Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2014

Tiếng Động Ban Đêm (Quốc Văn Giáo Khoa Thư)

      Cùng Bạn,
      Lật bật lại sắp hết tuần, xin gởi đến Bạn một cảm tác của tôi qua bản nhac của Đức Quỳnh cùng một bài tập đọc trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư ngày trước.
      Lâu, lâu lắm rồi, tôi mới đây tình cờ tình nghe lại được bản nhạc Ba Giờ Khuya, bản nhạc mà từ lâu tôi rất mê của Đức Quỳnh do Trần văn Trạch diển tả, tôi thích giọng ca trầm ấm, đặc sệt giọng Nam Bộ của Trần Văn Trạch; tôi vội vàng tìm kiếm lời ca và chép xuống gởi đến các bạn để chia sẻ, chắc cũng có nhiều Bạn thích bản nhạc nầy.


Ba Giờ Khuya

Trời đông lạnh lẽo muôn bề
Buồn nhớ ai đêm dài
Lòng xôn xao vô cùng nhịp theo tiếng chuông

Kìa! ngoài hè gió lạnh băng 
Rồi từng hồi lá vàng rơi 
Như gieo tiếng buồn trong đêm vắng 
Tiếng dế khóc dường oán thương 
Trong sương mờ bóng chim 
Bay đi từng lứa đôi tìm nơi tổ ấm .

Nhìn mây mây bay
Nhìn sương sương rơi 
Lòng em như tơ vò trăm mối 
Chàng ơi hay chăng 
Mỗi đêm em nghe 
Tiếng chuông từ xa lắng ngân 

      Nghe xong bản nhạc, tôi bồi hồi nhớ lại tiếng đờn của cái đồng hồ Tây treo tường của ba tôi ngày xưa. Đêm thinh vắng tiếng đàn ngân nga trầm buồn, man mác thắm tận cõi lòng.Từng tiếng bon bon gõ giờ chậm rãi ,thật chứa chan, thật não nề ,như nhắc ta cái lạnh lùng của thời gian khiến người nghe không khỏi tái tê; tiếng đàn vừa im bặt là tiếp theo tịếng tíc tắc nghe rõ mồn một của cái qủa lắc đong đưa đều đều, buồn thúi ruột! Tôi cũng còn nhớ những đêm Ba tôi khó ngủ, người bắt ghế, mở cánh cửa đồng hồ rồi buộc lại cái qủa lắc (người miền Nam còn gọi là trứng dái đồng hồ)không cho nó dao động nữa, không cho nó đàn địch nữa để dỗ giấc.
      Nơi đây, bây giờ cũng vậy, tôi thường mất ngủ , càng già lại càng khó ngủ và ngủ rât ít, lòng bùi ngùi nhớ lại những đêm ở quê nhà trước 75, tôi nhớ rõ từng tiếng động ban đêm từ trong nhà đến ngoài hè. Nhà tôi ở nữa quê nữa chợ nên nghe tiếng động ban đêm cũng thú vị lắm trong những đêm trằn trọc.


      Nhân đây tôi cũng xin chép xuống bài Tiếng Động Ban Đêm trong bộ sách Giáo Khoa Thư lớp Dự Bị để chúng ta cùng nhớ lại bộ sách đã dạy dỗ, chuẩn bị chúng ta ra đời làm người trong nếp sống luân lý đạo đức của người xưa. Bài đọc ngắn gọn dưới đây khơi dậy trong tôi một niềm cảm xúc miên man thời thơ ấu cũng như thời gian đi dạy học tại một tỉnh lẻ xa xôi miền sông nước.

Tiếng Động Ban Đêm

Một đêm nằm mãi không ngủ được, tôi lắng tai nghe những tiếng động ở nhà.
Ở dưới giường, con mọt nghiến gỗ kèn kẹt như người đưa võng . Ở đầu giường, cạnh cái tủ, chuột chạy sột sạt ( rọt rẹt) đưa cạnh mình, muỗi kêu vo vo. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng con mối (thằn lằn) bắt muỗi. Con nắc nẻ (*) bay xè xè trên vách.
Không những ở trong nhà, mà ở ngoài cũng có tiếng động. Cạnh nhà, gió thổi vào những tàu lá chuối, nghe như mưa; ngoài vườn tiếng dế kêu ri rỉ. Trời mới mưa, các chổ trũng (hũm) đầy nước cả, nên cóc và ếch, nhái, đều kêu inh ỏi (vang). Xa xa, thì nghe tiếng chó sủa trăng.

(*) con nắc nẻ :Một thứ côn trùng thuộc loại bướm.

Dạo:
Lại một đêm khó ngủ,
“Giáo Khoa Thư" bài cũ đọc vài trang.
Tiếng động đêm ngày ấy vẫn tiềm tàng,
Đêm viễn xứ miên man trong nỗi nhớ!

Tiếng Đêm Năm Cũ

Trằn trọc mãi, nằm hoài không chợp mắt 
Tôi lắng nghe se sắt tiếng đêm dài 
Muỗi vo ve cứ khuấy nhiễu bên tai
Mọt nghiến gỗ như võng ai kèn kẹt 

Trên đầu tủ chuột tung hoành rọt rẹt 
Một tiếng choang nát bét! tách trà rơi!
Con thằn lằn chắc luỡi tiếc của đời 
Con nắc nẻ xè xè bơi trên vách 

Tiếng dế khóc tỉ tê gần kệ sách 
Như hận đời oán trách kiếp phù du 
Tiếng cú đêm ma quái giữa âm u 
Qua song cửa, vi vu nghe gió thở 

Đêm khó ngủ, tôi mơ màng lăn trở 
Chuối xạc xào cứ ngở tiếng mưa rơi 
Tre bên hè cọt kẹt khiến rợn người 
Xa văng vẳng, buồn ơi nhạc ếch nhái 

Tiếng trẻ khóc, nhà ai thêm tê tái 
Tiếng ầu ơ êm ái lẫn thê lương 
Tiếng chó tru rờn rợn xé đêm trường 
Đồng hồ nhạc trên tường ngân nga điểm 

Linh Sơn Tự, chuông công phu gió quyện 
Lòng buồn buồn theo tiếng súng xa xa 
Cùng tràng ho sù sụ bác bên nhà 
Gà eo óc xót xa bên sông vắng 

Trời gần sáng, một đêm dài thức trắng 
Nhưng hồn đêm còn lắng mãi trong tôi 
Bản đàn đêm chan chứa đã xa xôi 
Đêm đất khách bồi hồi thương đêm cũ 

Mailoc 
Cali 6-18-14
(Nhớ những đêm CaoLãnh)
* * *

Sáng Tác:Nhạc Sĩ  Đức Quỳnh - Tiếng Hát: Ca Sĩ Trần Văn Trạch



Thu...


    ( Tặng KimOanh)

Em hãy là mùa thu
Để cho anh chạm khẽ
Anh nâng niu nhè nhẹ
Từng chiếc lá thu vàng

Mùa thu đầy dịu dàng
Ngập sắc vàng sắc đỏ
Có tình anh ở đó
Đợi cùng lòng thu đi

Mùa thu mang diệu kỳ
Đến từng trang vở nhỏ
Những vần thơ theo gió
Bay tìm nhau nẻo đường

 Mùa thu nhiều nhớ thương
 Trong vòng tay hai nửa
Thu ơi, thôi vàng nữa. 
Cho Đông đừng vội sang...

