Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013

Áo Trắng Ngày Xưa - Sáng tác Nguyễn Đức Tri Tâm - Grace Văn ca


Nhạc và Lời: Nguyễn Đức Tri Tâm - Cựu Nam Sinh Trường Trung Học PleiKu
Tiếng Hát: Grace Văn - Cựu Nữ Sinh Trường Trung Học Pleime, Pleiku
Hình Ảnh: Thu ĐàoCựu Nữ Sinh Trường Trung Học Pleime, Pleiku
Thực Hiện: Kim OanhCựu Nữ Sinh Trường Trung Học Tống Phước Hiệp , Vĩnh Long



Đơn Phương Tình Cũ

 

Buổi họp mặt đêm về thao thức nhớ
Bao vấn vương lưu luyến tuổi học trò
Thuở yêu người vớ vẩn mấy vần thơ
Cái liếc mắt cũng vật vờ đêm không ngủ


Sợi tóc rối lén lượm về ấp ủ
Hơi hám người quen quá... hóa thành thương
Đêm mộng du ân ái tiếc lạ thường
Ngày đến lớp bài vở nào có nhớ

Sáu mươi mốt năm nặng gánh đời vấp ngã
Để một ngày bỡ ngỡ đón tìm nhau
Em kiêu sa vẫn đẹp tựa ngày nào
Ta xơ xác thân bướm già tơi tả... tơi tả


Phủ Hiền

Trải Lòng Tiết Vu Lan

 

      Theo lệ có lẽ lâu lắm rồi, tháng Bảy là tháng mưa Ngâu cũng là xá tội vong nhân theo mùa Vu Lan báo hiếu thân nhân quá vãng, trong tháng xá tội họ về với những gì họ tưởng đến, về với gia đình cùng con cháu về với bạn bè thân quen, được hưởng cúng phẩm của gia đình bằng vật chất và cũng hưởng luôn những thời kinh cầu siêu gọi vong với mong ước của người đang sống, thân nhân mình nhờ đó mà siêu sanh không còn mãi tưởng nhớ trầm luân trong hận thù oán trái, bứt dây trói buộc nhẹ nhàng thong dong tự tại.

    Thế nhưng những anh linh của tử sĩ, những chiến sĩ trận vong trên bin cũng như trên đất liền, từ trăm ngàn năm trước cho đến ngày nay. Chỉ đến khi Vu Lan mới được thí thực, thí pháp, vậy còn ngày thường trong mỗi ngày của chúng ta đang sinh sống thì sao lại quên họ nhỉ.
    Vì thương tưởng họ nên mỗi buổi cơm gia đình, tôi kính cẩn chấp tay mời họ dùng dù bữa ăn đạm bạc, trước khi gia đình tôi cùng cầm đ
ũa.
    Nhân mùa báo hiếu năm nay, tôi ghi lại cảm xúc của họ qua hình ảnh trăng tháng Bảy trong mây mù, như đôi mắt người xưa nhìn mình qua khóe lệ, như trách móc, như yêu thương vẫn mãi không bao giờ nguôi…..
 
Uổng tử cùng hồn oan
Kết thành mưa mù mịt
Không nhà chẳng thân thích
Phiêu bạt bất cần nơi
Mời chư vị ghé chơi
Tôi tặng kinh siêu độ
A Di Đa Bà Đa
Cầu nhất niệm nhất ngộ
Các vị mười phương chơi
Sụt sùi uổng tử
Trương Văn Phú
    *A Di Đa Bà Dạ - Câu khởi nguồn cho bài tụng chú vãng sanh, vãng sanh cho người khuất, cũng như vãng sanh cho người đang sống với tâm thiện lành-vãng sanh hiện tiền-
   Thiện- Đạo  nhân mùa Vu Lan báo hiếu



Từ Ngọt Ngào Hai Tiếng Chị Ơi





Anh cứ ngỡ rằng
em là cô bé ngày xưa
Hai tiếng …chị ơi
nghe thân thương đứt ruột

Khóc đi em
cho lệ trào khô nước mắt
Để quanh đây
không còn tiếng nấc bao giờ !

Anh gởi về em
chan chứa lời thơ
Khi gió ngẩn ngơ
mây buồn ngưng đọng

Hãy cười đi em
niềm vui là lẽ sống
Đêm cũng vô tình
làn sương mỏng vừa tan.

Dương Hồng Thủy
( 02/08/2013 )

Ngọt Ngào Hai Tiếng Chị Ơi





“ Chị ơi
chắc gì
thơ vô thanh
để đừng nghe tiếng nấc
Có cái gì
sóng sánh
trong đôi mắt
bao giờ “.

Hồ Việt Kim Chi




Bạn Có Làm Ngơ



Bạn có vô tình nghe tiếng nấc làm ngơ
Con tim ai đang réo rắc đợi từng giờ
Đang cố nén càng vươn cao đợt sóng
Rót đau thương ngọt lịm rớt vào thơ


Làn thu ba ngắm biển chiều sóng sánh
Trong tận cùng muốn gởi gió theo mây
Sợ âm vang trăng nép mình đứng lặng
Nói điều gì trong mắt biếc dâng đầy?

Vùi tiếng nấc vào mênh mông thăm thẳm
Giữa biển đời im bặt tiếng sóng vang
Đêm lắng sâu qua tiếng gió bạt ngàn
Hòa vũ trụ với ta đồng nhất thể


Kim Quang
 

Chiếc Nhạn Trong Đêm




Nhạn tìm đến trời xa
Thân nương nhờ bến lạ
Vẫn luyến mảnh vườn xưa
Cánh mỏi nhớ quê nhà


Trăng nay chừng lạ lẫm
Cố hương ngoài vạn dậm
Nhạn thấy buồn da diết
Vang vọng tiếng than thầm


Giữa đêm trường im vắng
Cô đơn với ánh trăng
Mắt dõi về nơi cũ
Thăm thẳm buồn giăng giăng

Một bóng trong đêm lạnh
Mơ tưởng lại ngày xanh
Bao chuyện tình áo trắng
Những mộng ước mong manh


Lòng chơ vơ mấy nẻo
Mênh mang một chữ sầu
Trăng già thêm hiu quạnh
Hồn lặng lẽ về đâu...



Quên Đi

Lệ Đắng Bờ Môi


Bàn tay nhỏ giữ người không nổi
Để chiều hoang rong ruổi ra đi
Là từ khuất dấu chim di
Thương ai cả khoảng xuân thì khắc sâu

Rồi mấy độ thu sầu lá đổ
Bặt tin nhau tình ngỡ phôi pha
Thời gian có thể xoá nhòa
Cũng như thu đến rồi xa theo mùa

Chiều đưa lối chân qua phố cũ
Quán cóc xưa lá rũ bên đường
Là nơi hò hẹn thân thương
Khơi bao kỷ niệm bềnh bồng trong tôi

Nhìn cảnh cũ nhớ người xa vắng
Mắt nào cay lệ đắng đời nhau
Trải qua bao cuộc bể dâu
Thăng trầm vẫn mối tình đầu khó quên


Vĩnh Trinh

***
Tình Vụn Dại

 (Cảm xúc từ Lê Đắng Bờ Môi của Vĩnh Trinh)

Mối tình đầu không tên
Sao hoài ghi khắc dấu
Cuộc tình in sâu đậm
Nước mắt nhoà phai mau

Trái tim yêu loang máu
Nhuộm sắc màu tê tái
Người đi không ngoãnh lại
Hết thời ... buổi chiều nay

Mối tình đầu vụn dại
Không ước lượng phải sai
Hụt hẫng vuột tầm tay
Chôn kín ...chốn tuyền đài

Kim Oanh

Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Trường Cũ Tình Xưa


Hôm nay trở lại trường xưa
Trên cao Phượng Vỹ đong đưa gọi mời
Ồ! Nguyễn Trường Tộ đây rồi
Dáng người áo trắng bồi hồi nhớ thương
Bao năm xa cách còn vương
Tóc dài quyện gió gửi hương tình đầu
Người thương nay biết về đâu
Hoa thơm trường cũ một màu nguyên trinh


Nguyễn Trường Tộ
Kỷ niệm ngày về 17/11/2011


Quá Trình Hoạt Động Của Trường Trung Học Tư Thục Nguyễn Trường Tộ Vĩnh long (1952-1975) Đặng

     Đủ hiểu biết và thẩm quyền để nói về quá trình hoạt động của Trường Trung Học Tư Thục Nguyễn Trường Tộ Vĩnh long (1952-1975), có lẽ chỉ có 3 người:

- Cha Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang (1909-1990), vị sáng lập, Hiệu trưởng tiên khởi từ 1952.
- Thầy Trần văn Phong (1920-2011), Giám học, thừa lệnh Hiệu trưởng trực tiếp điều hành từ niên khóa đầu tiên.
- và Cô Đặng thị Nhan (1925-2004), Tổng Giám thị, đồng thời quản lý điều hành khi Thầy Trần Phong vắng mặt.

