Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2026

Chiều Xuân - Thơ: Tưởng Dung; Nhạc & Ca Sĩ: SUNO AI

Thơ: Tưởng Dung
Nhạc & Ca Sĩ: SUNO AI

Mùa Xuân Yến Lạc

 

Mùa xuân là mùa sum vầy
sao chim ngơ ngác lạc bầy kêu hoang.
Ngoài song hiên nắng rực vàng
nỡ quên viếng mảnh sân tàn mù tăm.
Thờ ơ lướt qua chỗ nằm
tay không dài đủ níu trăm năm về.
Đành thôi gác lại nguyện thề.
Chân sa một bước. Tứ bề sương giăng.
Mùa xuân. Áo mới. Tình nhân.
Khúc ca gợi nhớ. Trễ tràng dấu yêu.
Soi gương gom nhặt tịch liêu
gởi người trùng dặm dáng kiều vọng phu.
Mùa xuân. Khát vọng lãng du
mồ côi cánh én thiên cư một mình.

Thanh Hà

Chúc Mừng Hạnh Phúc

 

Thơ & Trình Bày: Minh Lương


Lì Xì Anh Nè!

 

(Tặng những người mới yêu nhau lần đầu)

Chắc răng, thơm kẹo cao su
Thảo nào chàng tỏ… trơn tru chữ Tình
Tết rồi! Chẳng lẽ lặng thinh?
Nỗi chàng say đắm, nỗi mình đắm say
Ừ thì cho phép… nắm tay
Ban thêm dễ dãi, từ nay… hẹn hò!

Á Nghi
28.12.2016

Phản Diện Tình Yêu

 

Ngày xưa yêu quá là yêu
Chỉ nghe giọng nói đã xiêu lòng người
Còn thêm ánh mắt nụ cười
Ngất ngây say đắm một trời thương yêu
Một ngày không gặp buồn hiu
Nguyện thề sống chết nếu yêu không thành
Bên nhau xây đắp mộng lành
Mơ ngày hôn lễ chính danh vợ chồng
Cho nhau ân ái mặn nồng
Bỏ khi thương nhớ ngày mong tháng chờ
Để rồi khi tọai ước mơ
Mới hay thực tế chẳng thơ mộng gì
Sau thời trăng mật mấy khi
Chòang vai âu yếm thầm thì tiếng yêu
Bây giờ vất vả đủ điều
Lại thêm tật xấu khó chìu như xưa
Đôi lúc còn thấy khó ưa
Chanh chua gắt gỏng, người xưa đâu rồi
Bây giờ đành chịu đựng thôi
Bao nhiêu chân tướng lần hồi hiện ra
Thì đây là lúc ngộ ra
Yêu nhau chung sống mới là hiên ngang
Giờ đây biết đá biết vàng
Hôn nhân không chỉ nói càng yêu suông
Hy sinh, thông cảm, nhịn nhường
Mới là nền tảng lót đường trăm năm

Người Phương Nam

Buông - Tập Buông!

  


Xướng:

Buông


Chong đèn viết lại chữ Buông
Thời gian thấm thoát nỏ luôn đợi người
Xa rồi cái thủa hai mươi
Buông điều ảo vọng…nên lười phấn son
Hờn ghen dạ quá mỏi mòn
Dường như dĩ vãng lon ton ngược về
Buông gìn chuyện cũ lê thê
Tâm đà bất ổn nặng nề xiết bao!
Thầm Buông phiền não chênh chao
Cho dù thế giới muôn màu cũng lơi!
Xả Buông mọi thứ trên đời
Bao mùa xuân trải quý rồi, tìm chi?
Thân Buông sẽ nhẹ nhàng đi
Tâm Buông chợt hiểu lối về chẳng xa
Trí Buông giúp mộng tỉnh ra
Giận Buông ngọn lửa khó mà khởi lên
Sầu Buông gửi lại sau rèm
Ngờ Buông xóa sạch hiểu lầm nặng lo
Danh Buông dạt sóng xô bồ
Lòng Buông đố kỵ hững hờ đôi bên
Đêm Buông tĩnh lặng tham thiền
Ý Buông tỏa sáng hạnh hiền mai sau
Thời gian tựa thể bóng câu
Tham, sân, si hận... vết sâu hẳn mờ?

                ***
Thâm tình gửi ít dòng thơ
Dương trần cõi tạm thấy bờ... nhớ Buông!

Như Thu
02/21/2026
***
Cảm Tác:

Tập Buông!


Cuộc đời đến lúc Tập Buông
Kẻo không phiền lụy mãi luôn níu người
Không như cái thuở đôi mươi
Nét xuân còn đượm dù lười điểm son
Giờ đây sức lực héo mòn
Càng níu cái khổ ton ton ập về
Buông bỏ tâm sẽ thỏa thê
Thương yêu nhân loại chẳng nề là bao
Dầu cho trí não nghiêng chao
Muôn hình vạn trạng tâm màu chẳng lơi
Dấn thân làm đẹp cho đời
Dặm trường sóng gió đã rồi ngại chi
Buông sân si hận dần đi
Bước đường sỏi đá ngại gì gần xa
Thiện hành mở lối tìm ra
Tiếng chuông thức tĩnh... thế mà vang lên
Hương xuân lan tỏa qua rèm
Buông theo gió quyện êm đềm nhẹ lo
Ta là hạt cát bụi tro
Thiên đường rộng mở dành cho người hiền
Tập Buông lắng đọng tâm thiền
Lễ Nghĩa Trí Tín lưu truyền đời sau
Cuộc đời thoáng chốc vó câu
Nét son Nhân Đức khắc sâu khó mờ!

               ***
Đồng cảm xin gửi tâm thơ
Úc Châu, Mỹ Quốc đôi bờ… đừng Buông!

Kim Oanh
25.2.2026

Tháng Giêng Và Những Muộn Phiền

 

Rồi tết qua đi, sầu ở lại
Quê nhà xa huốt một đường bay
Rượu xuân ai ướp mùi quan ải
Mà thấm xa thêm những dặm dài!

Bốn câu hai mươi tám chữ, cụt ngủn. Lỡ có muốn thêm cũng chẳng biết thêm gì. Mà có thiếu gì không, mấy câu gọi là thơ, buổi chiều mùng-ba năm đầu tiên ăn-tết ở xứ người.

Một năm trước đó, ngay bữa ba-mươi-tết, tôi bồng đứa con gái đầu lòng lên năm, đeo xe đò từ một tỉnh ở phía cực tây, về thăm cha mẹ ở một làng quê giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu. Luôn thể để báo tin một chuyến đi xa. Xa lắm, không biết có tới nơi tới chốn. Mà cũng chẳng biết ... rồi sẽ có một ngày về.

Gia đình đông con, bốn trai năm gái. Nhưng lần ấy, ba anh em trai còn đâu đó trong các trại tù heo hút mấy miệt rừng núi Lào Kai, Yên Bái ... Mấy chị em gái cũng bận đi nuôi chồng trong các trại lán lẩn lút giữa một miền Nam thân quen bỗng sớm chiều trở thành lạ lẫm.
Chỉ còn tôi và đứa cháu gái ngu ngơ hớn hở vì được về thăm nội dù từ khi lọt lòng chưa một lần được nội ẳm bồng.

Đêm ba mươi. Ba tôi thắp ngọn đèn dầu leo lét trên bàn thờ tổ tiên cho tôi lạy từ biệt đất nước ông bà. Ngôi nhà gạch xinh xắn có giàn bông giấy tím ở tỉnh bị cướp trên tay, đổi thành căn nhà lá vách tre đứng chênh vênh trên doi đất vói ra vàm kinh Bình Phụng. Đêm cuối năm, trăng sao trốn biệt. Đêm trừ tịch, gió rền rĩ lẫy hờn. Đêm sinh ly, sóng vổ bờ như vổ vào chính lòng tôi, từng điệu oán.

Lễ xong, tôi xoay qua, mếu máo quỳ lạy sống ba má tôi, lần đầu mà nghĩ là lần cuối. Con gái thấy lạ cười ngặt nghẽo trên tay bà nội.
Sáng hôm sau, bồng con quày trở lại nơi mai mốt sẽ khởi đầu cho chuyến đi vô định.
Mùng chín tết năm đó, tôi rời Việt Nam.

Một năm sau, tôi ăn tết ở một nơi không có bàn thờ ông bà, không cha không mẹ, không anh chị em, không hoa mai cũng chẳng mứt gừng mứt bí... Chung quanh tôi, tuyết trắng, trắng đến mênh mông như một cõi lòng đã lạnh. Trái đất quay, quay theo chiều quay nghiệt ngã. Xuân ở quê nhà, quê người đã quá nửa chừng đông.

Giữa đêm, trời đổ tuyết. Từng nhúm tuyết mịn bân mà nhẹ hửng như bông gòn thổi bay xối xả, nhuộm trắng cả đêm đen. Gió réo, tuyết loay hoay xoay chiều, lắm khi luống cuống như lạc nẻo, quẩy đập vào nhau vật vã như tiếng kêu khổ của mùa. Đêm gượng sáng mà có ngó ra thử tìm hướng cố hương cũng chỉ thấy mù thêm hai con mắt vốn đã thất lạc, từ khi. Nhìn tuyết trắng trời mà cảm thán tới muốn sửa thơ Nguyễn Bính tiếc Huyền Trân. Giờ đây chín vạn bông trời nở / Riêng có lòng ta khép lại thôi. Ông ta tả hoa lá mùa xuân rực rỡ ở đâu không biết. Chớ ở đây, cõi tôi gá thân chỉ có trắng một trời bông tuyết nở ! Lòng người xa xứ, có khép lại, cũng đành.
................................
............................

Vậy mà rồi hơn bốn mươi năm. Bốn mươi năm biệt xứ, không về lại một lần. Tang cha, tang mẹ, trắng xé lòng, mỗi lượt. Ở xa, tôi không đi chùa đi miểu. Mỗi lượt, tôi, mình tôi, chẳng đạo chúa, trốn vô ngôi nhà thờ nhỏ ở góc phố vắng. Trưa im im, lặng ngắt, đèn thờ không sáng nổi mặt tượng. Không gian nhốt kín, cả đến gió thu cũng bị chận lại bên ngoài. Mình tôi, riêng lẻ mình tôi, thu mình trong một góc khuất, nhìn cái trống không giữa những vòm cong thánh đường. Tôi ngồi ở đó, bất động. Rồi thấy lại tôi chín mười tuổi chạy nhảy thênh thang giữa tấm lòng trải rộng đến mênh mông của cha mẹ. Thấy lại tôi trưởng thành vẫn y nguyên một nỗi cưu mang như khi còn đòi bồng ẵm. Thấy lại tôi với lời tự hứa báo hiếu ngày mới ra trường. Thấy lại tôi bỏ cha bỏ mẹ ngay đúng lúc tuổi già xế bóng ... Thấy lại tôi với tội nghiệt tôi ...
Tôi ngồi ở đó, khóc, lặng lẽ mãi đến khi chiều xuống.
Rồi ra về với huyệt mộ chôn kín trong lòng.
Hôm sau, đã ba chân bốn cẳng chạy theo miếng ăn, giữa xứ người rộn rã mà quạnh quẽ tiếng hỏi câu chào.