Hhai

Gió...


      
         (Từ  Thu... của Hhai)

Mãi là chiếc lá thu
Hát ru mùa rất khẽ
Vương vấn lòng chạm nhẹ
Chen lẫn nắng hanh vàng

Gió đưa hương dịu dàng
Ươm môi hồng mộng đỏ
Lá êm đềm chờ đó
Gió dừng lại đừng đi

Mỗi thu đến hạn kỳ
Lá xếp vào ngăn nhỏ
Ủ hương lòng gửi gió
Bao phủ mọi ngã đường

Giăng lưới cất nhớ thương
Vấn vương chia hai nửa
Thu qua rồi lại đến 
Mở cửa đón gió sang

Kim Oanh
6/2014

Hai Mươi Mùa Nắng Lạ - Trịnh Công Sơn - Vũ Khanh


Sáng Tác: Trịnh Công Sơn
Tiếng Hát: Vũ Khanh
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình


Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2014

Tự Vấn



Tôi đã nhặt được gì
Trong phút giây mê sảng
Tôi đã thấy được gì
Giữa dòng đời lang thang

Tôi nhặt lên bối rối
Tôi để xuống  thẩn thờ
Anh bàn tay nhờn nhợt
Che đôi mắt dại khờ

Chỉ một giây thôi nhé
Sao lại như rất lâu
Mới lần đầu chạm khẽ
Mà đã là thâm sâu

Anh ơi đời sõi đá
Cuối cùng cũng cần nhau
Dù ngày sau nghiệt ngã
Sợ gì bầm dập đau

Phút phù du gặp gỡ
Ngắn ngắn quá đi thôi
Lòng dập dồn sóng thở
Sợ trên đầu mây trôi

Anh đi qua rất vội
Ghé đời em quạnh hiu
Nét phong trần in dấu
Chấm phá chân dung chiều

Bàn tay anh thô ráp
Có giữ lại mùi hương
Trên lưng em ướt đẫm
Trong vòng tay vấn vương

Em muốn làm trăng thanh
Soi đời anh tái nhợt
Không muốn làm nguyệt lạnh
Chạm tim anh đối sầu

Mặc nụ cười héo hắt
Trên bờ môi thủy tinh
Hóa muôn ngàn vết cắt
Em bằng lòng nghe anh

Đây là lời rất thật
Thêm nụ hôn lặng thầm
Giữ dùm em anh nhé
Chút tình yêu sóng ngầm.

HT.Nguyệt Khuyết

Đồi Thông Hai Mộ - Phương Dung


Thơ Cảm Tác: Song Quang
Thơ Tranh: Kim Oanh

Sáng Tác: Hồng Vân
Tiếng Hát: Phương Dung

Ở Đâu Em? - Hová levél? Sandor Petofi


Hová levél? te szebb reményeimnek
Korán kiégett hajnalcsillaga!
Keresni foglak; - hasztalan kereslek?
Vagy még meglátjuk egymást valaha?

Ha majd az éjnek hallgatag felében
Halvány sugárt a hold a földre vet:
A temetőnek küszöbét átlépem,
S fejem lehajtom sírhalmod felett.

Fölébredendsz-e ekkor álmaidból,
És elhagyod mély, hűvös nyoszolyád?
Hogy meghallgasd, amit majd ajakam szól:
A szerelemnek epedő szavát.

Fölébredendsz-e ekkor álmaidból,
És elhagyod mély, hűvös nyoszolyád?
Hogy letöröljed lankadt pilláimról
Az érted omló könnyek záporát.

Fölébredendsz-e ekkor álmaidból,
És elhagyod mély, hűvös nyoszolyád?
Hogy szellemed majd égő csókjaimtól
S keblem tüzétől melegűljön át.

Vagy holtjokat a sírok ki nem adják
S csak a mennyben találkozol velem?...
Vagy többé sem az éj, sem a mennyország
Meg nem mutat már tégedet nekem?

Sandor Petofi
***
Bài Dịch: Ở Đâu Em? 

Ở đâu em ngôi sao mai sớm tắt
Bao niềm tin hy vọng cuộc đời anh
Anh sẽ tìm em - tìm hoài mỏi mắt
Còn gặp nhau chăng một phút kỳ tình?

Nếu mai sau khi đêm về yên ắng
Ánh trăng mờ soi nhạt giữa trời sao
Anh ngã gục bên mồ em uất ức
Bãi tha ma cũng thổn thức nghẹn ngào

Tỉnh chăng em giấc ngàn thu vời vợi
Rời chỗ nằm lạnh giá dưới âm ti
Nghe anh kể những chuỗi ngày chờ đợi
Lời đắm say của tình ái biệt ly?

Tỉnh chăng em giấc ngàn thu vời vợi
Rời chỗ nằm lạnh giá dưới âm ti
Lau cho anh, quá lưng tròng lệ xối
Vì khóc em nước mắt mọng bờ mi?

Tỉnh chăng em giấc ngàn thu vời vợi
Rời chỗ nằm lạnh giá dưới âm ti
Thắm thiết hôm ngọn lửa lòng dữ dội
Của tình yêu những ngây ngất một khi!

Hay nấm mồ không buông tha thi thể
Anh chỉ gặp em trên cõi thần tiên?
Hay cõi tiên và đêm đen chết tiệt
Bắt chúng mình xa cách mãi vô biên?

Sandor Petofi
Vũ Ngọc Cân dịch

Suối Dâu sưu tầm


Tháng Sáu


              * Tháng sáu trời mưa, trời mưa không dứt
                 Trời không mưa anh cũng lạy trời mưa
                                                        (Nguyên Sa)

Thôi đành thôi, hẹn hò không kịp nhớ
Bỏ xuân qua, oi ả nắng hè về
Em khẽ hát khúc ly sầu một thuở
Tiếng ve già khản đặc thả vu vơ

Lật trăng vàng lên tìm đêm ngày xưa
Nôn nao nhớ bạn bè xa ngái cả
Níu chút gió vương hương tình vội vả
Sao một trời nháy mắt ngó say sưa

Thế đành thôi, chợt nắng chợt mưa
Trời tháng sáu cứ dỗi hờn con gái
Em ôm cả một nửa người để lại
Đứng xơ rơ, ngơ ngẩn tuổi sang già

Nắng vội vàng đẩy bóng ngã chiều xa
Bấm đốt tháng năm – người ơi khôn – dại
Nghe xốn xang thương đời còn mê mải
Tháng sáu rồi, một nửa vội tìm nhau.

Hương Ngọc  

Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

Mùa Của Gió Lang Thang

Tháng 9 Vancouver - Chị  Ngọ

Tháng tám qua nhìn đôi mắt cũ
Chị nằm buồn đỏ đất Pleiku
Núi xuôi tay đứng chờ giông bão
Rừng sắp thu-mùa lá sắp khô


      Cuối tháng 7, Vỏ từ Vancouver gọi qua cho hay chị Ngọ lại vào bịnh viện, lần này thấy chỉ gầy lắm. Giữa tháng 8 qua thăm chị Ngọ, chiều nhá nhem, đường phố đã lên đèn.Chị nằm ở tầng chót bịnh viện.Anh Dũng ngồi trên cái ghế nệm da cũng là cái giường ngủ dã chiến anh quen thuộc nhiều tháng nay.Ngồi nói chuyện một hồi chị không nói tới cái bịnh làm tôi cũng không dám lên tiếng,chị hỏi thăm gia đình bên Úc,rồi lại nhắc hoài thời ở Bố Thảo-Sóc Trăng.Nhớ những lần qua thăm anh chị ở Vancouver,buổi trưa chị hay ngồi ở bàn ăn ,chị vừa viết hoá đơn cho những thân chủ đăng quảng cáo trên tờ báo anh chị đang trông coi vừa nhắc chuyện cũ.Chị nhắc những người quen,những tháng ngày mới bỏ Pleiku về Bố Thảo.

