Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

Tháng Tư Sầu Nghẹn Đong Đầy - Thơ & Video: Phương Hoa - Hòa Âm & Trình Bày: SunoSinger

Thơ & Video: Phương Hoa
Hòa Âm & Trình Bày: SunoSinger

Lời Mẹ Tháng Tư

 

Này hỡi con sao con dại thế
Gây tương tàn dâu bể phân ly
Tan đàn xẻ nghé ích gì
Thê lương cám cảnh ở đi nát lòng
Tự dấn thân chim lồng cá chậu
Tay nhúng chàm hòng tậu bã vinh
Soi gương tuẫn tiết liều mình
Đấy bao hồn phách anh linh tôn thờ
Đưa tay bốc lịch cuối tờ
Tháng Tư cái móc danh nhơ lưu truyền

Kim Phượng

Đã Đến Tháng Tư

 

Mới đây đã đến tháng Tư rồi
Buồn bã vào ra đứng lại ngồi
Một thuở quê xưa tràn mạch sống
Mấy thu nơi cũ cạn nguồn vui

Trông trời cánh nhạn nghiêng đầu núi
Nhớ cảnh con thuyền lạc giữa khơi
Ai chở thời gian xa bất tận
Lệ như còn mặn chát bờ môi

Tháng Tư lại đến chân vừa bước
Một chút mưa bay thấm lạnh hồn
Ôi mối sầu em sao mãi ướt
Trên vai anh bao tháng Tư buồn

Tháng Tư tờ lịch vừa mới xé
Mặt đất vẫn còn loang nỗi đau
Biển chẳng nguôi sóng sầu đáy nước
Tình đầu ai mộng gặp kiếp sau.

Lê Mỹ Hoàn
4/20/2024


Trăn Trở

 

Tháng tư gió lạnh phương này
Bỗng dưng ta muốn thật say quên đời
Rượu chưa nhấp, lòng chơi vơi!
Đã nghe tiềm thức vọng thời tóc xanh.
Chiến trường sinh tử mong manh
Mịt mù khói lửa vây quanh lối về!
Bạn bè bỏ lại cõi mê
Hồn phiêu rũ sạch lời thề năm xưa.
Còn ta ngơ ngẩn bốn mùa
Ngồi đây gẫm cuộc được thua tháng ngày
Xót đàn chim hạc chân mây
Bờ quê biển đảo đổi thay chia lìa!
Bãi hoang vùi dấu mộ bia
Đồi xưa cỏ mọc buồn kia lưng trời!
Đời như con sóng ngàn khơi,
Nâng tay ôm mặt khóc cười thế nhân,
Tháng tư buông súng nhục nhằn,
Về đây thao thức... chùm chăn mấy lần
Tha hương nghìn dặm gian truân,
Đời như sóng rẽ cũng phần lanh quanh!
Bao năm thiên hạ tranh giành
Riêng ta làm gã tốt xanh hững hờ…
Mê thơ hồn vẫn ngu ngơ
Ở đây lắm kẻ trở cờ rất nhanh!
Mùa xưa câm nín đã đành
Thời nay lại gặp cá con rối đời!
Xuân sang nhảy nhót vui chơi
Hạ về ca hát quên thời xa xăm
Tháng tư đốt nén hương trầm
Trong tim để khóc âm thầm cố hương.
 


Đỗ Bình

Tháng Tư Tưởng Nhớ Sài Gòn - Thư Họa: Vũ Hối

 

 

Tôi Không Là Một Người Lính


Tôi không phải là một người lính, nhưng tháng Tư lại kéo tôi vào trận chiến, trái tim tôi tan nát với mỗi nhịp đập, lồng ngực tôi nặng trĩu những ký ức tôi không thể cưỡng lại. Tiếng hát vang vọng đã làm nhức nhối bao người khi lần đầu nghe một ca khúc của Nhạc sĩ Nam Lộc được cất lên.

"Sài gòn ơi, tôi đã mất người trong cuộc đời
Sài gòn ơi, thôi đã hết thời gian tuyệt vời
Giờ còn đây, những kỷ niệm sống trong tôi
Những nụ cười nát trên môi
Những giọt lệ ôi sầu đắng."

Tôi có cảm tưởng gió mang theo tiếng vọng của lòng dũng cảm đã ngã xuống, và tôi cảm nhận được điều đó trong xương cốt, trong nỗi đau trống rỗng của ruột gan. Một nỗi đau mà chỉ tháng Tư mới biết. Tôi không dũng cảm, nhưng trái tim tôi làm chứng, nước mắt tôi tiếc thương những người đã mất, và tâm hồn tôi đau buốt với sức nặng của một tháng không bao giờ quên. 

Tôi không phải là một người lính, nhưng mỗi tháng Tư, trong tôi lại cảm nhận như đang ở nơi chiến trường. Mỗi nhịp đập kéo tôi chìm vào sự hỗn loạn của những ký ức, tôi không thể trốn chay, và nỗi đau phủ lấy tôi như một cơn bão thầm lặng. Tôi cảm nhận được nỗi mất mát, lòng dũng cảm và sự hy sinh của những người đã chiến đấu. Dù tôi chưa từng cầm súng hay hành quân cùng họ. 

Mỗi tháng Tư về, lồng ngực tôi đau nhói, ruột gan thắt lại, và tôi không kém được nước mắt khi đọc những bài thơ, một đoản văn, những ca khúc về một thời khói lửa nơi chôn nhau cắt rún, nỗi lòng khắc khoải của ngày tháng sống ly hương. Tháng Tư không tha cho những người vô tội, nó nhắc nhở tất cả chúng ta về những gì đã mất, những gì đã trao đi, và những gì không bao giờ có thể lấy lại được. 
Một nỗi buồn tháng Tư khôn nguôi.......

Không biết vì sao tôi hay buồn
Khi tháng Hè về lệ mãi tuôn
Nhớ phút chia tay cùng ước thệ
Của Người lặn lội chốn sơn khê

Tôi biết vì sao tôi hay buồn
Mỗi tháng Tư về nhuốm đau thương
Quê Hương xa khuất trong trời nhớ
Thương Người Chiến Sĩ dãi dầu sương

Tôi không là người Lính chiến đâu
Tháng Tư sao dạ lắm cồn cào
Tim se sắt nhói từng hơi nhịp
Ruột đứt rã rời tháng Tư đau.


Kim Oanh
30-4-2026

Bài Hành Tháng Tư

  

Nước mắt xót thương đời oan trái
Nụ cười không mang trọn niềm vui
Cứ thế lưu vong qua thời đại
sống tha hương trầm, bổng phận người.
 
Nếu thuở xưa nặng sầu quốc biến
thì ngày nay gặm nỗi đau thầm
Càng nhớ lúc dọc ngang, chinh chiến
càng buồn thêm mối hận chung thân.
 
Đất cằn in dấu chân lưu biệt
Tình khô theo năm tháng long đong
Một lần xa cách là vĩnh quyết
Nước tang thương, người cũng xuôi dòng!
 
Xưa can qua tưởng đời phận bạc
Nay thiên di mới hiểu lụy trầm
Chẳng phải lục bình sao trôi dạt!?
Nước xa nguồn. Biền biệt...trăm năm!
 
Ngày qua ngày nghe hồn sỏi đá
đếm thời gian qua tiếng thở dài
Bốn mùa tiếp nối, Xuân rồi Hạ
chưa Thu, Đông đã thấy tàn phai!
 
Tháng năm điểm tóc sương viễn xứ
Mỗi ngày mang một kỷ niệm buồn
Tình lưu khách theo chân lữ thứ
quay quắt tìm một lối hồi hương.
 
Lối hồi hương còn ngoài vạn dặm
mà đã mờ nhân ảnh quan san
Xưa tháng Tư trời Xuân đang thắm
sao vội chi nát đá, tan vàng!?
 
Cũng vì đời vô thường, vạn lối
nên lòng người cũng lắm đổi thay!
Đã bao năm bảy chìm, ba nổi
hồn nặng mang ngàn nỗi u hoài!

Thắp nén hương lòng trong đêm vắng
Chiêu hồn tử sĩ vượt ngàn khơi
Ngậm ngùi tưởng tiếc bên chén đắng
Nâng chung thiên cổ uống cạn đời!

Huy Văn (HVC)

Biển Động Vượt Sóng Trên Đại Dương

  

Biển Đông giông tố sóng bạc đầu
Mưa bão bất ngờ đổ xuống mau
Mây đen trời tối biển mờ lối
Gió rít từng cơn mưa đổ mau
 
Vượt biển trùng dương, sóng dâng trào
Thuyền như lá úa vượt biển sâu
Dào dạt sóng xô thuyền ngàn hướng
Bềnh bồng, thuyền dạt khắp muôn phương
 
Biển động vượt sóng trên đại dương
Ào ạt mưa rơi nhòa trùng dương
Bềnh bồng thuyền trôi theo ngàn hướng
Gió lộng biển động thuyền mờ sương
 
Tháng 4, mang nặng một nỗi niềm
Chinh chiến ba miền nát quê hương
Nhìn về quê mẹ, thương sầu nhớ
Ngày ấy ra đi, ngàn vấn vương
 
Chiến tranh tan nát bởi vì đâu?
Ba miền đất nước ngập sóng sầu!
Quê hương điêu linh trong khói lửa
Dân lành nghèo đói sống khổ đau .
 