     Rất tiếc rằng, thầy Trần Văn Phong đã là người cuối cùng ra đi!
alt 

     Khi Cha Quang nhậm chức Giám mục Cần Thơ giữa năm 1965, chức danh Hiệu trưởng Trường THTT Nguyễn TrườngTộ (là một nhà trường Công Giáo) đương nhiên chuyn giao cho Linh mục Tổng Đại diện Giáo phận Vĩnh long kế nhiệm. Tuần tự là các vị:

- Cha Benoit Trương Thành Thắng (1912-1987).
- Cha Phaolô Trịnh Công Trọng (1922-2006).

- Cha Phêrô Nguyễn Văn Tự (1928-2001).
- Cha Antôn Ngô văn Thuật ( 1930 - 1997).

      Các vị này (nguyên là Thầy học của tôi trong Tiểu Chủng viện VL), nay cũng không còn n
a.

     Tôi chỉ nhớ loáng thoáng rằng năm 1954, khi được Mẹ mang về Vĩnh Long để vào học lớp Năm (lớp 1 ngày nay) ở Trường Bà (trường Tiểu học của các Sơ dòng Thánh Phaolo) cuối đường Trưng Nữ Vương.  Mẹ tôi, Cô Bảy Nhan đã đi dạy ở Cầu Cái Cá hơn một năm trước đó rồi.
  
     Cơ sở đầu tiên của trường THTT Nguyễn Trường Tộ ở ngay dưới chân cầu Cái Cá, đường Nguyễn Trường Tộ, gồm một dãy lớp học hướng ra bờ Rạch Cái Cá, dãy nhà trệt này nghe nói được thuê của gia đình Ông Năm Gioan (?), là khối dinh thự cổ kính kề bên.

      Vài năm sau, Trường THTT Nguyễn Trường Tộ được nhận cơ sở chính thức là dãy nhà lợp ngói bên hông cánh phải Nhà thờ Chính toà lúc đó (nhìn ra sông Cổ Chiên, vị trí một phần quảng trường Vĩnh Long ngày nay), giáp lưng với Trường Bà. Tuy vậy, cơ sở cầu Cái Cá vẫn tiếp tục duy trì thêm vài niên khoá, dành cho cấp Đệ Thất.

      Khoảng năm 1960, Trường được mở rộng thêm một dãy phía sau Nhà thờ. Lm.Hiệu trưởng, cũng là Cha Chánh sở Giáo xứ cho xử dụng sân bao quanh Nhà thờ làm sân trường, trong sân rợp bóng những gốc me cổ thụ. Nhà của Cha Chánh sở (nhà Xứ) toạ lạc bên cánh trái Nhà thờ, phía sau còn có sân vườn. Các dịp Khai giảng hay Bãi trường hàng năm được cử hành tại Tiền diện ngôi Giáo đường kiểu Romain cổ kính này.

alt

     Năm 1967, một Nhà thờ Chính toà Vĩnh Long mới được khánh thành trên địa điểm ngày nay (gần Ngã ba đi Cần Thơ), Nhà thờ cũ bỏ trống. Đức Cha Quang và Linh mục kế nhiệm là Cha B.Thắng cho phép dùng nội thất Nhà thờ cũ để làm phòng học tạm, mỗi khi thiếu ch sắp lớp. Không được lâu, chiến trận Tết Mậu Thân khiến Nhà thờ xưa bị hư hại nhiều, tháp chuông bị đổ sụp, trần mái thỉnh thoảng rơi xuống bất chợt. Cuối năm đó, công trình kiến trúc này phải bị phá dở hoàn toàn trong sự luyến tiếc của nhiều người, dành không gian trống cho sân trường đến tận sau năm 2000. Vài dãy lớp học mới được xây tiếp nơi sân phía sau Nhà xứ cũ.

      Theo tâm nguyện của Cha Nguyễn Ngọc Quang - một đời dành cho lý tưởng giáo dục thanh thiếu niên, Thầy Trần Văn Phong, với sự trợ giúp của Cô Đặng Thị Nhan trong nhiệm vụ Giám thị, và Cô Trần Thị Hạnh trong vai trò Thủ quỷ, đã một thời qui tụ được nhiều thầy cô ưu tú cùng góp công xây dựng một môi trường giáo dục trong sáng, dẫn dắt nhiều thế hệ học sinh nên người hữu ích cho gia đình và xã hội.

     Hàng ngũ giảng dạy tại trường THTT Nguyễn Trường Tộ, có cả sự góp mặt của các tu sĩ từ Đại Chủng Viện Xuân Bích VL (đang học để nhậm chức linh mục) cùng một số giáo sư đương nhiệm của trường công lập Tống Phước Hiệp. Không ít nhân vật nổi tiếng trong lảnh vực văn hoá, giáo dục đã nhiệt tâm đến trường thuyết ging cho học sinh theo lời thỉnh mời của Thầy Trần Văn Phong.  

***
alt
Cô Đặng thị Nhan (1925-2004)
     Sau chính biến 1963 ít lâu, Cô Bảy Nhan quyết định về Sài gòn tham gia việc kinh doanh của gia đình. Tuy nhiên, cuối năm 1964 Cô Nhan phải cấp tốc quay trở lại trường, theo yêu cầu của Lm.Hiệu trưởng, do Thầy Trần văn Phong buộc phải vắng mặt lâu dài vì thời cuộc.

      Được sự khuyến khích, hổ trợ của Đức Giám Mục Cần Thơ và Linh mục Hiệu trưởng, Cô Đặng Thị Nhan đã sát cánh cùng Hội đồng giáo sư, nối tiếp sự nghiệp của trường THTT Nguyễn Trường Tộ trong những thời gian vắng mặt thầy Phong.

      Đến tháng Sáu 1975, Giáo quyền chỉ định Cô Nhan tiến hành bàn giao cơ sở giáo dục này.
 
* * *  
      Tôi vào học Trường Nguyễn Trường Tộ từ năm Đệ Ngũ, niên khoá 1963-64. Cuối niên khoá 66-67 thi Tú tài 1 xong thì phải chuyn sang trường Tống Phước Hiệp để được học tiếp lớp Đệ Nhất.

      Nhớ lại những năm đó, sau giờ học, tôi thường được sư phụ là một ông Cai Nhà đèn (nhà máy điện của tỉnh VL) cho vác thang đi theo học việc. Để khuyến khích, ông giao cho tôi đãm nhiệm những mối khách hàng quen thân với tôi, trong đó có cả việc
sa cha điện cho trường Nguyễn Trường Tộ. Công việc lâu ngày khiến mọi người trong trường mặc nhiên xem tôi như một công nhân k thuật của cái trường mà tôi đang là học sinh và các Thầy Cô hay nhân viên ở đó đang là đồng nghiệp của Mẹ tôi!

      Bởi cái vị trí ngộ nghỉnh đó, tôi luôn được kêu gọi tham gia mọi sinh hoạt của học sinh cũng như nhiều công việc trong văn phòng nhà trường. Về sau, khi một số bạn cùng lứa đã được bước lên bục gi
ng của trường, tôi còn có dịp cùng vài bạn đồng hương quay lại hợp tác hướng dẫn cho các lớp đàn em.  
     Cũng như những bạn đồng song thời bước chân chập chững đến trường, sân chơi hàng ngày của chúng tôi thủa bé chính là sân Nhà thờ đó, là bến sông đó. Kéo dài sang những năm trung học và sau trung học, vừa học, vừa chơi, vừa giao tiếp, vừa làm việc. Vật đổi sao dời, khung cảnh của một thời đã xoá sạch hoàn toàn, những ngày xưa nay còn vài người bạn già lẩm cẩm, vài tấm hình hoen cũ ...

     Cũng hay, nhờ vậy mà những kỷ niệm vấn vương trong ký ức có thể vẫn giữ được nguyên dáng đẹp ngày xanh... Về một không gian không còn tồn tại.

   Hồi tưởng về Trường Trung học Tư thục Nguyễn Trường Tộ, Vĩnh Long
   đ kính nhớ Mẹ tôi, Thầy Phong, cùng những người thương mến.