      Bây giờ nằm đây lâu lâu chị lại hỏi vài câu giống như những năm trước.Tôi muốn nói chị hãy nói chuyện hiện tại của chị đi,mà không dám.Trong nhà tôi nhiều anh em nhưng chị Ngọ lại là người hiểu nhiều chuyện tình cảm của tôi.Nhiều lần trước đây chị hay than ,số chú lận đận.Lâu lắm rồi chị cũng thường nhắc và tiếc hùi hụi cô gái mà chị ưng ý, “chờ chú về để giới thiệu mà chờ hoài tới người ta đi lấy chồng”.

      Tôi bổng dưng lại nhớ về ngày đám cưới của chị Ngọ và anh Dũng. Đó là một ngày của năm 73 hay 74 khi anh Dũng được biệt phái trở về làm cho ty nông nghiệp.Tôi đang lo giúp má tôi bày biện nhang đèn ở bàn thờ ông bà thì có người chạy vào cho hay,cô dâu chú rể đã tới và đang ở ngoài lộ xe.Tôi lật đật đi ra đón.Cô dâu –chú rể ngồi xe lôi,một phương tiện giao thông hồi đó từ Bốthảo ra tỉnh Baxuyên.Loại xe ba bốn chổ ngồi ở cái thùng phía sau và được kéo bằng xe Honda .Trước sân nhà che rạp bằng tàu dừa lá cây đủng đỉnh uốn cong trước cửa rào.Bạn bè của anh Dũng,có cả Cương -một người bạn quê Châu đốc và rất đông bà con hàng xóm tới dự rất vui.Má tôi có dịp mặc lại cái áo dài màu xanh xậm trên có điểm hình những lá liễu mà thường cái áo nầy được cất trong cái tủ thờ ít khi đụng tới.Cái áo dài đó đã theo má tôi về cát bụi từ năm 1989.Mấy chục năm rồi.Nghiệm lại mới thấy mỗi ngày sống là mỗi bước chúng ta đi gần tới cái chết.

      Từ của sổ phòng bịnh,nhìn xuống thấy một góc lớn thành phố Vancouver,phía kia là biển,thuyền bè neo bến xa xa thật an bình.Những ngôi nhà thấp thoáng trên triền đồi bao quanh bởi một màu cây xanh biếc.Chiều nhá nhem rồi thành phố lên đèn.Vancouver dưới ánh đèn đẹp hơn tôi từng thấy mỗi lần đi xuống phố.

       Nhìn lại chị Ngọ tôi thấy hơi thở chị có phần nặng nhọc. Giọng chị yếu đi dù vẫn còn rõ từng tiếng một. Chị cứ nói chuyện lan man,tôi thì cứ lo nghĩ về những ngày sắp tới của chị.Bây giờ tôi mới biết , điều mà ai cũng lo sợ khi nó tới ,thì chị đã nắm chắc trong tay rồi, nên chị rất là thanh thản, rất bình tỉnh để chờ đợi.Sâu chuổi và thánh giá nằm trên ngực chị nhấp nhô theo từng hơi thở nặng nhọc.Nhưng tôi thấy chị dường như chấp nhận mọi điều gì đã được an bày. Giọng nói chị không có gì là lo sợ nhưng có hơi buồn. Chị bình tỉnh hơn anh Dũng nhiều.Có lần chị nói, “chị mong tới ngày đó cho sớm”, nói rồi chị lại lo cho hai đứa con gái của chị , lo anh Dũng một mình sau này. Chị nhắc: “Có gì chú qua lại chơi với anh Dũng thường hơn!”.

      Tháng 9 chị ra đi. Anh Dũng lục lại hình chị, rọi lớn treo đầy nhà.

      Buổi chiều nhìn cây cherry lão sau nhà anh Dũng cỏ vàng dưới gốc, vàng như mớ cỏ mới trên mộ chị Ngọ.Nhớ mùa cherry những năm trước tôi ghé qua thăm anh chị, đúng mùa cherry trái chín đỏ xẩm đầy cây.Có lần chạng vạng một chú raccoon đã leo lên ngồi.(Raccoon là một giống chồn ở bắc Mỹ,to lớn hơn con mèo,chúng sống trong khu rừng thưa,bụi rậm có khi vào trong các khu nhà ở,chiều tối thường ra tìm thức ăn quanh nhà)Tôi cố giậm chân đuổi mà anh chàng vẫn tỉnh bơ nhìn lại bất động,chị Ngọ dặn,chú đừng tới gần,coi chừng nó hôi lắm! Nhớ có năm trúng mùa cherry anh Dũng và chị hái để dành trong tủ đá chờ tôi qua.

      Bây giờ chị đã nằm yên trong nghĩa trang, cỏ vàng chưa xanh kịp. Tấm ảnh chị chụp ở trại tỵ nạn Pulau Bidong năm 82,chị còn trẻ quá so với nỗi chịu đựng bao nhiêu năm dài khi anh Dũng ở tù trong trại cải tạo rồi vượt biên và được định cư một mình ở Canada.Tôi tới Bidong trước chị một tháng,chị may mắn đến sau cùng chuyến với cậu em trai tôi.Chị hay kể về những mùa đông Winnipeg tuyết phủ ngập tới ống chân,lạnh và buồn muốn chết.Tôi có lần theo chuyến xe lửa bốn ngày bốn đêm từ Vancouver tới Toronto,vừa đi chơi vừa ghé thăm anh bạn Nguyên Nghĩa ở Mississauga.Xe ghé lại ga Winnipeg vào một chiều mưa lưa thưa,gió hơi se lạnh, đúng là chiều Winnipeg quá buồn.Buồn hơn bài hát Chiều Winnipeg của nhạc sĩ Trần chí Phúc.Tôi cùng gia đình một anh bạn người Tàu Đài Loan đồng hành đi tìm quán ăn.Mùa đông quán đầy người,tôi chắc đa số họ là người điạ phương vì cách họ ăn uống nói năng rất tự nhiên nhàn nhả.Họ vừa ăn vừa thưởng thức rượu nho.Chúng tôi cùng ăn món cá salmon và khoai chiên. Trên đường trở về ga để tiếp tục cuộc hành trình,tôi cố tìm một góc để chụp vài tấm hình với Winnipeg.Nhưng Winnipeg giống một cô gái đang cúi đầu đi trong mưa,không muốn cho ai nhìn thấy mặt.Cô gái dường như đang ôm ấp một nỗi u ẩn nào đó mà không có ai để giải bày.Cuối cùng thì vẫn là cái nhà ga xe lửa,kiến trúc một mô hình với nhà ga Vancouver, và nhà ga Sydney ở bên Úc.Winnipeg,xe đi qua tôi còn cố quay lại chụp ít tấm hình trong những giọt mưa chập tối,hình nhoè đi không thấy gì,nhưng tôi biết đó là Winnipeg ,một quãng đời tỵ nạn của chị Ngọ và anh tôi ở đó.Winnipeg có mưa ướt trên đường về.Winnipeg có nỗi lo sợ của má tôi mỗi khi nhận được thơ anh Dũng ,than mùa đông lạnh lắm. Đến nỗi khi tới đảo Bidong,cao ủy tỵ nạn Úc hỏi tôi: “ Ông có thân nhân ở Canada sao không làm đơn đi theo?”.Tôi lúc đó chỉ còn biết ca ngợi nước Úc nhiều hoa thơm cỏ lạ,nhiều thú hoang dã đặc biệt mà không nơi nào trên thế giới có được…..Và tôi được nhận đi Úc.