Ai gây chính chiến nát quê hương?
Ai gây thù oán cảnh đoạn trường?
Chiến tranh không cùng ý thức hệ
Tuổi xanh ba miền ngập sầu thương
 
Người ở người đi thật đau lòng
Thương nhà nhớ nước, khóc non sông
Người bỏ quê hương, người tù tội.
Người tìm tư do, chết biển đông!
 
Gió lộng biển động sóng hợp tan
Thuyền trôi vượt sóng lướt gió ngàn
Thuyền xuôi vững lái tìm bến đậu.
Bến đục bến trong thuyền về đâu?
 
Biển rộng mênh mông sóng ngập trời
Dù trong biển động thuyền ngược xuôi
Vững Tâm thuận lái theo chiều gió
Gió lặng sóng tan, thuyền thảnh thơi ...

Hoàng Thục Uyên
Tháng 4 Đen, 1975--2026

Tháng Tư


Tháng tư như một vết sẹo gần
tưởng quên rồi lại bồi hồi nhớ
khi máu trong tim vụt trở trăn

Tháng tư, ồ tháng tư xuân
đâu đây lấp ló góc mộ phần
nửa chìm lặng lẽ, nửa trồi hận
ôi tháng tư gian dối vô nhân

Tháng tư, ờ tháng tư thầm
rền rền như từng nốt nhạc câm
réo kêu, đục, đẽo, dao tùng xẻo
ôi tháng tư bạc bẽo sát nhân

Tháng tư, ừ, tháng tị hiềm
lọc lừa, rúc rỉa máu anh em
quỷ dữ hóa ra loài có thật
trong đầu cuồng tín kẻ không tim

Tháng tư, ôi tháng tư buồn
hằng hằng lệ sử bẽ bàng tuôn
nối tay gom mặn thành biển lớn?
lệ tháng tư rồi ... chỉ chảy suông!!!

Cao Vị Khanh

Tháng Ngày Qua

  

Đếm ánh sao rơi bỗng nhớ nhà
Saigon yêu dấu tháng ngày qua
Công viên ghế đá người tình nhỏ
Có nhớ ta chăng kẻ xa nhà.
Cái thuở ban đầu vẫn nhớ thương
Yêu nhau thầm kín mộng bình thường
Bao nhiêu lá đổ tình tôi đó
Gửi hết cho người chẳng vấn vương.
Dưới ánh trăng vàng ngõ hẻm sâu
Đôi ta thề ước đến bạc đầu
Tay trong tay nắm cùng chung bước
Giờ chỉ một mình ngắm mưa ngâu.

Tạ Quang Tuấn
Ngày 28 tháng 4 năm 2020

Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch 春夜洛城聞笛 - Lý Bạch 李白 (Thịnh Đường)


(Bát Sách biên soạn)

Đêm Buồn

Tháng tư, năm 1975, tôi đang phục vụ tại Trung Tâm IV Hồi Lực, Cần Thơ, với chức vụ Chỉ Huy Phó kiêm Trưởng khối chuyên môn. Ngày 30/04/1975, vì BS Tô Văn Nghiễn về Sài Gòn, tôi xử lý thường vụ Chỉ huy trưởng, vẫn đi làm việc như thường lệ, cùng anh bạn sau tôi một khoá là BS Trần Cao Thăng. Lúc 10 giờ, Dương Văn Minh đọc thông điệp đầu hàng trên đài phát thanh, tôi tập họp thương binh, tuyên bố rã ngũ, ai lo phận nấy. Nhìn bệnh nhân của mình, kẻ què, người cụt, vết thương chưa lành, đi chân hoặc nạng, thất thểu ra cổng trại, tôi không sao cầm được nước mắt, khóc cho đồng đội, cho gia đình và cho chính mình.... Tương lai nào biết ra sao. Sau đó, Thăng và tôi đi tìm đường chạy. Vì có bạn là Nha Sĩ Trần Văn Bé ở căn cứ hải quân Bình Thuỷ, Cần Thơ, tụi tôi được gửi lên mấy chiếc tầu há mồm, theo giòng Hậu Giang ra biển. Tầu chìm, được tầu Song Long của Đại Hàn vớt, ghé Thái Lan, rồi chở về trại tị nạn ở Phú San, ngày 21/05/1975.

Trong thời gian ở trại, tôi cũng có nhiều việc, khám tại bệnh xá, phân chia đồ cứu trợ, làm thông dịch viên, một mối tình Hàn Việt thơ mộng và lãng mạn. Những chi tiết vui buồn, gian lao khổ sở, nhục nhằn đã được kể trong bài Phú San, đăng trên Tập SanY Sĩ. Trại gần 2000 người, tôi đã biết trước một số nhỏ như BS Trịnh Cao Hải, và phu nhân là chị Mộng Ngọc, giáo sư, hỏi vấn đáp khi tôi thi tú tài, các đồng nghiệp khác như các BS Lê Dư Khương, Phó Đức Mùi, Nguyễn Văn Thạnh, Dương Hồng Huy, Trần Cao Thăng, Lê Lữ, Lê Thiện Nhân... Bạn mới, tôi cũng có thêm, như Hoàng Văn Thuận, Nguyễn Văn Điềm, Lê Khuê Hào, Trịnh Thiếu Sinh...Trong số bạn mới, tôi nhớ nhất là một anh lính hải quân, tên thật là gì, tôi không biết, anh xưng là Kim Chi. Số là khi đó, Tổng Thống Phác Chính Hy nuôi dân tỵ nạn bằng mì luộc và kim chi, món ăn bình dân nhưng độc đáo của Hàn Quốc, và bạn tôi lấy nó làm tên của mình.

Kim Chi hiền lành, nói chuyện vui vẻ, đặc biệt là rất nghệ sĩ, anh biết hát và thổi sáo. Chẳng hiểu sao, anh ngoại giao, anh xin được một ống nhựa bao giây điện, rồi mầy mò làm thành ống sáo. Từ đó, tối nào, tụi tôi cũng theo Kim Chi, nghe anh trổ tài, mang theo chút kẹo hoặc thuốc lá để trợ hứng. Khi ngồi cả đám thì không sao, nhưng lâu lâu, có những đêm khuya mất ngủ, nằm trằn trọc, mà nghe văng vẳng tiếng sáo của Kim Chi, thổi những bài như Lòng mẹ, Con thuyền không bến, thì kẻ vong quốc, tha hương, nhớ cha mẹ, nhớ nhà, ai mà không rơi nước mắt.

Lúc đó, trên người chỉ có một bộ quần áo, làm gì ra sách vở, nhưng còn nhớ được mấy bài thơ Đường, bèn tìm một bài hợp tình, hợp cảnh, đem ra dịch cho qua thì giờ. Đó là bài:

春夜洛城聞笛    Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch
李白                      Lý Bạch

誰家玉笛暗飛聲 Thuỳ gia ngọc địch ám phi thanh,
散入春風滿洛城 Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành.
此夜曲中聞折柳, Thử dạ khúc trung văn chiết liễu,
何人不起故園情 Hà nhân bất khởi cố viên tình.

Nghĩa:

Đêm xuân, ở Lạc Dương, nghe tiếng sáo.

Tiếng sáo ngọc nhà ai thoảng bay,
Tan vào gió xuân, đầy thành Lạc Dương.
Đêm nay, nghe điệu bẻ liễu trong khúc sáo, (Điệu bẻ liễu là điệu biệt ly)
Ai là người không dậy lên mối tình nhớ vườn xưa.

Dịch thơ:

Đêm Xuân,  Lạc Dương, Nghe Tiếng Sáo.

Nhà ai tiếng địch thoảng bay,
Quyện vào trong gió, tan đầy Lạc Dương,
Nghe câu ly biệt đêm trường,
Ai người chẳng thấy nhớ thương quê nhà.

Đây là một bài trung trung của Lý Bạch, tôi thích chỉ vì nó nói đúng tâm trạng của mình, Nhưng xét cho cùng, thì thấy câu thứ 2 sao hay lạ lùng, tiếng sáo mà tan vào gió xuân, bay đầy thành phố, thì chỉ có Lý mới viết nổi.
Hồi ở Phú San, câu chót tôi dịch là: Ai người chẳng nhớ cố hương xa vời. Nhưng tôi có lây bệnh Thôi, Xao của Giả Đảo, nên đã sửa lại như trên, mong các bạn cho ý kiến.

