Thứ Bảy, 20 tháng 9, 2014

Thơ Tranh: Nhớ


Thơ: Hhai
Thơ Tranh: Kim Oanh

Jamais - Không Bao Giờ


Jamais, je n’aurais rêvé d’un amour si grand
Jamais, je n’aurais pensé que je t’aimais tant
Et toi, croyais-tu vraiment, quand on s’est aimé
Q’un jour, nous ne nous pourrions nous quitter

Pour moi, tu étais le bon copain pour des vacances
Uu jour, on a trouvé, par un coup de chance
Tu étais à qui l’on parle en confiance
Celui qui sait partager la peine et la joie

Et puis, l’autre soir, soudain, j’ ais compris pourquoi
Mon coeur ne put supporter d’ être loin de toi
Jamais, je n’aurais pensé que je t’amais tant
Jamais, je n’aurais cru pleurer en te quittant

Pourtant c’est arrivé, je sais que je t’aime
Et que rien, plus rien, la malheur même
Ne peut nous séparer
À tout jamais, à tout jamais.

* * *
 
Không Bao Giờ

Chưa bao giờ em có ước mơ
Có một tình yêu vô bờ bến
Và nghĩ rằng yêu anh đắm đuối
Tình ta mãi mãi được vững bền

Anh là người bạn đời dài lâu
Rồi ngày nào sẽ thấy bên anh
Có người yêu trọn lòng chung thủy
Chia sẻ nhiềm vui và bất hạnh

Ngày nào ta sẽ hiểu vì sao
Em khóc nhiều khi phải xa anh
Vì em đã yêu anh vô tận
Rất đau lòng khi xa vắng anh

Khi biết rằng em đã yêu anh
Dù xảy ra muôn ngàn cay đắng
Tình ta không chia rời đôi ngả
Không bao giờ, không bao giờ cả

Phỏng dịch : Nguyễn Minh Châu 
 TĐ3 Soibien

Tình Nối Tình



Một ngày gặp gỡ cũng là duyên
Huống chi, mình đã là bạn hiền
Sát cánh bên nhau từng giây phút
Ngọt bùi, chia sẻ, hết ưu phiền
Tân Hưng, trường cũ, là điểm tựa
Chợ nổi Cái Răng giống cảnh tiên
Bao giờ có nhớ xin gọi gió
Kem chút hương xưa sẻ biết liền

Hồ Nguyễn
 4/9/2014

Cũng Nhớ Liền

           (Từ Tình Nối Liền của Hồ Nguyễn )

Chỉ một lần thôi... cũng có duyên
Đồng môn bạn cũ thật ngoan hiền
Nhớ xưa nhịp bước ngày hai buổi
Đưa đón ngày mưa chẳng thấy phiền.
Phan thanh Giản: thầy, cô, huynh, muội
Ninh Kiều: liễu rũ cảnh thần tiên
Tuổi già bất chợt còn tao ngộ
Dù cách trăm năm cũng nhớ liền.

Dương Hồng Thủy
 (04/09/2014)

Đêm Nghe Dạ Cổ Hoài Lang




Vẳng xa đưa từ đâu tiếng hát
Sao nghe lòng man mác buồn thương
Hoài Lang Dạ Cổ vấn vương
Ai người dong ruổi chiến trường xa xôi


Câu than thở bồi hồi ruột thắt
Nhớ mong chàng khoé mắt lệ tuôn
Đêm khuya vắng cảnh thêm buồn
Thân bên song lạnh lòng luôn theo chàng

Sông núi gọi dậm đàng tiến bước
Nối chí hùng ba thước gươm thiêng
Vì đất nước gác niềm riêng
Tím lòng thiếp giữ muộn phiền ai hay

Tàn canh lẻ sao mai lấp lánh
Suốt đêm dài cô quạnh mỏi mòn
Đó đây cách trở ngàn non
Thầm mong trăng khuyết lại tròn được chăng?

Quên Đi

Khóc Trần Thiện Chánh

      Trần thiện Chánh, nhà gia thế, thi đậu làm quan cuối triều Nguyễn. Khi Đại Đồn Kỳ Hòa thất thủ, ông theo nghĩa Cần Vương , cùng Lê Huy tập hợp được 6000 nghĩa binh, ủng hộ tướng Trần Trí, lúc đó rút về Biên Hòa .

      Hòa ước nhượng ba tỉnh, ông về miền Trung, sau thăng dần lên Kinh Kỳ Hiệp Lý Thủy Sư . Ông không làm được gì, có lẽ vì triều đình không có tiền đóng Tàu? Hay Khâm Sứ Pháp ở Huế không thích cái tên đã từng mộ nghĩa quân chống Pháp ở chức vụ này???
      Sau ông bị đổi ra Hà Nội, Sơn Tây. Chắc ông cũng chẳng thích cái ông Khâm Sai láo Hoàng Kế Viêm ( nước Nam có bồn anh hùng, Tường gian, Viêm láo, Khiêm Khùng, Thuyết Ngu ) và ngàn lần ông không thích "hợp tác" với giặc cờ đen để dẹp phỉ, chống Pháp!

      Trần Thiện Chánh ( ông nội của ca nhạc sĩ Nhật Trường ) những ngày ở Sơn Tây chắc buồn lắm. Cụ nhớ quê hương da diết ( mười năm biền biệt ... thức tới sao mờ gà gáy ... ).
      Sau cụ được lênh chuyển nhiệm sở Ninh Bình, tới nơi một thời gian ngắn thì cụ mất!

    
Cố hương xa vọng bồi hồi
Hùng tâm tráng chí ai người hiểu cho
Tân - Đình rượu tưới lệ khô
Cầm khiên ném bút trông chờ chi đây
Mười năm biền biệt trăng gầy
Sao mờ gà gáy lắt lay tim chùng
Chết chôn đất khách là xong
Hồn còn rẽ sóng vào trong Cân - Giờ

Chân Diện Mục
- Đêm ngủ cụ mơ ngồi trên tàu rẽ sóng vào cửa bể Cân Giờ đánh Pháp

* * *
Giới thiệu hai trong số bài thơ tiêu biểu của ông:

Phiên âm Hán-Việt:

Hạc Quan Loạn Hậu

Tự cổ đa tài thị hoạ côn (căn)
Hạc quan quá xứ ám tiêu hồn
Tịch gian ca vũ lai thương kiếm
Khôi lý lâu đài ngoạ tử tôn
Nha tháo hàn vân di bạch trú
Mã tê thu thảo nhập hoàng hôn
Thôn cơ loạn hậu vô nhan sắc
Toạ khiếp sài lang bán yểm môn.

Dịch nghĩa:

Tuần Hạc Sau Loạn

Từ xưa nhiều của cải vẫn là gốc tai vạ,
Qua nơi Tuần Hạc thầm thấy bàng hoàng.
Trên tiệc, đám ca múa toàn là súng gươm,
Trong tro, lâu đài ngổn ngang lớn nhỏ.
Quạ kêu, mây lạnh kéo đến giữa ban ngày,
Ngựa hí, cỏ thu chìm vào hoàng hôn.
Gái đẹp trong thôn sau loạn không ai còn nhan sắc,
Vì sợ sài lang nên một nửa làng đóng chặt cửa.

Phiên âm Hán-Việt:

Viễn Vọng Hữu Hoài

Khách lộ phong trần cận bạch đầu,
Bi sầu nan thượng Trọng Tuyên lâu.
Vân niêm vãn thụ thiên sơn trụng,
Vũ tẩy hàn sa bán thủy phù.
Quan tái chinh sầu văn lạc địch,
Càn khôn độc lập vọng quy chu.
Thập niên cố quốc Mai hoa tự,
Mộng lý mô hồ mịch cựu du.


Dịch nghĩa:

Nhìn Ra Xa, Cảm Hoài

Trải gió bụi ở đất khách, đã gần bạc đầu,
Buồn thương khó nỗi lên lầu Trọng Tuyên.
Mây giăng, cây chiều dày trên ngàn núi,
Mưa rửa, cát lạnh lửng lơ trên dòng nước.
Đang lúc sầu nơi quan ải, nghe tiếng sáo rụng,
Một mình giữa đất trời, ngóng bóng thuyền về.
Mười năm nhớ nhung chùa Hoa mai nơi quê cũ,
Trong giấc một mịt mờ tìm kiếm những bạn chơi xưa.

Phỏng dịch:

Gió bụi đường xa đầu đã bạc
Buồn lên lầu vắng nghĩ liên miên
Mây chiều giăng mắc trên ngàn thẳm
Mưa rửa phù sa bãi nổi lên
Tiếng sáo buồn vương lên quan ải
Mình ta đứng ngóng bóng con thuyền
Mười năm đất mẹ xa xôi quá
Nhớ bạn cùng chơi thuở thiếu niên


Chân Diện Mục

* * *
Các Bài dịch khác:

Ngắm Cảnh Cảm Hoài


Nhuốm bụi phương xa, chớm bạc đầu
Lên lầu không nổi bởi sầu đau
Mây giăng, cây phủ trên triền dốc
Mưa xuống, cát trôi dưới nước sâu
Tiếng sáo vọng buồn nơi cửa ải
Bóng thuyền trôi khuất nẻo giang đầu
Bao năm nhớ mái chùa quê cũ
Bạn hữu năm nào nay ở đâu?