Đặng AnhTuấn, Nov.2011

PS: Chỉ là hồi ức nên một vài chi tiết có thể chưa chính xác, xin miễn th


Thơ Tranh:Bên Mạ




Thơ: Suối Dâu
Thơ Tranh: Kim Oanh

Thuyền Trăng Và Tịch Lặng




Em chèo thuyền qua
Bỏ trăng ở lại
Tôi đứng ngây dại
Cùng ánh trăng tan
Trăng trôi xuống ngàn
Thuyền đâu trở lại
Con sông ngây dại
Ngóng mãi trăng về
Trăng đâu hẹn thề
Sông chìm sương trắng

 
(Ảnh chụp của chính tác giả)
Trương Văn Phú

Bến Trăng Thưa

 
(Vần thơ nối tiếp Thuyền, Trăng Và Tịch Lặng của Trương Văn Phú)
 
Em chèo thuyền qua dòng sông Vĩnh
Bỏ trăng ở lại trong tịch lặng
Tôi đứng ngây dại chẳng nên lời
Cùng ánh trăng tan lòng vời vợi
Trăng trôi xuống ngàn thuyền có đợi

Thuyền đâu trở lại bến sông xưa
Con sông ngây dại soi
bóng dừa
Ngóng mãi trăng về dăm ba bữa
Trăng đâu hẹn thề thuyền có đợi
Sông chìm sương trắng bến trăng thưa



Kim Oanh
 

Nửa Bài Thơ



Đã xa rồi... qua rồi... đâu rồi ?
Chiều một mình trên phố
Hồn bây giờ ngẩn ngơ
Khắp đâu đâu điểm hẹn
Chốn nơi nao tình cờ
Tóc ngắn dài một mớ
Đan kết nửa bài thơ
  
Hoàng Lam 

(Tặng nui cho một mối tình ''đan kết'' nhưng không ''đoạn kết'')

 

Nhớ Mẹ Hiền

Đã bao năm miệt mài nơi xứ lạ
Chốn quê nhà tóc Mẹ ngã màu bông
Mà con mãi mang thân đời viễn xứ
Mẹ hiền ơi! nghe đau nhói trong lòng .

Thân của Mẹ héo gầy theo năm tháng
Bởi ưu tư phiền muộn nặng vai còng
Nước mắt Mẹ đã khô đi dòng lệ
Khóc tang chồng thương phận trẻ long đong .

Ngày con nhỏ Mẹ mua tần bán tảo
Nuôi đám con mong lớn được nên người
Binh lửa đến mỗi thằng đi một xứ
Tàn cuộc rồi mắt Mẹ lại đầy vơi .

Mẹ đưa tiễn những đứa con xuống mộ
Khóc cho thằng xác lạnh gởi rừng hoang
Mắt Mẹ mờ sau bao lần đưa tiễn
Tre khóc măng đời Mẹ lắm gian nan .

Vai trĩu nặng những gánh đồ nuôi trẻ
Gói cơm khô vài ba lát bánh mì
Mẹ chiu chắt nuôi những thằng ngục tối
Chuyến xe đời Mẹ tần tảo ngược xuôi

Tuổi xuân xanh Mẹ đâu vui đời thục nữ
Chỉ chăm lo bổn phận với chồng con .
Thương cho Mẹ suốt một đời lận đận
Bóng ngã chiều lòng Mẹ vẫn héo hon

Nơi quê nhà giờ Mẹ thân một bóng
Chỉ vui vầy bên đám cháu mồ côi .
Mấy thằng còn lại thì đời viễn xứ
Xuôi theo dòng những thân phận nỗi trôi .

Chiều hôm nay con lòng buồn nhớ Mẹ
Nhớ bờ tre nhớ hàng bưởi vườn sau
Nhớ dáng Mẹ xưa bờ ao giặt áo
Nhớ đêm hè trắng rụng những hoa cau .

Con ước được như ngày xưa còn bé
Còn sum vầy bên Mẹ buổi cơm chiều
Còn được Mẹ dán cho từng con diều giấy
Còn bị la rầy khi con lỡ lầm sai .

Con gục mặt cúi đầu trong thổn thức
Nước mắt con bất chợt lại tràn đầy
Con của Mẹ tóc nay giờ cũng bạc
Mà lòng còn như đứa trẻ thơ ngây
 



Vĩnh Trinh

Thơ Tranh:Gió - Kim Thành


Thơ: Lê Kim Thành
Thơ Tranh: Kim Oanh


Vu Lan Bên Mồ Mẹ

 








Một nén nhang, mồ mẹ chưa xanh cỏ
Một nỗi lòng như đáy huyệt thật sâu
Trong khói bay ánh mắt mẹ hôm nào
Lời trìu mến hơn vạn lần ngôn ngữ

Con của mẹ cũng chẳng nhiều được chữ
Muốn lời yêu nhưng chẳng ráp thành câu
Lòng của con là cả đất trời cao
Không đủ chứa tình con cho thân mẫu

Rằm tháng bảy. Bây giờ con mới thấu
Đoá hoa sầu thấm thía tỏa nhụy đau
Như từng cánh thương nhớ rụng dạt dào
Trong chất đắng sinh ly và tử biệt

Ôi! Mẹ ơi con một đời keo kiệt
Môi lưỡi này không ráp chữ yêu thương
Giờ mẹ đã không nghe tiếng của con
Thì yêu mến cũng đã thành vô nghĩa

Con đứng đây nắng xói vào nghĩa địa
Như xói từng hối hận của lòng con

Hoài Tử
 

Sương Mù Dốc Núi



 

Anh cuốn đời em
Mình em bơi trong bão lũ cuộc đời
Tìm bàn tay anh
để nắm chặt để bám víu sẻ chia
Hồn chợt ấm nén nhang tàn ai thắp
Em che bên nầy bên kia cho khỏi tắt
Bởi hạnh phúc đời em hiu hắt sương mù
Và người thương là núi non rừng rậm là ngựa hoang bất trắc
Ngày hôm qua nồng nàn đã mất
Bóng hoàng hôn rũ xuống đời nhau
Núi vẫn còn đây sao trăng nước lao đao
Em thành góa phụ trong lòng anh hóa đá

Sương Mù
Viết cho núi 2006



Phượng Tím


( Kính tặng Cô tên một Loài Hoa - Sinh Nhật 22-2)

Ngày xưa Phượng hồng trải lối mộng
Khung trời hương hòa lộng gió yêu
Nắng rực rỡ ươm thêu tình nhớ
Rộn không gian hơi thở Huỳnh Đàn

Rồi một hôm Phượng rẽ lối sang
Màu thay sắc ngỡ ngàng đất Vĩnh
Mùa xưa đi mùa về yên tịnh
Phượng tím trầm bịn rịn ngàn sau.


alt

Nguyễn Trường Tộ
22/2/2013


Mùa Thu



Anh nhớ không mùa thu
Sáng mắt trong cánh gió chẳng sương mù
Tung tăng quyển vở bay tà áo
Ta mỉm chào nắng xôn xao

Anh bảo cùng em ghét mùa nào
Hè về phượng đỏ nhớ nhung trao
Mắt buồn ươn ướt nâng tà áo
Cúi mặt xa dần đã vắng nhau

Tím thẫm đường xưa khuất lối vào
Hè ơi! Ve gọi hãy đi mau
Mùa thu trở lại lòng thôi nhớ
Ta đón nhau về...rộn vườn thơ


Hoàng Lam 

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

Tuyết Trổ Hoa


alt

Suốt một mùa đông tuyết trổ hoa
Hàng thông bạch lá uống trăng ngà
Ai ngồi bó gối tim tan vỡ
Tóc bám bạc màu tuyết trắng pha

Sương chít khăn tang ủ trăng tàn
Mộng thời trinh nữ bỗng dở dang
Khêu lửa lòng xua tan băng tuyết
Đông qua rồi ... đông mới lại sang!

Giọt lệ sông buồn đong thành đá
Vật vã đời, lạnh giá bờ môi
Nén hương yêu che giấu bồi hồi
Lời thú tội tinh khôi áo trắng!


Kim Oanh

7- 4 - 2010


Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Hương Xưa Sống Lại



Anh đến Pleiku chuỗi ngày dài
Lắng nghe trong gió bày tâm sự
Sa mạc buồn từ lúc vắng anh
Đầu canh vò võ đau hừng sáng

Hiểu cho anh!
Nửa đời đau đeo hoài năm tháng
Tro tàn âm ỉ dáng em xưa
Tội em tôi! Ôm lạnh chiều mưa
Cô đơn đợi anh về khơi lửa
Sợ chi em !