Tôi viết bài này vì sắp tới ngày Quốc hận, và cũng để gợi ý cho anh Bảo, dù anh lúc nào cũng có quá nhiều ý kiến.

Nguyễn Thanh Bình( Bát Sách)
***

Nhà ai sáo ngọc thoảng bay nhanh
Nương gió xuân loang khắp Lạc thành.
Khúc sáo lắng nghe như "Chiết Liễu”
Hỏi ai chẳng nhớ đến quê mình

Con Cò
***

Đêm Xuân Ở Lạc Thành Nghe Sáo.

Nhà ai sáo vọng suốt canh trường,
Quyện gió xuân bay khắp Lạc Dương.
Khúc nhạc đêm nay nghe " Bẻ Liễu,"
Người nào chẳng nhớ tới quê hương.

Mỹ Ngọc.
Apr. 14/2026
***
Đêm xuân nghe sáo trong thành Lạc Dương

Sáo ngọc nhà ai thoảng tiếng bay
Gió xuân mang rải Lạc Dương đầy
Đêm nay Chiết Liễu chìm trong nhạc
Ai chẳng chạnh lòng chốn cũ đây?


Lục bát


Nhà ai sáo ngọc thoảng bay
Gió xuân chuyên chở rắc đầy Lạc Dương
Điệu nghe Chiết Liễu đêm trường
Ai người mà chẳng nhớ thương quê nhà?


Lộc Bắc
Mars2019
***
Tiếng sáo đêm xuân ở Thành Lạc Dương

Vi vu tiếng sáo vọng nhà ai
Theo gió mùa xuân dìu dặt bay
“Chiết liễu” Lạc Dương vang điệu nhạc
Quê hương nỗi nhớ thiết tha đầy

Thanh Vân
***
Đêm Xuân Nghe Sáo Ở Thành Lạc Dương

Canh trường tiếng sáo nhà ai
Quyện nương theo gió xuân bay Lạc thành
Nghe câu ly biệt đêm thanh
Mấy ai sao nỡ quên đành quê hương.

Kim Oanh
***


Nguyên tác: Phiên âm:

春夜洛城聞笛-李白 Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch - Lý Bạch


誰家玉笛暗飛聲 Thùy gia ngọc địch ám phi thanh
散入春風滿洛城 Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành
此夜曲中聞折柳 Thử dạ khúc trung văn Chiết Liễu
何人不起故園情 Hà nhân bất khởi cố viên tình

Bài thất ngôn tứ tuyệt này được viết vào năm Đường Huyền Tông Khai Nguyên thứ 23 (năm 735) khi Lý Bạch viếng thành Lạc Dương. Có mộc bản trong các sách:

Lý Thái Bạch Văn Tập - Đường - Lý Bạch 李太白文集-唐-李白
Thi Lâm Quảng Ký - Tống - Thái Chánh Tôn 詩林廣記-宋-蔡正孫
Đường Thi Phẩm Vị - Minh - Cao Bính 唐詩品彙-明-高棅
Ngự Định Toàn Đường Thi - Thanh - Thánh Tổ Huyền Diệp 御定全唐詩-清-聖祖玄燁

Giải nghĩa chữ khó:

Lạc Thành: thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, một thành phố rất thịnh vượng trong thời nhà Đường, kinh đô cổ kính của Trung Hoa ngày xưa, còn được gọi là Đông Đô.
Văn địch: Vào thời Ngụy Tấn, Hướng Tú làm bạn với Kê Khương và Lữ An, Khương và An bị Tư Mã Chiêu giết chết. Tú về nơi ở cũ của Kê Khương tại Sơn Dương, nghe tiếng sáo của hàng xóm, cảm thấy nhớ người bạn đã khuất của mình. Sau đó, văn địch được sử dụng như một từ để thương tiếc người quá cố.
Thùy gia: nhà ai, ở đâu
Ngọc địch: sáo ngọc, tên đẹp của sáo
Ám phi thanh: âm thanh không biết từ đâu đến; tiếng sáo bay bổng, vẳng lại một cách kín đáo, mơ hồ trong đêm tối; tiếng sáo vang lên trong đêm và truyền đi xa
Xuân phong: gió mùa xuân, ẩn dụ ân trạch, bầu không khí hòa hợp
Chiết Liễu: tên bản nhạc xưa; ngày xưa mỗi lần đưa tiễn, người thân thường bẻ cành liễu trao cho người ra đi, sau có khúc ca Chiết liễu (bẻ liễu) nói về tình ly biệt.
Cố viên: vườn uyển cổ xưa, từ dùng để chỉ quê hương

Dịch nghĩa:

Xuân Dạ Lạc Thành Văn Địch


Đêm Xuân Nghe Tiếng Sáo Ở Thành Lạc Dương
Thùy gia ngọc địch ám phi thanh
Nhà ai có tiếng sáo ngọc vẳng trong đêm,
Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành
Theo gió xuân bay khắp thành Lạc Dương.
Thử dạ khúc trung văn Chiết Liễu
Đêm nay trong khúc nhạc ta nghe lại có điệu "Chiết Liễu",
Hà nhân bất khởi cố viên tình
Thử hỏi có ai mà không cảm thấy nhớ quê hương.

Bình luận:

Bài thơ được Lý Bạch sáng tác vào khoảng năm 734-735 (niên hiệu Khai Nguyên thời Đường Huyền Tông), khi ông đang lưu lạc và tạm trú tại thành Lạc Dương. Sống nơi đất khách trong một đêm xuân tĩnh lặng, âm thanh của tiếng sáo vẳng lại đã chạm vào nỗi lòng xa xứ của nhà thơ.

Dù viết về nỗi nhớ quê, Lý Bạch không dùng những từ ngữ bi lụy. Ông dùng câu hỏi tu từ Hà nhân bất khởi (Ai mà không chạnh lòng) để nâng cảm xúc cá nhân lên thành một tình cảm phổ quát, khẳng định rằng tình yêu quê hương là bản năng sâu thẳm của mỗi con người khi đứng trước những rung động tinh tế của thiên nhiên và nghệ thuật.
Bài thơ ngắn nhưng giàu nhạc tính, hình ảnh trong trẻo mà thấm buồn. Đây là một trong những bài thơ tiêu biểu của thơ Đường về tâm trạng tha hương, sánh cùng Tĩnh Dạ Tứ của Lý Bạch hay Nguyệt Dạ của Đỗ Phủ.
Bài thơ này hơi khó so sánh với bài Văn Địch của Triệu Hỗ vì khác thể thơ, nhưng có thể so sánh với bài tứ tuyệt Tái Thượng Văn Địch của Trương Hỗ. Cả hai bài đều nghe sáo ban đêm. Bài của Lý Bạch, như chúng ta đã biết, được làm vào mùa xuân ấm áp ở nơi phồn hoa đô thị khi ông đến Lạc Dương tìm danh vọng. Bài thơ của Trương Hỗ, bên dưới, được làm vào mùa đông lạnh lẽo ở biên thùy Tây Bắc, hình ảnh một chiến binh cô đơn nhớ nhà.

Dịch thơ:

Đêm Xuân Nghe Tiếng Sáo Ở Thành Lạc Dương


Thể thất ngôn:

Tiếng sáo nhà ai gợi vấn vương,
Gió xuân đưa khắp nẻo Lạc Dương.
Khúc nhạc chia tay ôi tha thiết,
Sao khỏi chạnh lòng nhớ cố hương.


Thể lục bát:


Nhà ai tiếng sáo nhẹ nhàng,
Gió xuân đưa khắp nẻo đàng Lạc Dương.
Khúc Chiết Liễu gợi vấn vương,
Hỏi ai viễn xứ chẳng thương quê mình.


Thể song thất lục bát:


Tiếng sáo ngọc, nhà ai trầm bổng
Khắp Lạc Thành, theo ngọn gió xuân
Đêm nay Chiết Liễu ru ngân
Hỏi ai chẳng khởi bâng khâng nhớ nhà?


Flute On A Spring Night in Luoyang by Li Bai

From whose house arises the melodious flute
Spring wind carries it all over the city of Luoyang
Tonight the song is the Willow Breaking melody
Who does not have feeling for his old country?

From whose house comes the sound of a jade flute, discretly flying?
The spring wind scatters them across the whole city of Luoyang.
Tonight, within that drifting melody, I hear the tune "Breaking the Willow."
Who could listen without being moved by memories of their father land?

The above translations focuse on conveying the sense and emotion of the original poem rather than reproducing its rhyme.

Phí Minh Tâm

***
Góp ý:

李白. Tên của thi nhân họ Lý đã được chuyển sang chữ Latin thành Li Bai, Li Po hay Li Bo tùy hệ thống chuyển ngữ nhưng Lý Bạch trong tiếng Việt có thể gần gũi nhất với lối phát âm /baek/ hay /bhæk/ của thời Trung Cổ. Ngoài tên cúng cơm Bạch, ông còn được biết dưới các tên Thanh Liên Cư Sĩ, Thi Tiên, Tửu Tiên, Trích Tiên Nhân và Thi Hiệp.

