơi vơi giữa dòng sông
Trong ta sương tỏa mênh mông nghẹn lời.

Thu sang vàng úa ngập trời
Để cho hoa nắng trùng khơi kéo về
Một mình bóng lẻ bên hè
Dòng sông nghe mõi lê thê đầu nguồn.

Hoa tàn sõi đá cũng buồn
Em đi cây lá con đường ngẩn ngơ
Ta về chép vội vần thơ
Gởi theo con sóng sang bờ bến xưa.

Nhìn màu nắng nhạt lưa thưa
Mà sao nghe lạnh như vừa mất em
Gió buồn gọi hạt mưa đêm
Nhớ em từng lúc bên thềm trăng khuya.


Dương Hồng Thủy
15/08/2014

***
Giọt Nhớ


Giọt Nhớ, chút cảm xúc khi đến Quebec trong một buổi chiều vàng rơi trên dòng sông, một mình .... đẹp và thơ mộng lắm.


Quebec một chiều nắng đẹp
Dòng sông mỉm cười con nước hồn nhiên
Nghe hơi thở thì thầm trò chuyện
Sóng trong lòng cũng chợt bình yên

Ly cà phê say hương gió quyện
Từ nơi nào lưu luyến đưa sang
Một chút chao nghiêng chút ngỡ ngàng
Hớp giọt cuối hồn mênh mang nhớ


Kim Oanh
Quebec2012
***
Chào Suối Dâu thương mến với vài câu tâm tình mộc mạc

Pleiku mình có suối dâu
Từ xưa suối vẫn một màu mộng mơ
Suối ơi! Kẻ đợi người chờ
Chảy đi biền biệt bao giờ gặp nhau
Ngàn dâu xanh biếc một màu
Suối ơi! Từ ấy xa nhau nghìn trùng


Ngô Quang Diệp

***
Giọt Buồn Không Tên

(Cảm tác từ “Giọt buồn” của Suối Dâu)

Nỗi buồn gặm nhấm phủ phê
Xót xa chìm đắm sầu tê tái về
Đâu rồi ngày tháng si mê
Lối mòn xưa cũ tìm về dấu yêu

Cuộc tình nắng sớm mưa chiều
Hắt hiu giọt đắng lặng thiu ru tình
Bóng đi còn lại mỗi hình
Tìm về kỷ niệm khắc in cuộc đời

Ngậm ngùi chiếc lá thu rơi
Cuốn theo chiều gió mộng ơi vỡ rồi
Còn chăng tiếc nuối mà thôi
Đò tình lỡ chuyến sầu rơi giọt buồn

8/2014
Thiên Thu

Túc Kiến Đức Giang - 宿建德江



宿建德江      Túc Kiến Đức giang
       Mạnh Hạo Nhiên (689 - 740)

移舟泊煙渚, Di chu bạc yên chử
日暮客愁新。 Nhật mộ khách sầu tân
野曠天低樹, Dã khoáng thiên đê thụ
江清月近人。 Giang thanh nguyệt cận nhân

                                           Mạnh Hạo Nhiên

Dịch Xuôi : Ngủ Qua Đêm Bên Bờ Sông Kiến Đức

Dời thuyền đến neo ở bến sông mịt mờ sương khói
Chiều xuống khơi dậy nỗi buồn xa nhà
Đồng vắng mênh mông, trời như sà xuống thấp đến ngọn cây
Dòng sông trong xanh , ánh trăng lấp lánh quẩn quanh bên người
 


Chú Thích : Sông Kiến Đức ở tỉnh Chiết Giang bên Tàu 

Dịch: Ngủ Đò Một Đêm Trăng

Bài 1 

Dời thuyền tìm bến đỗ 
Sương khói chiều xa nhà.
Đồng vắng ôm trời ngủ 
Riêng trăng thức với ta.
 
Bài 2
Thuyền ngủ bên sông vắng 
Chiều buông mờ khói sương.
Đồng hoang trời xuống thấp 
Trăng nước cũng tha phương. 

Phạm Khắc Trí 
07/22/2014


* * *
Các Bài Thơ Dịch: 


   Ng  Đò Trên Sông Trăng
Thuyền neo đậu ở bến sông 
Mịt mờ sương khói mênh mông khoảng trời 
Chiều buông chầm chậm xa khơi 
Lòng buồn man mác trông vời cố hương 
Bao la đồng vắng sầu vương 
Bầu trời sà thấp ngang đường ngọn cây 
Trong xanh dòng nước dâng đầy 
Tơ trăng lấp lánh vàng xoay quanh người. 
                        Phương Hà phỏng dịch
* * *
     Đêm Trên Sông Kiến Đức 
Thuyền neo bến lạnh khói sương 
Chiều buông khơi dậy nỗi buồn xa quê 
Mênh mông đồng vắng bốn bề 
Trời như xuống thấp lè tè ngọn cây 
Sông xanh trăng sáng chan đầy 
Cô đơn treo ánh trăng vây quanh người 
                                       Trầm Vân 
* * *
Tr Sông Kiến Đức 
1/
Ghé thuyền bên đảo vắng,
Chiều xuống khách sầu vương.
Đồng rộng trời như thấp,
Nước trong trăng tựa gương.