Phương Hà phỏng dịch

* * *
Xa Trông Thương Cảm

Khách phong trần, mái đầu trắng xóa
Dằng dặc buồn, vất vã lầu cao
Chiều buông mây núi giăng sầu
Cát trơ bãi lạnh mưa rào cuốn trôi
Sầu quan tái, bồi hồi tiếng sáo
Đứng một mình đau đáu thuyền quây
Mười năm chùa cũ khôn khuây
Bạn xưa kỷ niệm mộng đầy nhớ thương


Mailoc phỏng dịch
7-15-14

Thứ Sáu, 19 tháng 9, 2014

Sinh Nhật Em


19 là sinh nhật em
Mùa Thu tháng chín êm đềm nở hoa
Em xinh tựa dáng Hằng nga
Cho anh giọt nhớ xót xa cuộc tình.

Em đi từ buổi bình minh
Anh về lê bước lưu linh phong trần
Người xa – nhưng tình ở gần
Số anh là kiếp trầm luân thật buồn.

Chúc em sinh nhật mặn nồng
Tình ươm bóng nắng bên song bạc đầu
Ví dầu gặp mặt ngày sau
Xin em một phút cúi đầu vẫy tay.

Mùa Thu nắng cũng tàn phai
Tình anh vẫn nặng tháng ngày héo hon.

Dương Hồng Thủy
(Mừng sinh nhật DM San-Jose. CA)

Thơ Tranh:Đêm Trăng Cửu Long


Thơ: Nguyễn Đắc Thắng
Thơ Tranh: Kim Oanh

Trong Cõi Ảo


Anh là mây bốn phương
Tôi như cơn gió ngược
Ta tìm chi chiếc cầu Ô Thước
Anh có thể nhìn trăng xây lầu vọng
Nhưng đừng nghĩ ngợi
chuyện cuồng ngông
Đừng hoài mơ lên tới cung hằng
Đường ta đi bây giờ còn rất ngắn
Anh đừng hỏi sao tôi như con nước lớn ròng
Khi thấy thật gần, lúc có cũng như không
Tôi như con đò ngược dòng lơ đãng
Anh đứng chờ gào mãi giọng khàn
Như con sóng lăn xăn rượt nhau không kịp thở
Bởi bọt bèo không trổ nụ ước mơ
Anh và tôi như những dòng sông
Ta trôi mãi không thể dừng lại được
Anh cứ nhìn trong mơ - bóng tôi tha thướt
Tôi cũng nhìn anh - cất cánh bay tuyệt vời
Bước chân trần nhìn lại cũng tả tơi
Trong tíc tắc ta về đâu không biết
Đã ngán ngẩm sự đời, còn có gì tha thiết
Xin giữ lại một chút gì … mãi mãi
Ngắm trời chiều… chim nhạn mõi cánh bay
Áng mây hồng lơ lửng ở trên cao
Ta thơ thẩn tìm về trong cõi ảo.


13/9/2014
Kim Quang

Trường Mầm Non 5 - Vĩnh Long

      Năm nay 2014 tôi cùng con gái đưa cháu ngoại đến trường, năm nay cháu được bốn tuổi nên vào lớp chồi, bỏ qua lớp mầm của trường mầm non. Nơi tôi ngụ khá gần cả hai trường mầm non, khi xưa khoảng năm 80, tên nơi dạy trẻ con là trường Mầm Non, thời gian sau đó đổi tên thành trường Oanh Vũ, vài năm nay trở lại tên Mầm Non có thêm tên phường, nên nơi trường tôi gởi cháu là Trường Mầm Non 5.


      Ngôi trường này, ngày xưa lắm là nhà của gia đình ông Giáo Cãi và vợ chồng người con trai thứ tám, anh chị Tám Thọ, sau ộng bà Giáo Cãi qua đời, kế tiếp người con trai thứ tám cũng mất, ngôi nhà được bán cho ông Ba Sáng, sau 75 ông Ba Sáng hiến nhà cho chính quyền địa phương. Ngôi nhà được sử dụng trong nhiều công vụ, đến khoảng năm 1980 được dùng làm trường mầm non. Hai đứa con gái của tôi chập chửng những bước chân đầu tiên- Đi học 
      Trong năm học 2014 này, trường nhận bán trú, chỉ nửa buổi sáng, đến trưa phụ huynh rước cháu về, vì chỉ có khoảng dưới 10 trẻ nên dường như chuyễn hẳn sang trường mầm non mới xây vừa xong, được đưa vào sử dụng với tiêu chuẩn cấp Quốc Gia.
      Như vậy con gái lớn tôi học trường mầm non mở đầu tiên cách nhà khoảng trăm thước, nay cháu ngoại tôi học trường cũng vừa mới mở cách nhà khoảng hai trăm thước.


      Trước năm 75, trường chỉ với một dãy lớp, nền tráng xi măng, vách xây tô, mái tôn nằm bên phải, tức nơi khu vực ba tầng cũng bên phải hiện tại trên hình, chung quanh là đất. Sau năm 75 vài năm, được cất ba dãy hình chử U, thành trường cấp một với năm lớp, hai đứa con gái tôi cũng học ở trường này, cô giáo dạy là số cô lớn tuổi lưu dụng lại và vài cô vừa mới ra trường. Mấy năm qua là trường mầm non bán trú, năm nay với tiêu chuẩn cấp quốc gia, dạy nguyên ngày. Gồm giữ trẻ dưới 36 tháng nơi căn trệt, còn khu vực ba tầng, trẻ lớp mầm 3 tuổi học dưới cùng, trẻ 4 tuổi lớp chồi học tầng hai (có cháu tui), trên cùng lớp lá trẻ 5 tuổi. Trong các lớp được trang bị như nhau, tắm nước nóng, phòng vệ sinh với dảy cầu bệt ( không ngồi chồm hỏm ) cho nhiều trẻ ( mắc buồn cùng lúc ). Sinh hoạt cho các lớp gồm, 7 giờ vào lớp ăn sáng thường là soup, sau ăn sáng là sinh hoạt chung trong lớp, được phân thành nhiều tổ và trẻ rất nhớ sinh hoạt tổ của mình, 10 giờ sáng ăn trưa, khoảng 11 giờ trẻ ngủ, sau thời gian ngủ nghĩ cùng cô giáo nằm kèm, các trẻ thức được tắm và uống nước trái cây, học lớp tiếp đến 3 giờ ăn cơm chiều, 4 giờ bảo vệ trường mở cửa, phụ huynh vào rước con. Thông thường trẻ chơi các trò chơi vận động dưới sân do trường thiết lập dành cho lớp mẩu giáo, trước khi cùng phụ huynh đưa về nhà. Điều đặc biệt phòng ngừa kẻ gian trà trộn trong nhóm phụ huynh, các cô giáo bắt buộc người đưa trẻ về phải được báo trước là ai, và được cô nhận dạng cùng sự mừng của trẻ thì cô mới giao trẻ. Nhìn ngôi trường này, nếu..lại nếu có dành cho trẻ từ độ tuổi 60 đến 70 tui cũng xin đi học...hì…hì

Mời xem tiếp những ảnh tiếp theo.

 Ngôi trường rất gần sông Tiền, bên trái là chợ Vĩnh Long cùng cầu Bạch Đằng




Thực đơn dành cho các cháu

Trương Văn Phú

Yêu Mến


Bao nhiêu sầu, ôi sầu biết bao nhiêu,
Khi yêu tình, khi theo mãi tình yêu !
Một phút gặp thôi là muôn buổi nhớ,
Vài giây trông khơi mối vạn ngày theọ 
Mộng bay chơi nhằm một buổi trời chiều,
Gặp tóc biếc : tưởng sắc ngày xưa nở!
Nửa câu nói, một chút cười, đôi tiếng thở 
Tình cờ qua trên miệng nở quá xinh:
Ta ngây thơ vội tưởng họ yêu mình
Về dâng vội cả ân tình thứ nhất.
Đương vương chủ ta bỗng thành hành khất,
Chỉ vì nghe một lời hứa như chim.
Ôi đôi chân! sao mà chúng hay tìm!
Ôi cái ngực! sao mi thường đập mạnh.
Tỏa thương nhớ để ôm choàng bóng ảnh,
Những chiều thu góp lạnh giữa mù sương;
Những đêm đông giạt bước ở trên đường,
Gió khuya khoắt dậy cơn buồn lá úa;
Sao rải rác như lệ vàng đêm nhỏ,
Mưa lơ phơ như dạ khóc âm thầm!
Những mai mong, tối đợi, những trưa cầm,
Đến phong cảnh cũng mượn làm nỗi thảm ...
Bao nhiêu sầu! Ôi sầu biết bao nhiêu,
Khi yêu tình, khi theo mãi tình yêu?

Xuân Diệu


Suối Dâu sưu tầm

"Gió Đưa Cây Cải Về Trời..." Và Những Câu Chuyện.


        Trong kho tàng ca dao việt Nam chúng ta, không thiếu gì những câu mang tính thời sự, lịch sử...