Tháng mười cây dẫn mùa thu tới
Đất khách lạnh người mộng lãng du
Gát tay khua chạm hồn quê quán
Chị nằm như đất đỏ Pleiku



      Tháng 10 anh Dũng buồn chưa hết. Tôi lại chia tay anh ở phi trường Vancouver.Nhớ cách đây mấy năm có cô bạn cũ từ Cali. qua thăm tôi ở Vancouver ,anh Dũng chị Ngọ và tôi cùng ra đón và cũng hẹn ở điểm gặp nhau là chổ tượng hai hình người thổ dân Canada bằng gỗ .Loại tượng totem điêu khắc trên một thân cây lớn của người thổ dân Canada dựng trong phi trường.Cả ba người cùng sốt ruột chờ vì theo lời cô ấy dặn thì đã trể hơn một tiếng mà vẫn chưa thấy.Rồi người đó tới,do máy bay bị trể, người nhận ra vị khách đầu tiên lại là chị Ngọ,dù chị chỉ gặp thoáng qua có vài lần gần 30 năm trước.Vậy mà…Lần này tôi rời Vancouver chỉ có anh Dũng và tôi ở phi trường.Đi tìm một hồi mới gặp quầy của Alaska Airline,họ ngồi khiêm nhường trong một góc nhỏ.Lấy boarding pass, định cân hành lý xong thì café với anh Dũng trước khi chia tay,nhưng họ nói cân xong thì mình phải mang vô phía trong để có người đưa đi.Tôi phải đứng đó chờ.Anh Dũng chạy đi mua café,và vậy là phải uống café đứng với anh cho tới giờ đi vào cổng phi trường.Tôi quay lại vẫy tay.Anh Dũng đứng nhìn tôi.Thấy anh buồn như một ngọn núi nào ở đâu đó Pleiku,quê hương chị Ngọ.
( tháng9-2013 )

Tháng Mười Santa Ana

      Anh Chương chị Hà ra đón ở phi trường Los.Chị Hà thì lúc nào cũng “dồi dào sức khỏe”.Lần này tôi được làm chủ bộ xalông.Mấy đứa con anh Chương gặp tôi, khoanh tay “chào chú”.Sáng hôm sau đúng 9 AM Nhứt Mương Điều đã tới.Nhứt chỉ học chung với tôi tới đệ nhị Hoàng Diệu rồi chia tay,cho tới một buổi chiều khoảng năm 70-71 gặp lại nhau ở đại lộ Hoà Bình CầnThơ,thời đó Nhứt đã vào quân đội, đơn vị thuộc Quân đoàn 4 và tôi ở năm cuối đại học Khoa học Cần Thơ.Gặp nhau một lần rồi lại mất tiêu nữa cho tới ngày nhận được tin anh chàng đang ở Bidong ,chờ thanh lọc vì tới đảo sau ngày “cut off” của Cao Ủy tỵ nạn.Trong tất cả bạn bè vượt biên tỵ nạn Nhứt là người có lẽ ở đảo lâu nhứt tới ba bốn năm. Sau đó bị trả về VN rồi phái đoàn Mỹ mới phỏng vấn tại VN và nhận cả gia đình qua định cư ở Mỹ.Nhớ căn nhà Nhứt ở cầu Mương Điều, hồi đệ ngũ đệ tứ Hoàng Diệu có lần bảy tám anh em có cả Trần ngọc Xuân đang ở Sydney rủ nhau đạp xe vô Đại Ngải, ghé Mương Điều.Ba má Nhứt và mấy cô em gái làm một bửa cơm canh chua đãi bọn tôi quá ngon.Cả bọn ăn muốn sạch nồi cơm của chủ nhà.

      Chị Hà gọi cho chị Ánh Ryan, có người đặt cho chị nick name “bà già trầu”.Chị cười dòn trong phone, báo là hôm sau tới và anh Chương phải đón ở trạm xe lửa.Chị hỏi cần cá cần tép crawfish gì cho hay chị đem lên.

      Hình ảnh chị Ánh áo dài trắng, tóc dài có cái băng trên tóc còn đó.Mấy chục năm rồi.Từ ngày chị biệt tăm rời trường, năm đệ tam A2. Thật tình là tôi không biết chị làm gì ở đâu! Rồi “cho tới một ngày kia” khi chị xuất hiện trên email và đưa lên một số hình ảnh cũ, tôi mới biết chị đang ỡ Mỹ.Cũng nhờ chị Ánh mà ông bạn Trần ngọc Xuân mới thấy lại tấm hình cô nữ sinh cùng trường, cô Huỳnh Cẩm Thu “ ngày xưa tôi có quen một người em gái nhỏ,tuổi đang 16 mái tóc chấm ngang vai, tình như nụ hoa nở trong lòng đời ngọt ngào…”.Hình cô nữ sinh Hoàng Diệu thời đó quá đẹp ,quá dể thương và quá thơ mộng .

      Hôm sau Ánh Ryan tới,cả đám ,tôi anh chị Chương, Ánh Ryan và Nhứt Mương Điều cùng đi chợ Việt Nam mua đủ thứ rau cải cá tép có cả chai nước mắm mực Thái lan cho chị Ánh mang về nhà.Buổi chiều hôm đó ai cũng vô bếp,dọn dẹp bày biện để có một mâm đầy ở vườn sau nhà anh Chương.Vừa ăn vừa nhắc chuyện cũ.Thực khách: vợ chồng anh Chương chị Hà ,tôi,chị Vân,bà xã anh Đường-anh Đường đoàn trưởng XDNT, người ở trọ cùng nhà khi tôi dạy học ở Kế Sách-anh Đường kể lại chuyện hai người nên duyên cầm sắc là nhờ kỳ thi tú tài ở Cần Thơ. Để anh trai Bạc Liêu gặp người nữ sinh Baxuyên,rồi bỏ quên luôn cái xứ “ dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu”….Vài người khách không phải Hoàng Diệu : cô Mỹ BS bạn chị Vân,và đứa cháu gái tôi,Annie từ Turlock tới.Hơn 40 năm gặp nhau không nhận ra ,hôm đó chờ hoài ở trạm xe đò Hoàng ở siêu thị,sốt ruột tôi nhờ Nhứt goị cell phone thì đứng ở đàng kia Annie mới trả lời.Một cô bé lai,cha Hungary mẹ Việt,một thời nữ sinh son trẻ,có nét đẹp Âu châu,tới giờ là người mẹ trên 60 cho nên không dể gì mà nhớ ra được.Hôm nay may mắn có anh Lê Xừng tới dự kể chuyện lính tráng hành quân cùng những chuyện tình đi ngang qua đời lính. “ một chiều hành quân qua thôn xưa ,lúc nắng xuân chưa nhạt màu….”. Anh Xừng đã hiến tuổi xuân mình cho đất nước khi một viên đạn ghim vào cột sống đã làm hoang phế cuộc đời anh cho tới nay.Một mình một chiếu , đơn thân độc mã,nhưng nghĩ lại anh vẫn còn may mắn vì hít thở được không khí tự do. Đặc biệt tôi gặp lại thầy Cao văn Bảy giáo sư anh văn. “Mình về trồng bảy cây cao,nhớ Cao văn Bảy bỏ vào thùng thăm” . Đó là hai câu lục bát ghi trên bích chương vận động tranh cử -đại biểu Quốc Hội của thầy lúc thầy đang dạy Anh văn cho chúng tôi ở Hoàng Diệu.Sau đó thầy đổi đi…Mấy chục năm mới gặp lại thầy nơi đất khách. Đặc biệt và không thể thiếu, tôi gặp lại Thương tử Tâm-Đặng phước Đức người bạn từng một thời Hồn Trẻ 20 từ những năm đệ tứ đệ tam Hoàng Diệu.Gặp lại Thương tử Tâm là gặp lại những ngày xe đạp Hoàng Diệu làm thơ gởi báo Sài Gòn và đọc báo cọp ở nhà sách Thanh Quang.Là tập tểnh in thơ thiếu chịu mà chủ nhà in vui vẻ bằng long.Là gặp lại café xây chừng thuốc samit hai thằng một điếu những ngày tháng dài lê thê sau ngày đó tháng tư.