2/
       Buộc thuyền trong khói sóng mờ,
  Trời chiều lòng khách ơ hờ quạnh hiu.
        Cây cao trời thấp xuống nhiều,
Trăng soi mặt nước xiêu xiêu cạnh người.
                                Đỗ Chiêu Đức.
* * *
    Đêm Trên Sông Kiến Đức 
Sương khói mờ thuyền neo đỗ bến
Chiều dần buông khách dậy sầu lên
Đồng mông quạnh vắng trời như thấp
Trăng ngập quanh ta nước một dòng 
                          Kim Phượng 
* * *
   Ở Lại Sông Kiến Đức 
Nơi bến sương thuyền đỗ 
Chiều rơi khách não nề
Đồng hoang trời tiếp đất
Sóng nước khách trăng kề 
                        Quên Đi

Tâm Hương - Nguyễn Tất Nhiên


Giữ cho nhau một chút tình 
Giữ cho nhau một ánh nhìn thiên thu 
Giữ long lanh, giữ sa mù 
Giữ phai nhạt, giữ đền bù nhạt phai

Giữ hương cho thở ngây ngây 
Giữ hiu hiu gió đượm dài luyến lưu 
Giữ sương mai, giữ sương chiều 
Giữ sông trong giọt lệ sầu xưa, sau

Giữ cho nhau một chút nào 
Giữ duyên đáp nghĩa đền câu phụ lòng 
Giữ thơm không khí phiêu bồng 
Giữ mây cho khói mang hồn sông theo…

Nguyễn Tất Nhiên
Suối Dâu sưu tầm

Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014

Về Với Má


Con cũng muốn về thăm lại má
Thăm dòng sông Hậu nắng lưa thưa
Có cây dừa lão thân gầy quá
đứng khóc theo mùa con nước đưa

thấy nhớ làm sao mùa luá chín
má ngồi khâu áo ở đầu sân
thương thằng hai đã nằm trong đất
thằng út mơ màng tính vượt biên

con gởi buồn theo mấy góc bần
mấy giàn mướp khía mới đơm bong
mấy dây bình bát dây me đất
và đám ô rô lũ mái dầm

má biết con yêu thích cúc tần
cái hương sao-nháy rất thanh tân
từ khi con bỏ quên đời lính
lòng chết còn thương những lá vang

ai cắt lìa chi từng núm ruột
mà kinh Xáng múc cạn khô dòng
mà chim bìm bịp chim tu hú
cũng trốn bay về chốn biển đông

con mộng đêm nay dưới ánh đèn
hồn già sống lại thuở hoa niên
chờ con xuôi bước miền châu thổ
cho cát bồi hạt giống xanh thêm

Lâm Hảo Dũng
(Những Bài Thơ Của Tôi)

Câu Đối: Vu Lan - Ơn Cha Nghĩa Mẹ


Câu Đối: Huỳnh Hữu Đức
Tranh: Kim Oanh


Tháng Tám Hoa Vàng Nỗi Nhớ


Đã lâu lắm mới về qua phố
Con đường mòn lộng gió xôn xao
Trời tháng tám hoa vàng nỗi nhớ
Mùa hạ ru lá ngủ trên cao

Hàng phượng rủ chân qua lối cũ
Gót son hồng một thưở đón đưa
Khoang hạnh phúc trong miền quá khứ
Bỗng trở mình gợi giấc mơ xưa

Lòng khao khát chạm vào điều ước
Gọi thời gian yêu dấu đã xa
Quay trở lại cho ta xin được
Hôn môi người tình dẫu phôi pha

Gom tất cả tơ vương sót lại
Thả vào mưa tan giữa không trung
Bay đi nhé chút si mê dại
Đề hồn ta thôi hết rưng rưng