Mươi năm sau, nghe người về, rủ rê. Sao lòng tôi lạnh tanh. Tôi không yêu quê tôi sao. Không ! Tôi yêu quê tôi lắm chớ. Ở đó còn mồ mã ông bà dù đã lạn. Còn bao nhiêu mồ mã vô danh khác dù đã tan thành cát bụi để tựu hình mảnh đất hình chữ S nằm nghênh ngang một cõi bờ Đông Hải, gần suốt hai mươi thế kỷ. Còn riêng trong một góc nhỏ, hai nấm mộ lạnh tanh. Nơi đó, tôi đã lớn lên, ngoài sự chăm lo đùm bọc của mẹ cha, còn nguyên cả một chiếc nôi đồ sộ mà tổ tiên tôi ... đã chụm tay kết thành bằng mồ hôi, máu, nước mắt và cả một tinh thần nhân bản tuyệt vời. Quê hương tôi đã nuôi tôi lớn lên bằng cơm gạo, cá mắm, thịt thà ... kết tụ từ đất đai sông nước mà người trước tôi đã gầy dựng, giữ gìn. Quê hương tôi đã dạy tôi sự nhẫn nại cùng cực của một dân tộc đã bị đày đọa gần suốt hai ngàn năm dưới sự thống trị của đám giặc phương bắc mà vẫn còn nguyên lành bản chất như nhánh tre già, qua bao nhiêu bão dữ vẫn dẻo dai vươn mình. Quê hương tôi đã cho tôi cả một kho ca dao mà từng câu lục bát ngọt ngào đến độ mẹ ru con thành tiếng ầu ơ. Quê hương tôi đã cho tôi nghìn trùng lời hay ý đẹp trong mỗi câu mỗi chữ mà ngôn từ cấu tứ đẹp như gấm như hoa, của ba ngàn hai trăm năm mươi bốn câu lục bát kể chuyện đoạn trường Thúy Kiều, ba trăm năm mươi sáu câu song thất lục bát than thở nỗi buồn Cung Oán, bốn trăm lẻ tám câu kể lể nỗi chờ mong Chinh Phụ ... Những bài hát nói mà âm tiết nghe reo vui như tiếng cười khúc khích khi đời chưa dâu bể. Những câu thơ 7 chữ 8 chữ ... của những người làm Thơ Mới mà chữ nghĩa được nhã luyện đến thành văn vẻ, được chuốc lọc để trở nên óng ánh như trăng sao ... Quê hương tôi đã dạy tôi ăn ở lễ nghĩa trong gia đình, ân cần ngoài xả hội như chính tấm lòng của kẻ sĩ Nguyễn Trải, ngay khi ở phương tây người ta còn thiêu sống nhau vì ba cái trò ngụy tín. Còn bao nhiêu nữa làm sao kể hết. Làm sao tôi quên. Làm sao tôi không nhớ.

Vậy rồi tới khi bỏ xứ mà đi, coi như phủi sạch nợ nần. Làm sao lòng không lấn cấn.
Xứ người, lạ từng cọng cỏ ngọn cây. Lạ tới tiếng hỏi câu chào. Lắm khi buồn ngẩn buồn ngơ. Dẫu có an thân sao vẫn cứ thấy mình tạm bợ.

Mà biểu về, chẳng lẻ lại cúi gập mặt mà về để khỏi nhìn thấy những thay đổi não lòng. Ở đó, những thằng trọc phú quyền thế ! Ở đó những người nghèo mạt hạng không chút đỡ đần ! Và cả một tinh thần nhân nghĩa từ ngàn đời bị dày đạp chẳng làm xao xuyến được một cái nhíu mày !
..........................
..............................
Rồi tết qua đi, sầu ở lại!

... Lại thêm một cái tết quê người. Mươi năm đầu, còn nguyên một hy vọng, kềm lòng giữ chí như ngày ra đi. Vẫn mơ một ngày về lại cố hương, thắp nén nhang, quỳ xin tội với vong linh người khuất mặt. Rồi dấn mình vào cuộc trùng hưng. Nhưng rồi, từng năm qua, từng cơn mơ bị giựt dậy phũ phàng ...

Tôi đã làm gì đời tôi. Ngoài miếng ăn, từng bữa ... Và quê hương vẫn rền rĩ giọng hờn !
Vậy rồi bốn mươi năm đã qua. Qua ngọt xớt như mới hôm qua hôm kia.
Thời gian lẳng lặng thoát đi như sao xẹt.
Tôi còn ở đây, bên này biển lớn, giữa bãi bờ trắng toát ...

Mấy ngày qua, chiếc độc bình cũ được cắm thêm nhánh mai giả, phủi hoài mà bụi vẫn thâm đen. Săm soi rồi thấy mũi lòng. Hoa giả vô tình mà cũng tàn tạ. Nói gì tới người ...
Năm này sang năm khác, thói thường rồi phải quen. Quen với sự dư thừa cũng như sự thiếu thốn.

Bốn mươi năm rồi. Đủ để quen bao nhiêu thứ lạ mà sao vẫn không quen với cái thói lãng quên. Quen với ngọn thông xanh sừng sững sao không quen với cái trống trải vì vắng bóng bụi tre già. Đã nhẳn mặ̣t với đường lộ phẳng phiu sao còn thắt thỏm hoài lối về làng trầy trật, ngang qua bến nước với chiếc cầu tre lắt lẻo .......................
.........................
Bốn mươi năm rồi, sao còn lấn cấn với ba cái chuyện phải quên. Làm như quá khứ giành giựt hoài với hiện tại, bốn mươi năm rồi vẫn không chịu buông tay ! Cái thói quen hay tục lệ mà mỗi năm tết đến là ai nấy dù bôn ba đâu đó cũng lo thu xếp về quê, mừng tuổi mẹ cha, vung đắp mồ mã, cúng vái ông bà ... làm như nhiểm trong máu huyết hay sao. Vậy mà rồi, bỗng dưng, bít hết mọi đường về !

Bốn mươi cái tết xa quê. Lẽ ra đâu còn lạ cái lạnh cóng người của mùa xuân vọng tưởng. Lẽ ra mọi ấm ức phải dìm sâu, chôn kín dưới mấy tầng huyệt thời gian. Vậy mà cứ mỗi lần nghe nhắc tết, lòng sao lại băng hăng bó hó như lỡ thiếu sót một điều gì. Chút lễ vật, trái cây, nhang đèn ... đã có đó, tàm tạm. Làm sao đòi hỏi hơn nữa, chỗ đất trời lạ lẫm.

Mà dẫu có thiếu rồi cũng có làm sao. Kiểu ăn nhờ ở đậu. Được chừng một hai bữa. Rồi tết nhứt cũng qua. Ai nấy trở lại với nhịp sống mới đã thành nếp. Sao riêng mình, cứ mãi chút băn khoăn ...

Tết tha hương rồi thoáng qua như bóng mây váng vất ...
Còn lại không là chút khói hương lẫn lẫn trong gian nhà kín cửa. Chút khói hương quến lại như chút quà tết ai đó bỏ quên. Khổ nỗi, của bỏ quên mà sao gợi đầy mùi nhớ. Những thề nguyền!

Có phải vẫn mãi là nỗi ân hận của một kẻ trốn chạy, bỏ cuộc ... giữa chừng!
Có phải vẫn mãi là nỗi chua cay của một kẻ bị giựt dậy giữa cơn trường mộng!
Có phải vẫn mãi là sự hổ thẹn của một kẻ đã thất hứa dẫu thệ nguyền chưa bao giờ được khắc đá đề tên!

Trong giờ khắc linh thiêng của một năm, sao lại nhớ, nhớ như mới hôm qua hôm kia, nhớ như từng chữ từng lời đã đục đẽo vào tim ...

Tết qua rồi, nhang đèn đã lạnh. Sao lời thư năm nào, tháng nào, ngày nào đó ... vẫn lắt lay trong trí nảo đã gần như mòn nhẵn
“ Ở xa, con ăn tết ra sao? Tết nhứt ba không chờ quà cáp. Ba chờ tụi con gởi về tin vui chung cho hết thảy mọi người ’’

Mấy dòng chữ mực xanh, nét sắc như dao khắc ... vẫn còn như từng mũi nhọn.
Vậy đó tưởng quên mà vẫn nhớ. Mười năm một giấc mộng không thành. Người chờ cho hết đời cô quạnh. Ta đứng bên trời, lệ chảy nhanh.

Rồi tết qua đi, sầu ở lại !

Cao Vị Khanh

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

Mưa Tháng Chạp - Thơ Hà Huyền Chi - Nhạc Phạm Anh Dũng - Suno Hòa Âm Và Hát

Thơ Hà Huyền Chi
Nhạc Phạm Anh Dũng
Hòa Âm Và Hát: Suno 

Chợ Chay Tết Ngọ

( Ảnh: Tác Giả gửi)

(Tặng hiền nội Quản Bạch Tuyết)

Trong mắt của tui, Bà vẫn son
Dù thời tươi trẻ đã không còn.
Tâm tư thuở trước đầy linh hoạt
Vóc dáng ngày nay chút héo hon.
Lúc đó thân thương tình tựa núi
Giờ đây gắn bó nghĩa như non.
Chợ chay Tết Ngọ mình tham dự
Dìu dắt du Xuân, dẫu gối mòn.


Duy Anh
Tết Bính Ngọ 2026

Xuân Này(Huế 1958)

 
 
Xuân này bận học, con không về,
Con biết mẹ buồn lắm
Căn nhà xưa chìm trong ảm đạm,
Ngẩn ngơ sầu, trăng gió lặng yên.

Cây mai vàng trước ngõ dòm nghiêng,
Nhớ con thuở ấy, thường xuyên thăm chừng.
Bướm ong lờ lững trước sân,
Trách con sao tệ! bụi cúc hồng héo queo!

Cảnh nhà sao quá buồn teo,
Nhớ con, mẹ thớ thẩn quạnh hiu ra vào!
Bước đi chân thấp chân cao,
Đồ mới chẳng sắm,tóc hoa râm thêm nhiều.

Không bánh chưng,trà mức đơn sơ,
Lòng thành cầu nguyện đất trời chứng minh.
Lời mẹ cầu, giao cảm thần linh
Ôi thương mẹ quá, hằng đêm nghẹn ngào!

Dù xa quê, con vẫn tưởng ở nhà,
Trái tim của mẹ ngọc ngà bên con.
Quyết tâm học tập để mẹ vui lòng,
Hẹn mùa xuân đến, mẹ con rỡ ràng!

Tô Đình Đài

Lỡ Bước Xuân Sang


Mùa xuân non tơ
Em rưc rỡ
Má đỏ môi hồng tươi nhuận sắc
Người về
Trong mắt trong
Vui vô tận dã hoa ngoài đồng
Dấu giày lưu lãng
Tết vòng cỏ dại đội cả mùa xuân
Lòng bâng khuâng câu thơ viết dở
Xưa nay có trọn vẹn bao giờ

Đêm thành đô mờ nhạt ánh đèn vàng
Cuộc vui tiếng hát chưa tan
Quán rượu đêm xuân cuồng nhiệt
Mặc bao khác biệt chẻ chia
Dù mê trong cuộc chơi này
Đâu dễ lãng quên đồng nội
Tháng ngày mang mang thương nhớ
Người đi lỡ bước xuân sang

Lãng Thanh
Ất Lăng thành, 0226

Thiền Xuân

 
 
Mây soi gương nước hồ sen
Hoa nhìn ngộ nghĩnh biết khen thế nào?
Hoa mây hòa sắc ngọt ngào
Bức tranh êm ả, thơ vào góp công?

Tại em vấn chiếc khăn hồng
Thổi thêm sức sống bềnh bồng hồn thơ
Rì rào, tre cũng nghi ngờ
Có người tơ tưởng dây Tơ Hồng kìa.

Nhẹ nhàng mềm mại thế kia
Áo dài em động, lụa chia hai tà
Tóc đùa theo nhịp thướt tha
Vuông thành, sắc cạnh Người Ta ngồi đồng.

Mắt thiền, trầu chẳng, cau không
Mà sao sống động cả Mồng Hai xuân?
Dịu dàng khoe nắng vàng sân
Mai thua sắc áo, vờn gần mắt anh.

Chuông chùa chẳng vọng nhịp nhanh
Tim anh sao lạ, nó giành giật chi?
Mây ơi! Đứng mãi đừng đi
Xin em cũng thế! Mình thi nhau… thiền!