折柳. Liễu trong tục chiết liễu là cây thùy liễu (Salix babylonica) có gốc ở bắc Hoa Lục rồi lan tràn qua miền ôn đới Tây phương nên cho dù người (nhiệt đới) Việt có tên cây liễu, ít ai ở quốc nội thấy cây đó, vì dĩ nhiên ít ai (kể cả người Viết) biết tục bẻ liễu có ý nghĩa gì. Và trừ khi người đọc hiểu rằng liễu (柳) và lưu (留) là hai từ đồng âm [cùng bính âm liǔ] thì họ cũng không hiểu rằng từ liễu là biểu tượng của sự chia ly, để diễn tả ước muốn níu kéo người đi ở lại hay trở về. Thời xưa người đi xa thường dùng thuyền – đường bộ rất hiểm nghèo - nên việc chia tay thường xẩy ra bên bờ sông nơi cây liễu thích sống, hay thường được trồng. Mặc dù đa số thổ âm Hoa Lục phát âm 留 với phụ âm /l/, người Thành Đô, Tứ Xuyên phát âm nó giống hệt như níu của tiếng Việt nhưng có lẽ đây không phải là ngữ nguyên của ‘níu’ trong các nghĩa níu lại, níu kéo.

玉笛. Từ thời Đường, từ địch được dùng riêng để chỉ loại sáo thổi ngang nên dùng các hình vẽ với sáo thổi dọc (có tên là tiêu, 簫) không hợp với bài thơ. Nguyên liệu cho sáo thường là trúc hay gỗ vì khả năng cộng hưởng của chúng làm tăng phẩm chất của tiếng sáo. Ngọc (bích) và kim loại ít khi được dùng (trừ trường hợp các flute gốc Âu Châu) vì âm thanh từ chúng không ấm bằng tiếng sáo gỗ hay trúc. Và cụm từ ngọc địch có thể hàm ý rằng người thổi sáo đang ở trong một lầu đài, cung điện nào chứ không phải là một nghệ sĩ chuyên dùng sáo, vì ít ai đủ giàu mua sáo ngọc và người chuyên nghề thổi sáo thì lại thích sáo gỗ hay sáo trúc. Họ Lý sáng tác bài thơ này năm 734 khi đang lang thang qua đông đô Lạc Dương và ngữ cảnh của bài thơ gợi ý – ít nhất cho người viết ni – rằng ‘cố viên tình’ (故園情) nói đến một người quen mà Lý đã nhờ tiến cử vào triều đình. Một điều ít người biết về cuộc đời họ Lý là ông đã nhiều lần viết thư tự tiến cử đến triều thần ở Trường An.

Nếu người ni đoán đúng thì sáo của người bạn Kim Chi của Bát Sách chế tạo là địch, không phải tiêu, và phân vân âm thanh từ cái địch này như thế nào vì nhựa làm vỏ dây điện không cứng lắm (cứng quá thì không uốn quanh được).

Huỳnh Kim Giám

Bài Thơ Cho Tháng Ba

 

Lại gió mưa về cuối tháng ba

Như bao mắt ướt một dòng sa

Hạt rơi xuống vết hồn dao cắt

Mưa vẫn còn mưa lệ nhạt nhòa…

 

Tháng ba Quảng Trị buông phòng tuyến

Từng cánh quân di tản về nam

Một chiều chốt lại bờ sông Mỹ*

Ráng đỏ pha dòng như máu loang

 

Ngoảnh lại, sau lưng thành phố nhỏ

Vừa mới hồi sinh buổi dựng cờ

Thành cổ lẫy lừng trang chiến sử

Nay đành buông bỏ giữa sa cơ

 

Bỏ Động Ông Đô, đồi Như Lệ

Như lệ mắt buồn ai tiễn đưa

Xao xác ngàn lau bờ Thạch Hãn

Chiều xuân nghe lạnh gió sang mùa

 

Bỏ Barbara trời cao ngất

Chập chùng khe núi tắm sương mai

Nước uống hai phe cùng một suối

Chiến tuyến chung vòng sợi kẽm gai

 

Long Quang mưa dầm đêm xuất kích

Linh Yên ngày rát tiếng loa vang

Xuôi quân một sáng về An Trú

Chợt thấy đời vui giữa xóm làng

 

Đành bỏ Xuân Lâm lòng như cắt

Nơi Anh vừa ngã xuống đêm qua!

Máu Anh còn ướt trên bao cát

Tiễn người lặng lẽ, chẳng vòng hoa!

 

Xuân Lâm ngơ ngác nhìn Đông Xuân

Chôn kín nơi đây những nghĩa tình

Lô cốt đăm chiêu nhìn thế sự

Nghe truyền một sớm lệnh lui quân

 

Qua cầu An Lỗ lòng nặng trĩu

Nhìn hướng quê nhà, tối đã lên

Chắc Mẹ đang ngồi nghe thấp thỏm

Tiếng gãy cành khô lạc giữa đêm

 

Tới Huế đèn khuya màu bạc thếch

Như kẻ hồn xiêu đứng cúi đầu

Thành phố chuyển mình cơn hấp hối

Trường Tiền cúi mặt khóc Văn Lâu

 

Đường về Cửa Thuận mươi cây số

Quân mệt nhoài đi đến sáng trơn

Xe cộ chất bên lề như củi

Náo loạn trời khuya những cánh chim

 

Tin đèo Hải Vân vừa bị chặn

Phía Cửa Tư Hiền cũng tắt rồi

Còn một con tàu đang mắc cạn

Thây người sóng biển giỡn mà chơi!

 

Đơn vị mất dần dây liên lạc

Âm thoại viên gào khản cả hơi

Hơn một quân đoàn đang mắc kẹt

Tiếng pháo câu ngang nổ xé trời

 

Tháng ba Cửa Thuận đùn giông tố

Sóng bạc gào lên, biển cuồng nộ

Thiên thời nghiệt ngã triệt đường lui

Một sớm trùng dương thành nấm mộ!

 

Một sớm ai ngờ quân rã ngũ

Gió sương một thuở có ích gì!

Chiến y trút lại trên trường cát

Súng gãy gươm cùn chẳng nghĩa chi

 

Đêm ấy ta làm tên bại trận

Nhìn trăng mà thẹn với tang bồng

Con tàu định mệnh còn nguyên đó*

Bao xác dập dềnh trôi biển Đông!!!

 

Quang Hà
*Con tàu Hải quân vào rước đơn vị TQLC bị mắc cạn ở biển Thuận An

Thương Binh: Từ Phạm Duy Tới Đỗ Tiến Đức


Năm 1948, Phòng Chính Trị thuộc Bộ Thương Binh Cựu Binh đã tổ chức một cuộc thi về đề tài “Thương Binh” do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và Tống Ngọc Hạp từ miền Nam ra làm Giám Khảo. Nhạc sĩ Phạm Duy gửi bài “Nhớ người thương binh” dự thi. Bài hát không được giải thưởng, nhưng được đăng vào báo của Bộ. Lời bài ca như sau:

“Nhớ Người Thương Binh”

Chiều về chiều về trên cánh đồng xanh
Có nàng gánh lúa
cho anh ra đi giết thù u u ù
Từ ngày chinh chiến mùa thu
Từ ngày từ ngày chinh chiến mùa thu
Có chàng ra lính biên khu
ai đi tung hoành u u ù

Chiều về trên cánh đồng xanh
Chiều quê hằng nhớ người trai
Và em nhìn tháng ngày trôi
Nhớ người đi đi rồi
Người về non nước xa xôi
Người về non nước xa xôi

Một chiều một chiều
trên quãng đường xa
Bóng người anh dũng năm xưa
ra đi chốn này u u ù
Chàng về nay đã cụt tay
Chàng về nay đã cụt tay
Chàng về chàng về nay đã cụt tay
Máu đào đã nhuốm trên thây
bao nhiêu quân thù u u ù

Từ ngày chinh chiến mùa thu
Từ ngày chinh chiến mùa thu
Người quê còn nhớ người chăng
Vì ai vào chốn tử sinh
Chiến trường quên quên mình
Người về có nhớ thương binh

Người về người về có nhớ thương binh
Tôi về tôi nhớ chiều xanh
ra nơi sa trường u u ù
Và ngày tôi đã bị thương
Và ngày tôi đã bị thương
Và ngày và ngày tôi đã bị thương
Thân tàn nay sống hậu phương
ai ơi bên người u u ù
Chiều về thương nhớ đầy vơi
Chiều về thương nhớ đầy vơi
Người xa gửi đến quà vui
Ngồi đây tưởng nhớ lệ rơi
Hỡi người xa xa vời
Đẹp lòng tôi lắm ai ơi
Đẹp lòng tôi lắm ai ơi


Phải nói, đây là một bản nhạc buồn; và lần đầu tiên Phạm Duy đã dùng âm hưởng âm nhạc dân tộc ngũ cung vào một bài hát dân ca. Lời ca rất dễ hiểu, không cầu kỳ có những từ ngữ khích động “đi giết thù”, “cụt tay”, “máu đào đã nhuốm trên thây bao nhiêu quân thù”.
Bài ca kết thúc bởi cảnh người thương binh nhận được quà từ người xa lạ mà thấy lệ rơi trong tình cảnh “thân tàn nay sống hậu phương”, thôi thế cũng đủ “đẹp lòng tôi lắm ai ơi”.
Tuy vậy “người quê còn nhớ người chăng?” mà “vì ai vào chốn tử sinh” “chiến trường quên mình”, chàng tự hỏi “Người về có nhớ thương binh”.