Vĩnh Trinh
Hình phụ bản của tác giả ghi lại

Chiếc Áo Bà Ba

Nét đẹp duyên dáng của cô gái miền Nam sông nước Việt.
      Tôi ngắm bức tranh có cô gái mặc chiếc áo bà ba mầu tím hoa cà, cô gái trông vui tươi duyên dáng chèo thuyền trên sông nước. Trong ánh mắt tôi cả một quê hương vùng dậy. Những hình ảnh thân thương, quen thuộc lại hiện về tiếng khua nước ghe chèo trên bến sông, chốn chợ nghèo cuối thôn, hay chiếc cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi đều thắm đượm hồn quê trong từng ánh nhìn, sắc áo bà ba ẩn hiện. Như thể người thôn nữ ấy chưa từng rời xa chốn miệt vườn, miệt ruộng biền biệt những tháng năm dài xa xăm đằng đẳng...
      Áo bà ba vốn không có cổ, thân áo phía sau may từ một mảnh vải nguyên, thân trước gồm hai mảnh, ở giữa có hai dải khuy cài chạy dài từ trên xuống, chiết eo và xẻ tả vừa phải ở bên hông. Cùng kết hợp với áo bà ba là chiếc quần đen satin dài chấm gót, làm tăng thêm nét đẹp mềm mại, thanh thoát của người phụ nữ.
      Trải qua bao nhiêu năm tháng, chiếc áo bà ba ngày nay vẫn gắn bó với biết bao người con gái miền Nam và trở thành một nét văn hóa truyền thống dân tộc hết sức có giá trị. Đây chính là nét đẹp văn hóa ngàn đời khó quên của dân tộc Việt Nam, một đất nước có truyền thống văn hóa đầy tính sáng tạo, chuộng nét thẩm mỹ, luôn đổi mới để tồn tại vượt qua thời gian và không gian...
      Ngược dòng lịch sử, chiếc áo bà ba xuất hiện đầu tiên ở miền Nam vào thời kỳ Hậu Lê. Áo bà ba vốn là áo không cổ, được may bằng loại vải một, vải ú, vải sơn đầm vốn mau khô và dễ giặt. Bên cạnh đó, chiếc áo bà ba được xẻ ở hai bên hông tạo sự thoải mái cho người mặc, gần vạt áo có thêm hai túi to khá tiện lợi cho việc đựng những vật dụng nhỏ như cặp tóc, khăn tay, diêm quẹt, tiền bạc... Chính nhờ tính tiện dụng và sự thoải mái đó, chiếc áo bà ba được cả nam lẫn nữ ở đồng bằng miền Nam mặc cả lúc đi làm, đi chợ, đi chơi. Riêng lúc đi chơi, họ thường chọn màu sắc nhẹ hơn như màu trắng, màu xám tro. Còn các cô, các bà thì chọn màu mạ non, xanh lơ nhạt... với chất liệu vải đắt tiền hơn như the, lụa. Sau này áo bà ba truyền thống được phụ nữ thành thị cải tiến, vừa phổ thông hòa theo tinh thần văn hóa dân tộc, vừa đẹp vừa có nét mỹ thuật hiện đại hơn. Áo bà ba hiện nay không thẳng và rộng như xưa, mà được may hẹp, nhấn thêm eo bụng cho ôm sát lấy thân hình. Ngoài ra, người at còn sáng tạo các kiểu cổ lá sen, cánh én, đan tôn. Áo bà ba kết hợp với chiếc quần đen bằng vải Satin dài chấm cổ chân hoặc gót chân đã tôn lên vẻ đẹp, hình hài vóc dáng của người phụ nữ với chiếc lưng ong nhẹ nhàng, thanh thoát, mềm mại.
      Nói tới chiếc áo bà ba, chúng ta không thể không đề cập tới ca khúc tôn vinh “Chiếc áo bà ba” của Nhạc Si Trần Thiện Thanh.

Chiếc áo bà ba trên giòng sông thăm thẳm
Thấp thoáng con xuồng bé nhỏ lướt mong manh
Nón lá đội nghiêng tóc dài con nước đổ
Hậu Giang ơi em vẫn đẹp ngàn đời

Nhớ chiếc xuồng xưa năm nào trên bến cũ
Thương lắm câu hò kêu gọi khách sang sông
Áo trắng xuồng đưa mắt cười em khẽ gọi
Người thương ơi em vẫn đợi chờ.

Đẹp quá quê hương hôm nay đẹp vô ngần
Về Sóc Trăng một ngày ca điệu lâm thôn
Đàn én chao nghiêng xôn xao mùa lúa nhiều
Về bến Ninh Kiều thấy nàng đợi người yêu

Em xinh tươi trong chiếc áo bà ba
Em đi mau kẻo trễ chuyến phà đêm
Qua bến Bắc Cần Thơ

Nhớ kỷ niệm xưa nông xuồng đêm trăng tỏ
Em gái Ninh Kiều tóc dài chấm lưng thon
Đất nước mình đây dẫu xuồng ghe bé bỏng
Mà không thôi nhớ thương nên đầy vơi.

Dẫu qua đây một lần
Nói sao cho vừa lòng
Nói sao cho vừa thương.


      Nét đẹp nhu mì, dịu dàng, giản dị và duyên dáng của chiếc áo bà ba đã là nguồn cảm hứng cho bao nhiêu ngòi bút trong những áng thi ca và những nốt nhạc ca ngợi vẻ đoan trang thẩm mỹ của chiếc áo bà ba.
      Vào thập niên 70, các thành phố miền Nam phổ biến kiểu ráp tay raglan, đã tạo nên vẻ đẹp hiện đại cho chiếc áo bà ba truyền thống. Hai thân áo trước và sau tách rời khỏi vai và tay áo, trong khi tay và áo lại liền từ cổ tới nách. Áo bà ba vai raglan được may rất khít, vừa vặn với eo lưng, không quá thắt như kiểu áo trước đó. Tay áo dài hơn, hơi loe, hai túi ở vạt trước được bỏ đi để tạo cho thân áo nhẹ nhõm, mềm mại hơn.
* * *