Nói về lính thú có:                             
Thùng thùng trống đánh ngũ liên,
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa ...
Làm xâu :
Lấy chi mà trả ái ân,
Lấy chi mà nộp công ngân cho chàng ?
Phần thì quan bắt đắp đàng
Đào sông Câu Nhí, bòn vàng Bông Miêu ...

Hay tiếc cho người con gái đẹp như Huyền Trân Công chúa
Tiếc thay cây quế giữa rừng
Để cho thằng mán thằng mường nó leo  ...

Mỗi khi nhìn thấy những câu ca dao thế này, tôi luôn nhớ đến đến câu:
Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu đời đắng cay
Câu ca dao mà cách nay hơn 50 năm, vào những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, có lần tôi được thầy dạy  kể lại câu chuyện liên quan, có thể nói là nguyên nhân hình thành câu ca dao này. Trong thời gian gần đây tôi được biết thêm vài câu chuyện về nguồn gốc của câu trên.

1 / Câu chuyện thứ nhất:

Đây là câu chuyện tôi nghe kể từ thuở còn đi học
:

     
        Dựa vào thế lực của người Pháp và Xiêm La, Nguyễn Ánh đánh tan triều đình Tây Sơn, lập nên triều đình nhà Nguyễn.
        Một cuộc trả thù tàn bạo nhất trong lịch sử Việt Nam được bắt đầu.
        Tất cả người trong gia đình từ vua đến quan cũng như bà con thân tộc bất kể già trẻ bé lớn của Tây Sơn bị bắt, hay bị chiêu dụ ra hàng, đều bị hành hình một cách man rợ, như lăng trì ( gọi nôm na là tùng xẻo, cứ một tiếng trống thì cắt một miếng thịt, cứ như thế cho đến khi tù nhân chết mới thôi), hay ngũ voi phân thây ( giống như ngũ mã phân thây, cột tứ chi và cái đầu vào 5 con voi, sau đó đuổi voi chạy 5 hướng, thân thể bị xé làm 5 mảnh).
         Đối với người đã chết như vua Quang Trung, Thái Đức...Gia Long cho đào mồ đốt tan xương cốt, cho vào súng đại bác bắn để không còn vết tích.
         Chỉ duy nhất có Hoàng phi Lê Ngọc Bình vợ của vua Cảnh Thịnh (Quang Toản) vốn là công chúa con vua Lê Hiển Tông nên được tha chết. Tuy nhiên cũng bị bắt phuc thị cho vua Gia Long nơi hậu cung.
        Có lẽ thương cho hoàn cảnh của Bà nên mới có câu ca dao:
Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu đời đắng cay
        Ý ví vua Quang Toản là cây cải còn thân bà Hoàng phi như rau răm.
x X x

2 / Câu Chuyện Thứ Hai ( theo http://e-cadao.com ) 

        Ông Bút Chì ở tòa soạn đã giải thích (Làng Văn 26, trang 94), tôi xin đi sâu vào chi tiết hơn nữa:
Sách Việt Nam Phong Sử của Nguyễn Văn Mại (tủ sách Cổ Văn, phủ Văn Hóa, Sài Gòn 1972, trang 126), do Tạ Quang Phát phiên dịch, ghi như sau:
Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay

 "Thơ phong sử này thuộc tỷ. Cải rau cải có thể làm dưa, tháng mùa đông bắt đầu gieo hột mà trồng. Trời, thiên triều, triều nhà Thanh bên Tàu. Nước ta trải các đời đều chịu triều đình Trung Quốc phong cho, cho nên gọi Trung Quốc là thiên triều. Răm, thứ rau có vị cay, mọc ở chỗ đất thấp. Theo Sử ký, Nguyễn Thị Kim, người ở làng Tỳ Bà, huyện Lương Tài, là cung phi của vua Lê Mẫn Đế.

Lúc ấy quân Tây Sơn chiếm cứ thành Thăng Long, vua Lê Chiêu Thống và Hoàng Thái Hậu với cung phi chạy lên Cao Bằng, nếm mọi nỗi đắng cay.

"Đến khi vua Chiêu Thống sai người sang cầu cứu với nhà Thanh thì trước hết bí mật khiến người hộ tống Thái Hậu và Nguyên Tử (con trai trưởng của vua) đi sang Tàu.

"Còn Cung Phi Nguyễn Thị Kim đi theo không kịp, phải buồn hận trở về, âm thầm ẩn tránh trong dân gian lo việc làm ruộng nuôi tằm, dệt vải để sống bằng sức lực của mình.

"Ngày xưa sống với phấn sáp cung trang, ngày nay nàng trở thành người đàn bà quê với áo vải hoa gai, vua thì chạy đi, nước thì tan mất, nỗi đắng cay không xiết được, cho nên làm thơ phong dao để tự ví mình.

 Cải, là thứ rau có vị đắng, ví với Thái Hậu

Rau răm cũng có vị đắng, ví với Cung Phi

 “Ý nói là Thái Hậu đi xa sang Thiên Triều chưa biết kham khổ ra sao. Một mình Cung Phi ở lại trong đất giặc chiếm đóng phải chịu những nỗi cay đắng ấy. Đấy cũng là lời than thở.

“Về sau vua Chiêu Thống ở Yên Kinh bị bịnh mà chết.

Sau khi lấy được nước và định quốc đô, Triều Nguyễn ta xin nhà Thanh đưa linh cữu vua Lê Chiêu Thống về nước.

"Cung Phi Nguyễn Thị Kim đến trước linh cữu lạy khóc rồi uống thuốc độc mà chết. Thương thay! Trung thần liệt nữ từ xưa đều thế” (trích dẫn nguyên văn).

3 / Câu Chuyện Thứ Ba:
 

        Tôi có một người bạn trong dịp đi du lịch ngoài Côn Đảo, khi về  kể lại câu chuyện liên quan đến nguồn gốc câu ca dao:
Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay
        Câu chuyện đó nói về bà vợ của Nguyễn Ánh là bà Răm và đứa con trai tên là Cải. Thật ngạc nhiên, tôi không đồng ý vì cho rằng Nguyễn Ánh không hề ra Côn Đảo thì làm gì có chuyện này.
        Anh bạn quả quyết những ai đã có dịp ghé thăm Côn Đảo, đều được hướng dẫn vào thăm một ngôi miếu, ở đó, các hướng dẫn viên kể một câu chuyện và giới thiệu nơi đây đang thờ một bà vợ của vua Gia Long. Một  câu chuyện bi thương của một người phụ nữ tài sắc tên là Răm !. 
        Tức mình, tôi lên mạng internet để tìm hiểu. Quả thật, có rất nhiều trang web kể câu chuyện tương đối giống nhau như sau:

        Đó là vào năm 1783, sau khi bị quân Tây Sơn truy đuổi, Nguyễn Ánh mang cả vợ con cùng  đoàn tùy tùng của mình chạy ra đảo Côn Sơn ( Côn Đảo) . Nguyễn Ánh dự định gởi con cả là Hoàng tử Cảnh sang Pháp cầu viện. Bà Phi Yến tên thật là Lê Thị Răm là vợ thứ của Nguyễn Ánh đã can ngăn chồng, đừng làm việc “ cõng rắn cắn gà nhà”. Nguyễn Ánh chẳng những không nghe lời khuyên của bà mà còn tức giận nghi bà thông đồng với Tây Sơn nên định giết bà, nhưng nhờ quân sĩ can xin ( !) nên Nguyễn Ánh nhốt bà vào một hang đá trên đảo; về sau ngọn núi tại đây  được gọi là núi Bà . Ít lâu sau, Nguyễn Ánh rời Côn Sơn, bấy giờ có một hoàng tử tên là Cải, còn  có tên là hoàng tử Hội An, con của bà Răm mới 4 tuổi đòi mẹ đi theo cùng. Trong cơn tức giận, Nguyễn Ánh đã ném con xuống biển. Xác hoàng tử trôi dạt vào bãi biển Cỏ Ông.,  được dân làng mang  chôn cất tử tế.  Bà Phi yến sau đó được một con vượn và một con hổ cứu  ra khỏi hang và về  chung sống với dân làng . Một lần, sau khi bị kẻ xấu xúc phạm, bà đã tự tử để thủ tiết với chồng…! (*)

Kết Luận.
 


 Miếu bà Lê thị Răm ở Côn Đảo, một cái miếu trông rất tầm thường. Cũng như câu chuyện hoàn toàn sai lệch. Sử sách đã chứng minh Nguyễn Ánh không hề đến Côn Đảo hay có bà phi nào như bà Răm trong câu chuyện trên.
        Mặc dù đã có rất nhiều bài báo cải chính về giai thoại này, nhưng hướng dẫn viên du lịch vẫn say sưa kể lể cho du khách nghe, cũng như nhiều trang web dùng câu chuyện này chứng minh cho sự ra đời của câu ca dao trên.
        
Chưa biết còn có câu chuyện nào khác hay không? Nhìn lại ba câu chuyện trên, nếu được phép chọn lựa hay bỏ thăm xem mẫu chuyện nào hợp lý nhất, tôi sẽ đồng tình và ủng hộ câu chuyện của công chúa Lê Ngọc Bình. Thứ nhất vừa khớp với lịch sử, thứ hai đúng với tình lẫn ý của câu ca dao.   
        Một câu ca dao thể ví thật sâu sắc, đậm đà tình cảm. Khi đọc đến, mọi người đều mường tượng đến cảnh người chồng chẳng may xa lìa nhân thế, bỏ lại người vợ chịu đựng với muôn ngàn khó khăn, cay đắng.