      Ánh Ryan cũng nâng ly với bà con, rồi không biết ai gợi chuyện mà lại nhắc về chuyện tình cây viết Paker.Chị nói : “Tôi thương anh chàng đó vì mê cây viết paker,và chàng ta đã mua tặng cây viết này”. Thời học sinh những năm 60 có cây viết pilot của Nhật đã là quí ít ai dám rớ tới paker,vì quá mắc.Nghỉ lại chuyện tình này sao mà dể ợt ngon lành tới vậy! Lớp đệ tam thời đó mấy chị đã biết làm đẹp nhiều,biết điểm trang ít son phấn và anh bạn trai to lớn cùng lớp đã “phải lòng”chị Ánh.Nhớ lại thời đó những bạn bè cùng lớp: Trần ngọc xuân, Lý Đạo,Trần tự Kía, Tất Xuân,Trịnh vănTửng, Bùi thế Hưởng… Lý Ên, Liêu hồng Nhung, Trần thị Mỹ Tú, Lưu ngọc Hà…Có bao nhiêu bạn đã nằm xuống trong cuộc chiến: Trần văn Út,Phan vương Ngọc,anh Phùng,anh Lũy,họ đã nằm xuống để bảo vệ lá cờ vàng thân yêu vẫn bay phất phới giữa sân trường Hoàng Diệu. Nhớ có lần cuối năm Lý Đạo ngồi bên cửa lớp hát : “ Hồn lỡ sa vào đôi mắt em,chiều nao xõa tóc ngồi bên thềm.Thầm ướt nhưng nào đâu dám nói, khép tâm tư lại thôi, đường hoa vẫn chưa mờ lối…”.Thời đó Liêu hồng Nhung có mái tóc giống như nữ minh tinh Lăng Ba.(?)

( tháng 9-2013 )

Holly Springs- North Carolina.


      Do ảnh hưởng của cơn bảo, phi trường Raleigh chiều nay gió lạnh thổi tứ bề. Co ro đứng chờ Tùng tới đón ở hiên ngoài.Trước đó tôi đã mượn nhờ phone ở quầy hướng dẩn, báo cho Tùng biết.Không bao lâu thì anh chàng đã tới.

      Ngôi nhà khá rộng.Tôi một mình một phòng trên lầu.Vén màn nhìn xuống con đường phía dưới,những ngôi nhà bên kia đường với mấy chậu kiễng quen quen .Vẫn những đứa trẻ chạy xe đạp trên drive way.Con đường thật yên tĩnh lâu lâu mới có một chiếc xe chạy qua như tiếng động của một hòn sỏi ném xuống mặt hồ êm ả.Phía sau nhà là rừng lưa thưa xanh mướt, sân sau mấy cây thông xanh đứng thầm lặng.Không nghe tiếng chim về đậu, tôi đoán ít khi nào chủ nhà ra đứng nhìn ngắm thông.Chợt nhớ câu thơ xưa Nguyễn công Trứ: “kiếp sau xin chớ làm người, làm cây thông đứng giữa trời mà reo”.Phong cảnh bắc Mỹ có nét gần giống nhau ở đâu cũng thông tùng xanh mướt thể hiện sức sống mãnh liệt son trẻ của hai quốc gia giàu mạnh,Mỹ -Canada.Bất chợt tôi nhớ “miệt dưới- down under” , đi đâu con mắt cũng không rời những cánh rừng khuynh diệp –gum tree mà mỗi khi mùa hạ về lại báo hiệu những cơn cháy rừng sắp đến.

      Trở vô nhà khi có tiếng xe Tùng đi rước con về.Mấy mươi năm ở Mỹ, Tùng đã biết hâm thức ăn cho hai cậu con trai,biết làm cơm nấu canh kho thịt như một bà nội trợ.Tùng loay quay ở bếp chuẩn bị cơm chiều.Ngồi ở bàn ăn,kéo sáo nhìn ra khu rừng mấy cánh chim vừa đáp xuống rồi vụt bay đi.Nhớ Cần Thơ -16 Pasteur đêm say rựơu đế, để sáng hôm sau tiễn đưa Tùng trình diện quân trường Thủ Đức.Tùng không biết nhóm lửa để làm ly trà nóng khi tôi than mệt vì say rượu.Nhớ những cô gái chèo đò ngang gần bến Ninh Kiều Cần Thơ.Ghe tam bản nhún nhẩy theo nhịp chèo,áo bà ba nón lá dịu hiền như cao dao lục bát. Ngày ngày bao nhiêu bận qua sông .Thời đó mỗi chuyến đò ngang chỉ có 50 xu.Nhớ căn nhà trọ nhà chị Bảy xóm rạch Bà Hơn bên kia sông bến đò Sân Heo những năm Khoa học Cần Thơ.Nhớ Ngô công Thắng sở Mỹ, lâu lâu về Cần Thơ tắp qua thăm bè bạn. Đám học trò nghèo nhờ vậy có được mấy buổi sáng café thuốc lá PallMall yêu đời thêm chút nửa.Nhớ cô gái cháu chị Bảy dể thương đằm thắm từ Châu Đốc xuống chơi mấy tuần vậy mà làm mấy anh xao xuyến cả năm sau đó.