      Trải qua bao thăng trầm của đất nước, chiếc áo bà ba vẫn tồn tại và chiếm được trơn vẹn tình cảm yêu mến của tất cả các tầng lớp trong xã hội. Chiếc áo bà ba, chiếc khăn rằn hay với chiếc nón lá nghiêng nghiêng khuôn mặt vẫn mang đậm nét đặc trưng truyền thống của người con gái vùng đồng bằng sông nước Cửu Long.
      Trải qua bao biến cố đổi thay của lịch  sử, những thăng trầm của đời sống, áo bà ba vẫn là bộ trang phục bình dị, đơn giản, và phải nói là rất phù hợp với người dân chân chất, thật thà ở những nơi vùng sông nước này như miền Tây Đô. Những người con dù có xa xứ đến nay khi nhìn lại chiếc áo bà ba quê hương, không khỏi chạnh lòng.
      Cái đơn giản, mộc mạc của chiếc áo cho thấy cả một nền văn hóa quê hương gồm những thứ thật hiền hòa, nhu mì và lại gần gũi dễ thương. Vẫn áo bà ba thấp thoáng bên dòng nước xanh, hay trên chiếc xuồng ba lá. Áo bà ba vương mùi bếp khói, thơm mùi lúa mới trổ bông. Áo bà ba len lỏi giữa chợ nổi ven sông, vắt vẻo trên cây cầu nối hai đầu thương nhớ. Áo bà ba được dãi nắng dầm mưa quê hương, trong những vụ mùa bội thu còn rộn rã hân hoan tiếng vui cười. Áo bà ba lung linh trên sông nước có ánh trăng cho đôi lứa hẹn hò.
Chiếc áo bà ba trên giòng sông thăm thẳm
Thấp thoáng con xuồng bé nhỏ lướt mong manh
Nón lá đội nghiêng tóc dài con nước đổ
Hậu Giang ơi em vẫn đẹp ngàn đời


Lý Tòng Tôn
11/2013

Ngàn Thu Áo Tím - Hoàng Trọng&VĩnhPhúc - Quỳnh Giao& Nguyễn Thành Vân


Thơ Cảm Tác: Kim Phượng
Thơ Tranh & Youtube: Kim Oanh



Sáng Tác: Hoàng Trọng & Vĩnh Phúc
Song Ca: Quỳnh Giao & Nguyễn Thàng Vân
Hoà Âm: Lê Ngọc Chân & Cung Tiến

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014

Tịnh Ngọc Xá - Vĩnh Long












Trương Văn Phú

Trở Về Mái Nhà Xưa


     (Nhân ngày Father’s Day)

Con trở lại ngôi nhà xưa lạnh lẽo
Nhìn dòng sông in bóng nước phù vân
Ba thật sự trở thành người thiên cổ
Bình hương tro nằm đựng xác thân tan.

Con đứng giữa gian từ đường hoang phế
Lòng sắt se tưởng nhớ thuở vàng son
Ba đã sống trọn niềm đau thế hệ
Và bạc đầu theo từng bước chân con.

Ba để lại bình trà vàng sĩ khí
Sùng sục sôi tiết tháo một nhà nho
Mùi trà bay thơm tận cùng ý chí
Sáu mươi năm con giữ vẹn từng giờ.

Ba như gốc bách tùng cổ thụ
Che đời con khỏi nắng dữ mưa thâm
Cây bao giờ cũng vươn cành hy vọng
Làm bóng râm cho thành tựu nẩy mầm.

Ba là gió cho tình con lồng lộng
Là mây xanh cho ước mộng con bay
Là dòng sông cho thuyền con xuôi sóng
Là núi cao cho ngất ngưỡng thân trai.

Ba là sách gối đầu con vinh hiển
Là nước nguồn làm trong sạch đời con
Là ca dao đưa con về nguồn cội
Là quê hương vang dội tiếng hò khoan.

Con trở về ngôi nhà xưa dột nát
Bới tàn tro để tìm lại dư hương
Chỉ còn đây di ảnh ba nhòa nhạt
Ôi mất rồi một mái ấm yêu thương.

(Escondido, 18/06/2011)

Phạm Hồng Ân

Thơ Tranh: Nhớ Mẹ


Thơ: Lục Lạc 
Thơ Tranh: Kim Oanh

Chút Kinh Nghiệm Trồng Thanh Long Ở Melbourne

      Chào các bạn,
     Thật ra tôi trồng Thanh Long chẳng có bài bản gì duy có chút kinh nghiệm của con nhà vườn rồi làm đại thôi Tuy nhiên tôi thấy kết quả không tệ. 
      Trước khi bắt tay trồng Thanh Long phải có một vài chuẩn bị, đầu tiên chọn hom, có hai cách chọn hom là cây giống hoặc trồng bằng hạt giống.
      Chọn hạt thì thời gian ra trái sẽ lâu hơn. Đối với cây giống (hom) ở Việt Nam, khí hậu nóng có thể trồng từ 8 tháng đến 18 tháng cho trái đầu tiên. 