Núi Hàm Rồng vẫn còn đưa lối
Dẫn anh về dẫu tối mù sương
Hương em tỏa anh dường ngây ngất
Từ đất sâu tím mật tràn tim

Hoa nguyên trinh im lìm bên suối
Cạnh đồi thông lầm lũi chờ ai
Mãnh mai sương vóc hạc trang đài
Mơ màng khép mi Xuân sống lại

Anh về đây ! Đâu mãi rừng hoang
Nâng niu chăm chút cánh hoa tàn
Yêu thương ủ xua tan mầm chết
Ươm hạt tình dành hết cho em

Xin cảm ơn! Tình em đã tặng
Biển Hồ sâu lặng ngắm hoàng hôn
Ôn bao kỷ niệm thời son trẻ
Cuộc đời người tranh vẽ nào hơn

Cám ơn đời! Vẫn đẹp dẫu nhiều mất mác!

Pleiku 6-8-2010
Lê Kim Hiệp


Áo Trắng Lay




Gió nhẹ lay bay ... vạt áo ai dài
Vạt áo dài quyên gió vướng chân ai
Đường chậm bước ai chân mòn lặng lẽ
Bỏ lại đâu đây vạt áo ai dài

Đường muôn dặm xa dặm dặm xa
Điểm hạt sương mai tóc muối da mồi
Nắng nổi gió lên chân mòn lặng lẽ
Thoáng đâu đây bóng vạt ai lay


CHS Nguyễn Trường Tộ
NK 1968-1975


Niềm Vui Lớn

 
alt
 
2000
xa trường bỏ lớp cũng khá lâu
mỗi đứa mỗi nơi đến bạc đầu
gặp gỡ mến thương tình tri kỷ
sáu mươi còn lại mấy thằng đâu?

2010
xuân nầy đến nữa bao xuân nữa
bạn cũ còn không có đủ không?
bằng hữu vắng dần sau mỗi tết
chúc nhau năm tới vẫn còn đông

2011
mỗi năm mỗi cánh hoa tàn rụng
đời người còn mất chỉ thời gian
toan tính nghĩ chi sang với khó
rót hết tình thâm chén rượu tàn

2051
rồi thêm xuân nữa, mười xuân nữa
bách tuế nhân sinh chẳng mấy người
mỏi mắt nhớ mong chờ tri kỷ
tiệc tàn rượu lạt chỉ mình thôi *

2013
Bạn hỡi còn nhau xin góp lại
Chút tình vẹn nghĩa với Trường Xưa



Phủ Hiền

Lời Tác Giả:

(* )Mình viết tặng bạn bè nhân sau ngày họp mặt,mình chọc các bạn là "mình sống đến năm 2051[100 tuổi] lúc đó bạn bè chết hết chỉ còn một mình, nên ,tiệc tàn cũng chỉ có một mình thôi" cheeky

Bạn bè ai cũng cười bảo "mầy ham sống dai,lúc đó bò mà nấu cơm"


Phượng Hồng


Hình như còn một tiếng ve!
Ẩn trong lá biếc trưa hè râm ran
Phượng hồng rực sắc huy hoàng
Phơi mình uống nắng tơ vàng rơi mau
Yêu người tỏ với trăng sao
Chôn tình câm lặng nhốt vào lời thơ
Ừ! Cứ xem đấy là mơ
Phải người tri kỷ, đợi chờ thiên thu. 


Kim Phượng

Hoàng Hạc Lâu


Hoàng Hạc Lâu, Những Cảm Nhận

Một viên ngọc quý của thơ Đường là Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.
Thôi Hiệu, một nhà thơ nổi tiếng thời Thịnh Đường, đầu thế kỷ thứ tám.
Theo sách " Thương Lang Thi Thoại " ,Nghiêm vũ đời Nam Tống đã nói rằng :"Đường nhân thất ngôn luận thi,đương dĩ Thôi Hiệu Hoàng Hạc Lâu đệ nhất " (Thơ niêm luật đời Đường bảy chữ, phải xếp Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu vào hạng nhất).

Hoàng Hạc Lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tinh xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sâu.

Đây là bài thơ được dịch sang Việt Ngữ nhiều nhất từ Tản Đà, Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Nguyễn Đức Hiển v.v…

Hoàng Hạc Lâu

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vang đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

Tản Đà

Bài thơ này cũng được Vũ Hoàng Chương, trước đây ông là một thầy dạy Việt văn, đồng thời là một nhà thơ. Sau năm Một Ngàn Chín Trăm Bảy Mươi Lăm, trong nỗi bi phẩn trước cảnh ly tán của bạn bè, kẻ ở người đi, ông đã cảm dịch bài thơ Hoàng Hạc Lâu.

Hoàng Hạc Lâu

Xưa cánh hạc bay vút bóng người
Nay Lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi
Vàng tung cánh hạc, bay bay mãi
Trắng một màu mây, vạn vạn đời
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi
Gần xa chiếu xuống đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơí!

Vũ Hoàng Chương

Bài này được một người học trò của Ông Vũ Hoàng Chương, nhưng được ông xem là người bạn vong niên là Cung Tiến đã xuất thần phổ nhạc. Tuy nhiên, mối thương tâm cho người nhạc sĩ là quá trễ vì Thầy mình không bao giờ có dịp nghe được ca khúc này. 


Dù trải qua nhiều dâu bể, Quên Đi một Cựu Học Sinh Tống Phước Hiệp, Vĩnh Long vẫn còn giữ lại chút thơm rơi nơi Hoàng Hạc Lâu sau đây…Với những suy tư của Kim Phượng, cũng là một Cựu Học Sinh Tống Phước Hiệp...

Chào bà con Sân trường,

Hôm nay lang thang lạc vào thế giới Thơ, Kim Phượng tìm thấy một bài thơ gây cho mình, một kẻ sống lưu vong, nhiều xúc cảm, bồi hồi, hồn như lạc cõi đâu đâu... Tuy nhiên, Kim Phượng chưa rõ hết ẩn tình bên trong bài thơ, vì bởi phần Điển tích. Đó là bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu với hai bản dịch, một của Tản Đà và một của Vũ Hoàng Chương. Kim Phượng rất mong bà con nào có thể giúp Kim Phượng hiểu rõ hơn bằng những lời giải thích đơn giản, dễ hiểu và cùng đóng góp ý kiến hầu giúp cho Kim Phượng được tường tận hơn. Thành thật cám ơn.

Kim Phượng
* * * 
Sau đó một cựu học sinh Tống Phước Hiệp với bút hiệu Quên Đi đã giải đáp…
Chào Kim Phượng,
Khi đọc bài Hoàng Hạc Lâu cùng các bản dịch, đúng như Kim Phượng nói :"hồn như lạc vào cõi đâu đâu".
Vì sao? Theo Quên Đi: chỉ tên gọi Hoàng Hạc Lâu thôi cũng có vẻ thoát tục rồi. Trên thực tế, Quên Đi được biết chỉ có Bạch Hạc và Hồng Hạc thôi. Hoàng hạc có thể là biểu tượng cho cõi Tiên, chỉ xuất hiện ở lầu Hoàng Hạc và khi đã ra đi là vĩnh viễn. Như vậy từ đầu, có phải chủ nhân Hoàng Hạc Lâu muốn ví đây là bồng lai nơi trần thế? Hay chỉ là tình cờ? Hoặc vì một lý do nào khác mà có tên Hoàng Hạc Lâu? Hoàng Hạc Lâu có từ bao giờ?
Quên Đi xin giới thiệu bài Tổng hợp về lầu Hoàng Hạc do Quên Đi sưu tầm và bổ sung thêm ý kiến cá nhân.

1 - Nguồn gốc về Lầu Hoàng Hạc
2 -Nguồn gốc tên gọi Hoàng Hạc Lâu.
Trong phần nầy, Quên Đi sẽ giới thiệu câu chuyện về Huyền Thoại và câu chuyện Truyền khẩu. 
1 - Nguồn Gốc Lầu Hoàng Hạc:
Theo truyền thuyết, lầu Hoàng Hạc vốn là một cái tháp quân sự. Tháp này do Đông Ngô thời Tam Quốc (Hậu Hán), xây dựng trên núi nhỏ Xà Sơn để quan sát một vùng rộng lớn thuộc Hồ Bắc, nằm cạnh bờ Trường Giang. Với phong cảnh thơ mộng như cõi tiên nên được các Tao nhân mặc khách thường xuyên lui tới ngắm cảnh đề thơ.
Lầu Hoàng Hạc được xây dựng sửa chửa tổng cộng mười hai lần. Khởi đầu Lầu có ba tầng bằng gỗ. Đến nay, lầu được xây dựng bằng vật liệu hiện đại với năm tầng nhưng vẫn giữ phong cách của Văn Hóa Trung Hoa. Có người cho rằng vị trí hiện giờ cách nền cũ khoảng vài trăm mét.