Huỳnh Hữu Đức
---------

(*)         Theo sách Nguyễn Phúc Tộc thế phả, Nguyễn Ánh có tất cả 21 bà vợ và 18 hoàng tử và 18 hoàng nữ, nhưng không thấy ai có tên là Răm hay Cải (Hội An) cả . Hơn nữa, Nguyễn Ánh sinh năm 1762, năm 1775 theo chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy vào Nam  trước  sự truy đuổi của quân Trịnh, lúc ấy Nguyễn Ánh mới chỉ là cậu bé 13 tuổi !Không có tài liệu nào nói Nguyễn Ánh đem theo một bà vợ nào trong khi chạy trốn cả.  Trong thời gian bôn tẩu, Nguyễn Ánh chưa ban tên thụy cho một ai, bởi lý do đơn giản là ông chưa phải là vua, vì thế không thể có chuyện ông đã ban tên thụy là Phi Yến cho bà Răm  được. Theo tác giả Đinh Văn Hạnh, nguyên Giám đốc Sở VHTT- BRVT trên một bài viết cũng phổ biến trên tạp chí Xưa và Nay đã chứng minh rằng: Nguyễn Ánh chưa bao giờ đặt chân đến Côn Đảo, mặc dù sự kiện Nguyễn Ánh đến tá túc tại Côn Đảo đã được các nhà viết sử nhà Nguyễn chép lại nhưng lại ghi thêm  là “ chỉ nghe kể chép lại “ !:

      “Sự nghi ngờ về sự kiện lịch sử ghi trong "Đại Nam thực lục" đã có từ những năm 40 của thế kỷ trước. Thời điểm đó tạp chí Tri Tân đặt ra tranh luận và giải quyết ( số 67-7 Octobre 1942)…Họ đã đưa ra được những chứng cứ thuyết phục, kể cả việc phủ nhận tên gọi núi Chúa ở Côn Đảo không liên quan gì đến Nguyễn Ánh cả. Nhưng các tác giả trên tạp chí Tri Tân cũng chỉ là người  đi sau. Sự nhầm lẫn của các sử gia triều Nguyễn chép lại quá trình bôn ba của Nguyễn Ánh đã được sử gia người Pháp Ch. Maybon đính chính rất rõ ràng trong cuốn Histoire moderne du pays d’Annam, 1582-1820 ( Paris. Plon, 1919 ), rằng đảo Côn Lôn vốn chỉ được "nghe kế chép lại" trong "Đại Nam thực lục" chính là đảo Cổ Long ( Koh Kong ), một hòn đảo nhỏ nằm phía biển Campuchia, gần vùng biển Hà Tiên – Phú Quốc chứ không phải đảo Côn Lôn - Côn Đảo mà mọi người đã biết- đây chỉ là sự nhầm lẫn khi chuyển chữ Koh Kong sang Hán tự. Trong gần 10 năm bị Tây Sơn truy lùng gắt gao nhất, Nguyễn Ánh chưa từng và cũng không thể đủ sức chạy ra Côn Đảo. Đến khi binh lực lớn mạnh thì ông lại bận rộn với việc truy kích quân Tây Sơn đến tận Phú Xuân và ở đó làm vua cho đến lúc qua đời mà chưa một lần đến Côn Đảo…” (http://sachxua.net)

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

Chút Tình Gởi Lại


Lững lơ
Trăm mối
Tình sầu,
Cô đơn trĩu nặng,
Chìm sâu nỗi buồn.
Đường dài trời đổ mưa tuôn,
Mù sương phủ lối như tuồng cách ngăn.
Chia tay lòng những băn khoăn,
Ra đi một chuyến,
Mấy lần ngẩn ngơ.
Phố buồn
Ta đến
Bơ vơ,
Lincoln giã biệt,
Bây giờ còn đâu?

Đó đây chẳng mấy nhịp cầu,
Mà sao ta thấy còn lâu ngày về!
Đêm đêm lòng luống tái tê,
Nghẹn ngào nỗi nhớ,
Lời thề cố nhân.
Đời ta
Có mấy
Mùa Xuân?
Lincoln là một
Mùa Xuân trong đời.
Đôi khi đau đớn tơi bời,
Sao ta cũng thấy tuyệt vời yêu thương!

Lincoln, Nebraska 1987
Mặc Thái Thủy


Thơ Tranh: Sầu Thu


Thơ: Quang Tuấn
Thơ Tranh: Kim Oanh

Dương Công Hóa

      Không ai mà không biết khi nói đến họ Dương, một giòng họ nổi tiếng ở vùng Kinh Bắc. Người trong giòng họ nếu không là quan lại, chức quyền chốn công đường thì cũng thuộc giới danh thương giầu có, nổi danh khắp tỉnh thành trong nước...
      Dương công Hoá là con trai út thuộc chi chính của giòng họ, tác người phong nhã, xinh đẹp như Phan An, Tống Ngọc tái sinh. Mới chạm tuổi đôi mươi mà đã giật xong bằng cử nhân nổi tiếng văn hay chữ tốt, xuất khẩu thành thi. Đặc biệt Hoá có tuyệt tài về vẽ truyền thần và nặn tượng. Tài của Hoá không phải chỉ ở cái giống như thật mà còn mang theo được cái phong thái buồn vui,giận ghét của chủ đề.

      Song thân Hoá già cả vừa bị bệnh mà mất để lại một gia sản kếch xù cho các con. Hoá sống với gia đình người anh cả trong một dinh cơ hoàng tráng nhất Đế Kinh. Anh chị thương yêu Hoá như trứng mỏng, đi đâu cũng bảnh trọe, quần là áo lượt lên xe xuống ngựa, kẻ hầu người hạ. Đúng là một công tử đầy vẻ nho nhã, phong lưu từng làm cho bao nhiêu cô gái chốn kinh thành xây mộng, nâng khăn sửa túi.
Dù biết mình được nhiều thiếu nữ thương yêu. liếc mắt đưa tình, nhưng Hoá vẫn chưa bao giờ phải ngả nghiêng vì nhan sắc. Thú vui của Hoá vẫn là hội tụ bè bạn ngâm thơ, vịnh phú. Gặp những buổi đẹp trời, nắng ấm hoa tươi Hoá thường khăn gói làm những cuộc du hành đây đó. Trước là tìm hứng thú thơ văn, hội họa , sau là tìm cái sảng khoái hoà mình vào vẻ đẹp của thiên nhiên, trời đất. Anh chị của thương Hoá là út, gia thế lại quá dư thừa nên chẳng ai muốn gò bó hay khuyên răn Hóa phải vào khuôn thước để tranh dành danh lợi với đời.


      Một hôm vào mùa xuân, tiết Thanh Minh, Hoá cùng với dăm ba người bạn hoà nhập vào giòng người, phần lớn là trai thanh, gái lịch ở vùng ngoại đô .Không biết vì ham chơi thế nào mà Hoá lạc mất nhóm bạn. Đang lúc lang thang không biết làm gì, Hóa nhìn thấy một cô gái tuyệt đẹp, mặt hoa da phấn , tuổi khoảng đôi tám, quần áo toàn bằng hàng tơ lụa thượng hạng. Dáng điệu rất quí phái, miệng nở nụ cười ra vẻ rất thích thú với đám đông.
      Hoá nhìn như ngây như dại, không còn kiểm soát được đôi chân cứ ngẩn ngơ lẽo đẽo theo sau như kẻ mất hồn. Thỉnh thoảng như cố ý đụng chạm vào cô gái. Ban đầu cô gái tưởng những cú đụng chạm của Hoá chỉ vô tình của khách vui chơi, nhưng một lúc sau biết là Hoá cố ý chọc ghẹo mình. Cô gái quay lại giương mắt nhìn Hoá rồi nói với con hầu :
-Người đâu mà như ăn cướp! Tiểu Yến, mi thay ta tát cho tên vô lại này vài cái!
      Con hầu, nhìn rõ sự kiện, nhưng thấy vẻ tuấn tú, sang trọng của Hoá cho rằng không phải là kẻ vô giáo dục nên cũng có cảm tình.Nắm nhẹ tay Hoá mỉm cười, thân thiện mà nói :
-Công tử nếu vì mê đắm nhan sắc của tiểu thư ta mà muốn tán tỉnh, thì công tử hãy mở miệng ra mà nói chứ lẽo đẽo, im lặng theo sau thì tiểu thư của ta làm sao mà biết lòng công tử được?!
      Con bé thấy Hoá vẫn còn ngơ ngơ, ngẩn ngẩn, nó đưa bàn tay vỗ nhẹ vào trán Hoá mà nói :
-Không lẽ công tử mắc bệnh câm hay sao ?!
Hoá bừng tỉnh, mặt đỏ gay nhưng cũng cố chấn tỉnh lắp bắp mà nói với giai nhân :
-Nương tử xin đừng giận cái vô duyên của kẻ tình si này.Chỉ vì sắc đẹp của nàng đã làm ta mê say đến nỗi ngẩn ngơ đó mà thôi.