      Riêng tại Melbourne khí hậu lạnh tôi trồng đến 3 năm mới ra trái.  
      Chọn hom lấy cành có tuổi độ 1 năm, theo sách vở thì cắt từ 50 cm đến 70 cm.
      Riêng tôi cắt từ  30 - 50 cm là lý tưởng rồi (vì thật ra hiện tại giống còn ít cắt dài làm sao có đủ tặng bạn bè)
      Kế đến chuẩn bị đất sau khi trồng trụ tôi chọn cây red gum 
- Cao 2.4 m chôn khoảng 0.6 m cao còn 1.8 m . 
- Cuốc đất chung quanh trụ đường kính từ 1 - 1.5 m sâu khoảng 20 cm , 
- Đổ top soil loại trồng cỏ cho có nhiều cát (Thanh Long thích đất cát trái ngon hơn đất phù sa ).
-  Rải một lớp phân dynamic từ 0.5-1 kí hay Super lân, 
- Một ít phân lạnh urê và một bao phân chuồng gà hay bò, phân gà Thanh Long thích hơn. 

      Hom có thể trồng liền hay ươm trước cho ra rể. Nên ốp sát vào bề mặt của trụ từ 2-4 hom mỗi trụ . Khi cắm trồng không sâu quá 5 cm, nếu sâu quá cây giống dễ bị thúi. 
      Khi cây đã đâm chồi mình có thể pha phân lạnh tưới dưới gốc cả thân cây để cây phát triển nhanh. 
     Thỉnh thoảng pha phân cá tưới cũng rất tốt.Mỗi năm mình cho phân khoảng 3 lần, riêng phân chuồng 1 lần trong năm là đủ.
      Thanh long tuy chịu khô hạn được nhưng không phát triển tốt, vì thế nên giữ đất hơi ẩm nhưng không bị đọng nước.

      Khi Thanh Long có  trái, khô quá hay nước đọng dễ bị rụng. Trong thời kỳ Thanh Long mang trái nên bón thêm phân NPK, KCL cho trái thêm hương vị ngon ngọt. 
      Nên dùng dây cột hom vào trụ để giữ cho hom không bị lung lay và rể non mau bắt đất. Ở Việt Nam người ta dùng đèn kích thích cho trái theo ý muốn, nơi nầy mình trồng mua vui nên đâu cần tốn điện. Nhưng Thanh Long ra trái lủc chưa mưa bao giờ cũng ngon ngọt hơn lúc mùa mưa.

      Các bạn thân mến,
     Tôi chỉ có chút hiểu biết ít ỏi về Thanh Long mà thôi, đối với những người chuyên nghiệp như ếch ngồi đáy giếng
       Thân mến

Một vài hình ảnh mời các bạn xem:

Giàn Thanh long này có trái mùa thứ nhất sau khi
trồng được 3 năm. Thanh long ngoài cách trồng xuống đất cũng có thể trồng trong chậu bằng những
thùng rượu vang cắt đôi 
Thanh Long trồng trong chậu năng suất không thua gì trồng dưới
đất mà có ưu điểm :
- Đở choáng chỗ, dễ chăm sóc, cho trái nhiều.
Mời các bạn ngắm nhìn các chậu Thanh Long đã trưởng thành và những chậu vừa trồng 1 năm tuổi

Phong Điền
Melbourne, Australia

Vịnh Bốn Mùa


Xuân
          Chim én ríu-rít về 
          Mơn-mởn lá sum-sê 
          Ngàn hoa khoe sắc thắm 
          Liễu rũ cành lê-thê 

Hạ
          Hồ sen xanh bát ngát 
          Lựu đỏ rực lá cành 
          Ve sầu kêu ra-rả 
          Nắng đổ khắp đồng xanh 

Thu
          Hiu-hắt gió heo may 
          Sông nước nhuộm màu mây 
          Vịt trời lanh-lãnh gọi 
          Lá đổ từng lớp dầy 

Đông
          Trắng xóa khắp đồng hoang 
          Ngấn lệ tuyết vương cành 
          Rừng cây trơ-trụi lá 
          Đào cười gió đông sang 

  MaiLoc
12-12-11

Một Mai Em Đi - Trường Sa -Thùy Dương

      Bài hát Một Mai Em Đi nói về cuộc chia tay sắp xảy ra làm cho người ở lại ,người sắp ra đi biết trước lần chia tay này sẽ khó mong gặp lại và họ cũng biết rằng rồi sau này sẽ có ngày hối tiếc..
      Giọng ca Thùy Dương hơi lạ ,nhưng nó cũng có sức truyền cảm,và phần phối âm cũng rất hay,dễ cho chúng ta thấy thích bản nhạc này..Sau này Thùy Dương cũng hát lai bài này nhưng trên nền phối âm mới,theo tôi bản phối âm cũ cách nay khoảng 20 năm nó vẫn rất hay


Sáng Tác: Trường Sa
Tiếng Hát: Thùy Dương
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình

Ánh Mắt Còn Đây


        (Từ thơ tranh “Nụ Cười Còn Đó” của Hoàng Dũng)
Ánh mắt người trao ngời sáng tươi
Theo ta trên khắp nẻo đường đời
Mỗi khi đêm xuống luôn hoài nhớ
Hay lúc ngày lên lại ghé chơi
Tâm sự đầy vơi, sầu mắt biếc
Nỗi niềm sâu lắng, tái tê người
Dòng đời xuôi ngược lòng lưu luyến
Ánh mắt còn đây tri kỷ ơi…