Hiện nay, người thương binh “thân tàn nay sống hậu phương” chỉ mong “người xa gửi đến quà vui”, nhận được quà “ngồi đây tưởng nhớ lệ rơi” mong rằng “hỡi người xa xa vời” làm “đẹp lòng tôi lắm ai ơi”.
Bài ca kết thúc bởi cảnh người thương binh nhận được quà từ người xa lạ mà thấy lệ rơi, thôi thì như vậy cũng đẹp lòng lắm rồi.

Có lẽ vì lời ca khúc không có những câu chữ “phanh thây, uống máu quân thù”, nên “Nhớ người thương binh” của Phạm Duy không nhưng không được giải thưởng mà còn không được đón nhận trong vùng Kháng Chiến. Ngươc lại ưhạc phẩm này được phổ biến rộng rãi tại miền Nam do các nam nữ ca sĩ tên tuổi trình bày kể cả Thái Thanh.

Đây là một nét văn học Nhân Bản của Việt Nam Cộng Hoà.

Tháng 11 năm 1987, 49 năm sau “Nhớ người thương binh” của Phạm Duy thì tại tòa soạn báo Thời Luận tại Los Angeles Hoa Kỳ, nhà báo Đỗ Tiến Đức đang dàn trang số báo Đặc Biệt Thanksgiving nhận được bức hình một thương phế binh VNCH cụt cả chân tay lết qua đường với chiếc lon đẩy tới phía trước để xin lòng nhân ái của những người qua đường

Tấm hình khổ nhỏ đen trắng từ người bạn ở Việt Nam gửi qua đã khiến cả tòa báo xúc động. Nó lại càng xúc động hơn khi trong số báo chuẩn bị cho ngày Lễ Tạ Ơn lại có đăng quảng cáo trọn trang của một hội đoàn cựu quân nhân VNCH ở Nam Cali mời gọi đồng đội tham dự vì có mục khiêu vũ.

Một bài thơ được sáng tác ngay sau khi nhìn thấy bức hình để xin đồng bào tạ ơn anh, tạ ơn sự hy sinh của anh cũng như sự hiện diện của anh trên làn sóng đỏ bởi vì nếu không có anh người ta sẽ không còn nhớ tới Việt Nam Cộng Hòa không còn nhớ tới cuộc chiến chống cộng sản để bảo vệ Miền Nam được tư do dân chủ…

Dưới đây là bài thơ của Đỗ Tiến Đức:Theo tác già, đáng lẽ mở đầu bài thơ là : “Anh không còn đôi chân, bước trên đường quê cũ” nhưng vì cái quảng cáo “Dạ tiệc khiêu vũ mừng ngày lễ Tạ Ơn” mà ông viết “Lướt trên sàn khiêu vũ” như là một nỗi xúc động vì tấm hình anh thương phế binh ở quê nhà trong khi chiến hửu của anh thoát ra hải ngoại còn đôi chân nhưng để khiêu vũ.

“Xin Tạ Ơn Anh

Anh không còn đôi chân
Lướt trên sàn khiêu vũ
Anh không còn đôi tay
Kê đầu em gtấc ngủ.

Anh không còn là người
Cũng không thành con thú
Môi anh sao vẫn cười?
Mắt như vì tinh tú

Anh ngày xưa, ngày xưa
Là Thiên thần Mũ Đỏ.
Chân anh mang giầy saut
Tay lái dù trong gió
Hay anh là Nghĩa binh
Giữ làng cho dân ngủ.
Hay anh là Mũ Xanh
Tuyến đầu anh trấn thủ.

Đất mẹ chưa ru anh
Cuộc chiến tàn cờ rủ
Tay chân làm phân xanh
Vài ba bông dại nở

Xưa lựu đạn, dao găm
Nay, chiếc lon nho nhỏ
Xưa đánh pháo diệt tăng
Nay, cơm thừa nước đổ
Xưa đồng đội như rừng
Gót giầy vang mặt phố
Nay xa cách muôn trùng
Một thân trong xó chợ

Những người hai mươi năm
Thoảng như cơn mộng dở
Còn mỗi khúc thân tàn
Vinh danh ngày tháng cũ”


Đỗ Tiến Đức không làm thơ nhiều, hình như chưa đủ để in thành tập. Và chỉ với bài “Tạ ơn anh” ông đã nghiễm nhiên trở thành một nhà thơ, sau khi ông đã có những nhà khác như nhà hành chánh, nhà văn, nhà đạo diễn điện ảnh và nhà báo.
Vậy từ “Nhớ người thương binh” của Phạm Duy tới “Xin tạ ơn anh” của Đỗ Tiến Đức có những khác biệt nào?

Trước hết “Nhớ người thương binh” sinh ra từ một nhu cầu của Phòng Chính Trị bộ Thương Binh Cựu Binh nên cách kể chuyện cũng phải bài bản “có nàng gánh lúa cho anh ra đi giết thù”giao công việc “sản xuất” cho chị, Đỗ Tiến Đức sáng tác “Xin tạ ơn anh” ngẫu hứng vì một bức ảnh nhân dịp Lễ Thanksgiving nên lối kể chuyện của Đỗ Tiến Đức cũng Đỗ Tiến Đức hơn, lãng mạn hơn.

Người thương binh trong thơ của Đỗ Tiến Đức là một thanh niên có thể là một sinh viên sống trong một thị trấn tối đi khiêu vũ đêm về nhà đề tay cho người yêu kê đầu ngủ. Rồi quân phương Bắc tràn qua vĩ tuyến 17 phá làng xóm tạo ra cảnh mất an ninh nên người thanh niên lãng mạn đó đã trở thành một người cầm súng không nhất thiết phải mang quân phục gì mũ đỏ, mũ xanh hay nghĩa binh chỉ cốt trấn thủ, giữ làng cho dân ngủ có tính cách tự vệ chứ không có hành động chiến tranh, giết người.
Tinh thần người thương binh của Đỗ Tiến Đức cũng rất nhân hậu, nếu “đất mẹ chưa ru anh”, nếu có mất một phần thân thể thì cũng coi như dùng làm phân nuôi dưỡng hoa dại thêm mầu sắc cho cuộc đời.
Vì thương tật nên khi bò lê tai bị áp sát trên mặt đường nên người phế binh đã nghe thấy tiếng chân “đồng đội như rừng, gót giầy vang mặt phố”trong những buổi duyệt binh . Nếu không phải là nhà đạo diễn điện ảnh thì khó lòng có chi tiết “âm thanh” không những gợi nhớ về quá khứ mà còn có âm hưởng vang dội ngàn năm về sau.

Dù thân bị tàn phế đến nỗi “không còn là người, cũng không thành con thú” nhưng “môi anh sao vẫn cười?” Cái hay là dấu chấm hỏi cuối câu thơ. Tại sao vậy, đời sồng nghiệt ngã như vậy sao lại mỉm cười được. Chính người trong cuộc cũng phải ngạc nhiên mà tự hỏi. Câu trả lời nằm trong kết quả của nền giáo dục nhân bản dân tộc và khai phóng của Việt Nam Cộng Hoà đã thẩm thấu vào hành động của mọi công dân Việt Nam.

Người thương binh của Đỗ Tiến Đức không chờ “người xa gửi đến quà vui” để “ đẹp lòng tôi lắm ai ơi”, mà chỉ muốn “còn mỗi khúc thân tàn, vinh danh ngày tháng cũ”. Chính vì vậy, chúng ta không chỉ “ nhớ người thương binh” mà PHẢI “xin tạ ơn anh”.

Sau năm 1975, Bên Thắng Cuộc đã dùng chiến dịch “đốt sách” để thiêu rụi nền văn học Việt Nam Cộng Hoà, lập những trại tù cải tạo để tẩy hết những kiến thức còn có trong đầu của các quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hoà; và cuối cùng dùng chính sách hòa hợp hòa giải để xóa bỏ hẳn một chế độ Việt Nam Cộng Hoà đã gây dựng thành công tại miền Nam trong suốt 20 năm từ 1954 đến 1975. Một số người đã bị tẩy não hay vì quyền lợi cá nhân đã trở về Việt Nam để hòa hợp và quên đi hay đánh mất đi 20 năm vàng son của nền Việt Nam Cộng Hoà mà nếu không có người thương phế binh lê lết trên đường phố thì mọi người quên mất chúng ta đã từng có một chế độ nhân bản như vậy.
Không cần sách ngàn trang để viết sử chỉ cần hình ảnh người thương binh trong “Xin tạ ơn anh” của Đỗ Tiến Đức đã đủ tái hiện chế độ Việt Nam Cộng Hoà giữa lòng thành phố Sài Gòn ngày nay.