      Bạn bè thật hiếm khi gặp lại nhau.Mỗi lần gặp nhau như là gặp lại CầnThơ nhà trọ- những năm khoa học gạo bài khuya lắc khuya lơ.Là gặp lại Baxuyên HoàngDiệu, gặp lại sinh tố BaĐô, café vỉa hè góc phố Hai Bà Trưng, bún nước lèo ngồi ăn giữa chợ .Là gặp lại những ngày sáng chiều tâm trạng bâng khuâng sau biến cố Mậu Thân,bạn bè chuẩn bị lên đường nhập ngủ.Là gặp lại cái bàn ăn nhà anh Chương chị Hà Santa Ana.Là gặp lại bánh mì Cali., café DỉVãng…Là những tháng ngày Tùng còn ở Cali. Nhớ năm 94 lần đầu tôi từ Sydney qua thăm anh chị Dũng ở Vancouver khi anh chị vừa rời bỏ xứ lạnh Winnipeg.Lần đó cả nhà anh chị Dũng bốn người tôi và cậu con trai,tất cả ngồi xe bus qua Cali.mất 36 tiếng.Anh Dũng mang theo mấy con cá salmon loại ngon và hiếm để tặng anh chị Chương-Hà.Nhưng khi mua vé do nhầm lẩn người bán vé ghi trạm tới của chúng tôi không đúng- cho nên hành lý đã bỏ xuống trước một trạm.Tới nơi hỏi ra mới biết.Họ bảo ngày hôm sau mới gởi tới. Hôm đi nhận thì mấy con salmon đã hư dù đã ướp bằng nước đá khô ,nhưng vì để quá lâu.Anh Dũng tiếc hùi hụi, vì mất đi món quà quí tặng bạn bè.Lần đó Tùng đã xin phép nghỉ cả tuần để đưa chúng tôi đi lòng vòng Cali.Với Tùng bỏ Cali. như là bỏ đi một quãng đời yêu dấu cũ …“ Thời gian như cánh chim bay,qua dần những tháng cùng ngày….” . 

      Sáng thứ bảy ngồi café tây.Nhắc chuyện tình trung học .Người con gái trong câu chuyện tôi được nghe Tùng kể nhiều lần mà lần nào cô cũng có giọng nói dể thương hấp dẩn,thông minh, biết gợi chuyện.Nhưng đoạn kết thì….Nên có lần chàng đã một mình: “ đứng trước căn nhà em lợp ngói- mới thấy còn thương gái có chồng”.Nhà thơ Nguyên Nghĩa đã từng có tâm trạng giống như Tùng. Nhắc chuyện cũ để thấy vui thấy buồn như chén nước mắm dầm ớt cay tới chảy nước mắt, ướt cả nụ cười trong câu chuyện hôm đó.Chợt nhớ câu thơ cũ : “ai cũng có dòng sông trong đáy tách-uống mỗi lần mỗi thấy bóng ta say”.(LHK)

( tháng 9-2013 )

South Carolina- Trần Phù Thế


      Sáng sớm chủ nhật chúng tôi khởi hành đi thăm anh The,nhà thơ Trần phù Thế.Anh The và Tùng ở cùng tiểu bang nhưng kẻ bắc người nam.Mà lại phân chia thành 2 tiểu bang riêng biệt.Mấy chục năm rồi từ khi rời Hoàng Diệu tôi chỉ loáng thoáng gặp anh vài lần vội vả.Thời Hoàng Diệu anh Trần phù Thế và anh Lâm hảo Dũng trong nhóm CungThươngMiềnNam.Tôi thường gặp anh giờ nghỉ trưa ở nhà trọ của Khánh Xuyên(nhóm HồnTrẻ 20),thời đó thích làm thơ gởi các nhật báo ,tuần san hay nguyệt san ở Sàigòn.Rời Hoàng Diệu anh vào quân đội.Mãi tới năm 80-81tôi lang thang đi qua con đường Tự Đức nơi trường Khoa Học cũ tình cờ gặp anh đang ngồi quán cốc với người bạn.Lúc ấy anh vừa ra tù. Người bạn là anh Bình,cũng là Hoàng Diệu cả hai đã cạn một lon guigoz rượu thuốc rồi.Anh nói tôi ngồi chơi anh về lấy thêm rượu-bà chị của anh ngâm mấy lít rượu thuốc cho anh uống trừ bịnh hậu bởi nhiều năm bị đày trong lao tù khổ cực của chế độ mới.Chia tay ở quán rượu ít lâu sau tôi đi.Anh chờ đợi tới ngày may mắn thoát ra theo diện HO. Có lần đọc một bài thơ anh trên đặc san Miền Đông Hoa Kỳ,mới thấu nỗi buồn của người tù,người vợ…

      Vào thành phố Taylor nơi anh ở,Tùng phone, anh dặn cứ chờ ở một nơi ,anh sẽ tới.Lát sau hiện ra trước mặt chúng tôi một ông “trung niên” khỏe mạnh đội nón nỉ phong trần trên chiếc xe van loại có cái thùng phía sau.Trông anh phong sương rắn rỏi bụi đời như là một tay giang hồ chịu chơi. Mà thực ra trong cách nói chuyện của anh lại chứa đầy phong cách của một nhà giáo hơn là một tay lính chiến phong trần.Chào nhau bắt tay mừng rỡ,chạy theo xe anh về nhà. Ngôi nhà anh nằm trong một xóm nhỏ thưa thớt dân cư giống như xóm ngoại ô nào đó ở một thành phố Việt Nam trước 75. Anh thích thú với cái nón da tôi mang tặng từ Sydney.Cái nón kiểu anh chàng tài tử miệt dưới Paul Hogan đội trong phim Crocodile Dundee.Nhà chỉ mình anh,bà xã phụ ở tiệm nail của đứa con gái. Chúng tôi ra một tiệm phở trong vùng.Khu phố nhỏ thưa người xế chiều gió hiu hiu dể làm nhớ nhà nhớ xóm.Tùng không làm thơ nhưng là người đọc nhiều biết nhiều những cây viết từ thời còn trong nước.Anh ta nhắc bài lục bát “Bậu về” của anh The.Tôi cũng mê bài này, đó là một bài lục bát nhắc lại cái thời tiểu học trường làng miền quê Đại Ngãi: “Bậu về liếc mắt đong đưa/Gió xuân đầy mặt như vừa chín cây/Bậu về má đỏ hây hây/Ta mười lăm đã lòng say bậu rồi”. Chỉ bốn câu mà đã hiện lên một miền quê hương hữu tình cây trái xum xuê hiền hậu của vùng sông nước Hậu giang.Cho tới nay suốt gần bảy mươi tuổi đời anh Trần phù Thế chỉ có làm ba công việc là: làm học trò – làm lính – và làm thơ. Ngoại trừ năm sáu năm làm người tù trong trại cải tạo.Và những năm làm cu li ở xứ người. Những năm ở Hoàng Diệu, trong nhóm Cung Thương Miền Nam anh có bút hiệu là Mặc Huyền Thương, lấy từ tên của một người con gái,mà anh thầm yêu mến tên là Thương Huyền.Có lần từ Mỹ anh nhận được lá thơ từ một người gởi rất xa xăm rất bất ngờ. Ở góc trái lá thơ có tên Thương Huyền, in dấu con tem từ Đức quốc.Anh hồi hộp mở lá thơ tay run như hồi 16 tuổi lỡ đụng phải tay người bạn gái mới quen. Đúng là cô gái ngày xưa của nửa thế kỷ đã qua. Cô tình cờ đọc được những bài thơ anh trên một trang web nào đó,thơ nói về Đại Ngãi-Sóc Trăng,Vàm Tấn-cù lao Dung, quê hương của cô.Tình cờ biết được ngày xưa có anh chàng học trò nhà quê tập tễnh làm thơ và yêu mình đến nổi lấy tên mình làm bút hiệu…cô đã thao thức mấy đêm. Chợt biết ra thì đã tóc hai màu, xa xôi hơn ngàn dặm. Niềm xúc động dâng tràn trên mấy trang thơ cô gởi cho anh Mặc huyền Thương-Trần phù Thế.