2 - Nguồn Gốc Tên Gọi Hoàng Hạc Lâu:
- Tìm hiểu tên gọi Hoàng Hạc Lâu phần 1:

Cho đến ngày nay, không ít người vẫn chưa hiểu tại sao một cái tháp quân sự lại có tên Hoàng Hạc Lâu,cái tên có vẻ trong truyện thần tiên hơn là dùng trong giới quân sự.

Dân tộc Trung Hoa thường có quan niệm "Thiên nhân hợp nhất" nên họ thường thiên về những câu chuyện thần tiên trong bất cứ câu chuyện lịch sử, đền đài hay bảo tháp. Vì vậy câu chuyện về ngọn tháp quan sát của Đông Ngô thời Tam Quốc, cũng đã được ít nhiều khoát vào những câu chuyện thần tiên liên quan tới ngọn tháp.

Người ta có thể dựa vào một câu chuyện mây bay quanh ngọn tháp, thấy chim bay lượn trên ngọn cây cao hay bay vút vào bầu trời xanh biếc, chỉ cần các yếu tố thế thôi cũng đủ để người ta nghĩ ra câu chuyện thần tiên về ngọn tháp Quan sát của Đông Ngô này.

Theo Vương Thượng Chi đời Bắc Tống viết trong "Dư địa kỳ thắng" ghi nhận rằng sở dĩ tháp Quan sát được gọi là Hoàng Hạc Lâu, vì tháp này nằm trên Hoàng Hộc Sơn, phía Tây Nam của Từ Thành ngày Xưa.Vào thời cổ đại, chữ Hộc (con ngỗng trời : Thiên Nga) trong ngôn ngữ Cổ Đại Trung Hoa cũng có nghĩa là Hạc, nên về sau người ta dùng chữ Hạc cho rõ nghĩa hơn. Từ đó Hoàng Hộc Sơn được gọi là Hoàng Hạc Sơn, nhưng ngọn núi nhỏ Hoàng Hạc này lại có hình thủ ngoằn ngoèo giống hình con rắn nên về sau lấy một tên khác là Xà Sơn thay vì Hoàng Hạc Sơn.

Thời gian trôi qua, người ta có thể quên đi cái tên Hoàng Hạc Sơn, nhung tên tháp Hoàng Hạc Lâu đi vào lòng người, bất tử và trở thành một thắng cảnh, một di tích, một huyền thoại cho ngườii đời sau. Có lẽ chỉ vì tại bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu mà thôi.
( cothommagazinne.com)

- Tìm hiểu về tên gọi Hoàng Hạc Lâu phần 2

Tương truyền ngày xưa có một người họ Tân bán rượu ở chân núi Hoàng Cốc (Xà Sơn ngày nay) kiếm sống qua ngày. Một hôm có Đạo sĩ rách rưới đến xin rượu uống. Người bán rượu nghèo tốt bụng thấy ông lão đáng thương, bèn cho rượu uống. Từ đấy, ngày nào Đạo sĩ cũng đến xin rượu. Một hôm, Đạo sĩ đến từ biệt anh bán rượu và nói:" Một năm qua ngày nào anh cũng cho rượu uống, chẳng có gì đền đáp, lão có con hạc quý, tặng anh để tỏ lòng biết ơn ". Nói rồi Đạo sĩ lấy vỏ cam vẽ lên vách một con Hạc và căn dặn:" Chỉ cần anh vỗ tay, Hạc sẽ bay ra nhảy múa mua vui cho khách". Dứt lời Đạo sĩ biến mất. Anh bán rượu làm theo lời dặn, quả nhiên có Hạc Vàng bay ra cất tiếng hót vang và nhảy múa rất đẹp mắt, thu hút nguời xem.

Từ đó khách hiếu kỳ kéo đến uống rượu rất đông. Chẳng bao lâu Anh trở nên giàu có. Một hôm vị Đạo sĩ quay trở lại và nói:" Mười năm qua, tiền anh kiếm được chắc đã đủ trả phần rượu anh cho lão uống", nói xong, Ông rút cây sáo ngọc thổi lên khúc nhạc, chẳng bao lâu xuất hiện một vầng mây trắng sà xuống cạnh bên Ông và Hạc Vàng bay ra. Ông cỡi Hạc Vàng bay theo cụm mây trắng vào khoảng không mênh mông.

Ông chủ họ Tân thấy thế nên đóng cửa Quán rượu, gom tất cả tiền mình có được xây dưng một căn lầu để tưởng nhớ đến sự việc này. Vì thế về sau căn lầu mới này được gọi là Lầu Hoàng Hạc. Còn câu:" Bạch Vân Hoàng Hạc" dùng để chỉ sự tích này, như hai câu trong bài Hoàng Hạc Lâu:

Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch Vân thiên tải không du du.

- Tìm hiểu về tên gọi Hoàng Hạc Lâu Phần 3 (sưu tầm)

Câu chuyện Thần Tiên sớm nhất được ghi nhận là câu chuyện trong bộ " Thuật Đăng Ký " nói về nhân vật tên Tấn Thuật ở Giang Lăng. Tấn Thuật đã có dịp gặp và hầu chuyện với một vị Tiên Ông cỡi Hạc, nhưng Tiên Ông này là ai lại không thấy sách nói tới.

Về sau Tiêu Tử Hiền của nước Nam Tề thì cho rằng vị Tiên ấy là Vương Tử An, Ông cỡi Hạc Vàng bay trên ghềnh đá Hoàng Hạc của Hạ Khẩu.

Đến đời Đường thì vị Tiên Vương Tử An được biến đổi thành Phí Vĩ. Đời Đường Vĩnh Thái nguyên niên, trong " Hoàng Hạc Lâu Ký " của Diệm Bá Lý có trích dẫn Sự tích trong ĐỒ KINH : Phí Vĩ sau khi tu luyện thành Tiên, cỡi Hạc Vàng và đã dừng chân nghỉ trên Ngọn Tháp Quan Sát của Đông Ngô. Vì sự tích này Tháp được đặt tên là Hoàng Hạc Lâu

Tại Sao Bài Hoàng Hạc Lâu Được Gọi Là Tuyệt Tác? 

Về bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, khi mới đọc, Quên Đi nhận thấy hay thì có hay nhưng đâu đến đổi coi như Tuyệt Tác.

Chúng ta điều biết thơ Đường luật Thất Ngôn Bác Cú rất nghiêm khắc về Luật Bằng Trắc, Niêm, Đối và Vần. Người làm thơ phải tuyệt đối tôn trọng những luật này.Tuy nhiên, về sau này, để cho các nhà thơ rộng đường múa bút, nên có sự cởi mở đó là " Nhất Tam Ngũ Bất Luận" .Vào thời Thôi Hiệu, nhất nhất phải tuân theo qui luật. Thế nhưng, khi xem bài thơ Hoàng Hạc Lâu, bài thơ luật Bằng vần Trắc, nếu theo đúng luật câu thứ 3 phải :

T T B B B T T

Đằng này Câu thứ 3 trong bài thơ :

- Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản

B T T T T T T

Như thế là thất luật.

Ngoài ra, nhìn tổng thể chúng ta không thấy gì là Tuyệt, nhưng trên thực tế bài thơ trên xếp vào hàng tuyệt tác.
Lý Bạch thấy bài Hoàng Hạc Lâu là không dám múa bút đề thơ.
Không biết bao thi nhân Việt Nam chúng ta cũng ca ngợi và diễn Nôm bài thơ trên.

Từ những điều trên gợi cho ta một ý nghĩ để trở thành bất hủ với 8 câu thơ có 56 chữ, cái hay thực sự được ẩn chứa trong 56 chữ ấy. Tác giả muốn chuyển tải đến mọi người một ý tưởng hay một điều gì thật thâm thúy. Muốn thấy được cái hay của bài thơ, chúng ta phải tìm ra những ý này.

Theo Quên Đi, muốn tìm được cái ý chính của bài thơ này, chúng ta phải tìm hiểu đâu là nguyên do tạo nên sự xúc động cho tác giả. Trước hết, Quên Đi tự hỏi:

- Cái gì đã hấp dẫn Thôi Hiệu đến với lầu Hoàng Hạc?