Thiên Thu

Sự Tích Cái chân Sau Của Chó


Ngày xưa có một người đàn bà tên là Thanh Đề rất sùng đạo Phật. Bà ta sùng Phật đến nỗi cho rằng những cơm bánh do lúa gạo người ta trồng ra ở đồng ruộng thì không thể nào tinh khiết được, nên không một thứ nào đáng đem lễ Phật. Vì thế, hằng năm bà ta trồng lúa nếp trong những cái gáo dừa đựng đất sạch. Luôn luôn bà treo cái gáo đó lên một chỗ cao vì sợ có người bước qua. Khi lúa chín, bà thận trọng rứt từng hạt một, giã nó bằng một cán dao mới tinh, rồi mới đưa nắm gạo đó đựng vào bát thờ mà dâng lên chùa. Một hôm, ở một ngôi chùa lớn trong vùng có mở hội đón tiếp khách thập phương. Vị hòa thượng chùa ấy cắt đặt một số sư tiếp nhận những lễ vật của thiện nam tín nữ đem đến cúng Phật. Bà nghe tin không quản đường xa, vội đưa nắm gạo nếp tinh khiết của mình tìm đến cúng ở chùa đó. Không ngờ mấy vị sư kia chỉ chú ý đến lễ vật hậu hỷ của những người khác, mà chả ai tưởng đến bà và nắm gạo của bà. Chờ suốt một ngày không thấy ai nhận, người đàn bà nọ tức mình, ném nắm gạo xuống đất rồi bỏ ra về. Ít lâu sau, bà ta sửa một lễ cúng Phật tại nhà mình rồi mời hòa thượng và các sư chùa đó đến tụng kinh. Theo lệ thường, trước khi ra về chủ nhân phải làm bánh tặng họ ăn đường. Để làm nhục bọn sư bất lương, bà ta giết một con chó lấy thịt băm nhỏ với các thứ rau thơm làm nhân bánh. Sau bữa cơm chay, bà ta đem bánh do tặng mỗi người một chiếc. Đoán được mưu mẹo của người đàn bà, vị hòa thượng dặn các nhà sư cầm bánh về chứ đừng ăn. Họ đều vâng lời, duy chỉ có một nhà sư là quên mất. Dọc đường thấy bánh thom ngon, sư ta bèn bóc ăn kỳ hết. Những người khác khi đưa bánh về biết là nhân thịt chó đều quẳng cả vào gốc cây bồ đề ở trước chùa. Tất cả những việc đó đều thấu tai đức Phật. Trước hết, đức Phật trị tội bọn sư bất lương và tham lam. Bọn họ bị bắt xuống địa ngục. Con chó chết oan được sống lại. Nhưng vì nó đã bị nhà sư kia ăn mất một chân nên lúc trở về cõi thế chỉ còn có ba chân. Đức Phật thấy thế chắp cho nó một chân giả khác để nó tiện đi lại[1]. Những thứ rau thơm làm nhân bánh bị vứt dưới gốc bồ đề cũng như phép Phật mọc lại xanh tốt. Đó là ba cây rau om, hành và sả. Vì những loại cây ấy bị nhà chùa coi là đã uế tạp cho nên sau này những người xuất gia đều kiêng không dùng. Vê phần người đàn bà cũng bị tội nặng: Phật bắt bà ta bỏ vào tầng ngục thứ mười. Có người bảo đó là bà mẹ ông Mục Liên, sau này ông ta từng xuống dưới đó thăm mẹ.

Truyện bà mẹ Mục Liên đại khái như sau : Xưa có ông La Bốc mồ côi cha rất có hiếu với mẹ... Nhưng mẹ ông ta lại tham lam quỷ quyệt. Ông chịu khó làm ăn được nhiều tiền gửi cho mẹ. Mẹ phung phí hết nhưng lại nói dối với con là đem cúng Phật. Mẹ chết, La Bốc theo đức Phật tu hành, lấy tên là Đại Mục Kiên Liên (hay Mục Liên). Trong một chuyến đi vào nơi âm hồn ở, Mục Liên chỉ gặp bố không thấy mẹ, hỏi Phật thì Phật cho biết vì gian tham nên bị đày xuống địa ngục. Mục Liên xin phép xuống thăm. Qua ngục Hung-giao, ngục Khôi-hà, hết ngục này đến ngục khác, được xem hàng nghìn cách hành hạ tội nhân, nhưng ông vẫn chưa gặp mẹ. Mãi sau một tên quỷ đưa đến ngục A-tỳ mới gặp. Thấy mẹ kêu cứu, ông thương quá toan đưa mẹ đi nhưng quỷ không cho. Sau xin mãi với Phật, Phật biến người mẹ thành chó cái đi theo Mục Liên. Sau đó, Mục Liên hóa phép cho mẹ thành người và khuyên phải sửa đổi tính xấu. Bà mẹ nghe lời và nhờ đó, một hôm, vào ngày rằm tháng Bảy được Phật cho lên trời. Từ đó vào ngày rằm tháng Bảy, người ta quen cụng lễ người chết, nhà chùa thường làm chay "phá ngục cho tội nhân, cũng gọi là ngày "vong nhân xá tội" 