Á Nghi, 
29.12.2018

Bóng Nguyệt - Trăng, Nước, Lụa Và Em

 

Xướng:

Bóng Nguyệt


Bóng nguyệt lênh đênh lạc cuối dòng,
Giai nhân tựa cửa tóc mây hong,
Liễu mơ màng đợi cơn sầu mộng,
Sương thẹn thùng say giấc nhớ mong.
Thềm cũ phai tàn cùng tuế nguyệt,
Lối xưa lạnh lẽo với đông phong,
Dấu hài ai vẽ canh hồ lắng,
Tấc nến hư hao giá buốt lòng.

Virginia, Jan 27/2023.
Dương Vân Châu Trúc Ca
***
Họa:

Trăng, Nước, Lụa Và Em


Chênh chếch trăng soi, nước một dòng.
Ai đem dải yếm lụa đào hong.
Giữa đêm lạc bước chìm cơn mộng
Hừng sáng lầm đường lỡ nỗi mong.
Em bóng liêu trai hay bóng nguyệt.
Ta hồn lãng tử dậy cuồng phong
Vút cao rồi bỗng nhiên chìm lắng
Lụa đó, em đâu, chết lịm lòng!

Mùi Quý Bồng
(02/05/2023)

 

Thuở Học Trò


Hình như từ nhỏ đến lớn tôi chẳng tự quyết định được việc gì quan trọng. Chuyện thi vào đệ thất cũng thế. Sau khi đỗ tiểu học qua kỳ thi với đầy đủ cả phần viết và vấn đáp tại Trường Tiểu Học Chí Hoà Quận 3 Sài Gòn, bố tôi quyết định cho tôi thi vào Trường Trung Học Nguyễn Trãi. Đi thi về là phải trình lại tất cả giấy nháp cho bố xem. Xem xong bố tôi phán: “Rất hy vọng là đỗ được!”
Kết quả là tôi được xếp vào lớp đệ thất B1 niên khoá 1955-1956.

Đường Đến Trường

Bây giờ nghĩ lại thấy ông cụ quyết định cho tôi học trường Nguyễn Trãi là đúng vì nhà ở Chí Hòa chỉ phải đi xe buýt một chuyến thẳng từ chợ Chí Hoà đến chợ Bến Thành rồi đi bộ một khúc từ bùng binh Sài Gòn đến rạp cinê Đại Nam là tới trường ngay. Trường Nguyễn Trãi hồi đó học nhờ trường tiểu học Trương Minh Ký, một mặt giáp với rạp Đại Nam, ba mặt kia nhìn ra ba đường: Trần Hưng Đạo, Nguyễn Thái Học và Hồ Văn Ngà.
Lớp tôi nằm ở góc của trường có cửa sổ nhìn ra đường Hồ Văn Ngà cây cao bóng mát.

Đoạn đường đi bộ từ bến xe buýt đến trường có nhiều điều thú vị. Hôm nào xe đến sớm thì có thể ghé vào một hiệu sách bên kia đường, đối diện bến xe buýt để ngắm các bìa sách thật đẹp. Đi một quãng là đến tiệm bán máy may Sinco. Qua khỏi hiệu Sinco là một loạt các cửa hàng, trong đó có tiệm kem Phi Điệp mà dân học sinh, sinh viên Sài Gòn không ai là không biết. Ngoài ra lại có tiệm hớt tóc Hoa Sinh mà mỗi người khách đến đều được tặng một bản nhạc của các nhà xuất bản như Tinh Hoa, An Phú…

Đến đầu đường Ký Con có một xe nước mía. Rất hiếm khi tôi ăn uống ngoài đường, nhưng có một hôm trời nóng quá, trong túi lại rủng rỉnh ít tiền lẻ nên tôi ghé vào uống một ly. Tuy khát nhưng vừa hớp được một ngụm thì bị khựng lại vì nước mía nhạt nhẽo và có vị lạ. Về sau hỏi ra mới biết rằng xe nước mía ấy của một người Ấn Độ và ông ta luôn luôn pha càri vào nước mía! Đó là lần duy nhất trong đời tôi được thưởng thức nước mía hương vị càri.

Đi một chút nữa là đến vũ trường Văn Cảnh. Chắc là tôi chỉ đi qua đó vào buổi trưa nên chẳng khi nào nghe thấy tiếng nhạc vọng ra. Qua khỏi Văn Cảnh là rạp chiếu bóng Đại Nam. Đi bộ đến đây thì thường là đã hơi mỏi chân rồi nên tôi hay tạt vào rạp Đại Nam để vừa nghỉ chân, vừa tà tà xem các hình ảnh của phim chiếu trong ngày và các kỳ tới. Vì ghé rạp thường xuyên nên tôi thuộc vanh vách tên các tài tử nổi tiếng và sưu tập được cả một tập dày cộm các tờ chương trình chiếu phim của rạp Đại Nam.

Hôm nào xe buýt đến sớm thì thay vì đi thẳng đường Trần Hưng Đạo đến trường, tôi rẽ trái ở vũ trường Văn Cảnh rồi rẽ phải vào đường Hồ Văn Ngà rợp bóng mát. Đặc biệt tại đây có mấy hiệu bán đàn và dụng cụ âm nhạc. Cứ nhìn các cây đàn tuyệt đẹp và nhìn các bản nhạc qua tủ kính là đủ thấy “đã” rồi.

Trước cổng trường Nguyễn Trãi mở ra đường Nguyễn Thái Học là một bãi đất trống. Học sinh Nguyễn Trãi thường tụ tập ở đây, chờ các lớp học sinh tiểu học ra hết mới đến lượt mình vào học. Tại đây có nhiều hàng quà. Từ kem đến bò khô, bò bía, ổi giầm, bánh cuốn, bánh ngọt… Thôi thì đủ thứ, trông ngon lắm! Tuy vậy tôi chưa thưởng thức món nào tại đây vì nhớ lời mẹ dặn rằng mình đã là học sinh trung học rồi, phải đứng đắn, không nên ăn uống linh tinh ngoài đường như các học sinh tiểu học nữa!

Ngu Ngơ Đệ Thất

Trường Nguyễn Trãi trong thời gian còn học nhờ trường khác vẫn có những sinh hoạt văn nghệ đầy hứng thú. Hồi học tiểu học ở trường làng, tôi nào có bao giờ được xem văn nghệ trong trường. Đến khi vào Nguyễn Trãi thì thỉnh thoảng được xem trình diễn ngay trong trường nên thích thú lắm. Những điệu vũ như Trấn Thủ Lưu Đồn gây ấn tượng tốt đẹp trong tôi mãi đến bây giờ.

Có lần trường tổ chức văn nghệ tại rạp Thanh Bình. Lớp tôi cũng họp hành phân chia công việc. Tôi chỉ ngồi im. Cuối giờ anh trưởng lớp chỉ tôi nói: “Tuấn chưa xung phong làm gì hả? Thôi vào ban khánh tiết đi. Ngày mai họp riêng ban khánh tiết.” Tôi gật đầu dù lúc ấy chẳng biết khánh tiết nghĩa là gì. Hôm họp ban khánh tiết tôi đến thật sớm và ngồi ở cuối lớp. Một lúc sau thì có nhiều người vào. Tôi chẳng thấy ai quen. Các anh bàn đủ thứ việc. Một lúc sau anh trưởng ban hướng về phía tôi nói: “Em, nếu em không có việc ở đây thì có thể về.” Tôi ngượng quá. Mình cũng đi họp mà, sao lại vậy! Tuy nhiên thấy ngồi đã chán lại thấy họp hành chẳng có gì hứng thú nên tôi ngượng ngùng, tẽn tò ra cửa đi về. Từ đấy về sau tôi rất ghét chuyện họp hành và luôn tránh né trừ những trường hợp bắt buộc.

Hồi bắt đầu học đệ thất tôi mới 10 tuổi nên còn ngố lắm. Tôi biết có bốn lớp đệ thất nhưng không hề biết rằng trong đó có một lớp nữ. Khi qua đến xứ Mỹ này, khi bị một anh bạn hỏi đùa rằng hồi đó có quen cô nào học cùng thời ở Nguyễn Trãi không. Tôi gân cổ cãi rằng Nguyễn Trãi làm gì có nữ sinh! Mãi đến khi sinh hoạt trong forum của Nguyễn Trãi và trực tiếp email với một chị học cùng thời, tôi mới tin rằng hồi đó Nguyễn Trãi có lớp nữ sinh thật. Tôi gọi điện thoại đến xin lỗi anh bạn. Anh ấy cười hì hì nói rằng: “Đúng là thằng… ngô sắc!”

Tôi thích xem ciné từ lúc còn rất nhỏ nhưng chỉ được xem ở những rạp rẻ tiền, vào rạp là nóng toát mồ hôi vì không có máy lạnh. Ấy là chưa kể nhiều khi còn bị rệp đốt. Chẳng khi nào tôi được xem ở những rạp lớn như Đại Nam mà khi mới vào đến cửa rạp nơi treo các hình tài tử là đã thấy mát mẻ, thoải mái rồi. Một hôm ông anh lớn rất chịu chơi của một bạn tôi hỏi: “Thích xem ciné Đại Nam không? Muốn thì đi với tao!” Tôi đồng ý liền. Khi đến rạp anh ấy dúi vào tay tôi ít tiền lẻ và dặn: “Cứ làm theo tao” .Tôi đứng sớ rớ ở chỗ treo mấy ảnh tài tử và theo dõi anh ấy để bắt chước. Tôi thấy anh ấy thản nhiên đi vào cửa và đưa tay như chìa vé cho người soát vé nhưng thực ra là dúi tiền vào tay người ấy. Một lúc sau tôi làm theo như vậy nhưng khi vừa chui khỏi tấm màn dày ở cuối rạp thì ai đó nắm chặt vai tôi hỏi: “Tiền đâu?” Tôi sợ quá, phản xạ sinh tồn tự nhiên là lẩn ngay vào đám đông. Cũng may là hôm ấy rạp đông quá, số người đứng rất nhiều nên tôi ... an toàn. Tuy nhiên tim tôi đập dữ dội như muốn vỡ tung lồng ngực. Sau lần đi coi cọp hay gần như coi cọp này, tôi rút ra được một bài học quý giá: Không nên làm điều gì ám muội vì nội cái sợ là đủ đứng tim mà chết rồi. Vì thế tôi rất phục những người làm nghề tình báo. Chắc là họ phải có gene đặc biệt, nên mới có can đảm làm những chuyện táo bạo, dễ bị hồi hộp, đứng tim.

“Cúp Cua”

Học xong năm đệ thất thì trường Nguyễn Trãi chuyển sang học nhờ trường tiểu học Lê Văn Duyệt ở đường Phan Đình Phùng khúc giữa Mạc Đĩnh Chi và Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao. Vì vị trí mới của trường không thuận tiện cho việc đi học bằng xe buýt nên tôi được bố mẹ mua cho chiếc xe đạp cũ. Từ nhà đến trường chỉ việc đạp thẳng từ chợ Chí Hoà trên đường Lê Văn Duyệt đến đường Phan Đình Phùng thì rẽ trái, rồi cứ thế đi tiếp là đến trường. Trên đường Lê Văn Duyệt trời nắng chói chang nhưng khi vào đường Phan Đình Phùng rồi thì không khí như dịu lại vì vòm cây cao hai bên đường. Sau khi đi, về nhiều lần và quen đường, tôi bắt đầu rẽ vào các đường khác như Tú Xương, Lê Quí Đôn, Phan Thanh Giản v.v… cuối cùng mới ra Phan Đình Phùng để đến trường.