Nếu Đỗ Tiến Đức đã từng được trao giải Nhất Văn học Nghệ thuật Toàn quốc năm 1969 cho tập truyện dài Má Hồng, người đầu tiên thiết lập được một Ngày Điện Ảnh Việt Nam,và giải thưởng Điện ảnh hàng năm, mở trường Điện ảnh tại Viện Đại học Minh Đức, vậy bài thơ Xin tạ ơn anh sẽ được giải gì đây? Xin Tạ Ơn Anh sẽ không có giải gì cả vì đã là thơ quốc dân rồi.

Nguyễn Đắc Điều
(Viết nhân ngày Quốc Hận 30 tháng 4-2026)


Tâm Tư Người Chiến Sĩ

  

Tôi quý trọng anh như bao người lính khác
Bởi giữa căm hờn anh vẫn sống hiên ngang
Máu đổ xương rơi, bầu trời Nam tan tác
Bình địa phủ tràn... non nước một màu tang!

Tôi trân trọng những tấm lòng vì Tổ Quốc
Đã nằm yên nơi lòng đất quê hương
Chiến sĩ vô danh một đời bất khuất
Xác thân vùi ...quên lãng giữa đau thương

Chúng ta được gì trong cuộc tương tàn?
Nhồi da xáo thịt bẻ bàng từng cơn
Năm mươi mốt năm tha hương đất khách
Nhìn trong mắt người u uẩn nào hơn!

Mùa Xuân đến, chiến binh ngồi lặng lẽ
Đếm gian nan trên mái tóc bạc màu
Tự thâm tâm niềm đau đang vọng khẻ
Đã hết rồi...xuân đến chỉ thêm sầu...

Trời mùa Hạ mang mang niềm thống hận
Tháng tư xưa...người chiến sĩ gục đầu
Thảm cảnh xưa xoáy mòn trong vô tận
Thương phận lạc loài...cơn lốc bể dâu!

Rồi Thu đến lá vàng rơi lả tả
Ngập biển trời...nỗi buồn đến thiên thu
Mắt mờ lệ xuyên vời dòng biển cả
Thấy gì đâu...trùng điệp khói sương mù

Tiết Đông phong cho lòng thêm giá lạnh
Biết ngày nào thực hiện giấc đoàn viên
Thời gian trôi giết mòn đời bất hạnh
Lớp lớp rồi...chiến sĩ đã nằm yên!!!

Tôi gửi các anh bài thơ từ tim óc
Cùng ly hương cùng cảm nhận niềm đau
Tôi quý các anh một lòng vì Tổ Quốc
Hãy chung mơ ngày hạnh phúc bên nhau ...

nguyễn phan ngọc an 
Hè 2026

Người Yêu Sài Gòn

Cạp miếng pizza Papa John ngon tuyệt cú mèo, cái món ăn khoái khẩu của Tim, miệng nhai ngấu nghiến còn lòng thì phơi phới muốn bay lên vì công ty mới thưởng một tuần lương. Tụi thằng Leyton, Andrew, Jonathan…cũng đang sung sướng nên cười giỡn như giặc dậy. Cả đám bàn tính cuối tuần này ăn nhà hàng nào đây? Thằng Keith luôn tìm tòi trên mạng những nhà hàng nào được chấm năm sao, không chỉ về thức ăn mà còn phải cảnh quan và bài trí đẹp nữa mới chịu. Tim vốn dân vegan nên chẳng quan tâm mấy chuyện ăn uống. Tim chỉ khoái món cocktail và vị trí đẹp của nhà hàng thôi. Sau một lúc lựa chon, mỗi thằng một ý chẳng ai đưa ra được quyết định. Cuối cùng thằng Keith chốt:
- Blue Soul bar ở Fairburn, không bàn cãi gì nữa!

Cả bọn đồng ý, nói chung nhà hàng này ăn ngon, trang trí đẹp, giá cả cũng không phải là quá mắc. Vậy là cuối tuần này Tim và bạn bè sẽ quậy một bữa ra trò. Đang tí tởn với tụi nó nên Tim chẳng nghe điện thoại cầm tay đổ chuông. Thằng Keith nhắc:
- Tim, ai kêu mầy kìa? Hổng chừng vợ hay con ghệ nào đó?
Thằng Leyton khịa:
- Chắc con nhỏ Bokoo? Nó mê con đó như điếu đổ!
Cả xóm nhà lá cười rần rật, thằng Jackson Nolton địa:
- Phải rồi, cái mông bubble butt của con nhỏ Bokoo diêu bá cháy luôn, nó “chết” vì cặp mông.
Nói xong nó cười rũ ra, mấy thằng bạn mắc dịch cười bò lăn bò càng, tha hồ thêm mắm dặm muối. Tim bỏ mặc lũ nó ở đấy, đi ra ngoài bãi đậu xe để nghe điện thoại, nhìn số hiển thị trên màn hình biết ngay:
- Alo, Diệc Thần đó hả? sao gọi giờ này? Mấy nay khỏe chứ?
Đầu dây bên kia:
- Alo, Thụy Phong, Diệc Thần đây! Tao khỏe, mầy khỏe không?
- Khỏe và cày như trâu, cuộc sống vẫn như xưa nay, ngày thường đi cày kiếm cơm, cuối tuần viết lách lai rai kiếm tiền uống cà phê.
- Dziệt kiều như mầy vậy là thua tao rồi. Tao sáng cà phê, chiều nhậu, tối đi bar quẩy bung nóc…
- Sướng thật đó! Nhưng mỗi người một số phận, biết sao được bây giờ?
- Vậy thì dzìa đây sống với anh em, tha hồ hưởng. Đời kỳ cục thấy bà, thằng ở hải ngoại than khổ nhưng chẳng chịu dzìa, còn thằng trong nước nói sướng nhưng lại tìm mọi cách để ra đi!
- Ờ, đời kỳ cục ghê hén! Đôi khi cái sướng và cái khổ tréo ngoe. Sướng hay khổ còn tùy thuộc vào độ nhất thời với dài lâu hoặc là giữa cái căn bản và cái tạm bợ nữa mày ơi!
- Dẹp mẹ cái mớ lý luận chữ nghĩa của mầy đi, nghe mắc mệt! Tết nay có dzìa ăn tết không?
- Muốn lắm nhưng đi không được.
- Hỏi thì hỏi vậy thôi chứ tao biết ngay mà!
- Đời không đơn giản đâu mày, dài dòng khó giải thích.
- Mầy cứ tự làm khó cho bản thân, thiên hạ kéo dzìa ăn tết đông như quân Nguyên kìa.
- Ờ, thì người ta khác, tao khác
- Sao? Mầy nghĩ mầy ngon lành hơn hả?
- Tao đã nói rồi dài dòng lắm.
- Tụi dziệt kiều kéo dzìa mỗi năm một đông hơn, năm nào cũng ra ngoài kia dự hội nghị dziệt kiều yêu nước, được lên tivi, lên báo; được gắn huy chương, tặng bằng khen xôm tụ quá trời. Ở đời người ta phù thịnh chứ ai phù suy.
- Bởi vậy nên tao mới nói dài dòng lắm, họ khác, tao khác. Mầy đừng nói với tao cái bọn cà chớn ấy, tao hổng thích!
- Mầy cứ vậy khổ là phải rồi! Nói thì nói vậy chứ tao hổng hiểu mầy thì còn ai hiểu? mà mầy hổng nhớ Sài Gòn hay sao mà hổng dzìa?
- Nhớ chớ sao không, nhớ dữ lắm. Chưa chắc những người về đã thương nhớ Sài Gòn bằng tao! Mầy là thằng bạn thân nhất, mầy biết đấy! trong tâm tao chỉ có Sài Gòn mà thôi! Bao nhiêu năm nay tao vẫn kêu Sài Gòn bằng cái tên của nó. Tao chưa bao giờ viết hay kêu Sài Gòn bằng cái tên thổ tả mà người ta gán cho nó. Tao không quan tâm thiên hạ kêu Sài Gòn bằng cái tên gì, với tao Sài Gòn là Sài Gòn.
- Tao biết, tao đâu có lạ gì mầy!
- Tao nhớ Sài Gòn! Nhớ những con đường cây cao bóng mát. Nhớ những trái dầu xoay xoay tít trong không trung. Nhớ những đêm đèn vàng nhạt nhòa mình lang thang không muốn về. Nhớ những quán cà phê lãng mạn…