Theo http://maxreading.com/

Thứ Tư, 13 tháng 8, 2014

Mẹ Xưa - Thơ Khánh Hà - Phổ Nhạc Võ Tá Hân


Thơ: Khánh Hà
Phổ Nhạc & Thực Hiện Youtube: Võ Tá Hân
Ca sĩ Hạnh Nguyên

Vu Lan Ân Nghĩa Một Đời





Vu lan báo hiếu một mùa
Riêng tôi trả hiếu lũy thừa nhân lên
Trả một đời cũng chưa đền
Ơn cha nghĩa mẹ tạo nên thân này

Vu lan những cánh hồng bay
Vào trong tiềm thức người hay, kẻ hiền
Mặc dông bão, thời đảo điên
Đời hư tâm tịnh còn nguyên nghĩa tình

Vu lan đâu phải riêng mình
Mùa chung từ thuở binh minh loài người
Dầu khác nhau tiếng nói cười
Vẫn chung hai chữ ơn đời nghĩa nhân

Vu lan nở nụ từ tâm
Thành sen ngàn đóa trong đầm ngát hương
Dâng lên trời đất thập phương
Mượn hoa hiến Phật cúng dường trai tăng

Vu lan Mẹ như trăng rằm
Cha như minh nhật thăng trầm vẫn vui
Cho con tất cả ngọt bùi
Đắng cay cam chịu ngậm ngùi riêng mang.

Vu lan hai chữ nhẹ nhàng
Một đời ơn nặng tận ngàn thu sau.
Công Cha nghĩa Mẹ nhiệm mầu
Vu Lan báo hiếu khắc sâu đáy lòng.

Túy Hà

Thơ Tranh: Mùa Hiếu Hạnh


Thơ & Thơ Tranh; Yên Dạ Thảo

Đi Tìm Cội Nguồn Tục lệ "Bông Hồng Cài Áo"


Mỗi năm mỗi thắp đèn trời
Cầu cho cha mẹ sống đời với con.  
Ca Dao
Trong ngày lễ Vu Lan, đến chùa thắp nhang cúng Phật, nghe kể câu chuyện "Mục Liên Tìm Mẹ".
Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp một (đậu), như đường mía lau. 

Ca Dao
Chúng ta không khỏi bùi ngùi cảm động
Mẹ già như trái chín cây
Gió đưa mẹ rụng con rày mồ côi
 
Ca Dao

      Vu Lan mùa Báo Hiếu, tục lệ có từ ngàn xưa, ai cũng đều biết rõ, chỉ riêng chuyện đoá hoa Hồng và Trắng cài trên áo, biểu tượng cho người còn hay mất mẹ có nguồn gốc từ đâu, tự bao giờ thì ít được đề cập đến. Chúng ta cùng tìm hiểu về cội nguồn của Tục lệ này.

      Vào những năm đầu của thập niên 60 của thế kỷ 20, Thiền Sư Nhất Hạnh có viết một bài hồi ký mang tựa đề "Bông Hồng Cài Áo". Quyển hồi ký được in với kích thước khiêm tốn, có thể bỏ vào bao thư để gởi tặng nhau, phát hành khắp Miền Nam Việt Nam, rất được mọi người yêu thích, đón nhận nồng nhiệt, tái bản nhiều lần.

      Theo lời kể lại của Thiền Sư Nhất Hạnh trong quyển hồi ký "Bông Hồng Cài Áo" như sau:
"Vào năm 1962, trong chuyến đi Nhật nghiên cứu Phật Hoc, vào đúng dịp Ngày Của Mẹ mồng mười tháng năm. Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với Thầy Thiên Ân tới nhà sách ở khu Ginza ở Đông Kinh, nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ Thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy ở trong sắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không biết cô làm gì, nhưng không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục Tây phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng.

Tôi nhìn lại bông hoa trắng trên áo mà bỗng thấy tủi thân. Tôi cũng mồ côi như bất cứ một đứa trẻ vô phúc khốn nạn nào; chúng tôi không có được cái tự hào được cài trên áo một bông hoa màu hồng. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa. Tôi thấy cái tục cài hoa đó đẹp và nghĩ rằng mình có thể bắt chước áp dụng trong ngày báo hiếu Vu Lan."...

 

      Sau đó, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã lấy ý từ quyển hồi ký này viết nên ca khúc "Bông Hồng Cài Áo" nổi tiếng, và sống mãi với thời gian như chúng ta đã thấy.
 
      Thiền Sư sau khi nghe bài hát của Phạm Thế Mỹ, Người có nhận xét:
- Phạm Thế Mỹ làm Bài Bông Hồng Cài Áo rất dễ dàng và tự nhiên như thở vào thở ra , tự nhiên như bước chân đi dạo, tự nhiên như khi nâng chén trà lên uống. Tôi không thấy tôi và nhạc sĩ là hai người khác nhau khi nghe ca khúc Bông Hồng Cài Áo, trước kia cũng vậy và bây giờ cũng vậy.