Có lần tôi đang đi thì xe bị tuột xích. Bình thường chỉ cần xuống xe rồi quay nhẹ bàn đạp đồng thời gắn xích vào líp là lại đi tiếp được ngay. Không hiểu sao hôm ấy xích bị tuột mà không cách nào lắp vào lại được. Tay tôi dính đầy nhớt bẩn và người thì đẫm mồ hôi vì trời nắng nóng và cũng vì lo sợ trễ giờ học. Đang chưa biết làm sao thì chợt nghe tiếng nói ngay bên cạnh: “Chú Tuấn! Để cháu sửa cho.” Thì ra là anh X. hơn tôi đến mấy tuổi nhưng vì vai vế trong họ hàng, tôi là vai chú. Tôi mừng quá và để anh ấy sửa giùm. Cũng không được! Thế là đành phải dắt xe một quãng mới thấy người sửa xe bên vệ đường. Xe được sửa xong thì đã trễ giờ học quá rồi. X. biết ý nên nói với tôi: “Bây giờ trễ rồi, chú không vào trường được đâu. Thôi vào học trường cháu đi. Ở ngay đây thôi.” Tôi chẳng biết tính sao nên đành nghe theo.

Đây là một trường tư thục khá lớn. Học ở Nguyễn Trãi quen rồi nên khi đột ngột vào lớp học ở trường tư này, tôi rất ngỡ ngàng vì lớp ồn ào và mất trật tự quá. Thầy đang giảng bài mà trong lớp nói chuyện ào ào như cái chợ. Học được một lúc thì anh cháu quay qua nói: “Chán quá! Thôi, chú cháu mình đi chơi đi.” Tôi chỉ biết nghe theo và thế là hai xe đạp rong ruổi ra bến Bạch Đằng. Ngồi ngắm sông nước một lúc thì anh ấy đề nghị: “Mình qua Thủ Thiêm đi chú.” Thế là ra bến phà. Phà đông nghẹt người. Tôi là người lên chót, đứng phía sau cùng, nửa bánh xe đạp còn lòi ra ngoài, lòng hồi hộp vì sợ rớt xuống sông. Sau khi lên bờ, anh ấy đưa đi lòng vòng một hồi bên Thủ Thiêm rồi lại lên phà về.

Trước đây nhóm chịu chơi trong lớp thường nói rằng cúp cua đi chơi sướng lắm. Tôi thì ngược lại: Vui đâu chẳng thấy, chỉ thấy lo sợ ngập tràn, không biết lỡ tối về bố hỏi bài trong ngày thì biết trả lời làm sao. May thay, hôm đó về nhà, tôi không bị bố khảo bài, nhưng khi nem nép lên lầu, tôi có cảm giác như mọi người đang nhìn tôi với cặp mắt khinh khi kẻ đã cả gan trốn học. Đó là lần cúp cua đầu tiên và duy nhất trong đời học sinh của tôi. Bây giờ nghĩ lại nếu lúc ấy đã lớn và có bồ rồi thì chắc là cúp cua đi bát phố hoặc đi ciné với người đẹp chắc cũng thú vị lắm!

Lần Bị Phạt Đầu Đời.

Hôm ấy trời đang nắng ráo, chợt mây xám kéo về nhiều và gió hiu hiu mát dịu. Tôi ngồi trong lớp nhìn qua cửa sổ thấy mây trên trời có hình dáng thật lạ trông như một hàng không mẫu hạm đang di chuyển trên biển. Đang mải mê theo dõi chuyển động của hàng không mẫu hạm thì chợt điếng người khi nghe thầy lớn tiếng nói: “Anh kia! Giờ học mà ngắm mây bay làm thơ hả?” Cả lớp đổ dồn về phía tôi khiến tôi ngượng quá. Thầy hỏi tên và ghi ngay đi “công xi” ngày Chủ Nhật. Thật là một hình phạt bất ngờ. Tôi như bị sét đánh ngang tai. Biết làm sao bây giờ!

Mấy đứa bạn thân gần nhà bàn bạc cách cứu bồ. Một bạn sẽ đến nhà tôi ngày Chủ Nhật và xin phép cho tôi đến nhà bạn ấy học chung để chuẩn bị cho kỳ thi lục cá nguyệt. Kế hoạch được thực hiện y như dự định và tôi được nhà cho phép đi học thi. Thế nhưng thay vì đến nhà bạn thì tôi đến trường Nguyễn Trãi. Đang đứng lớ ngớ ở sân trường và chưa biết phải trình diện ở đâu thì chợt nghe tiếng ai nói: “Vào đây đi ông ơi!” Thì ra một tên bạn thuộc lớp khác cũng bị phạt nhưng chắc là bị phạt nhiều lần nên quen rồi.

Khi tôi vào lớp đã thấy hơn chục mạng ở trong đó . Trên bàn giáo sư là một vị giám thị già trông thật hiền lành. Tôi tưởng đi “công xi” là bị phạt ghê gớm lắm. Thì ra cũng chỉ là đến lớp học nhưng thay vì ngồi nghe thầy giảng bài thì phải làm các việc khác. Có bạn phải chép hàng trăm lần một câu gì đó của thầy dạy sinh ngữ. Có bạn cộng điểm giùm cho thầy giám thị.v.v… Có lẽ biết tôi là “lính mới” nên thầy giám thị hỏi tôi tại sao bị phạt. Tôi trả lời đại khái rằng vì trong lớp không nghe lời thầy giảng mà lại ngắm mây bay. Thầy cười hiền từ rồi bảo: “Thôi, con ngồi đó lấy sách ra học đi.”

Đấy là lần đầu và cũng là lần cuối tôi bị phạt ngày Chủ Nhật.

Thầy

Về sau tôi biết rằng một trong những lý do khiến bố tôi cho tôi thi vào trường Nguyễn Trãi, là do bố tôi có một người học trò cũ từ ngoài Bắc, đang dạy ở trường Nguyễn Trãi. Đó là giáo sư Nguyễn Huy Quán. Chắc bố tôi muốn thầy Quán ‘giám sát’ tôi trong thời gian tôi học ở Nguyễn Trãi để được an tâm. Thầy Quán trông rất hiền lành, người gầy yếu và chẳng nói lớn tiếng bao giờ. Học trò ai cũng quý mến thầy. Hàng năm cứ Tết đến thầy đều đến nhà tôi chúc Tết. Còn tôi, sau khi đã lớn và có xe Solex rồi, thì thỉnh thoảng có đèo bố tôi đến nhà thầy ở khu trường đua Phú Thọ để đáp lễ. Thật là một cái duyên: khi tôi lên dạy ở đại học thì con của thầy lại là sinh viên của tôi. Nếu không qua xứ Cờ Hoa này thì có khi con tôi lại là học trò của con thầy không chừng, vì anh ấy là giáo sư trung học.

Hồi xưa tình thầy trò thật là đằm thắm và đẹp quá. Khi học ở đại học, tôi có một bạn cùng lớp có bố là học trò của thầy Vũ Đức Thận, nguyên hiệu trưởng trường Nguyễn Trãi. Tết năm nào anh ấy cũng phải chở bố đi chúc Tết thầy Thận. Anh ấy kể rằng bố anh ấy có chức vụ khá lớn và nghiêm khắc lắm, ở nhà ai cũng sợ. Vậy mà khi đến gặp thầy Thận thì khác hẳn, cung kính, khép nép và quý trọng thầy thấy rõ. Khi trò về, thầy tiễn trò ra tận cổng dù thầy đã già lắm.Thầy trò bịn rịn mãi ở cổng rồi mới chia tay.

Một trong những thầy mà tôi quý mến là thầy Tô Đình Hiền. Thầy thật là hiền như tên của thầy. Thầy khá đẹp trai nhưng có cái lườm rất …phụ nữ! Thầy lái xe Vespa khá nhanh và lượn đẹp lắm. Hình như thầy hay tổ chức văn nghệ và thường phát biểu trong các buổi sinh hoạt toàn trường. Sát năm 75 tôi có dự một đám cưới bên Gia Định. Thông thường các đám cưới được tổ chức ở nhà hàng, nhưng tiệc cưới này được tổ chức tại tư gia. Khi đến tôi thoáng thấy thầy và định ra chào, nhưng sau thấy thầy bận quá, tất bật cắt đặt người này người kia làm việc, nên lại thôi. Thì ra thầy phụ trách đám tiệc này và kiêm đầu bếp luôn! Sau khi rời Nguyễn Trãi, đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối tôi gặp lại thầy. Sau này tôi lại ngạc nhiên hơn khi biết thầy là anh em ruột với nhạc sĩ Tô Hải.

Trong bốn năm học ở Nguyễn Trãi, tôi chỉ biết nhà thầy Quán, vì phải chở bố đến thăm. Ngoài thầy Quán, vị thầy duy nhất tôi đến thăm là thầy Lưu Trung Khảo. Trong lớp tôi có một anh bạn hay đến thăm các thầy lắm. Năm ấy anh bạn rủ tôi đến chúc Tết thầy Khảo. Tôi ngần ngại vì sợ mình lớ ngớ đến mà thầy không tiếp thì xấu hổ chết. Nhưng rồi tôi cũng đi. Nhà thầy ở gần vườn Tao Đàn, trên một con đường rợp bóng mát. Tôi không ngờ được thầy tiếp đãi rất lịch sự. Tôi chẳng nói được câu nào, trong khi anh bạn tôi thì tiá lia. Sau khi rời Nguyễn Trãi tôi không gặp lại thầy lần nào, nhưng gần đây thì được thấy thầy thường xuyên trên các show của các đài truyền hình và rất khâm phục lập trường kiên định của thầy

Giờ đây sau một thời gian dài làm trò rồi làm thầy, tôi nhận ra rằng khi đi học mà không liên lạc và gần gũi với các thầy là một thiệt thòi lớn. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi nghiệm thấy phần lớn các bạn ra đời thành công đều có liên lạc thường xuyên với các thầy. Bản thân tôi khi dạy học cũng dành nhiều ưu tiên cho những học trò hay liên lạc với mình, chẳng hạn như khi chọn sinh viên làm luận văn tốt nghiệp hoặc giới thiệu việc làm sau khi ra trường.

Hồi học năm đệ tứ thầy dạy Pháp văn là thầy Tạ Văn Ru. Thầy người cao lớn nhưng nói năng dịu dàng và có nụ cười rất bao dung. Thầy là tác giả một cuốn sách nghị luận văn chương bằng tiếng Pháp dùng để luyện thi trung học. Tôi hãnh diện vì chuyện này lắm và thường khoe với các bạn trường khác rằng: “Thầy tao oai thế đấy, viết sách cho tụi mày học đây này.” Khi nghe tin thầy mất tôi thấy xót xa, lòng nao nao khó tả và một quá khứ xa xôi lại hiện về.

...và Bạn

Dạo học Nguyễn Trãi, tôi thuộc loại nhỏ tuổi nhất vì khi thi tiểu học đã phải xin miễn tuổi rồi mà! Trong lớp tôi có nhiều bạn học rất giỏi như Vũ Thiện Hân, Lê Duy Cấn, Nguyễn Bá Duy, Lê Mạnh Hùng v.v… Tôi thì thuộc loại xoàng nếu không muốn nói là dốt. Chỉ được cái ai cũng khen là …hiền lành!

Cũng vì cái hiền lành ấy mà hay bị các bạn cùng lớp trêu chọc. Khi đứng xếp hàng chào cờ tôi thường bị các bạn phía sau búng tai, nhiều khi đau điếng. Tôi tức lắm và tìm dịp trả thù. Có lần sau khi bị búng tai, tôi liếc nhìn và biết đích xác là ai, tôi bèn lấy hết sức bình sinh dùng khủy tay thúc mạnh về phía sau. Nhưng trời bất dung gian! Ngay khi húych, tay tôi như bị điện giật, tê dại hết cả cánh tay. Thì ra tôi huých trúng ngay vào cạnh của cái cặp bằng da trâu cứng như đá của thằng đứng phía sau. Tôi cố chịu đau và chợt như nghe có tiếng ai nói trong đầu: “Không được làm tổn hại người khác!” Thế là từ sau kinh nghiệm đau thương ấy, tôi không có tư tưởng làm hại ai bao giờ. Kể cũng may, vì tránh được bao nhiêu nghiệp quả, hệ luỵ.