- Còn nữa, những quán bar quậy hết xí quách luôn.
- Đúng, mấy cái quán bar ở Sài Gòn vui quá trời quá đất.
- Mầy không sanh ra ở Sài Gòn nhưng mầy yêu Sài Gòn còn hơn cả những người Sài Gòn chính hiệu. Chất Sài Gòn trong mầy đậm đặc hơn cả người ở Sài Gòn mấy đời. Bằng chứng là bọn họ ăn theo thuở ở theo thời. Bây giờ bọn họ kêu Sài Gòn bằng cái tên lạ hoắc, chỉ có mầy, người duy nhất chỉ viết và kêu Sài Gòn bằng cái tên Sài Gòn.
- Mầy nói đúng, không chỉ người Sài Gòn mà hầu như toàn bộ người Nam giờ đều vậy. Họ quên hết những cái tên dễ thương của một thời chưa xa mấy. Họ giờ nhiễm nhiều cái thói xấu xa lạ mà ngày trước không có. Họ nói với những ngôn từ nghe mắc cười chết luôn…
- Thụy Phong, nhà tao mấy đời ở Sài Gòn, hiện vẫn đang sống tại Sài Gòn… ấy vậy mà tao cũng chưa thấy thương Sài Gòn bằng mầy, chưa hiểu Sài Gòn như mầy. Mầy bỏ xứ đi thì tao nhớ nhưng lại mừng, đôi khi vậy mà hay, nếu mầy ở lại đây chắc chắn mầy sẽ gặp rắc rối không ít với tụi nó.
- Cảm ơn Diệc Thần, thằng bạn mà tao thương nhất trong đám lộn xộn
- Dẹp đi mầy, bày đặc khách sáo! Bộ biến thái hay sao mà nói thương tao?
- Chừng nào tao đè mầy ra chịch thì mới biến thái.
- Ờ, mà mầy nhiều chuyện dễ sợ, qua bển bày đặc đổi tên Tây! Tao dell quan tâm cái tên Tây của mầy. Tao chỉ biết có mỗi thằng bạn với cái tên đậm màu kiếm hiệp Tàu là Thụy Phong mà thôi. Cái thằng giống hệt Tàu mà hổng phải Tàu, lại sống ở khu Tàu Chợ Lớn. Ngày xưa cứ đạp xe lang thang khắp mọi ngõ ngách, thấy gì ngồ ngộ là tròn mắt hả miệng reo mừng như thể người ta trúng số hổng bằng.
- Trời! mầy làm tao cảm động quá, mấy mươi năm rồi vẫn còn nhớ về tao như mới hôm qua.
- Cái thằng biến thái! Cảm ơn cái con khỉ khô, tao hổng quen lối khách sáo đó nha mậy! mai mốt dzìa thì đi uống một bữa và quậy tưng cho đã đời.
- Chắc chắn rồi Diệc Thần.

Hai thằng cười nói rôm rả quên cả thế giới chung quanh, may là ngoài bãi xe không có người nên không gây khó chịu cho ai. Tám đang đã miệng nhưng liếc thấy tới lúc vô làm nên Tim nói tạm biệt Diệc Thần và hẹn nó tối về tám tiếp.
Vừa bước vào văn phòng, thằng Keith nhìn mặt, phán:
- Mầy nói chuyện với con ghệ Việt Nam hả? coi bộ vui quá vậy!
- Hổng phải ghệ, thằng bạn thân. Nó hỏi tao có về quê ăn tết âm lịch hay không.
- Mấy năm trước mầy khoe thành phố quê hương của mầy vào tết âm lịch vui lắm. Mầy còn lì xì mấy bao thơ đỏ cho tụi tao nữa, năm nay có không?
- Ừ, tết vui lắm, còn lì xì hả? đợi đấy rồi sẽ biết!
***
Buổi chiều mùa đông Bắc Mỹ lạnh cắt da cứa thịt, cũng may trong chỗ làm hay nhà cửa đều giữ nhiệt độ ở mức trung bình nên cũng chẳng có vấn đề chi. Ngoài trời nước đóng băng hết ráo rồi, thời tiết lạng giá nhưng trong lòng Tim thì nóng dần lên theo nhịp tết cận kề. Mấy nay bình thường, không dưng hôm nay Diệc Thần điện thoại hỏi thăm khiến cho Tim dậy sóng lòng, thấy nhớ Sài Gòn, nỗi nhớ bùng lên nhất là lúc sắp tết như thế này. Cuộc sống ở Sài Gòn quả là sướng thật, ăn chơi mát trời ông địa, miễn là có tiền và không đụng đến chuyện dân tình quốc sự, mặc kệ chuyên tự do – dân chủ - nhân quyền…Bên này thì ngày ngày đi cày, cuối tuần quanh quẩn trong nhà, lướt mạng xã hội, tợp lon Budweiser rồi coi phim con heo, tự xử…xem ra cũng buồn thật!

Sài Gòn thì ngày nào cũng là ngày cuối tuần, đêm nào cũng la cà ngoài đường. Bạn bè ăn nhậu dàn trời, hứng lên thì dzô bar xả xú páp, lún luôn! Sài Gòn là vậy, nhớ là vậy, thương là vậy nhưng Tim không chịu nổi cái cách người ta ngồi trên đầu trên cổ của nó. Tức muốn chết vì cái cách người ta kêu Sài Gòn bằng cái tên tào lao chẳng ăn nhập gì vói nó. Tim vẫn mơ ước một ngày nào đó Sài Gòn được mọi người kêu bằng cái tên của nó. Mọi giấy tờ phải viết đúng cái tên của Sài Gòn. Sài Gòn cần tẩy rửa những ô uế nhiễm độc, lau chùi lại gương mặt vấy bẩn, dựng lập lại những gì đổ nát lụn bại…Sài Gòn phải là Sài Gòn của người Sài Gòn và những người yêu Sài Gòn.

Vừa làm việc vừa miên man trong tâm tưởng, bởi vậy Tim không nghe thấy mấy thằng bạn làm chung châm chọc mình, thậm chí nhiều lúc không nghe tụi nó kêu. Tâm trí Tim tự độc thoại một mình, suy nghĩ về cái sự sướng – khổ của những người Việt khi so sánh giữa bên này với bên kia. Điều đó thể hiện tâm lý của đám đông, mức độ văn hóa và nhận thức rất mắc cười. Với phần nhiều bọn họ chỉ cần ăn chơi, nhậu nhẹt và nói xàm là sướng. Về bển tha hồ nổ banh nhà lồng, khoe thân, khoe của rồi tự cho mình đẳng cấp cao hơn. Bọn họ về Sài Gòn nhưng kêu Sài Gòn bằng cái tên ấm ớ một cách hết sức vô cảm. Họ không biết rằng trong cái lồng vàng thì con chim chỉ hót một điệu, con vẹt chỉ nói được những gì chủ dạy. Họ không nhận thức được lồng vàng cũng chỉ là cái lồng huống chi là lồng sắt. Cái sướng của đám đông đồng hương khiến Tim không khỏi thấy xa lạ và càng chẳng biết bày tỏ cùng ai. Ở đâu cũng phải cày, tuy nhiên môi trường sống bên này nó khác, lối sống công nghiệp nề nếp không thể tùy hứng, sống bằng cảm tính như cư dân cố quận mình. Bởi vậy một số người cho bên này khổ là vậy. Họ không thấy được cái dài lâu, cái to lớn, cái giá trị của cuộc sống tự do, dân chủ. Con cái học hành đàng hoàng, không bị nhồi sọ hay tẩy não. Tuy chê là vậy nhưng chẳng có mấy ai chịu bỏ bên này để về bên ấy và người bên ấy thì lại sẵn sàng trả mọi giá để qua bên này, mắc cười làm sao!

Dòng tư tưởng cứ tuôn trào như nước chảy, như ngựa chạy rông ngoài thảo nguyên, hết ý này lại xuất hiện ý tưởng khác. Tim đang ở giữa mọi người mà như thể đang thiền định một mình trong hang trên núi tuyết. Tim giật mình khi thằng Clint Wint vỗ vai:
- Mầy đang tơ tưởng về cái mông buble butt của con Bokoo phải không?
Mấy thằng bạn cà chớn cười và la hét ầm ĩ. Thằng Eddie chọt:
- Vợ mầy biết là tiêu đời nha con!
Lúc ấy con nhỏ Bokoo từ đâu đi đến, nó ôm lấy Tim từ phía sau, cười cười:
- Whatever! I love you baby.