      Nói xong, chẳng cần biết thái độ của giai nhân, Hoá làm liều ôm ngay lấy người đẹp hít lấy hít để. Bàn tay cũng chẳng yên, rờ mó khắp thân mình cô gái. Giai nhân có tí ngượng với khách qua đường nhưng hình như cũng có phần nào thích thú. Nhất là nhìn thấy khuôn mặt trái xoan điển trai của kẻ vì nhan sắc mình mà ngơ ngẩn. Nàng đưa tay đẩy ra cho có lệ, mỉm cưới mà nói :
-Ơ hay cái anh chàng tú tài mặt trắng này, có buông người ta ra không nào! Muốn gì thì phải nói chứ làm như kẻ điên khùng sờ mó như vậy sao? Bản mặt bề ngoài thì có vẻ thông thạo đạo đức thánh hiền lắm, nhưng sao lại làm như kẻ vũ phu vậy, vô giáo dục thế nhỉ ?!
      Nghe giọng nói đùa cợt của cô gái, Hóa không những không bỏ ra mà còn ôm ghì nàng vào thân mình mạnh hơn nữa, cười cợt mà nói rằng :
-Nàng cho rằng cứ hiểu chữ nghĩa thánh hiền là không biết yêu mê sắc đẹp sao ? Nếu thế ta chẳng dại gì làm thánh nhân để phải khổ sở với căn bệnh tương tư vì sắc đẹp nàng đâu.
      Con bé hầu, Tiểu Yến hình như nhìn rõ mọi việc.Nó nắm tay Hoá lắc mạnh, sát miệng vào tai Hoá mà nói :
-Thì công tử cứ bỏ ra, rồi nói những câu hoa mỹ cho cô nương của ta vui lòng thì có gì mà chẳng được?!
Nghe con hầu Tiểu Yến nói, Hoá như chợt tỉnh. Mặt đỏ như gấc chín, vội vàng bỏ người đẹp ra, ngượng ngùng, cúi đầu mà thưa rằng :
-Xin nàng hãy tha lỗi cho ta. Thật ra chỉ vì yêu nàng quá mức mà ta có hành động khiếm nhã nhặn thế mà thôi.
      Cô gái cảm động nghe lời chân tình của Hoá. Làm ra vẻ e lệ, kín đáo, cô gái liếc mắt đưa tình, nhỏ nhẹ thưa rằng :
-Nào thiếp có là kẻ vô tình, ngu muội đâu mà không hiểu được tình yêu của chàng dành cho thiếp mà dám trách mắng chàng sao?

      Hóa sung sướng như mở cờ trong bụng, lấy hết sự trầm tĩnh mà thưa với giai nhân :
-Danh tự của ta la Công Hoá, họ Dương, chính quán người Kinh Bắc. Hôm nay vì ham vui hội hè mà lac mất bè bạn, đang tưởng rằng buồn bã vì cô đơn, ngẫu nhiên gặp được nàng. Đó không phải là duyên lành cho ta và nàng hay sao ? Xin nàng đừng ngại ngần mà ruồng rẫy mối tình của kẻ tình si, làm mất đi sự hoá duyên kỳ ngộ này mà thất thố với trời xanh.
Cô gái không dấu được vẻ vui mừng khi nghe được câu tán tỉnh ướt át của chàng công tử vốn nòi thơ văn . Đưa ngón tay búp măng trắng mềm như tuyết mới rơi, nhấn vào trán của Hoá, miệng nở nụ cười, thỏ thẻ:
-Chẳng biết trong thi trường chàng có giật được thám hoa, bảng nhãn được không, nhưng cái tài tán gái của chàng thì đúng là trần gian hiếm có.
Chẳng chờ cho Hoá giải bầy, cô gái tiếp :
-Thiếp họ Tề tên tự Uỷ Vân , nguyên là người Nam Hải vì tránh binh đao mà gia đình phải tha phương đến đây, đã mấy mươi năm rồi. Hôm nay cũng chỉ ngẫu nhiên qua đây, quen biết được chàng chẳng phải là hân hạnh cho thiếp lắm ru ?
      Nói xong, Ủy Vân ra hiệu cho con bé hầu cúi đầu có ý muốn từ giã. Hoá vội vàng nắm bàn tay người đẹp, với giọng tha thiết mà nói:
-Nàng nỡ khắt khe mà ruồng rẫy ta như thế sao? Không cho ta một lời hứa tái ngộ để ta phải chết dần chết mòn vì thương nhớ nàng hay sao?
      Hình như lời nói nặng tình và khuôn mặt ướt đẫm nước mắt của Hoá đã làm cô gái cảm động, nhẹ nhàng rút bàn tay ra khỏi tay của Hoá. Trước khi cùng với con hầu Tiểu Yến lẫn vào đám đông, quay mặt mà nói với Hoá:
-Đã đến lúc thiếp phải xa chàng rồi. Chẳng biết mai hậu ra sao, có duyên nào để gặp lại chàng không.     Nhưng dù sao thì thiếp vẫn không quên được tình của chàng dành cho thiếp. Bất cứ khi nào có dịp may thiếp nguyện sẽ vì tình của đôi ta mà tự tìm đến với chàng ngay. Xin chàng cảm thương mà đừng trách mắng khi thiếp không thể dùng lời nói mà giải thích với chàng được.
      Chẳng làm gi hơn, Hoá đứng chết như trời trồng nhìn Ủy Vân nắm tay con bé hầu biến mất trong đám đông.

      Tan hội trở về nhà Hoá như người mất hồn, bỏ cả ăn ngủ, đóng cửa từ khách. Quên lãng thơ văn, giá vẽ. Suốt ngày thở ngắn than dài, cứ ngồi trong thư phòng nhìn ra ngoài đường mong đợi người đẹp không quên lời hứa đến thăm. Thấm thoát đã hơn hai tuần trăng mà bóng giai nhân vẫn mịt mù, vô vọng. Anh chị Hoá thấy đứa em trai phong lưu, mỹ nam tử ngày nào đã xuống sắc. Đầu tóc , râu ria lờm xờm , quần áo luộm thuộm dơ bẩn chẳng còn gì nét công tử sang trọng quí phái trước đây. Ai hỏi nhưng Hoá chẳng nói chi thở dài ra vẻ buồn bã lắm.
      Mọi người nghĩ Hoá bị ma nhập, quỷ ám, kín đáo mời thầy cúng, thầy bùa đến làm phép cúng tế nhưng căn bệnh buồn chán, bỏ ăn của Hoá cũng chẳng có gì biến chuyển.
      Một hôm trời mùa hè nắng ấm, Hoá ngồi trong thư phòng nhìn ra ngoài vườn, để mắt dõi theo đàn bướm bay lượn tìm hoa hút nhụy. Hoá chợt nghĩ con bướm mà còn phải bay đi tìm hoa , không lẽ mình lại ngu xuẩn ngồi nhà đề chờ đợi cho đến ngày ốm o, gầy gò mà chết hay sao? Mình phải làm một cuộc du hành , biết đâu lại chẳng có dịp may mà tìm thấy người đẹp . Ví dù có chết ở dọc đường cũng là cái chết đẹp đẽ lãng mạn của kẻ tình si vẫn còn hơn nằm nhà mà chết ở xó giường hay sao?

       Nói là làm, Hóa vẽ một bức chân dung của Ủy Vân, thu gom một số vật dụng cần thiết với một ít tiền rồi không nói với ai, lẳng lặng khoác khăn gói rời nhà ra đi. Lúc thi lang thang nơi phố thị , chốn đông người qua lại. Khi thì vượt suối, trèo đèo trong những khu rừng hoang vắng. Đến đâu, gặp ai Hoá cũng đưa bức họa hình người đẹp ra hỏi thăm. Tốn kém đã nhiều nhưng đã mấy tuần trăng mà vẫn như tìm kim đáy biển. Hình dung Hoá càng ngày càng thiểu não,lem luốc như một tên khất cái thiếu ăn.