Khi học năm đệ tứ thì xe đạp được dựng ngay bên hông lớp. Mỗi khi lấy xe tôi hay bị một tay học lớp bên cạnh, cứ lấy cái chổi khua trước mặt chọc tôi chơi. Hắn cười hềnh hệch để lộ mấy cái răng bàn cuốc trắng lắm. Tôi tức nhưng chẳng biết phản ứng ra sao. Được cái là nó chỉ khua mấy cái rồi thôi chứ không đánh. Khi qua Mỹ và liên lạc lại với nó tức nhà văn Hoàng Khởi Phong Nguyễn Vinh Hiển, và được gửi tặng nhiều tác phẩm, tôi nhận ngay ra hắn khi nhìn ảnh ở bìa sách, dù sau mấy chục năm không gặp, nhờ cái cười và hàm răng trắng đẹp của hắn. Có lần tôi nhắc lại qua điện thoại chuyện khua chổi ngày xưa, nó cười, vẫn giọng cười xuề xoà hồi xưa, bảo rằng có nhớ gì đâu... Thì ra kẻ bị nạn bao giờ cũng nhớ dai còn người ở thế thượng phong thì …chẳng nhớ gì, vì chỉ là đùa vui thôi mà…

Lớp học bên cạnh lớp tôi có một tay rất có tài. Đó là Phạm Ngọc Cung mà bạn bè hay gọi là Cung Lùn. Cung có khiếu về nhạc lắm. Dạo ấy khi học về nhạc lý, đa số đều ù ù cạc cạc nhưng Cung thì thông hiểu mọi thứ. Lúc đó tôi ít chơi với Cung nhưng sau khi qua Chu Văn An thì thân hơn, vì hai đứa học chung lớp cùng với Nguyễn Vinh Hiển, tay trống Lưu Trường Tộ, tay đàn Mạnh Xuân Phụng … Sau này khi tập tành viết nhạc thì tôi lại càng thân với Cung hơn nữa, vì viết được bài nào tôi cũng nhờ Cung góp ý, sữa chữa cho. Hồi còn học ở trung học, Cung là trưởng ban nhạc, sau này ra đời Cung cũng làm trưởng ban nhạc và có biệt tài về piano. Ngoài dương cầm, Cung chơi được nhiều thứ đàn khác như vĩ cầm, contre bass, trống, kèn, sáo … và viết được nhiều ca khúc rất hay trong đó có bài Nguyễn Trãi Hành Khúc được viết từ khi Cung còn ngồi trên ghế trường Nguyễn Trãi.

Sau biến cố 30/4 cuộc đời mỗi người chuyển sang một khúc rẽ mới, tôi ít gặp lại bạn bè cũ. Khi qua Mỹ tôi tìm cách liên lạc lại , nhờ thế mới biết có bạn đến năm 75 đã mang cấp bậc trung tá, thiếu tá, còn cấp úy thì nhiều lắm. Các bạn khác được xuất ngoại du học thì khỏi phải nói, ai cũng công thành danh toại. Tại vùng đông bắc Mỹ này thì cả hai vị chủ bút và tổng thư ký của tờ Sóng Thần, là các anh Phạm Bá Vinh và Tạ Quang Trung đều là cựu học sinh Nguyễn Trãi, cùng đệ với tôi nhưng khác lớp.


Nguyễn Tuấn

NT 55-59



Tiếng Bom Sa Diện Anh Hùng Phạm Hồng Thái


I- Lược sử: Phạm Hồng Thái (1896 - 1924), tên thật Phạm Thành Tích, có tên Phạm Đài, hiệu Nho - Tư; con Ông Phạm Thành Mỹ (hoạt động Phong Trào Cần Vương) và Bà Trần Thị; ngưới huyện Hưng Nguyên, Nghệ An. Về tên Hồng -Thái,con trai ông PHT là Phạm Minh Nguyệt cho là cha của ông đã lấy ý từ câu: " Nhân cố hữu tử, tử hoặc trọng ư Thái sơn, hoặc khinh ư Hồng mao " ( Là người ai cũng chết, có người coi cái chết nặng như núi Thái, có người xem nhẹ như lông chim Hồng ) trong Sử Ký Tư Mã Thiên.Ông Phạm Thành Tích,lấy 2 chữ " Hồng " và chữ " Thái " ghép lại, rồi tự đặt tên cho chính mình. Và tên ấy đã trở nên lẫm liệt, đồng thời cũng trường cữu với non sông Lạc Hồng.

Trong bài thơ Kết Miệt Tử của Lý Bạch có câu tương tự:

Yên Nam tráng sĩ Ngô Môn hào
Trúc trung trí duyên ngư ẩn đao
Cảm quân ân trọng hứa khinh mệnh
Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao
LÝ BẠCH

Gã Đan Vớ
Yên Nam tráng sĩ Ngô anh hào
Đàn trúc đầy chì, cá giấu dao
Liều chết báo đền ơn chúa nặng
Thái sơn gieo nhẹ tựa Hồng mao
LÊ NGUYỄN LƯU dịch

Và trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn cũng có câu:

Trượng phu thiên lý chí mã cách
Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao
Tiện từ khuê khổn tòng chinh chiến
Tây phong minh tiên xuất Vị kiều
ĐẶNG TRẦN CÔN

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái sơn nhẹ tựa Hồng mao
Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị ào ào gió Thu
ĐOÀN THỊ ĐIẺM dịch

Phạm Hồng Thái: nhà cách mạng VN trong Phong Trào Đông Du và có chân trong Tâm Tâm Xã của cụ Phan Bội Châu.Chiều ngày 18 - 6 -1924,sau khi biết tin viên Toàn Quyền Đông Dương Martial Henri Merlin sẽ dự dạ tiệc ở khách sạn Victoria trên đảo Sa Diện ( Sha Mian ),Quảng Châu, PHT bèn giả dạng làm phóng viên vào được khách sạn và ném bom vào giữa bàn tiệc mông giết tên Merlin. Nhưng may cho hắn, hắn chỉ bị thương và chui trốn xuống gầm bàn. Một số thực khách người Pháp chết ngay tại chỗ, trong đó có tên Lãnh Sự Pháp Quảng Đông là Louis Cordeau. Lập tức, Anh hùng Phạm Hồng Thái bị bọn cảnh binh và mật thám bao vây truy bắt rất ngặt nghèo. Ông chạy đến dòng sông Châu Giang (Pearl River), cùng đường, bèn gieo mình xuống dòng nước đang chảy xiết tự vẫn, để khỏi rơi vào tay giặc. Lúc ấy mới 29 tuổi đời !! Ông để lại vợ trẻ tên Cao Thị Chắc và người con trai duy nhất là Phạm Minh Nguyệt (3 tuổi).Bà Cao Thị Chắc vẫn ở vậy thờ chồng,nuôi con cho đến ngày nhắm mắt !!

Bọn giặc rất tiểu tâm căm thù, khi vớt được thi hài Ông,chúng không cho chôn cất liền, mà để ruồi bâu kiến đậu đến mấy ngày!! Bị cư dân phản đối và nguyền rủa thậm tệ về việc vệ sinh, chúng mới cho nhà cằm quyền Trung Hoa mai táng tại chân đồi Bạch Vân. Đến tháng 3 năm 1925,cảm phục sự hy sinh cao cả của nhà cách mạng trẻ tuổi VN, tỉnh trưởng Quảng Châu là Hồ Hán Dân đã cho cải táng hài cốt anh hùng PHT vào khu Lăng Mộ công viên Hoàng Hoa Cương, trước sự tham dự kính cẩn của những nhà cách mạng Việt Nam. Khi ấy, đích thân cụ Phan Bội Châu đã viết bài "Văn Tế truy điệu liệt sĩ Phạm Hồng Thái!". Năm 1958 do việc mở rộng đường sá, phần mộ anh hùng PHT lại di dời một lần nữa cho đến hôm nay.

Tuy không giết được viên Toàn Quyền Đông Dương Merlin, nhưng Tiếng Bom Sa Diện của Phạm Hồng Thái đã làm cho bọn thực dân Pháp ở VN nao núng rúng động. Thứ nữa,Tiếng Bom Sa Diện còn gióng lên tiếng chuông nhằm thức tỉnh lòng yêu nước của mọi người dân VN và có ảnh hưởng sâu rộng cho công cuộc giành lại Độc Lập Tự Do cho Tổ Quốc VN mãi về sau...!!

Với lòng thành kính ngưỡng vọng anh hùng vị quốc vong thân, người biên soạn có 2 bài thơ tưởng niệm:

TIẾNG BOM SA DIỆN

Chấn động nhân tâm khắp cõi Đông
Tiếng Bom Sa Diện giặc run lòng
Merlin khiếp vía ôm thương tích
Louis tan hồn bị tử vong
Lẫm liệt tấm gương soi bất tận
Lung linh ngọn đuốc sáng vô song
Trăm năm ai chẳng ra thiên cổ
Linh khí hạo - nhiên mãi Phạm - Hồng..!!
NGUYỄN MINH THANH

Anh hùng PHẠM HỒNG THÁI

Đơn thân giết giặc giữa trùng trùng
Mong ước quốc thù sớm cáo chung
Sa Diện bom lòe kinh Pháp tặc
Châu Giang sóng cuộn lụy Nam hùng
Hoàng Hoa tàng cốt nằm heo hút
Thanh Sử phương danh tỏa lẫy lừng
Dân Việt tiếc thương hằng khấn nguyện
Non Bồng mây trắng ngự thung dung..!!
NGUYỄN MINH THANH

II - Vài nét về Hoàng Hoa Cương: là khu Lăng Mộ công viên của thành phố Quảng Châu, thành lập từ năm 1912, để làm nơi an giấc ngàn thu của những anh hùng liệt sĩ Trung Hoa đã hy sinh trong cuộc Cách Mạng Tân Hợi năm 1911 . Qua nhiều lần chỉnh trang, năm 1935 thì hoàn tất như đang thấy ngày nay. Trước công viên là Cổng Tam Quan rất hùng tráng do Tôn Trung Sơn đề 4 chữ Nho, đại tự " Hạo Khí Trường Tồn ". Qua khỏi Cổng Tam Quan, hết con đường lát đá dài 230m, đến Đài Tưởng Niệm với câu chữ Nho khắc trên Bia Tưởng Niệm theo chiều đứng " Thất Thập Nhị Liệt Sĩ chi mộ" ( thực tế có tới 85 mộ, chưa kể mộ PH ). Tiếp theo sau là Hậu Điện, trên nóc Hậu Điện có bức tường hình tháp với bậc thang 2 bên, trên vót đỉnh bậc cao nhất có tượng Nữ Thần Tự Do mô phỏng theo tượng N T T D của nước Mỹ.

Mộ anh hùng PHT nằm phía sau Hậu Điện một khoảng, có Mộ Bia cao lớn ghi " Mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái" bằng chữ quốc ngữ xếp làm 3 dòng ngang từ trên xuống: MỘ -- LIỆT SĨ -- PHẠM HỒNG THÁI. Phía dưới 3 dòng chữ quốc ngữ, theo chiều đứng của Mộ Bia có câu chữ Nho " Việt Nam Phạm Hồng Thái liệt sĩ chi mộ ". Dưới cùng,trên bệ có lư hương ( bát nhang ) để thắp hương tưởng niệm. Bên phải trước Mộ Bia, lại có một Bia Đá lớn bằng cánh cửa có khắc Bài Ký bằng chữ Nho: " Việt Nam Phạm Liệt Sĩ Chi Mộ Ký ".