Quên Đi đưa ra hai lý do:

1 - Sự hấp dẩn của lầu Hoàng Hạc.
2 - Sự hấp dẫn về Huyền Thoại của Hoàng Hạc.

Trong lý do thứ nhất, Quên Đi nhận thấy không thuyết phục. Cả bài thơ, từ đầu đến cuối Ông chỉ đề cập đến Hoàng Hạc Lâu chỉ duy nhất có một lần thôi, đó là câu thứ hai.

Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu
(Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc)

Nhưng qua giọng thơ ta thấy rõ không phải tác giả tả hay ca ngợi lầu Hoàng Hạc mà là một tiếng than, một nỗi buồn, một sự tiếc nuối, khi ông chỉ thấy trơ trơ một lâu Hoàng Hạc vô tri vô giác.

Như thế đã chứng minh tác giả đến đây không phải bởi tòa lầu Hoàng Hạc mà chủ đích của Ông chính vì Huyền thoại của Hoàng Hạc Lâu.

Có thể từ nguyên nhân này mà Lý Bạch phải thốt lên:

Ngã thả vị quân chùy toái Hoàng Hạc Lâu
(Tôi vì Người mà đập nát lầu Hoàng Hạc)

Sau nhận xét trên, Quên Đi cho rằng ý nghĩa cao xa của bài thơ nằm trong Tích Nhân, Hoàng Hạc, Bạch Vân và ở câu thứ bảy:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị
( Hoàng hôn về tự hỏi quê nhà ở nơi đâu )

Giải thích những ẩn ý trong các từ trên , chúng ta sẽ suy ra được mấu chốt của tuyệt tác Hoàng Hạc Lâu.

Như quan điểm của Quên đi ở phần trên, Thôi Hiệu tìm đến Hoàng Hạc Lâu vì Huyền thoại. Thế nhưng, thực chất Ông đến vì muốn tìm lại bóng dáng của Người Xưa.

Theo huyền thoại về quán rượu Hoàng Hạc Lâu, lão ăn mày tượng trưng cho Thánh Nhân. Hạc Vàng và Mây Trắng tượng trưng cho những phẩm chất cao quý, những tư tưởng cao siêu.

1 -Nhận xét về hai câu ĐỀ:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ ( Người xưa cỡi hạc vàng bay đi mất)
Thử địa không dư Hoàng hạc lâu ( Nơi đây chỉ còn trơ lầu Hoàng hạc)

Tích nhân là bậc thánh hiền khi xưa,ý muốn nói đến Lão Tử, Trang Tử (*), những vị được xem là đại diện cho Đạo Giáo. Hạc Vàng là tinh túy, phẩm chất cao quý đã theo cùng Thánh Nhân.

Người xưa không còn, giờ chỉ còn lại những cái tầm thường, trơ trọi cái lầu Hoàng hạc vô tri vô giác không có giá trị gì đối với Tác giả.

2 - Nhận xét về hai câu THỰC:

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản ( Hạc vàng một khi bay đi thì không quay lại )
Bạch vân thiên tải không du du ( Mây trắng ngàn năm vẫn lênh đênh trên không)

Những phong thái thoát tục cùng Thánh Nhân đã vào cõi hư vô, nhưng một phần tinh hoa và nhũng triết lý cao xa vẫn còn để lại đó là triết lý về ĐẠO (**) , Mây trắng tượng trưng cho điều này.
Bốn câu đầu cho ta biết tác giả đang tiếc nuối và mơ tưởng đến Người Xưa. Ý tác giả nói đến học thuyết cao thâm của Đạo Giáo.

(*) Sở dĩ QĐ chỉ đề cập đến Lão Tử Và Trang Tử, những người đại diện cho Đạo Giáo vì chỉ những người tu theo Đạo Gia mới nói đến chuyện tu Tiên. Bên Nho Giáo không có đề cập đến chuyện tu này(chỉ đến thời Tống Nho Chủ yếu có Chu Tử (Chu Hy) Trình Hạo,Trình Di..mới bổ sung thêm Triết lý của Đạo Giáo và Phật Giáo )

(**) ĐẠO : có trước tất cả, là nguồn gốc của Vũ Trụ, là cái bắt đầu của Vạn Vật. Đạo không phải là Vũ trụ cũng không phải là vạn vật nên coi như là VÔ ( không). Đạo không tách rời khỏi vũ trụ và vạn vật nên được xem là HỮU ( có). Đạo không thể định nghĩa được mà chỉ có thể hiểu là CÓ mà cũng là KHÔNG, HƯ mà lại THỰC.
---
Quên Đi xin tiếp tục ý kiến của mình về bốn câu cuối trong bài Hoàng Hạc Lâu.

3 - Nhận xét về hai câu LUẬN:

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ (Mặt sông lúc trời trong, phản chiếu cây cối ở Hán Dương thật rõ ràng)
Phương thảo thê thê Anh Vũ Châu ( cỏ thơm thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi )
Sau giây phút mơ tưởng về cõi xa, Tác giả đã trở về với thực tế, đứng trên lầu Hoàng Hạc phóng tầm mắt nhìn, cảnh đẹp dường như thu hút thi nhân?

4 - Nhận xét về hai câu KẾT:

Nhật Mộ hương quan hà xứ thị ( Trời về chiều tự hỏi quê nhà ở nơi đâu
Yên ba giang thượng sử nhân sầu (Trên sông khói toả, sóng gợn khiến người thêm buồn)

Những tưởng cảnh đẹp Hán Dương và Anh Vũ sẽ làm cho tác giả quên tất cả và vui trở lại.
Nhưng không, những cảnh trước mắt càng khiến Người buồn hơn, gợi đến nỗi nhớ quê hương trong lòng tác giả. Tác giả có thực sự nhớ về quê hương hay muốn hướng chúng ta đến cội nguồn của sự sống? Cũng có thể Người muốn dẫn chúng ta đến với cái Đức (*) trong học thuyết của Lão Tử.

Điều này, cũng cho chúng ta thấy rỏ thâm ý của Tác Giả, những cảnh thực đang hiện hữu không là gì, chỉ những gì thuộc về hư vô mới là chân giá trị.

(*) Đức : theo triết lý Đạo Giáo, ĐỨC không phải là Đức hạnh mà là mầm sống, ẩn chứa bên trong của Vạn vật. Nếu ĐẠO sinh ra Vạn Vật thì ĐỨC nuôi dưỡng vạn vật. ĐẠO ĐỨC chính là nền tảng căn bản trong học thuyết của Lão Tử.

Sau khi đưa ra một số ý kiến về Hoàng Hạc Lâu, giờ đây Quên Đi xin kết luận.

Chúng ta đều biết những tư tưởng của Đạo, Nho giáo có từ rất lâu, đến thời Xuân Thu Chiến Quốc. Lão Tử và Khổng Tử sắp xếp phân tích, giải thích trở nên những học thuyết uyên thâm và phổ biến rộng rãi. Đến đời Tần Thuỷ Hoàng gần như bị đốt hoàn toàn, còn những học trò thì bị chôn sống. Sang đời Nhà Hán, những tư tưởng Thánh Nhân mới được sưu tầm và biên soạn lại. Trong lúc biên soạn, có thêm có bớt,có chỉnh sửa nên không còn chính xác, đồng thời có nhiều quyển mạo danh Tiền Nhân.

Vì những lý do trên nên những tư tưởng xưa cũ của Tiền Nhân mất đi rất nhiều. Những gì còn lại chỉ có thể là Ánh Trăng so với Vầng Dương mà thôi.

Qua những nhận xét trên Quên Đi nghĩ, trong lòng Thôi Hiệu có sự tiếc nuối cái tinh túy của Thánh Nhân, nên Ông mượn Lầu Hoàng Hạc để nói lên tâm trạng của Mình. Chính cái sâu sắc đó nên Lý Bạch không thể đề thơ vịnh cảnh Hoàng Hạc Lâu.