      Một hôm Hoá đang thất thểu đi dọc theo giòng suối chẩy quanh chân một ngọn núi, chợt có tiếng hát của nữ nhân vọng lại cùng với tiếng khuấy động giòng nước. Hoá lấy làm lạ giữa chốn hoang sơ như thế này sao có người vui thú tìm đến đây để hát hò, tắm suối ? Cảm thấy sờ sợ , Hoá cho rằng nếu chẳng là tiên nữ thì cũng là ma quỷ hiện hình.Hoá nhẹ nhàng đến nấp sau lùm cây bên cạnh suối.Nhìn thấy một cô gái trần truồng như nhộng, đẹp tựa tiên nga giáng thế. Nhìn kỹ hơn, Hoá không tin vào thị nhãn mình, đưa tay dụi mắt nhiều lần mới chắc là thật. Đúng là Ủy Vân người đẹp trong mộng của mình đang mê mẩn hát hò, vui đùa với giòng suối.
       Mừng vui đến độ muốn hét lên, nhưng Hoá cố chấn tỉnh. Im lặng cởi hết quần áo mình rồi tồng ngồng nhẩy xuống giòng suối đưa tay ôm chặt lấy người đẹp hôn lấy hôn để một lúc rồi mới ngừng hôn mà nói:
-Lần này, nàng có chạy lên đàng trời cũng không thoát tay ta!
      Ủy Vân ban đầu không nhận ra Hoá, vừa sợ, vừa la:
-Bỏ ta ra ngay, còn quỷ dâm dục này! Giữa thanh thiên bạch nhật mà ngươi dám làm cái trò khả ố như vậy sao? Ta chưa bao giờ quen biết con quỷ dã nhân như người, bỏ ta ra!
      Hoá vuốt lại mái tóc, đưa mặt sát vào mặt Ủy Vân , cười ầm lên mà nói :
-Ủy Vân nàng ơi, chính nàng cũng không nhìn ra ta sao ? Nàng có biết chỉ vì tương tư nàng mà Dương Công Hoá đã ra nông nỗi này không ?
      Ủy Vân ngỡ ngàng, không dấu được cảm động mà nói :
-Công Hoá chàng đó sao? Chỉ vì yêu thiếp mà chàng khổ như thế ư? Xin hãy tha thứ cho thiếp, thiếp sẽ vì chàng mà làm tất cả để chuộc lại những lỗi lầm của thiếp.
Trong khi Hoá vừa hôn vừa đưa tay vuốt ve khắp thân thể nõn nà của người đẹp, Ủy Vân âu yếm đẩy nhẹ tình nhân ra mà nói :
-Tệ xá của thiếp không xa, xin chàng hãy dời gót đến chơi. Thiếp sẽ vì chàng mà chiều chuộng tất cả, không sướng hơn là cứ trần truồng dưới suối lạnh này hay sao?

      Nghe cũng có lý, nhất là nơi suối rừng hoang dã này người đẹp có muốn chạy cũng không được.Hoá sung sướng như ăn mày vớ được vàng , cứ tồng ngồng mà bế Ủy Vân lên bờ mặc quần áo.
Hoá không ngờ ở giữa rừng mà có một căn nhà không to lớn lắm, nhưng rất khang trang, mái đỏ tường gỗ như mới xây. Trước căn nhà là một khu vườn trồng đầy hoa, đủ mầu sắc, những đàn bướm tung tăng lượn lờ qua lại . Phòng khách của căn nhà , rất thoáng khoát, vật dụng đều bằng gỗ mầu vẹc ni xẫm mầu. Trên tường treo nhiều tranh vẽ và một số thư hoạ nội dung là những câu thơ của người xưa. Một tủ sách đứng cạnh vách hướng ra ngoài cửa chính trên đó xếp ngay ngắn phần nhiều là sách về triết học và thiên nhiên.
       Giữa phòng khách, một bộ ghế cổ bằng gỗ quí dành cho việc tiếp khách đã lên nước nâu đen . Tất cả trong nhà đều sạch bóng không có một hạt bụi. Chỉ nhìn thoáng qua sự ngăn nắp , sạch sẽ và sản vật trang trí, Hoá đoán chủ nhân căn nhà không những giàu có mà còn là người thuộc giới nho gia.
       Trong khi Hoá còn ngơ ngác chiêm ngưỡng nội thất của căn nhà thì Ủy Vân từ phòng trong bưng ra một mâm đồ ăn cùng với bình rượu. Đặt xuống chiếc bàn khách, nhìn Hoá mỉm cười mà nói :
-Chàng không biết đói sao ? Muốn gì sau sẽ tính, hãy ngồi xuống uống với thiếp vài chén rượu cho nóng người đã chứ ?
Nhìn Ủy Vân bưng mầm đồ ăn ra tiếp mình, Hoá chợt nhớ đến con bé hầu Tiểu Yến mà hỏi rằng :
-Không lẽ nàng ở đây một mình sao? Con bé hầu ta đã gặp, nó đâu rồi ?
Đáp :
-Thiếp ở một mình không tốt cho chàng sao? Gia đình thiếp đã sống ở đây, nhưng vì hoàn cảnh nên mỗi người một nơi. Thiếp và con Tiểu Yến là người còn lại nhưng mấy hôm trước nó cũng rời thiếp mà đi rồi .   Hôm nay vì duyên kỳ ngộ đưa chàng đến đây, chẳng biết chàng có vì nỗi cô quạnh của thiếp mà dám sống với thiếp chăng?
       Nghe người đẹp thố lộ, Hoá mừng như vớ được vàng. Chẳng còn ngại ngần ôm lấy người đẹp đè ra chiếc ghế dài, đòi làm chuyện mây mưa. Uỷ Vân đưa tay đẩy cho có lệ mà nói :
-Dù rắc rối thế nào, thiếp sẽ vì tình của chàng mà bỏ qua tất cả. Mong chàng đừng vì cách trở mà ruồng rẩy thiếp.
      Đáp :
-Dù có phải chết ta cũng chẳng phụ nàng, xin đừng lo lắng mà mất đi niềm hoan lạc của chúng ta.


      Sống với Ủy Vân được hơn một tháng mặn nồng như nghĩa vợ chồng. Dưới sự chăm sóc của người đẹp, Hoá đã đã trở lại hình dung đẹp đẽ, phong lưu của chàng công tử ngày trước. Một hôm ngồi bên cạnh Ủy Vân đọc sách nhìn ra bên ngoài cửa sổ, thấy lá cây rừng đang đổi sắc vàng. Biết là tiết trời đã chớm sang thu, Hoá chợt nhớ đến ngày giỗ của mẫu thân. Tính nhẩm, mình đã vì tình yêu mà xa nhà biền biệt gần nửa năm trời. Muốn về thăm nhà, cũng là dịp báo cho anh chị biết tin lành rồi làm cái lễ thành hôn cho hợp lễ giáo, nho phong. Ôm Ủy Vân vào lòng, âu yếm Hoá nói :
-Cuối thu là ngày giỗ kỵ của mẫu thân ta. Có lẽ ta phải xa nàng ít ngày để về nhà cùng với anh chị ta lo chuyện hiếu đễ. Xong việc ta sẽ trở lại đây ngay rồi sẽ cùng nàng tính việc cưới hỏi cho hợp nghĩa phu thê.Nàng thấy sao ?
Nghe Hoá nói xong, Ủy Vân tỏ vẻ buồn rầu, ôm lấy Hoá, thảm thiết thưa rằng :
-Chẳng lẽ đã đến ngày thiếp phải xa chàng rồi ư ? Âu cũng là số trời định.
Đáp :
-Ta có phải là kẻ thất tín, vô tình đâu, sao nàng lại gán cho ta lời bạc bẽo như thế ? Ta chỉ về thăm nhà lo việc cúng giỗ cho mẫu thân ta, có gì mà nàng quá lo xa như vậy ?
Ủy Vân đưa tay vuốt nước mắt, buồn bã thở dài mà nói :
-Chẳng biết ngày chàng trở lại còn gặp thiếp được nữa hay không, nhưng chuyện hiếu đễ chàng cũng chẳng nên vì thiếp mà lỗi đạo làm con. Chàng cứ bình thản mà đi, Thiếp sẽ chờ chàng ở đây.

      Hôm sau trước khi tiễn Hoá lên đường , Ủy Vân đưa cho Hoá một bịch khá lớn, trịnh trọng mà nói rằng :
-Đây là bịch hàng mã, xin chàng thay thiếp mà dâng cúng cho linh hồn mẫu thân chàng. Thiếp mong các món quà nhỏ bé này sẽ làm vừa lòng mẫu thân chàng nơi âm giới. Hoá trở về nhà làm mọi người trong gia đình anh chị ngạc nhiên và mừng rỡ. Mọi người xúm vào hỏi han chuyện gì đã xẩy ra cho Hoá trong nửa năm vừa qua. Hoá chỉ cười im lặng hay đánh trống lảng mà không trả lời. Ngày giỗ mẫu thân Hoá mang túi hàng mã của Ủy Vân ra bầy trên bàn thờ. Ai thấy cũng trầm trò khen ngợi, dù là hàng âm phủ nhưng đầy đủ mọi thứ, nào là quần áo, tiền bạc, nữa trang , ngân phiếu ... dù bằng giấy nhưng xem ra rất tinh xảo không dễ tìm mua ở thị trường. Có một điều rất kỳ lạ, sau khi cúng giỗ xong, lúc đem đi đốt. Không biết tại sao tất cả những món hàng âm phủ của Hoá mang về tự nhiên biến mất, không cần phải đốt như các hàng mã thông thường khác.
      Giỗ mẫu thân xong, Hoá dằn lưng một số tiền bạc rồi từ giã ra đi. Các anh chị của Hoá thắc mắc, hỏi han. Hoá cho biết sớm thì vài ba tháng, lâu thì năm sau sẽ về nhà với vợ để ra mắt gia đình.
Trở lại khu rừng, đúng nơi nhà của Ủy Vân nhưng hoàn toàn khác lạ. Căn nhà mới xây còn nồng nặc mùi gỗ mới mái ngói đỏ, thửa vườn hoa sặc sỡ với đàn bướm lượn hoàn toàn biến mất. Thay vào đó là một ngôi mộ đất to lớn che phủ bởi những đám cỏ dại xác xơ nổi hẳn trên khoảng đất khá lớn hoang vu . Trước mộ cắm một tấm bia ghi vỏn vẹn “Mộ táng chung của toàn gia họ Tề “ .