III - Lời lạm bàn: Có người so sánh dũng sĩ Phạm Hồng Thái với tráng sĩ Kinh Kha nước Yên (Trung Hoa). Sự s/s này có đúng không? Thiển ý, là không đúng. Mà rất ư là khập khiễng, nếu không nói nói là xúc phạm vong linh người anh hùng họ Phạm!! Vì sao? Xin thưa: dù rằng cả hai đều can đảm phi thường,cả hai có cùng mục đích là trừ gian diệt bạo. Nhưng, động cơ của hai người có chỗ khác nhau. Kinh Kha từng làm tân khách nước Yên, nhận rất nhiều ân huệ từ thái tử Yên Đan. Cho nên, ngoài chí cả diệt bạo,Kinh Kha còn hy sinh vì món nợ ân tình cơm áo, rơi vào câu thơ của Lý Bạch:" Cảm quân ân trọng hứa khinh mệnh, Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao ".

Trong khi đó,Phạm Hồng Thái duy nhất chỉ vì lý tưởng Dân -Tộc, vì tương lai đại nghĩa Đồng - Bào, mà một đi không trở lại, và không hề vướng vít một chút mảy may nào món nợ áo cơm.Trong Di thư của PHT trước khi lên đường ám sát tên Merlin,Phạm Minh Nguyệt,con Ông, còn giữ có câu: " Hồng - Thái tôi vâng mệnh toàn thể hy sinh vì 40 triệu Đồng - Bào, chết không hề nuối tiếc, những mong kêu cứu trên toàn thế giới để cho Dân -Tộc Việt - Nam được tồn - tại trên trái đất nầy, thì Hồng - Thái tôi cũng yên lòng nơi chín suối ". Do đó,nếu như ta so đũa bằng đầu, vô hình chung xem nhẹ ý nghĩa cao cả của sự Hy sinh của tiền nhân chăng ?! Và,căn cứ vào Di Thư của người đã khuất, dựa theo câu thơ của Lý Bạch, ta có thể mô tả tinh thần PHT với lời thơ:" Cảm thương dân tộc hứa khinh mệnh, Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao ".Trân trọng.

Ngoài ra, Người xưa đã vậy, người nay thì sao?

Đốt nén tâm hương tưởng niệm Phạm Hồng Tháí, cùng bao nhiêu anh hùng liệt nữ... chợt nghĩ đến hiện trạng đất nước...Thì, ô hay, Nguyện Ước của những vị anh hùng dân tộc hầu như đang nghịch biến! Lãnh thổ:ải Nam Quan, thác Bản Giốc, núi Lão Qua..., Lãnh hải:vịnh Bắc Bộ, Hoàng Sa, Trường Sa... đã dần dần lọt vào tay giặc Bắc, do tập đoàn phản động " Rước voi giầy mả Tổ ". Họ đã, đang nhẫn tâm giầy xéo lên Nguyên Ước thiêng liêng của Tiền Nhân, giầy xéo lên Hồn Thiêng Sông Núi, giầy xéo lên chính đồng bào ruột thịt.Họ đã phản bội Lịch sử,đồng thời cũng nhẫn tâm phản bội ngay cả những đồng chí của họ đã hy sinh, bỏ mình trong công cuộc chiến đấu giữ nước với kẻ thù phương Bắc năm 1979 !! Họ đang say sưa trong chuyện bán nước buôn dân. Họ đang say men Mãi Quốc cầu vinh...!!!

Hỡi phường mãi quốc cầu vinh
Những thây ma thúi trương sình... chưa chôn
Một mai biển sóng dập dồn
Cuốn phăng cả xác lẫn xác hồn tiêu vong..!!

NGUYỄN MINH THANH biên soạn,
Viễn xứ, Đêm không ngủ: 3 - 3 - 11.
-----------------
Nguồn:
Thành - Ngữ Điển - Tích, GS TRỊNH - VÂN -THANH
Danh - Nhân Từ - Điển, của NGUYỄN - HUYỀN - ANH
Trang Web: Luongsonbac.com, Opera.com, Wikipedia.org, BBCVietnamese.com...


Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

Thêm Một Lần Xuân Qua - Thơ: Mường Giang - Nhạc: Nguyễn Văn Thành - Trình Bày: An Minh

Thơ: Mường Giang
Nhạc: Nguyễn Văn Thành
Trình Bày: An Minh

Tết Nhớ

 

Mò trăng đáy giếng, trăng mờ vắng
Đạp tuyết tìm mai, mai chẳng sang
Mồng một đầu xuân con Ngựa hý
Tạm ngưng bão loạn. Chúc ninh khang!*

Lộc Bắc
Fev26



Giữa Mùa Đông Thấy Trời Xuân

 

Ngút ngàn trời đất ngoại phương
Mình đang ở giữa con đường em ơi
Bây chừ bát ngát lòng người
Hình xưa bóng cũ vẫn ngời sắc xuân

Mùa đông hải ngoại muôn phần…
Lạnh lùng đẹp đến vô ngần tuyết băng
Dường như đồng vọng vĩnh hằng
Kể từ năm nọ mùa xuân thuở nào

Má em nhuộm thắm hoa đào
Vàng lên rực rỡ đón chào hoa mai
Đì đùng tiếng pháo nổ dài
Người vui trẩy hội muôn loài hỷ hoan

Mùa xuân dân tộc hãy còn
Mình ngoài muôn dặm sắc son với người
Này đây khoảnh khắc tuyệt vời
Giữa mùa đông thấy một trời xuân sang

Lãng Thanh
Ất Lăng thành, 0226

Chúc Mừng Năm Mới



Xin Thay Lời Thân Chúc Hồng Thủy
Cùng Anh chị em VBVĐBHK

6:00 giờ mở cửa ra sân
Sương chưa tan hết, quay chân vô nhà
Mặt trời còn ở phương xa
Tiếng chuông chùa gọi Sơn hà khai Xuân

Kéo không gian lại cho gần
7: 00 giờ khăn áo đón Năm Mới về
Bao la mây trắng bốn bề
Phong thơ mừng tuổi tóc thề rẽ đôi

Đông tây hoan hỉ cõi người
Nghênh tân tròn vẹn cho đời thăng hoa
Xuân này, xuân nữa, xuân qua
Nhưng xuân vẫn mới như là xuân …xưa

Thế em ngó nắng đong đưa
Lòng vui rộn rã, tình vừa đăng cao
Đẹp bao ý nghĩa xôn xao
Chúc mừng tất cả, lẽ nào quên anh …

Rancho Palos Verdes 16 - 2 - 2026
Cao Mỵ Nhân




Nguyện Ước Đầu Năm



Đầu Xuân Bính Ngọ ước bình yên
Lạc nghiệp an cư khắp mọi miền
Già lão thanh nhàn vui hạnh phúc
Trẻ thơ liến thoắng hưởng hồn nhiên
Mừng toàn bằng hữu hưng danh tiếng
Chúc khắp thân nhân vượng bạc tiền
Chiến sự không còn, ngưng giết chóc
Muôn nhà hởi dạ cảnh đoàn viên


ThanhSong ntkp
 (Mồng 1 Tết ÂL) CA. 17/02/2026 (Dương Lịch)

Ngày Tết Cho và Nhận

 
 
Đây là bài số tám trăm (800) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ ORTB.

Hằng tuần tôi thường viết bài cho mục Một Cõi Thiền Nhàn của tôi vào ngày thứ hai để gửi đến Ban Biên Tập Oregon Thời Báo ở Portland, Oregon.

Hôm nay là ngày Thứ Hai Mùng Bảy Tết Bính Ngọ vì vẫn thuộc trong "Tháng Giêng là Tháng Ăn Chơi....... Tết" theo như nếp sống của dân quê Việt Nam ngày xưa.
Nhưng ở chốn thị thành, nếu Tết lại đến trong ngày làm việc thì các hãng xưởng, cơ quan xí nghiệp vẫn tiếp tục làm việc như thường lệ. Nhân viên nào muốn nghỉ ăn Tết thì phải đành chấp nhận "lấy phép nghỉ không ăn lương" ở nhà vui Tết với gia đình, vợ con như trường hợp Mùng Một Tết Bính Ngọ 2026 năm nay rơi đúng vào ngày Thứ Ba 2-17-2026, cũng phải đành chấp nhận mà thôi.

Tết là dịp để gia đình sum họp vui vẻ nên có nhiều gia đình xin nghỉ phép về Việt Nam ăn Tết, thăm Cha viếng Mẹ. Chúng tôi cũng có đôi lần làm thế khi cha mẹ chúng tôi còn sinh tiền. Nhưng kể từ khi cha mẹ chúng tôi không còn nữa thì chúng tôi không có lý do gì nữa để về Việt Năm ăn Tết.

Tuy nhiên dù xa quê hương, chúng tôi vẫn cố gắng đón Tết Nguyên Đán Việt Nam với đầy đủ những tập tục mà cha mẹ tôi đã làm: quét dọn bàn thờ tổ tiên, chưng hoa quả, bông trái cúng Tết trên bàn thờ Phật, bàn thờ tổ tiên, đi lễ chùa Mùng Một Tết, lì xì Tết cho con cháu đến mừng tuổi ông bà cha mẹ ngày Tết, ăn chay ngày Mùng Một Tết, không quét nhà đổ rác ngày Mùng Một Tết v..v...

Thế hệ chúng tôi cố gắng "Do the best we can" đón mừng Tết Việt Nam với tất cả lòng thành, còn đến thế hệ con cháu chúng tôi thì "Que sera, sera".

Ngày Mùng Một Tết Bính Ngọ 2026 năm nay, cậu em trai gia đình Nguyễn Hữu chúng tôi đã đến đón chúng tôi đi lễ Phật đầu năm ở Bửu Hưng Tu Viện ở Vancouver, WA , hội ngộ với Sư Huệ Hương, cô em thứ hai của tôi, đang tu trì ở đấy.
Lễ Phật xong, chúng tôi được ban trai soạn của chùa khoản đãi phở chay ngon tuyệt vời. Kính tri ân Sư Huệ Hương, cảm ơn ban trai soạn chùa Bửu Hưng và cảm ơn cậu Út nhé.

Buổi chiều Mùng Một Tết, cô cháu nội Mya tự lái xe của mình chở ba đến chúc Tết ông bà Nội. Chúng tôi thật cảm động vô cùng vì con cháu gia đình tôi còn nhớ đến viếng thăm ông bà cha mẹ vào ngày Mùng Một Tết.

Chúng tôi đã có một ngàyTết hạnh phúc và vui vẻ bên nhau. Tạ ân Chư Phật đã ban phúc lành cho vợ chồng già chúng tôi.

Mời xem
Youtube Gia Đình Minh Suơng Lam Tết Bính Ngọ 2026

Bây giờ đã bắt đầu một năm mới. Mọi người dần dần làm quen với những sinh hoạt của năm mới như khi viết “check” trả tiền nhà, tiền điện, tiền bảo hiểm v..v.. bạn phải để ý đề ngày cho đúng năm 2026 nhé.

Hôm nay người viết vừa mới nghe xong bài thuyết giảng của Hòa Thượng Tịnh Không trên internet về đề tài “Thay đổi cách sống”, xin được chia sẻ cùng các bạn.
Hòa Thượng đã nêu lên quan niệm giáo dục đạo đức đời sống của Đông Phương Trung Quốc và Tây Phương Âu Mỹ.
Đông Phương cho rằng đời người có bốn giai đoạn như bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông của đất trời.

1. Dưới 20 tuổi như Mùa Xuân con người cần phải được giáo dục đạo đức.
2. Từ 20 - 40 tuổi như mùa Hạ con người cần phục vụ xã hội.
3. Từ 40 - 60 tuổi như mùa Thu con người cần truyền trao kinh nghiệm cho người kế thừa.
4. Sau 60 tuổi như mùa Đông con người cần về hưu để hưởng phước.