      Sau này, khi được hởi về tại sao Thiền sư lại chọn hoa hồng mà không phải là loài hoa nào khác? Phải chăng đơn thuần chỉ vì hoa hồng là loài hoa biểu trưng cho tình yêu?
Thiền Sư trả lời:

- Mình nên hiểu chữ hồng trong bông hồng là đỏ. Cài hoa hồng thì cài hoa hồng đỏ. Cài hoa khác như hoa cẩm chướng thì cẩm chướng màu cũng đỏ, không nhất thiết là phải có hoa hồng (rose). Và khi Mẹ không còn, Cha không còn thì được cài hoa trắng . Các đệ tử người Hoa của tôi khi làm lễ Bông Hồng Cài Áo đầu tiên tại Đài Loan năm 1995 thì họ dùng hoa cẩm chướng màu đỏ và trắng cho buổi Lễ Cài Hoa tưởng nhớ Mẹ Cha. Mẹ Cha còn thì cài hoa cẩm chướng màu hồng. Mẹ Cha mất thì cài hoa cẩm chướng màu trắng. Bất cứ hoa gì cũng được kể cả hoa lan.

Nếu bạn là Phật tử, bạn phải biết giáo pháp đức Thế Tôn có công năng chuyển rác thành hoa, biến phiền não thành bồ đề, dựng lại tình thâm từ xác chết hận thù. Cha Mẹ là Bụt đó, đừng đi tìm Bụt nơi nào khác. Ngày hôm nay bạn nói được câu gì, làm được cử chỉ gì để Mẹ vui, để Cha vui thì làm ngay đi, đừng để tới ngày mai, sợ rằng muộn quá. Đọc Bông Hồng Cài Áo để nhớ điều đó. Tôi chúc bạn một ngày Vu Lan thật ngọt ngào, thật hạnh phúc, thực tập thành công.
Nếu bạn được cài bông trắng, nên quán chiếu là Cha hoặc Mẹ vẫn còn trong bạn và có mặt trong từng tế bào của cơ thể bạn. Đưa bàn tay lên nhìn, bạn sẽ thấy bàn tay ấy của bạn mà cũng là bàn tay của Cha, của Mẹ. Trong bàn tay bạn, có bàn tay của Cha, của Mẹ. Bạn hãy đưa bàn tay ấy đặt lên trán và sẽ thấy, đó là bàn tay của Mẹ hay của Cha đang đặt trên trán bạn. Thật là nhiệm mầu.

      Xin Thiền sư cho biết lần đầu tiên phong trào này được phát động là vào mùa Vu Lan năm nào, tại đâu? Thiền sư có gặp sự trở ngại nào chăng khi đưa ra một nét văn hóa tuy đẹp đẽ song cũng rất mới lạ này?
- Tôi không hề có ý định phát động phong trào Cài Hoa Hồng để tưởng niệm về công ơn mẹ.
Phong trào ấy tự động phát khởi một cách tự nhiên mà thôi. Điều đó cũng làm cho tôi ngạc nhiên.
 

      Theo Thiền sư, giữa Ngày lễ của Mẹ trong văn hóa Nhật và ngày Vu Lan Báo hiếu trong văn hóa Việt Nam có những nét tương đồng và khác biệt nào?
- Khác truyền thống Nhật. Lễ này không những để vinh danh người Mẹ mà cũng để tưởng nhớ và vinh danh người Cha nữa. Mỗi người được cài hai chiếc hoa hồng, một dành cho Mẹ và một dành cho Cha. Chiếc hoa dành cho Cha nằm hơi cao lên một chút để phân biệt với hoa cho Mẹ. Và anh sẽ cài một hoa hồng cho Cha khi Cha còn sống, một hoa hồng cho Mẹ khi Mẹ còn sống...
 

Kết Luận
 

       Theo như quan điểm của Thiền Sư Nhất Hạnh, trong ngày BÁO HIẾU, chúng ta sẽ có hai bông hồng một cho cha và một cho mẹ. Vị trí cao thấp để phân biệt. Nếu có một người mất thì sẽ được thay là một đoá hoa trắng.
       Thế nhưng trên thực tế, trong ngày lễ Vu lan, chúng ta chỉ có một đoá hoa dành cho Mẹ. Có phải ảnh hưởng từ bài hát của Phạm Thế Mỹ:
Một bông Hồng cho em
Một bông Hồng cho anh
Và một bông Hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn
...


     Cho dù ai đi chăng nữa, Bông hồng cài trên áo trong ngày Lễ Vu Lan, đã trở thành một mỹ tục. Chúng ta không thể quên công ơn của Thiền Sư Nhất Hạnh và Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ, những người đã khởi xướng, đã tạo nền móng, để từ đó có được một ngày hội hiếu thảo của người Việt.

    Việt Nam không có Ngày Của Mẹ, Ngày Của Cha như Tây Phương, việc cài bông hồng trên áo trải qua 50 năm vào dịp lễ Vu Lan, đến nay đã thành một tục lệ tốt đẹp mang nét đẹp riêng, một nét văn hoá mới hoàn toàn Việt Nam. Là người Việt, chúng ta cần phải duy trì tuyền thống tốt đẹp này mãi mãi.

Huỳnh Hữu Đức Mùa Vu Lan 2014
(Có thêm tư liệu từ http://langmai.org)