Lãng Thanh
Ất Lăng thành, 0226

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Nhớ Sài Gòn - Nhạc Và Lời: Phạm Anh Dũng - Hòa Âm:Duy Cường - Tiếng Hát: Quỳnh Giao

Nhạc Và Lời: Phạm Anh Dũng
Hòa Âm:Duy Cường
Tiếng Hát: Quỳnh Giao
Thực Hiện:Hoàng Khai Nhan

Mai Vàng Tháng Tư

 
 Ảnh: Kim Phượng

Tháng Tư, đang là mùa Hạ, trên cành còn sót lại cánh Mai vàng nho nhỏ... hoa Xuân

Bây giờ là tháng Tư
Em mai vàng cánh mỏng
Còn sót lại trên cành
Mong manh đời bơ vơ
Phải chăng em thầm ý
Mang chờ xuân trở lại

Rồi sẽ là mùa xuân

Một xuân xưa trở lại
Trên trang đầu mùa hạ
Phượng màu áo đơn sơ
Những dư âm ngày cũ
Ước nguyện ngỡ hồ quên

Em mai vàng cánh nhỏ
Còn sót lại trên cành
Trên trang đầu mùa hạ
Vòng tay ai nhẹ khép
Hồn xưa mãi ngậm ngùi
Nghe trời mưa mưa rơi
Khép ngủ trong tay người
Mai vàng...mai vàng ơi!

Kim Phượng
9.4.2026

Kiếp Tạm



Đã biết rồi đây cũng sẽ đi
Vậy còn lo lắng nữa làm gì
An vui suốt tháng ngày tương ngộ
Thanh thản trọn giờ khắc biệt ly
Danh lợi rồi tàn theo ảo ảnh
Đời người thoáng tựa vó câu phi
Tranh giành ganh ghét nay bừng tỉnh
Rong ruổi một đời một kiếp si 

Quên Đi


Tôi Đã Khóc (Dư Thị Diễm Buồn) - I Have Cried (Thanh Thanh)

 

Tôi Đã Khóc

Tôi đã khóc từ khi rời lòng mẹ
Sợ hay mừng đời đã tiếp nhận tôi
Và từ đó một hình hài nhỏ bé
Lớn khôn dần ngọt sữa mẹ thơm môi

Tôi đã khóc mẹ dãi dầu cơ cực
Vì cha còn nặng nợ bước chinh nhân
Nghĩa hy sinh trong tim người thắm rực
Dưỡng dục con còn lận đận nuôi chồng

Tôi đã khóc mẹ ra đi vĩnh viễn
Bởi giặc về cày nát xóm thôn
Những đạn pháo vô tình gây tai biến
Người đớn đau quằn quại trút linh hồn

Tôi đã khóc tối ba mươi hôm đó
Tháng tư buồn vụn vỡ bảy mươi lăm
Những con tàu vượt trùng dương sóng gió
Chở bao người mang thống khổ hờn căm

Tôi đã khóc được tin anh ngã gục

Trong trại giam cải tạo tận Miền Trung
Muời mấy năm, niềm tin không rã mục
Chí kiên cường khó lay động chuyển rung

Tôi đã khóc cảnh quê nhà điêu đứng
Mỗi địa danh mang chiến sử oai hùng
Đã bao đời ông cha ta gầy dựng
Nay còn chăng những hoang phế tàn vong

Tôi đã khóc suốt quãng đời lưu lạc
Khóc cho người và khóc cả cho tôi
Bao tang tóc, bao lầm than dân tộc
Đoạn trường này còn khóc mãi khôn nguôi

Dư Thị Diễm Buồn

***
Dịch Thơ:

I Have Cried


I began to cry on coming into this world here,
When life received me, anyhow for joy or for fear;
And thenceforth a small shape, this, has through skips
Grown up out of Mom’s sweet milk and scented lips.

I wept witnessing my Mom so poor and miserable
While my Dad was doing his soldier’s duty venerable.
Her sense of sacrifice she kept her heart warm to arouse,
Bringing up their kids and also catering to her spouse.

I then had to moan when my Mom passed away
As the enemy came to hamlets destroy and people slay,
The insensible bullets and shells to human bodies sever:
How she writhed in agony to part from us for ever.

I also sobbed that night, defeated by the hostile drive,
Of the broken April thirtieth, nineteen seventy five.
The frail boats crossed the windy and wavy ocean
To carry those souls with resentment-filled emotion.

I again mourned for my brother who deceased
In the Central Region’s prison, ill-treated like a beast;
Over ten odd years his belief had become perpetuation,
Thus had not been shaken by the adverse situation.

I have lamented seeing our homeland distressed,
Each place-name a majestic feat – They are so blessed.
Thru many generations our ancestors’ proud display
Now remains, alas! if not decline, mere decay!

I have bewailed all my adrift life – For them, for you,
I have cried for my compatriots and for myself too.
Deaths and grief aim at our people’s heart to rend,
In this poor plight I might continue to cry without end.

Translation by ,Thanh Thanh

Giữ Giùm Tôi Tuổi Thơ -Thơ Võ Thị Trúc Giang Lúa 9 - Phổ Nhạc:Hoàng Hoa

Bến phà Rạch Miễu (Ferry) Bến Tre,Jan 1969

Nhân dịp tưởng niệm 51 năm Biến cố 30 tháng 4 năm 1975, Lúa 9 xin đóng góp vài lời.

...Có lần về thăm quê hương, cô bạn thân than vản:
-Cái số tao vất vả, mầy thì sướng thấy mồ, được ra ngoại quốc, vật chất đầy đủ…

Ra-xứ-người-có-được-vật-chất-đầy-đủ? Khi vật chất đầy đủ có phải “đủ?” Mình có thấy “thiếu” gì không? Có! Tình thấy sung sướng, nhất là thoải mái về tinh thần không bị kiềm kẹp, không bị bắt viết khai lý lịch, bị kiểm thảo, nhưng ngược lại nàng “thiếu” tình quê hương, thiếu tình gia đình, thiếu bạn bè, ôm nỗi nhớ nhà , nhớ quê hương, nhớ cha mẹ, nhớ bạn bè triền miên, bỏ nước ra đi tức là cuộc đổi chác lớn. Như một đứa con bị tách rời xa cha mẹ thành những đứa con mồ côi, vất vả nơi xứ người, gửi tiền về giúp gia đình như mọi người tỵ nạn khác.

Anh lính Thủy Quân Lục Chiến trẻ oai hùng năm xưa cầm súng giữ quê hương, ngày nay làm người thua cuộc, như trăm ngàn người chiến sĩ của quân lực VNCH có lẽ trải qua trại học tập cãi tạo, nay anh rã rời kiếm sống lây lất bên lề cuộc đời, bán vé số hoặc đạp xe xích lô, nhưng với Tình, anh vẫn là một mối tình đẹp trong sáng ngây thơ tuổi nhỏ. Văng vẳng đâu đây câu hát của Trần Thiện Thanh “Đời không như là mơ, nên người đời thường giết chết mộng mơ”.

Một văn hào người Đức Nitsch đã nói “Denken Sie daran, zu vergessen!” Hãy nhớ là quên đi. Quên đi tức là buông bỏ đi những phiền muộn, nhưng mỗi lần về thăm quê hương và mỗi lần lại ra đi, Tình thấy như mình mất dần một phần đời còn lại của mình, tuổi đời càng thu ngắn lại. Niềm đau phải bỏ nước ra đi Lưu Vong, là đánh đổi tất cả. Bước lên con phà Rạch Miễu theo làn sóng người, phà chầm chậm rời Bến Tre sang Mỹ Tho, làn gió mát rượi từ mé sông lùa vào tóc, chợt ký ức hiện về mỗi lần sang sông đi học sư phạm, nhớ ơi là nhớ cô bạn có nốt ruồi dễ thương tên Phương, nàng không biết là chúng nó có nhớ là hãy-nhớ-là-quên-đi, hay là những kỹ niệm nằm hoài trong ký ức tuổi học trò, không bao giờ quên được nếu trái tim còn thở, còn nhớ về quê hương thân yêu.
Kỷ niệm 51 năm kể từ Biến cố 30 Tháng 4 năm 1975, hồi tưởng lại kỷ niệm xưa, chúng mình hãy buông bỏ đi những muộn phiền nhé An Tịnh, nhé Trinh, nhé Huỳnh, Bích, Phương, Quang, Ánh…

Quên đây tức là buông bỏ cho tâm hồn mình thanh thản, chứ tao biết những kỷ niệm thời tuổi thơ là báu vật, không bao giờ quên. Hãy ôm lấy nó để tìm chút ấm áp cho tâm hồn mỗi khi cảm thấy cô đơn như tao đêm nay tại Âu châu.
Còn phe thắng cuộc, họ có nợ chúng ta một lời xin lỗi không? Tình mang ý tưởng đó đi vào cuộc đời, như một lời trách cứ. Chờ đợi.

Võ Thị Trúc Giang Lúa 9

**Trích truyện „Cho Tao Một Lời Xin Lỗi“

Mời thưởng thức bài hát Giữ Giùm Tôi Tuổi Thơ“ Thơ Võ Thị Trúc Giang Lúa 9 -Nhạc: Hoàng Hoa