      “Đêm nay anh ngồi lặng im nghe tôi kể chuyện tâm tư bao năm lắng trong tim,tình mình từ thuở tuổi đôi mươi mà ta chưa biết nên đành lỡ duyên đời…”. Bài hát của Trúc Phương vẳng đâu đây. Đêm đó anh ngồi viết một hơi “Bậu về” 

      “ Bậu về Đại Ngãi mình ên/Bỏ quên kẹp tóc bắt đền tội ta/Bậu quên là tại bậu mà”…..

      Anh Trần phù Thế đã cho ra mắt 2 tập thơ :Giỡn Bóng Chiêm Bao và Gọi Khan Giọng tình.Mới đây –tháng 5-2014 theo tin tức từ trang web Bạn văn nghệ của nhà thơ Trần yên Hoà ở Cali. thì Thư Ấn Quán của nhà thơ Trần hoài Thư vừa in tập “Cõi Tình Mong Manh” là tập thơ thứ ba của Trần phù Thế. Tháng 5-2014 nhân dịp tới Cali. thăm bạn bè anh đã trình làng tập thơ mới này ở tư gia nhà thơ Trần văn Nam ở Garden Grove, có sự tham dự của nhiều nhà thơ thân hữu: Trần văn Nam,Viên Linh, Thành Tôn, Trần yên Hoà,Lâm hảo Dũng, Đặng kim Côn, Trạch Gầm….

      Nhớ buổi chiều hôm đó anh Thế rủ bọn tôi cùng gia đình anh đi ăn tối, vì con gái anh đã đặt chổ ở nhà hàng Nhưng chúng tôi phải từ chối vì Tùng phải trở về nhà coi hai cậu con trai . Đành thất hẹn một dịp gặp gở hiếm hoi.

      Tôi và tùng quay xe về North Carolina.Trời chiều.Chia tay anh Trần phù Thế,còn nhớ hoài mấy câu lục bát Bậu Về.Nhớ làm sao Đại Ngãi-cù lao Dung,Kế Sách- Nhơn Mỹ,Cái Côn-Phong Thuận, Ngã Bảy- Phụng Hiệp một thời sông nước Hậu Giang bềnh bồng trôi nổi. Thời gian qua cứ như con nước lớn ròng khuya sớm.Thoắt một cái rồi lại xa ngàn dặm như quan sơn cách trở. Chợt thấy buồn buồn. Vẳng như có ai đó vừa ngân nga nói lối, vừa gỏ nhịp song lang, cho ray rức hoài mấy câu vọng cổ.

Lâm Hảo Khôi
(ghi thêm tháng 6-2014)

La Đà Gió Bay...



Thư xưa
Xem lại xót lòng
Mực xanh, giấy trắng
Tình hồng gởi trao

Bao mùa
Thay lá bên cầu
Vàng bao nhiêu lá
Vàng màu tình thơ

Một lần
Hò hẹn đợi chờ
Một người không đến
Một ngơ ngẩn buồn!

Trà Vinh
Đất Vĩnh Long vương
Chữ duyên không đặng
Chữ thương rã rời...

Qua bao
Mấy cái “mười mươi”
Thư ai còn đó
Với lời thiết tha

Người quê cũ
Ta trời xa
Hương xưa, thoáng mộng
La đà gió bay...

Yên Dạ Thảo
12.05.2014

Thơ Không Hồi Đáp

Bắt gặp LA ĐÀ GIÓ BAY của Yên Dạ Thảo, tâm sự người sao gần trùng hợp với tâm sự mình ở một thời xa xưa. Xin phép tác giả cho ghé vào làm bạn đồng hành để cùng lắng lại chút nỗi niềm. Xin cám ơn tác giả bài thơ.

Bụi xe
Từ chuyến khởi hành
Theo về
Bỏ lại phố thành
Sau lưng

Hàng cây
Ngược bóng qua khung
Nắng đầu ngày nhạt
Lạnh lùng gió ơi

Em ngồi vai chạm
Buồn rơi
Sợi hương tóc thả
Chơi vơi hồn mình

Mực xanh
Giấy trắng
Thơ tình
Gởi em từ độ
Bóng hình em vương

Bao năm
Biết mấy đoạn đường
Tờ thơ vàng ố
Lời thương chưa về

Bây giờ
Trên bến sông quê
Lá xao vàng
Rụng ven lề
Gót sương…

Phong Tâm
09.06.2014

La Đà Lá Bay


         (Từ La Đà Gió Bay của Yên Dạ Thảo)

Nhớ xưa câu chuyện nao lòng
Đơn phương … em được tình hồng ai trao
Một ngày chân bước qua cầu
Tình buồn thêm nét xám màu văn thơ

Xưa tự hẹn… tự đợi chờ
Em nào có biết… ngẫn ngơ người buồn.
Ngọt ngào Vĩnh Long vấn vương
Lỡ trao sai mối yêu thương…tình rời

Kỷ niệm của thuở đôi mươi
Bây giờ nhắc lại mong lời thứ tha
Người ơi! Ở chốn trời xa
Xem như là chuyện la đà lá bay!

Anh Tú
07.06. 2014
Hình phụ bản của YDT

Anh Còn Nợ Em - Anh Bằng - Trúc Dương


Sáng Tác: Anh Bằng
Tiếng Hát: Trúc Dương

Thứ Tư, 18 tháng 6, 2014

Phù Du


Đứng cuối đời, ngoảnh đầu: quen hoá lạ
Cõi vô thường: có có, không không
Ngỡ trong tay, vụt bay mất hút
Tưởng rằng không lại hóa nặng lòng

Người ở đó như không có đó
Ta ngồi đây nhưng chẳng còn đây
Mộng với thực, lờ mờ sương khói tỏa
Chuyện mất còn, lãng đãng áng mây bay

Từ hoa mỹ ngấm ngầm nhiều gian dối
Trong đau thương chữ mới thật lời
Sau thánh thiện biết đâu chừng tội lỗi
Giữa mượt mà giông bão biết đầy vơi

Kiếp phù sinh có gì đâu tuyệt đối
Ước mơ nhiều, mất mát cứ dài ra
Cành nảy lộc, ngày kia cây sẽ cỗi
Cõi vĩnh hằng mãi tận cuối trời xa

Nhớ cho lắm chỉ thêm sầu chuốc khổ
Cố tìm quên, người lại cứ quay về
Hạnh phúc mong manh, chònh chành sóng vổ
Mạch nước ngầm đưa lũ lụt qua đê.

Lời nặng nhẹ nghĩa tình lạc lối
Vết thương lành, sẹo vẫn còn đau
Cây rụng lá, lá về với cội
Người xa người ái ngại nhìn nhau

Hoa lặng lẽ, dẫu hồng ngàn tía
Gió lùa cành lá chỉ lao xao
Chó dùng đuôi để diển tình gợi nghĩa
Người lắm lời chỉ khổ lòng nhau!