Trong khi đó Tây Phương lại quan niệm:

1. Tuổi trẻ là tuổi để hưởng thụ cho nên tuổi thơ được ví như đang sống trong thiên đàng.
2. Tuổi trung niên sống trong chiến trường tranh đua danh lợi
3. Tuổi già sống buồn thảm đi vào phần mộ.

Theo lời trình bày kể trên chúng ta cần phải chọn lựa và thay đổi cách sống như thế nào để có thể sống một cuộc đời an vui hạnh phúc, bạn nhỉ?

Chúa hay Phật đều dạy rằng: Con người nếu không biết tu phước tích đức thì sẽ tạo ra nhiều nghiệp tội. Những chủng tử thiện ác đó đều được lưu vào A Lại Gia Thức của chúng ta và theo ta từ kiếp này sang kiếp khác rồi tùy duyên mà phát sinh ra để con người được hưởng quả lành hay nhận quả ác do những nghiệp nhân mà chính ta tạo tác từ vô lượng kiếp sống của chúng ta. Gieo nhân nào thì sẽ gặt quả nấy ví như gieo hạt đậu thì sẽ hái được trái đậu, gieo hạt cam thì hái được trái cam chứ không thể nào gieo hạt đậu mà hái được trái cam. Bạn đồng ý chứ?

Chúng ta cần phải thay đổi cách sống si mê lầm lỗi của ta, bỏ bớt dần những suy nghĩ, hành động, ngôn ngữ mang tính ác biến đổi thành những suy nghĩ, hành động, ngôn ngữ mang tính thiện để tạo niềm vui cho người và cũng cho chính mình nữa như câu chuyện dưới đây:

Cho Và Nhận

Một hôm, một sinh viên trẻ có dịp đi dạo với giáo sư của mình. Vị giáo sư này vẫn thường được các sinh viên gọi thân mật bằng tên "người bạn của sinh viên" vì sự thân thiện và tốt bụng của ông đối với học sinh.

Trên đường đi, hai người bắt gặp một đôi giày cũ nằm giữa đường. Họ cho rằng đó là đôi giày của một nông dân nghèo làm việc ở một cánh đồng gần bên, có lẽ ông ta đang chuẩn bị kết thúc ngày làm việc của mình.

Anh sinh viên quay sang nói với vị giáo sư: "Chúng ta hãy thử trêu chọc người nông dân xem sao. Em sẽ giấu giày của ông ta rồi thầy và em cùng trốn vào sau những bụi cây kia để xem thái độ ông ta ra sao khi không tìm thấy đôi giày."

Vị giáo sư ngăn lại: "Này, anh bạn trẻ, chúng ta đừng bao giờ đem những người nghèo ra để trêu chọc mua vui cho bản thân. Nhưng em là một sinh viên khá giả, em có thể tìm cho mình một niềm vui lớn hơn nhiều nhờ vào người nông dân này đấy. Em hãy đặt một đồng tiền vàng vào mỗi chiếc giày của ông ta và chờ xem phản ứng ông ta ra sao."
Người sinh viên làm như lời vị giáo sư chỉ dẫn, sau đó cả hai cùng trốn vào sau bụi cây gần đó.

Chẳng mấy chốc người nông dân đã xong việc và băng qua cánh đồng đến nơi đặt giày và áo khoác của mình. Người nông dân vừa mặc áo khoác vừa xỏ chân vào một chiếc giày thì cảm thấy có vật gì cứng cứng bên trong, ông ta cúi xuống xem đó là vật gì và tìm thấy một đồng tiền vàng. Sự kinh ngạc bàng hoàng hiện rõ trên gương mặt ông. Ông ta chăm chú nhìn đồng tiền, lật hai mặt đồng tiền qua lại và ngắm nhìn thật kỹ. Rồi ông nhìn khắp xung quanh nhưng chẳng thấy ai. Lúc bấy giờ ông bỏ đồng tiền vào túi, và tiếp tục xỏ chân vào chiếc giày còn lại. Sự ngạc nhiên của ông dường như được nhân lên gấp bội, khi ông tìm thấy đồng tiền vàng thứ hai bên trong chiếc giày. Với cảm xúc tràn ngập trong lòng, người nông dân quỳ xuống, ngước mặt lên trời và đọc to lời cảm tạ chân thành của mình. Ông bày tỏ sự cảm tạ đối với bàn tay vô hình nhưng hào phóng đã đem lại một món quà đúng lúc, cứu giúp gia đình ông khỏi cảnh túng quẫn, người vợ bệnh tật không ai chăm sóc và đàn con đang thiếu ăn.

Anh sinh viên lặng người đi vì xúc động, nước mắt giàn giụa. Vị giáo sư lên tiếng: "Bây giờ em có cảm thấy vui hơn lúc trước nếu như em đem ông ta ra làm trò đùa không?" Người thanh niên trả lời: "Giáo sư đã dạy cho em một bài học mà em sẽ không bao giờ quên. Đến bây giờ em mới hiểu được ý nghĩa thật sự của câu nói mà trước đây em không hiểu: "Cho đi là hạnh phúc hơn nhận về".
(Nguồn: sưu tầm trên internet)

Cậu sinh viên này đã thay đổi cuộc sống cho người nông dân và cho ngay cả chính mình. Người nông dân đã có tiền chữa bệnh cho vợ và mua thức ăn cho đàn con. Người sinh viên đã thay đổi tính ác đem người ra làm trò đùa thành người làm việc thiện là cho đi đồng tiền của mình để giúp người đang cần sự giúp đỡ và tìm thấy niềm vui trong sự cho đấy.

Bạn và tôi chắc chắn cũng đã từng gặp nhiều người cho ra thì ít mà muốn nhận lại thì nhiều. Những người này tiết kiệm từng nụ cười, từng lời nói ngọt ngào không chịu trao cho bạn bè thân hữu, thân nhân quyến thuộc mà lại đòi hỏi người khác phải đối xử tốt với mình, phải ngọt ngào với mình. Dĩ nhiên, nếu là một người có lương tâm trong sáng, bạn sẽ cho đấy là không công bằng (unfair) rồi đấy nhỉ?

Nói theo kiểu bình dân thông thường là “tiền trao cháo múc”, ít ra bạn phải đưa ra một số tiền nào đó thì mới nhận được tô cháo kia, chứ tại sao lại muốn nhận vào mà không chịu đưa ra. Lạ thật!

Cũng vậy, muốn nhận nụ cười, tình thương mến nơi người khác thì chúng ta phải trao cho họ nụ cười và tình thương mến trước chứ đừng đòi hỏi họ phải trao cho mình nụ cười, tình thương mến trước rồi mình sẽ trao lại sau hoặc là không trao lại gì cả. Hãy cho đi rồi bạn sẽ được nhận lại thì đời sống sẽ tốt đẹp hơn như câu chuyện của Mẹ Teresa dưới đây:

Hãy cho nhau nụ cười

Có lần mẹ Têrêsa thành Calcutta kể lại câu chuyện như sau:

Nhiều người đến thăm tôi tại Calcutta và trước khi ra về thường ngỏ ý với tôi: “Xin cho chúng tôi một lời khuyên để chúng tôi sống tốt đẹp hơn”.

Tôi liền bảo họ: “Quý vị hãy về và hãy ban tặng cho nhau những nụ cười. Một nụ cười cho vợ của ông. Một nụ cười cho chồng của bà. Một nụ cười cho con cái của ông bà. Hãy cười tươi với tất cả mọi người, bất luận người đó là ai. Với những nụ cười tươi như thế quý vị sẽ lớn lên trong tình yêu hỗ tương”.

Nghe vậy một người trong nhóm hỏi tôi:
- Bà có lập gia đình không?
Tôi gật đầu và nói:
- Ðôi khi tôi cũng cảm thấy khó nở một nụ cười với vị hôn phu của tôi.
Và mẹ Têrêsa kết luận:
- Ðúng thế, Chúa Giêsu có thể đòi hỏi rất nhiều. Và chính khi Ngài đòi hỏi như thế thì không gì đẹp cho bằng nở một nụ cười thật tươi với Ngài

Lạy Chúa! Nụ cười không mất tiền mua, không phải vất vả cực nhọc để đi xa mang về… Nụ cười thật dễ dàng để xuất hiện trên môi miệng và trên khuôn mặt nhưng sao con lại thấy thật khó khăn vất vả để trao tặng nụ cười trên khuôn mặt của con cho những người xung quanh… Con đã thay thế nụ cười bằng những cái nhăn mặt méo mó, bằng những ánh mắt giận dữ, bằng những cái lắc đầu xua tay và đôi khi bằng những lời nói làm đau lòng người khác. Xin cho con luôn ý thức rằng: mỗi khi con mang nụ cười đến cho những người xung quanh chính là lúc con dâng lên Thiên Chúa tình yêu và nụ cười, sức sống và hy vọng của đời con. Amen.
(Nguồn: Sưu tầm trên internet)

Nếu năm rồi chúng ta chưa có cơ hội cho nhiều hơn nhận, chưa trao hoặc không trao nụ cười cho ai cả thì trong năm mới chúng ta thử thay đổi cách sống để cuộc đời thêm nở hoa, bạn nhé!

Kính chúc toàn thể quý độc giả và thân hữu nhiều sức khỏe, thân an trí lạc, dứt bớt được nhiều điều phiền não và làm được nhiều chuyện thiện lành.

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam
(Tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên mạng lưới internet, qua điện thư bạn gửi-MCTN 800-2-24-36- ORTB 1241-2-24-26)

Ba Mươi... Vui Hơn Tết


1.
Ông bà mình có câu “Thấy 30 chưa phải là Tết” với nghĩa bóng, rằng sự gì chưa nắm trong tay là chưa vội mừng, chưa chắc ăn. Nhưng với nghĩa đen, theo tôi, thì không hẳn thế, vì Ba Mươi mới chính là Tết, thậm chí còn…vui hơn Tết, nên mới có lời thơ “Còn đêm nào vui bằng đêm Ba Mươi” đấy thôi!

Ngày Ba Mươi, sau một tuần bận rộn dọn dẹp kể từ ngày 23 Ông Táo, là ngày cuối cùng gấp rút cho mọi công việc để đón năm mới. Cứ khoảng 6-7 giờ tối, sau khi nhà cửa yên ổn sạch sẽ, chỉ còn dưới bếp bà chị Hai vẫn âm ỉ vài món ăn cho đêm Giao Thừa và sáng Mồng Một, các thành viên khác trong gia đình cũng bận bịu với những chuyện riêng của mình, thì tôi và nhỏ bạn thân có thói quen rủ nhau chạy xe lên chợ Xóm Mới mua bánh gai nóng hổi mới ra lò, mang về bày biện thêm cho mâm thức ăn ngày Tết. Đường đi chỉ vài cây số, lại chạy xe máy, nhưng phải dừng lại rất nhiều lần vì các trạm…đốt pháo của đám thanh niên nghịch phá giữa đường. Mà hình như họ chỉ chờ phụ nữ, con gái đi ngang, là bắt đầu đặt ngay viên pháo, úp cái lon sữa bò lên, rồi hò hét nhau bịt lỗ tai…chạy xa. Chúng tôi, cũng nhờ có “thâm niên kinh nghiệm” nên thường tránh kịp, dừng xe lại, chờ pháo nổ… “banh ta long” rồi tiếp tục đi tiếp. Có nơi, đám thanh niên lại chơi kiểu quăng pháo, cũng may là họ quăng trước hay sau xe, chứ không trúng vào người, nhưng cũng gây ra bao phen ú tim, la hét tưng bừng…

Cứ như thế, cả đường đi lẫn đường về, cộng với thời gian mua bánh gai, thêm thời gian đứng ăn tại chỗ một cái bánh cho ấm bụng để lấy sức…tránh pháo, và khi vừa ăn bánh gai vừa ngắm “chợ mai” ngay ngã tư, những cành mai và những người mua, bán cuối cùng, vội vã trả giá để kịp mang cành mai về nhà trước giờ giao thừa, tổng cộng khoảng hơn hai tiếng, về đến nhà thì trời thật sự “tối đen như đêm 30”, vẫn còn hồi hộp, run lẩy bẩy vì những “trạm pháo phá làng phá xóm” ngoài kia.