Khi đi sâu vào tìm hiểu Thi Phẩm HOÀNG HẠC LÂU, Quên Đi cảm thấy một nỗi buồn như ngấm sâu vào tâm hồn, mang lại nhiều cảm xúc :

Người Xưa đà vắng bóng
Hạc Vàng chẳng còn đâu
Giờ chỉ có Tiên Lầu
Cô đơn cùng năm tháng
Ngậm ngùi mây trắng bay

và đồng cảm với Người Xưa: 

Mây Trắng lang thang bao ngày tháng
Hạc Vàng mãi mãi tận nơi đâu
Tiền nhân mộng tưởng vì ý Đạo
Hậu bối ngày nay chỉ Tiên Lầu
Sông núi sau này còn biến đổi
Đạo Người muôn thuở vẫn thâm sâu

Quên Đi cũng xin theo bước Tiền Bối, Đàn Anh, dịch bài Thơ Hoàng Hạc Lâu:

Dịch thơ 1:
Hạc vàng Người cỡi về đâu
Còn trơ lầu đứng dãi dầu nắng mưa
Hạc vàng theo bóng người xưa
Ngàn năm mây trắng vẫn chưa bến về
Trời trong cây Hán sông mê
Cỏ tươi Anh Vũ chẳng hề đổi thay
Chiều buông dần khuất quê ai
Trên sông khói toả lòng đầy nhớ nhung.


Dịch thơ 2:

Hạc vàng người cỡi mất từ lâu
Trơ trọi giờ đây một bóng lầu
Hạc đã một đi không trở lại
Ngàn năm mây trắng biết về đâu
Trời trong sông Hán cây soi bóng
Anh Vũ bãi xanh cỏ đậm màu
Ngày hết quê nhà đâu chẳng thấy
Trên sông khói sóng dạ thêm sầu


Quên Đi

Tùy Bút Về Trường Xưa

      Hôm trước đi viếng thầy Trần Phong cùng các bạn, những học trò cũ của thầy, lơ thơ vài móng còn lại ở Vĩnh Long: chị Trân, Tuấn, Hiền, cùng tui, gặp một số bạn khác lớp, khác niên khóa mà mình không được biết.

       Về nhà chợt nhớ mình còn mớ ảnh do Cương chụp ngày xưa, nay mang ra chụp lại, gởi lên Picasa. Nếu còn có bạn nào tình cờ ghé vào xem, vài hình ảnh mù mờ ngày xưa dù xa xôi, tưỡng đã quên, nay nhìn lại thì cũng thú vị, dẫu rằng bên mình, bạn bè bốn năm chục năm trước có còn ai nữa đâu.


        À mà có đó chớ, Tuấn nó gọi cho tôi từ Saigon, hình hay quá, bảo tôi vào trang viết về trường, Tuấn giới thiệu khá rõ nét, nó bảo tôi tham dự cho thêm phần chen lấn. Tui nhờ chị Trân giúp thêm mớ hình gởi vào Picasa, ôi những tấm hình không thể tưởng là còn trên đời, vậy mà lại gặp, có lẽ thầy cô cũ biểu chị đưa ra (nếu không đưa cho thằng Phú thì giựt giò hổng cho ngủ).

        Nhớ lại năm đệ thất - niên khóa 61-62, trường gồm dãy lớp bên dưới cầu Cái Cá, cửa lớp nhìn ra rạch Cái Cá, rẽ nhánh từ sông cái (nhánh sông Tiền) chảy qua cầu Lộ, vòng vèo vào sông Hậu. Phía đầu dãy bên trái lớp là văn phòng, nơi thầy cô nghĩ chờ thay lớp, rồi đóng học phí nè, rồi mục đặc biệt là (concil) dành cho các cu cậu khỉ khọt, không thuộc bài v,v...

         Lớp tôi học, cô Nhan dạy pháp văn, thầy Thạch dạy kim văn, cổ văn, thầy Huệ dạy toán, còn thầy dạy công dân đức dục tôi quên mất rồi, bạn nào có nhớ vào nhắc giùm, còn nếu nhớ mà làm hiểm không chịu nói (tui kêu bằng thằng ráng chịu).

          Kể ra cũng lạ, nếu trong lớp có chọc ghẹo nhau lại chỉ méc thầy Huệ mà thôi. Còn nhớ trong lớp có Định lai Ấn và một đứa nữa tên Nô lai Tây trắng, Định ngó Nô búng tay, miệng kêu chooc ..chooc: ”Nô..Nô..”, tên này tức lắm nên buổi chiều vào học, gặp Định vừa đưa cặp vào bàn liền la lớn lên, chưởi búa xua. Khi thầy Huệ vào, hai cu cậu tha hồ đứng đấu khẩu kịch liệt, thầy bèn mời hai ông con đứng khoanh tay cho hạ nhiệt.

          Thầy Thạch thì thương nhất là bạn Dung, bên trai thì thương bạn Bạch (tay nầy da trắng, tóc vàng, mắt nâu, mà không phải là con lai, ba mẹ đều là Việt rặc. Nghe nói khi sanh ra anh của Bạch, ông già ghen quá trời gia đình bất hòa nặng, đến sau hai ba bốn đứa trai gái như nhau, vào bệnh viện bác sĩ hỏi rồi giải thích do lần tai nạn mất máu nặng, phải vào máu trúng máu Tây nên như vậy, đích thực con của ông đấy).

           Năm học đệ lục, rời lớp mé sông Cái Cá, rời luôn trạng huống đi vệ sinh bị rớt dép xuống sông, nhìn dép cao su nặng trịch made in cholon chìm tà tà, ôi quê quá trời: áo bỏ trong quần mà đi chân trần. Bạn học cũ năm đệ thất giảm một nữa vì sang trường khác, dẫu sao lớp nhỏ nên tình cảm ít gắn bó. Năm nầy lên trường lớn, các lớp lập chung quanh nhà thờ, gồm từ đệ lục đến đệ nhị, dãy bên phải gồm văn phòng trường, đệ lục, đệ ngũ. Lớp Anh văn và Pháp văn học riêng nhau. Vì là lớp học trò còn nhỏ tuổi nên ồn ào giởn hớt ghê lắm, nghịch phá cũng nhiều, bận lòng không ít thầy cô cùng ban Giám hiệu.

           Năm đệ ngũ, có thêm ba bạn từ Tiểu Chủng Viện sang học: Võ Thành Nhơn, Đỗ Đình Tiến, Đặng Anh Tuấn, ba tên nầy giỏi Pháp văn. Mục Pháp văn có mấy chuyện trục trặc: Năm này thầy Phong phụ trách dạy lớp tụi tui, ngồi cạnh nhau ở khoảng những bàn giữa lớp, lại hợp tánh, gồm Phú, Tiến, Tuấn, Thật, Hiền, Đô… Tuấn học nghiêm trang lắm, còn thì có hơi thì thào chút đỉnh. Thằng Tuấn là con cô Nhan, còn Tiến gọi thầy Phong bằng cậu. Thầy đang giảng bài, có lẽ thấy Tiến lo ra sao đó, thầy gọi Tiến đứng lên trả bài, trong bài trả thầy có từ pâtisserie, cu Tiến đọc “patis xệ”, chắc là còn âm hưởng (tám), thầy trừng mắt, Tiến đứng vẹo ne, (trừng mắt yêu chớ bộ). Năm này có thầy Lê Văn Gồng bạn thầy Phong từ Pháp về, thầy mời thầy Gồng phụ trách dạy pháp văn cho tụi chúng tôi, thầy Gồng dáng thấp đậm người, da ngăm, cận. Còn nhớ mãi thầy dạy bài ‘Cueillir le lotus’ là bài thơ ngắn nhưng rất hay. Được một thời gian, thầy Gồng về Pháp, thầy Ẩn đảm nhiệm tiếng Pháp. Còn nhớ thầy đọc lecture, học trò viết dictée, bắt học thuộc lòng trả bài, ôi thôi quần hùng khốn đốn mong cho thời gian mau qua, tui cũng được lên bảng phong thần chớ bộ. Trong lớp có hai bạn nữ người Hoa, nên giỏi viết tiếng Hán. Bởi năm này có thêm tiết mục Hán văn do thầy Sản phụ trách. Ôi thôi! giờ Hán văn khi thầy gọi lên bảng, anh chị nào cũng thi nhau vẽ cua còng bò ngỗn ngang, đến phiên hai chị Trân - Huê thì chữ viết vuông gọn thẳng hàng trông phát khiếp.

         Cũng trong năm này, trường có mời nhà văn Nguyễn Ngu Í đến nói chuyện cùng học sinh toàn trường. Ông Í nói thuở nhỏ ông rất hâm mộ nhà văn Lê Văn Trương, và nói ông này viết rất nhanh rất nhiều. Hai tác phẩm mà ông Í giới thiệu là: Trường đời - Trận đời. Sau khi diễn giảng về văn chương cũng như phương pháp viết, ông hỏi lại chúng tôi có thắc mắc gì không? Đâu đó có anh học lớp trên hỏi “Thưa bác tại sao bác lấy bút hiệu là Nguyễn Ngu Í vậy”, ông trả lời tếu như sau: thuở còn thanh niên, có năm anh em rủ nhau hoạt động chống Pháp, cùng đồng ý nhau là không lấy vợ, và ông nói chính ông đề xướng ý tưởng trên. Bẳng một thời gian dài anh em gặp lại nhau, hỏi thăm gia cảnh thì bốn anh kia vẫn còn độc thân, riêng ông Í thì vợ con lê thê, anh em xúm nhau bảo “Í Ngu”, do vậy mà lấy bút hiệu Nguyễn Ngu Í để kỷ niệm thời thanh niên. Sau khi ông ra về , là chiếu phim khoa học.