      Lúc này Hoá mới biết Ủy Vân là ma. Nhớ lại những ngày tháng sống với Ủy Vân như vợ chồng vừa qua, Hoá vẫn đầy lòng luyến nhớ, cầu mong Ủy Vân cũng sẽ nhớ đến mình mà trở lại. Hoá dựng một căn chòi nhỏ bên cạnh nấm mồ,hàng ngày than van, khóc lóc mong động lòng kẻ đã chết hiện về với mình như ngày trước.
Thấm thoát đã mấy tháng trời trôi qua, Hoá vẫn không nguôi được nhớ thương mà quên ăn, quên ngủ. Hàng ngày vẫn ôm ngôi mộ than khóc, mong chết để được gặp lại người thương. Vóc dáng tiều tụy, râu tóc lờm xờm lại lần nữa trở về với Hoá.
      Một hôm, trời đã khuya, sau một lúc khóc than, mệt quá Hoá nửa tỉnh, nửa mê gục bên ngôi mộ. Bỗng như có ai nắm lấy vai mình mà lắc, Hoá ngước lên thấy Ủy Vân mắt ướt lệ, im lặng đang nhìn Hoá. Đưa tay tát vào má mình để chắc chắn không phải giấc mơ, Hoá ngồi bật dậy ôm lấy Vân mừng rỡ mà nói :
-Ủy Vân nàng trở lại với ta đó sao ? Nàng có biết ta đang đau khổ muốn được chết vì thương nhớ nàng không ? Xin nàng đoái thương mà đừng bỏ ta lần nữa .
Đáp :
-Tình của chàng nào thiếp có ngu đâu mà không biết.Mỗi ngày trông thấy chàng mòn mỏi, âu sầu thiếp cũng đau lòng lắm, nhưng thiếp biết làm sao đây. Giờ chàng đã biết thiếp không là người mà là ma của con gái họ Tề đây. Giữa chàng và thiếp âm dương cách trở làm sao hai ta có thể gần nhau được, mong chàng đừng vì thiếp mà đầy đọa chàng nữa.
Nghe thế , Hoá càng ôm chặt lấy Vân khóc lóc mà nói rằng :
-Ma có sao đâu,nàng đã sống với ta thời gian vừa qua không lẽ đó là mộng ảo hay sao ? Nếu cần ta chẳng ngại ngần để chết mà được theo nàng đến cõi âm.
Vân cảm động mà nói :
-Như chàng đã biết mấy chục năm trước gia đình thiếp vì lánh nạn binh đao mà trôi dạt đến đây. Tưởng rằng đã tìm được chốn an thân . Nhưng hơn 2 năm về trước một nhóm cướp đột nhập vào nhà thiếp cướp tài vật, còn đốt nhà và giết tất cả người trong gia đình thiếp. Quan quân đến thì đã muộn, đành gom tất cả xác của gia đình thiếp vào một lỗ huyệt, chôn vùi qua loa. Dưới suối vàng sau khi qua sự thẩm xét của Diêm vương , song thân và anh chị em thiếp đã được đi đầu thai. Thiếp và con Tiểu Yến chưa tìm được chốn đầu thai hợp cách, cho nên tiết Thanh Minh vừa qua ham vui mà gặp chàng. Sau đó vài ngày Tiểu Yến đã tìm được chốn đầu thai.Còn thiếp lại ngẫu nhiên tái ngộ với chàng trong giòng suối. Khi chàng từ giã để về nhà dự ngày kỵ của mẫu thân chàng được vài ngày . Thiếp bị quan nha cõi âm đến bắt đi đầu thai. Thấy chàng vì quá nặng tình mà đầy đọa thân, thiếp khóc than không muốn đi đầu thai, làm đơn lên Diêm Vương xin cho thiếp được gần chàng một thời gian nữa . Diêm Vương thương tình của thiếp nhưng có phần không tin, sai thiếp dẫn chàng đến cho Diêm Vương hỏi cớ sự. Xin chàng mau mau theo thiếp để không bị rắc rối.
Nói xong, Ủy Vân cầm tay Hoá dẫn đi mà dặn dò :
-Khi đến chầu Diêm Vương chàng phải khôn khéo và giữ lễ độ. Việc sống chết của chàng và sự đoàn tụ của chúng ta đều do khôn ngoan của chàng đó.
Trên đường đi Hóa tò mò hỏi:
-Cõi âm có khác gì với dương gian không ?
Đáp :
-Mọi sự ở cõi âm gần giống như dương gian. Người ta sau khi bị Lục Phán Quan theo lệnh Diêm vương bắt linh hồn về suối vàng, được đưa ngay vào một nơi giống như toà án trên nhân gian, gọi là “Khảo tội ty“ giống như toà án ở dương thế. Nơi đây sẽ xét xử sự xấu tốt của con người lúc sống ở dương gian. Sau đó tùy theo tội nặng nhẹ mà đem ra cho các quỷ sứ hành tội ở Hoả ngục . Khi thụ án xong, linh hồn được tự do sinh hoạt như trên dương gian để chờ đi đầu thai. Cõi âm cũng có trường ốc, văn phòng, cơ sở ....như trên cõi dương. Việc phục dịch, hầu hạ các quan chức cũng như làm công việc an ninh, trị tội, canh gác linh hồn những kẻ độc ác khi chết đều các quỷ sứ thi hành. Người ở cõi âm không có ý niệm thời gian. Lúc chết ở tuổi nào, hình trạng ra sao khi xuống cõi âm đều bất biến, giữ mãi hình trạng đó cho đến khi đầu thai. Khi đầu thai là khởi đầu một kiếp người mới, phải trở về với dạng ấu thơ và quên hết những gì đã trải qua lúc còn ở cõi âm.Lúc đó con người mới có ý niệm về thời gian và có già trẻ. Chính vì vậy khi đầu thai không còn ai biết gì về tiền kiếp của mình cũng như của thân nhân dù là vợ chồng, con cái. Con người ở cõi âm dù có hình hài nhưng không là vật chất nên không có trọng lượng vì chỉ là linh hồn mà thôi .
Hoá ngắt lời tỏ vẻ nghi ngờ :
-Nàng có lầm lẫn không ? Ta chẳng cảm thấy khác lạ gì khi gần nàng, ôm nàng trong vòng tay .
Đáp :
-Đấy chỉ là ảo giác của chàng mà thôi. Hình hài thiếp hiện ra với chàng không phải nhờ nhãn quan mà trong ý niệm của chàng đó.

       Hoá đang định hỏi thêm về chốn âm ty, thì đã đến gần chân một thành quách cũng có những chòi gác, bờ thành như ở dương gian. Trên đó những quỷ sứ đủ hình dạng khác nhau vác gươm dáo đi đi, lại lại. Đứa thì mình người, đầu chó. Đứa thì lưng gù, mũi hếch răng nanh dài thò ra khỏi miệng.... Trên cổng thành treo một tấm bảng sơn mầu đen, viết 3 chữ rất to mầu đỏ như máu : “ Diêm Vương Thành “.
      Ngoài thành thì yên lắng, nhưng bên trong sinh hoạt có vẻ xầm uất hơn. Trên đường phố cũng có những tiệm bán buôn, trường học, sĩ tử, thanh niên, thiếu nữ dập dìu đi lại mua sắm như trên dương giới. Thỉnh thoảng có những toán quỷ sứ khênh các cũi trong đó giam những người có tội. Thấy Hoá nhìn có vẻ thắc mắc, Vân giải thích :
-Những người kia cũng giống như thiếp. Sau khi chết họ được một cơ quan “ Khảo tội ty “ thẩm xét tội trạng rồi đem vào hoả ngục cho quỷ sứ ở đó hành tội. Sau khi trả hết tội, họ được tự do, sinh hoạt như trên dương giới để đợi chờ đến phiên đi đầu thai kiếp khác. Còn lũ quỷ sứ đang khuân các cũi giam tội nhân đó là họ đang mang tội nhân đến hoả ngục để làm tội đó.
Vân đưa tay chỉ sang một khu vực có nhiều dẫy nhà ngang dọc bên trái, nơi đó đang tấp nập người và quỷ sứ đi lại, giải thích rằng:
-Kia là khu trung tâm hành chánh của Diêm Vương Thành, trong đó có đầy đủ các văn phòng hành chánh, các khu công đường làm việc của các quan nơi âm ty. Xa xa là dẫy nhà “Khảo tội ty “. Cuối khu vực gần chân dẫy núi, có căn nhà rất lớn mầu đen tuyền đó là “Hỏa Ngục“ nơi đó có đầy đủ những dụng cụ để làm tội những kẻ bất nhân, làm ác khi sống trên dương thế.