Sợ thì sợ vậy, mà cũng thật mau quên, thành ra tối Ba Mươi năm nào chúng tôi cũng phải đi mua bánh gai, có lẽ vì nhớ cái cảm giác phiêu lưu, tim đập mạnh, dáo dác nhìn hai bên đường để tránh pháo, mà lòng lại vui lâng lâng, niềm vui đêm giao thừa của tuổi trẻ? Đúng là…yếu mà khoái ra gió!

Về đến nhà, loay hoay một hồi, phụ chị em trong nhà bày biện bàn thờ Giao Thừa, (tranh thủ ăn vụng miếng chè kho còn dư trong nồi), tôi thảnh thơi ngồi xem Tivi, đọc báo Xuân, chờ phút giây “ hẹn gặp nhau khi pháo giao thừa” như lời của một bài nhạc Xuân của thời VNCH .
Dĩ nhiên, tác giả bài hát này viết cho hai người yêu hẹn hò nhau khi pháo giao thừa, nhưng ai cấm tôi gặp mấy cô bạn của tôi?

Nhóm chúng tôi ba đứa cùng xóm cùng lớp, đã có một “luật bất thành văn” như thế. Khi những tràng pháo giao thừa vừa dứt, xóm vắng vẻ, nồng nàn mùi thuốc pháo, là cô bạn vừa mới đi mua bánh gai với tôi hồi tối, nhà nó ngoài đầu ngõ, liền xuất hành, đến cổng nhà tôi là nó réo tên tôi (vì ngại cái vụ… xông nhà). Chỉ chờ có vậy, tôi mau chóng bước ra. Hai đứa vòng ra đầu hẻm, ngang Chùa Vĩnh Quang còn tấp nập người ta hái lộc trong vườn Chùa, rồi ra đường cái hướng về nhà một cô bạn khác. Lúc này nhà bạn ấy đã giăng mùng ngủ khắp nhà (hồi đó nhà nào cũng có vụ giăng màn ngủ ngay sàn nhà, vì nhà nào cũng …đông con, phòng nào cho đủ), nhưng bạn cũng đang chờ sẵn, hoà vào nhóm 3 đứa đi lang thang khắp xóm, tận hưởng hương vị ngây ngất của khoảnh khắc trời đất giao hoà, giây phút đầu năm tinh khôi trọn vẹn, khi mà cả xóm đang yên lặng chuẩn bị đi ngủ sau phút giao thừa .

Chúng tôi chậm rãi tản bộ, chẳng cần phải nói chuyện nhiều, cứ thế mà đi, hạnh phúc mơ màng, ngắm nhìn xóm nhỏ thân yêu giữa đêm giao mùa huyền hoăc. Khi đi đến khu đường rầy xe lửa gần Ngã Năm chúng tôi quay trở lại xóm, chia tay ai về nhà nấy, hẹn gặp lại ngày mai Mồng Một đến chúc Tết gia đình nhau và qua chúc Tết Cha Phạm Ngọc Giá, à mà không, hẹn nhau …chút nữa vì đã qua năm mới rồi nhỉ!

Vậy đó, dù hồi ấy tôi cũng có một mối tình “nhè nhẹ” vắt vai, nhưng tôi chưa bao giờ một lần lãng mạn “Em đến thăm… chàng đêm Ba Mươi” như bài hát của Vũ Thành An, vì còn phải bận đi mua…bánh gai và đi dạo đêm giao thừa với bạn thân. Chàng chịu thì chịu, mà hổng chịu thì cũng… ráng chịu vì hai việc ấy đã trở thành một thói quen, một “luật bất di bất dịch” mà ba đứa con gái chúng tôi đã vô tình tạo nên, để giờ đây chúng là những ký ức đẹp vô giá.



2.
Nhà tôi, thuở đó, thuộc Phường 10 Quận Gò Vấp, vùng ven đô, hay còn được gọi là vùng “nửa chợ nửa quê”, vì nó không xa phố thị Sài Gòn và cũng rất gần ruộng vườn.

Nếu đi từ Ngã Năm Chuồng Chó, chạy xe đạp, lên Phú Nhuận cỡ chừng 10 phút, rồi chạy thêm khoảng 15 phút nữa là đến trung tâm đường Hai Bà Trưng, rồi lên đường Đồng Khởi, Nhà Thờ Đức Bà, Chợ Bến Thành… Nếu đi hướng ngược lại, về An Nhơn, là đến An Phú Đông rợp bóng mát cây xanh, vườn tược, mà còn có cả con sông bé tí, với một bến đò ngang thơ mộng. Hoặc đi theo hướng Thông Tây, nếu rẽ phải là lên Xóm Mới, một thời oanh liệt với nhiều lò sản xuất pháo lừng danh, qua cầu Sắt là gặp Xa Lộ Thủ Đức gió lộng, còn rẽ trái là lên phường 12 Thông Tây, nơi từng nổi tiếng là vườn trồng hoa Tết, cung cấp rất nhiều cho thị trường Sài Gòn mỗi dịp Xuân về.

Từ giữa tháng Chạp là thời gian nhộn nhịp nhất, khu vườn hoa rực rỡ đủ sắc màu cả một vùng không gian. Dòng người đi tảo mộ ở những nghĩa trang gần đó đều ghé vào mua những bó hoa tươi thắp mộ cho người thân. Tôi và lũ bạn, khi tan học, ghé nhà đứa bạn có vườn vú sữa, cả đám ngồi dưới tàn cây, đàn ca và ăn vú sữa… rụng trong gió Xuân hây hẩy, rồi trên đường về, đạp xe ngang qua những vườn hoa toả mùi thơm ngào ngạt mà nghe lòng nao nức một trời Xuân .

Dân xóm tôi có một “phong tục” rất dễ thương, là rủ nhau đi mua thêm hoa chiều Ba Mươi, lúc đó giá hoa rất rẻ, có khi gần như là cho không. Không phải chúng tôi cố tình đi mua trễ để dìm giá hoa, mà vì trong số nhà vườn có gia đình một người bạn thân của anh trai tôi. Ảnh kể, năm nào vườn cũng dư ê hề hoa vạn thọ và hoa cúc, nên chúng tôi đến mua thêm, mua ủng hộ, các chủ vườn hớn hở hào phóng, rối rít cám ơn những vị khách muộn màng giúp họ thanh toán những luống hoa cuối cùng để còn lo dọn dẹp đón Tết.

Riêng tôi, đi theo chòm xóm mua hoa vì … ham vui, vì mê khung cảnh nên thơ của … “gánh hàng hoa” cuối năm, chớ nhà tôi, năm nào anh bạn nhà vườn cũng đem tặng mấy chậu cúc, thược dược đẹp nhất vườn.

Những buổi chiều cuối năm, tôi thích ngồi trước quán nước nhà mình, ngắm những chiếc xe ba gác chở đầy hoa từ vườn Thông Tây hoặc chở đầy pháo từ Xóm Mới, trực chỉ trung tâm Sài Gòn cho người người mua sắm.

Thế đấy, cần gì phải chờ đến Tết, khi mà những buổi sáng trời trong veo, nhà nhà mang lư đồng, chén dĩa kiểu, bàn tủ ra sân chùi rửa rộn ràng. Đám con nít trong hẻm cũng biết lợi dụng thời cơ lúc ba má dọn dẹp cửa nhà để gầy các sòng bầu cua cá cọp cãi nhau ồn ào. Mấy chị em tôi mang dưa kiệu ra mảnh sân xi măng sau nhà phơi khô và khi chiều tối, nhóm thanh niên có máu văn nghệ ngồi đàn đúm bên bếp lửa canh nồi bánh chưng của nhà kế bên, với cây guitare thùng, bập bùng những điệu nhạc bolero thiết tha, nồng nàn: “Đón Xuân này tôi nhớ xuân xưa, hẹn gặp nhau khi pháo giao thừa …” là đã thấy Mùa Xuân đang đến rồi.

Vui thay là thời gian đợi chờ. Hạnh phúc thay là những ngày rạo rực chuẩn bị đón Tết, và có ai như chị em tôi không, cứ hễ tiếng pháo giao thừa vừa xong, hai tay còn bịt trên hai lỗ tai vì sợ tiếng rền vang của pháo, chúng tôi nhìn nhau tiếc nuối bâng khuâng: “ Thế là …hết Tết… Hết Tết rồi!”. Dẫu biết rằng còn ba ngày Xuân vui vẻ, nhưng phút giây tuyệt vời cảm xúc của đêm Ba Mươi phải chờ …365 ngày mới có nữa!

Hơn một phần ba thế kỷ trôi qua, xóm nhỏ của tôi theo bể dâu biến đổi, hàng xóm bè bạn cũng lưu lạc bốn phương trời. Tôi nhớ có lời đồn rằng, vì sinh ra và lớn lên ở vùng “nửa chợ nửa quê”, nên nhiều cư dân nơi này thường có tính khí…ba rọi, “sáng nắng chiều mưa”, nửa tỉnh nửa mê, hổng giống ai!

Ngẫm mà đúng thật, vì có tôi đây, nơi xứ tuyết trắng Canada, đang mê man thương nhớ về những ngày Tết nắng rực vàng, của một thời xa lắc xa lơ…

Edmonton, Xuân Bính Ngọ 2026
Kim Loan

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

Xuân Nơi Đây - Thơ: Dư Thị Diễm Buồn - Phổ Nhạc: Cố Nhạc Sĩ Hiếu Anh - Ca Sĩ: Thảo Quyên

Thơ: Dư Thị Diễm Buồn
Phổ Nhạc: Cố Nhạc Sĩ Hiếu Anh
Ca Sĩ: Thảo Quyên


Năm Ngựa Cảm Xúc



Chinh chiến ngàn xưa ngựa đứng đầu
Đích Lô Tuyệt Ảnh đúng thần câu (*)
Ô Vân đạp tuyết đâu còn nữa (*)
Huyết Hãn truy phong thiệt khó cầu (*)
Xích Thố Quan Công danh vẫn đó
Ô Truy Sở Bá ngựa về đâu
Anh tài chiến mã từ bao thuở
Nay đã theo dòng cuộc bể dâu.

Quên Đi

(*) - Đích Lô: tên ngựa Lưu Bị cỡi.
- Tuyệt Ảnh: tên ngựa Tào Tháo cỡi.
- Ô Vân: tên ngựa Trương Phi cỡi.
- Huyết Hãn: giống ngựa quý chạy nhanh, khỏe có mồ hôi đỏ như máu.

Thư Xa

 

Xin cho tôi gửi một lời
Tới người xa cuối chân trời...ngày xưa.
Đầm đìa vạt tóc dưới mưa
Xuân thì qua, Cánh nhạn thưa, bạc đầu.
Cổ kim nối một nhịp cầu
Hát khan giọng dưới trăng đau. Một mình.

Nguyễn Minh Nữu

Chúc Mừng Năm Mới



Mai nở tưng bừng khoe sắc thắm
Đào hoa e ấp đón xuân sang
Gửi đến nhà nhà vui đón Tết
Phúc nhiều lộc lắm thọ an khang

Sao Khuê
 

Cao Vị Khanh Chúc Mừng Xuân Bính Ngọ

 

Thiệp Mừng Xuân: Cao Vị Khanh