         Năm đệ tứ, thấy Bích dạy Việt văn, thầy Ẩn dạy toán Lý Hóa. Thầy Bích nhà ở Sa Đéc, phương tiện đi lại là chiếc xe gắn máy hiệu Sachs với vòng bánh to, thầy phân trần giải thích là bánh to chạy nhanh hơn và cũng ít hao xăng. Thầy dáng người ốm, lưng hơi còm về trước. Thầy hút thuốc lá vấn, dù vừa xong tiết dạy tay còn phấn dính đầy, vào văn phòng là vấn thuốc hút ngay. Năm đó đến nhà Thầy Bích, bọn tôi gồm: Phú, Đô, Xuân, chị Trân và vài bạn học nữ nữa mà tôi không còn nhớ ra, nhà thầy đơn giản, gọn, con thầy thuở ấy còn nhỏ, các chị cùng gia đình thầy tổ chức đãi đám học trò của mình, bọn con trai chúng tôi lang thang dạo quanh, khi xong thầy gọi vào, ôi dùng thật tình, dĩa chén trống trơn luôn! Thầy Ẩn thì nhà cũng không khá mấy vì con nhỏ mà hơi bị nhiều, Cô phải nuôi thêm heo nái để phụ chồng. Thầy bị bệnh gan kinh niên, thỉnh thoảng đôi tay cùng chung quanh miệng bầm tím, tức là bệnh đang hành mà thầy vẫn đi dạy. Đôi khi thấy thầy trên đường đến trường tay cầm theo ổ bánh mì nhỏ kẹp thịt…..

         Còn cô Tỏ tôi không rành vì cô dạy Nữ công gia chánh, thêu thùa, bọn nam chúng tôi chẳng dám léo hánh đến vùng cấm đó.

          Quên kể chuyện trong năm đệ ngũ, còn có cô Hương cô mới về dạy Lý Hóa, dáng cô thon thả thanh nhã, còn độc thân và sống với cha mẹ, chị Trân thích cô lắm nên thường xuyên ghé thăm cô. Trong trường, thầy Thạch cũng chưa vợ, chị cũng thăm thầy, rồi mời thầy thăm cô, thăm tới thăm lui thăm qua rồi thăm lại,.. thầy cô góp gạo nấu ăn chung, dạy cùng trường, rồi chị Trân cũng mất sở thăm luôn! Quả tình chị Trân này mát tay, tài tình hết số luôn.

        Cũng trong năm đệ ngũ, cô Hạnh dạy Toán, Đại số, cô thương học trò lắm. Ở nhà cô có mở tiệm cầm đồ. Một tên trong lớp không biết đứa nào, mới sáng, vào tiệm cô cầm cây bút Pilot, xui cho nó, cô bước ra để đi dạy, gặp ngay ông tướng là học trò của mình, cô rầy rồi cho tiền bảo đi học sau khi khuyên giải ân cần. Vào lớp cô thông báo sự việc đại khái rồi tiếp: “Trời ơi, học hành mà đi cầm cây viết thì làm sao mà học được”.

        Tới chuyện của tui. Số là lớp tôi học, cửa nhìn xéo ra con sông cái (sông Tiền) mặt nước trôi lững lờ, lục bình theo đó lác đác xuôi dòng, nắng phản chiếu ánh sáng trên sóng lăn tăn. Tôi ngồi trong lớp, lổ tai nghe cô giảng toán đều đều như ru, mắt thì mê mãi dõi theo sóng nước. Bỗng tiếng cô kêu lớn “em kia đứng lên!”, tui giật mình quay sang thấy ngón tay xỉa (một chỉ) ngay mình, đứng lên nhanh lắm. Cô phán: “em lập lại bài giảng của cô, lên bảng chứng minh lại coi”, tui trả lời và chứng minh trơn tru. Cô bước ra đóng cửa lớp cho tôi phải nhìn vào bảng học cho đàng hoàng. Khổ nổi, phía trên cửa lại là song cửa, nên con sông cứ nhấp nháy bên hàng cây me gốc xù xì lôi kéo mắt tôi trở về nơi trước đó tạm tạm gián đoạn… Cũng lại tôi nữa, trong tiết mục kiểm tra toán làm bài tại lớp, viết công thức đại số “Sx”. Tôi làm bài xong, tôi biết bài làm tốt tuy chữ viết có hơi cẩu thả, chữ xấu (tật này tôi sửa mãi mà chẳng được, thành tật xấu cho đến giờ) song tôi thấy có gì kỳ kỳ mà không biết là gì, nộp bài xong rồi cũng quên đi. Vài hôm đến giờ toán phát bài đã chấm diểm cho học sinh xong, bỗng cô Hạnh đi qua lại trên bục rồi bực bội nói “à à... có em nào đây viết chữ ngược... Trời ơi! học đến giờ này mà còn viết ngược, em nào đây..”, hơi nghi ngờ mình, tôi mở giấy kiểm toán. Ông ơi! đích thị tui rồi, cô vạch vòng tròn vào chữ S viết ngược của tôi, đính kèm trừ 1 điểm. Vào thuở cô dạy chúng tôi, cô bị cao huyết áp, đang dạy mặt cô đỏ phừng, phải ngưng về nhà uống thuốc, rồi vào dạy tiếp.

     Trong năm đệ tứ, trường có mời Giáo sư Nguyễn Thành Nhơn, những người cùng thời ông gọi ông là “Nhơn lội”, đến trường thuyết giảng về biển cùng kỹ thuật bơi lặn biển, ông kể rất hấp dẫn về nhứng con vật lạ rất to mà ông săn bắt làm ông suýt nằm luôn dưới biển. Ít lâu sau trường tổ chức trình diễn thể thao để khuyến khích học sinh toàn trường gồm: Thể dục thể hình thẩm mỹ (biểu diễn lực sĩ đẹp), đoàn này do Giáo sư Nhơn lãnh đạo cùng đoàn võ thuật gồm Nhu đạo, Teakendo, Karatedo, và biểu diễn song kiếm, đơn kiếm, đoàn này do Võ sư Hồ Cẩm Ngạc hướng dẫn

Sau buổi biểu diễn, cũng trong năm nầy, ông Hồ Cẩm Ngạc đang đi trên lề đường ở Saigon, gặp một em bé bất cẩn băng qua đường sắp bị chiếc xe chạy cán qua người, ông vội lao ra, dùng nhu đạo quăng em bé vào lề đường, còn ông thay em bé nằm dưới bánh xe. Ông gồng cứng người chờ bánh xe qua, song xe lại chết máy nên bánh xe vẫn còn nằm trên mình ông (người đi đường thuật lại rằng sau hồi lâu trong người ông nghe cái bụp), và ông qua đời thế mạng cho em bé. Ông để lại vợ và hai con còn nhỏ. Ông mất đã lâu lắm rồi song xem lại ảnh, ông như còn hiện diện trong chúng tôi ở buổi biểu diễn đó.

      Cha Quang - Thầy Phong - Cô Nhan - Cô Hạnh, cùng nhiều thầy cô khác mà tôi không biết, có lẽ đã đi xa mà chúng tôi không rõ, bởi bọn học trò ngày xưa, rất nhiều đứa đã ngồi cao chiểm chệ giữa nhà, hoặc tiêu xác đâu đó trên mảnh đất thân yêu này, chúng tôi hiện cũng tròm trèm tiến đến ngưỡng “U70” cùng nhiều bệnh tật đang lưu trú trong người

Dự lễ tang của Thầy Phong cùng các bạn, đồng thắp hương:

CHÚNG CON NHỮNG HỌC TRÒ CŨ, NGUYỆN TẤT CẢ THẦY CÔ THÂN YÊU CỦA CHÚNG CON, CÙNG BẠN HỮU ĐÃ QUÁ VÃNG ĐƯỢC VÀO CÕI AN LẠC VĨNH HẰNG.

Vĩnh long, tháng mười một 2011

Trương Văn Phú