      Đi một đoạn không xa, Vân chỉ vào một dinh thự lớn, hùng vĩ như một lâu đài, sơn mầu đen, với những mái nhà hình thù quái lạ chen lấn chĩa lên trên . Nhìn bề ngoài lâu đài đã cảm thấy sợ hãi vì vẻ kỳ quái và âm u của nó toát ra ngoài. Đằng trước lâu đài có một lũ quỷ sứ hình thù dữ tợn ôm gươm dáo nghiêm trang đứng canh gác. Cổng vào là hai khối đá hình tháp xếp thành cổng . Trên hai khối đá đó đính vào những khuôn mặt nửa giống người,nửa giống thú vật nhe răng, máu chẩy đỏ lòe, lem nhem trên khuôn mặt. Phía trên đỉnh hai khối tháp treo một tấm bảng viết ba chữ mấu đen :“ Diêm Vương Điện “
Ủy Vân giải thích :
-Đây là chốn mà chúng ta phải đến. Thiếp mong chàng bình tĩnh và khôn khéo khi trả lời Diêm Vương. Tất cả trông cậy vào chàng lắm đó.

      Sau khi Ủy Vân nói vài câu với quỷ sứ gác điện. Một con quỷ khác đầu chuột chù, cặp răng nanh thò ra bên mép như cặp sừng nhỏ. Thân hình thì lại mầu vàng to lớn như bò mộng đến dắt Hoá và Vân vào điện. Bước khỏi thềm tam cấp Hoá đã nhìn thấy một quái nhân, nửa người, nửa vượn, mặt đỏ như son,chiếc mũi nhọn và to phồng lên , phồng xuống theo nhịp thở, đã vậy còn cong xuống gần đụng môi trên . Quái nhân ngồi trên một chiếc ghế rất to như cái phản bọc gấm mầu đen nâu . Hai bên trái phải là hai vị phán quan to như người khổng lồ, mắt lồi ra như hai con ốc bưu, họ nhìn Hoá như muốn nuốt sống , ăn tươi. Chẳng cần nói Hoa cũng biết quái nhân ngồi trên ghế bành là Diêm Vương.
Hoá cùng Vân tiến đến gần, quỳ lạy vừa sợ, vừa run mà thưa rằng :
-Hạ nhân là Dương Công Hoá, người Kinh Bắc trên dương gian xin ra mắt Đại Vương, mong Đại Vương chỉ bảo !
Diêm Vương hơi nhíu cặp mắt chim cú nhìn Công Hóa một tí rồi phán :
-Ta có nhận được đơn kêu nài của Tề nữ, nói ngươi đã vì yêu thị mà không phân biệt Âm Dương ! Lại còn dám đầy đọa thân mình cho đến chết để được đoàn tụ với thị nơi âm cảnh phải không ?
Đáp :
-Dạ, đúng như vậy! Vì tình yêu hạ nhân bằng lòng làm tất cả, kể cả hủy hoại kiếp sống trên dương giới của mình để được yêu và sống với người mình trót yêu thương. Xin Đại vương nhỏ lòng thương mà xét cho hạ nhân toại ý.
      Diêm Vương lắc đầu nhẹ, nhưng có chút hoà nhã mà phán rằng :
-Tên học trò ngu dại này nói mà không nghĩ. Ngươi tưởng cứ muốn chết là được sao ? Con người ta đến số chết mới chết được. Có phải ai muốn chết, muốn sống lúc nào là được đâu.Ta cho ngươi biết nếu số ngươi chưa đến, ta chưa sai phán quan đến bắt hồn người thì dù ngươi có đâm đầu vào hoà diệm sơn ngươi cũng chẳng thế nào chết được. Dù ta rất cảm động với tình yêu của ngươi, nhưng ta cũng chẳng thể làm được cái chuyện cho ngươi chết để cho ngươi và Tề nữ đoàn viên nơi suối vàng này được. Ngươi về đi !
Vẫn không mất hy vọng, Hoá cố kèo nài :
-Thôi thì hạ nhân không thể chết, vì số chưa đến. Vậy xin Đại Vương cho Ủy Vân sống, trở lại dương gian với hạ nhân, điều này chắc không khó gì với Đại Vương cả. Xin Đại Vương vì ngoại lệ mà cho hạ nhân một ân huệ.
      Diêm Vương ra vẻ đăm chiêu khi nghe Hoá trình bầy. Ngẫm nghĩ tí chút, Diêm Vương phán :
-Thôi cũng được, ta cho Tề nữ nhập vào xác một cô gái nào đó đến số chết trên dương gian, như vậy ngươi sẽ gặp cô gái đó mà nên duyên vợ chồng. Lý do là thể xác Tề nữ chết đã lâu đã bị thoái mục rồi.
      Nghe Diêm Vương giải quyết như vậy, Công Hoá có vẻ ngại ngần vì tưởng tượng ra những rắc rối, nhiêu khê! Nào là hình dung người con gái đó có xinh đẹp như Ủy Vân hay lại là xú cô nương thì làm sao mà yêu cho được ! Hay bố mẹ cô ta là tên ăn cướp, giết người hay nghèo túng khố rách , áo ôm ... thì không lẽ đâm đầu vào mà hứng chịu hay sao ?!
      Có lẽ nhìn thấy nỗi lo ngại của Hoá, Diêm Vương phán :
-Thôi, ta cũng vì đồng cảm với kẻ lãng mạn, chung tình như ngươi mà cho ngươi một ân huệ, ngươi tự tìm kiếm lấy mọt người nào trên nhân gian đến số chết có hình dạng ngươi thích. Nhưng đơn giản hơn, nếu ngươi có tài điêu khắc, nắn tượng hay họa truyền thần, ngươi sẽ làm cho ta một tác phẩm giống như Tề nữ, người yêu của ngươi. Ta sẽ cho hồn của thị nhập vào tác phẩm của ngươi trở lại với dương thế sống với ngươi.
Nghe Diêm Vương nói đúng với tài năng của mình, Hoá mừng rỡ và xin được họa truyền thần. Diêm Vuơng sai quỷ sứ mang bút và giấy vẽ cho Hoá.
      Không một tí ngại ngần, rất mau chóng Hoá vẽ hình Ủy Vân, quỳ dâng tận tay Diêm Vương. Diêm Vương xem bức truyền thần, ra vẻ rất ngạc nhiên. Gật gù cái đầu đỏ chót ra chiều cảm phục mà nói bâng quâng :
-Đúng là thiên tài ! Không những rất giống mà còn có chiều đẹp hơn người thật nữa là khác!
Hoá chưa kịp cảm tạ lời khen, Diêm Vương phán tiếp :
-Đẹp đến nỗi, ta là thần giết người mà còn phải ngẩn ngơ, động lòng muốn yêu nữa là ai ! Nhưng ta hỏi thật ngươi điều này, liệu giai nhân mà ngươi vẽ có là người đàn bà đức hạnh, nhu mì không ? hay lại độc ác như Đắc Kỷ ngày xưa thì khốn đốn cho ngươi lắm đó!
      Công Hoá thấy Diêm Vương có vẻ khoáng đạt, không đáng sợ như hình dung nên mỉm cười mà thưa rằng :
-Thư Đại Vương, nếu Đại Vương nhìn vào khuôn mặt bầu bĩnh hiền hậu. Đôi mắt trong sáng thuần khiết chính trực của bức truyền thần mà hạ nhân vẽ thì chẳng thể nào là một người đàn bà trắc nết, ác độc, lăng loàn được. Đại vương đừng lo ! nàng đẹp mà còn hiền thục nữa!

      Diêm Vương nghe lời giải thích của Hoá, đưa mắt nhìn bức tranh kỹ lưỡng hơn. Ra chiều vừa ý, đồng tình. Một tay cầm bức họa liệng vào Uỷ Vân đang quỳ dưới đất. Tay kia đẩy vào người Hoá té, đập đầu xuống nền gạch bên cạnh Ủy Vân! Hoá giật mình, hét lên vì đau đớn. Nhưng thoảng nghe có tiếng ai gọi tên mình :
-Công Hoá chàng mau tỉnh dậy đi thôi! Thiếp là Ủy Vân đây, nhờ chàng mà thiếp được trở về làm người, sống với chàng trên dương thế đây!
      Không lâu sau đó, đám cưới của Công Hoá và Ủy Vân đã được tổ chức rất rình rang ở Kinh Bắc. Khách mời không nhiều nhưng ai ai cũng phải ngẩn ngơ với sắc đẹp nghiêng nước, đổ thành của Ủy Vân. Công Hoá sau khi lấy vợ được vài năm cũng thu dọn xong bằng Tiến sĩ, được triều đình cử làm quan án sát ở đế kinh. Ủy Vân ngoài vẻ đẹp còn là người vợ đức hạnh, đầy lòng nhân. Giúp chồng giải quyết những vụ án khó khăn tránh oan ức cho người vô tội. Khuyên chồng gia giảm cho những phạm nhân vì hoàn cảnh gia đình khó khăn mà lỡ phạm tội hay biết lỗi lấm mà ăn năn hối cải.
      Vợ chống Hoá sinh được ba người con. Hai con trai lớn thông minh, đĩnh ngộ. Tuổi mới ngoài đôi mươi mà đã xong Tiến sĩ. Ra làm quan cũng nổi tiếng như bố là thanh liêm tài đức. Con gái út cũng xinh đẹp, hiền thục như mẹ sau lấy chồng làm quan chuyên lo về thư tịch, giúp chồng thu gom những tác phẩm có giá trị văn chương, bút tích cổ xưa làm giầu cho nền văn hoá nước nhà.
Thật là một gia đình phúc đức!

Hết

Lưu An, Vũ Ngọc Ruẩn
Thụy Sĩ ( Jan. 2008 )