Bể trầm luân sóng dồn nghiêng vách đá
Thuyền u mê lạc nẻo khó quay về
Hạt đã gieo rồi, chờ lấy quả
Cành si kết nụ, trổ hoa si

Chốn thiên đường chẳng xa vùng địa ngục
Một đường tơ lẫn lộn đôi miền
Đời tiếp đời, khổ ải kéo triền miên
Ngày hoan lạc: vài cơn gió thoảng

Vòng danh lợi, lọc lừa, tính toán
Kiếp tơ tằm: “ sinh ký tử quy”
Rồi một ngày nhắm mắt ra đi
Nhục thể cũng về chung cát bụi.

Lê Kim Thành


Đồi Thông Hai Mộ - Hương Lan


Trích Thơ: Trầm Vân
Thơ Tranh: Kim Oanh
* * *
Đồi Thông Hai Mộ

Về ngang hai mộ đồi thông
Chiều trôi sương khói bay vòng xót xa
Chuyện tình Tâm Thảo thoảng qua
Bóng hình đôi lứa la đà đâu đây
Hồn nương cánh gió phiêu bay
Đánh rơi giọt lệ chuyền ngày qua đêm
Trách ai xé sợi tơ duyên
Ai gây sóng gió nổi chìm phong ba
Thương cô giáo Thảo hiền hòa
Thương Tâm hiếu thảo hóa ra mất tình
Nghe Tâm tử trận thình lình
Đớn đau nàng đã quyên sinh theo chàng
Ai tung tin giả dối gian
Để cô gái dưới suối vàng ngậm đau
Chàng ngồi bên mộ gục đầu
Lệ rơi sũng ướt bờ ngâu rã rời
Chàng ra chiến trận xa xôi
Một hôm gục ngã dưới trời đạn vang
Đưa chàng về cạnh mộ nàng
Đồi thông hai mộ hòa tan sương sầu
Sống thì không lấy được nhau
Cõi âm về lại xây lầu ái ân
Vòng tay ôm mối tình trần
Thắt vòng chung thủy sáng ngần trăng soi

Về nghe Đà Lạt sương rơi
Đồi thông hai mộ vẳng lời khóc than
Tay buồn thắp vội nén nhang
Khói bay nghiêng ngả đôi hàng thông xanh
Mắt hoen dòng lệ chảy quanh
Mối tình diễm tuyệt sao đành ly tan?

 Trầm Vân



Sáng Tác: Hồng Vân
Tiếng Hát Hương Lan

Tóc Mây - Bờ Vai - Chiều Rơi


Xướng : 
 
          Tóc Mây 
Nắng vàng hôn nhẹ tóc ai bay   
Gió thoảng mơn man suối tóc dài 
Sóng biếc hay mây ôm dáng ngọc 
Tóc huyền buông xõa động lòng ai
                                        Quên Đi
 
         Các bài Họa:
 
                 Bờ Vai
Nắng sớm choàng vai hương nhẹ bay
Bờ vai mười sáu tóc buông dài
Vai gầy ngoan nhé ôi thanh thoát
Trót đã say rồi ai hỡi ai
                                     Kim Phượng

                 Chiều rơi
Nhạt nắng chiều rơi sương khói bay
Hàng cây rủ bóng chặng đường dài
Mây trôi bàng bạc chân trời biếc
Xao xuyến nhớ về bóng dáng ai

                               Thiên Thu      

Cầu Bạch Đằng - Cầu Mới Ở Nội Ô Vĩnh Long

Cầu Bạch Đằng được khởi công vào ngày 6/2/2012.
Cầu nằm song song với cầu Thiềng Đức
Cầu được thiết kế theo dạng dây văng.
Chiều dài 112m, đoạn dẫn lên cầu 48m, mỗi bên là 14m,
Chiều ngang 3m; độ thông thuyền hơn 40m
  
Cầu được nhìn từ chợ Vĩnh Long
Từ Cầu nhìn sang xóm Đá (giờ thuộc Phường 5 - Thiềng Đức)


Cầu được nhìn từ Xóm Đá -4


Chợ Cá Vĩnh Long được nhìn từ cầu 7
Từ Cầu Bạch Đằng nhìn về cầu Thiềng Đức 8

Huỳnh Hữu Đức 

Đồi Thông Hai Mộ - Tiếng Hát Giao Linh

Thân gửi mấy câu thơ như một comment. Thân chúc an vui - Trầm Vân

(Từ Thơ Tranh Nghệ Sĩ Đồi Thông Hai Mộ - Thơ Phương Hà, Thơ tranh KimOanh)

Chợt nghe tiếng hát Giao Linh
Đồi Thông Hai Mộ chuyện tình đau thương
Tiếng ca da diết vọng buồn
Chiều qua Đà Lạt mù sương rối mờ
Mối tình đẹp tựa bài thơ
Ai đành chia rẽ thẫn thờ lòng đau
Cõi trần chẳng sống cùng nhau
Cõi âm về lại se câu ước nguyền
Đôi hồn tháp cánh thần tiên
Mang theo thương nhớ rải miền chiêm bao
Đồi Thông Hai Mộ cỏ nhàu
Tiếng Giao Linh hát giăng sầu lệ rơi
Thơ Phương Hà rất tuyệt vời
Khung thơ tuyệt đẹp vẽ lời khóc than
Ngàn năm thiếp ở bên chàng
Ngàn năm tình nép suối vàng thông reo

Trầm Vân

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2014

Chuyện Thầy Trò


      (Viết cho ngày 20 -11)

      Lúc mới ra trường về Trung học Tống Phước Hiệp, gặp thầy Hiệu Trưởng Đào Khánh Thọ, rồi nhận những lớp dạy theo thời khóa biểu được thầy Giám Học Thái Sơn Hà phân công. Có lẻ như bao nhiêu thầy cô khác, tôi chưa hề nghĩ đến một ngày nào đó khi rời trường, tôi sẽ gặp lại những học trò cũ với quá nhiều thương yêu dành trọn cho thầy. Lúc đã về quê ở Long An, có những đứa đã tìm mọi cách để biết số điện thoại, lại còn dò hỏi chỗ ở của tôi, để hẹn đến thăm, trong đó có em.

      Nghe em điện thoại hỏi thăm đường vào nhà, để khi có dịp về chiêu sinh cho trường ngoại ngữ ở Thành phố, em sẽ tìm đến. Em nói ngày xưa là học trò trường Trung học Tống Phước Hiệp, tiếp tục là trường Cấp III Tỉnh Vĩnh Long, lớp 12A1 niên khoá 76-77. Sau khi tốt nghiệp đại học Sư Phạm, em lại trở thành đồng nghiệp của tôi ở nơi em đã học. Sau đó em lên Sài Gòn, còn tôi đã về quê nhà ở Long An.

      Sáng ngày hôm em đã thông báo sẽ ghé trường Trung Học Phổ Thông Tân An đối diện nhà tôi, để chiêu sinh cho Trung tâm Ngoại ngữ nơi em đang dạy, thật là mắc cỡ khi kể rằng tôi đã cứ nhiều lần ra cổng nhìn qua trường xem có xe nào ghé.Rồi cuối cùng tôi cũng thấy có một chiếc xe đậu trong sân trường, tôi vội vàng mặc áo quần tươm tất nhưng cũng vẫn là cái áo thun ngắn tay cùng quần dài xanh đậm như ngày nào.          Ra ngồi ở ghế phía trước để dễ dàng nhận ra người đến.Tưởng là ai sợ mình nhận không ra thì thật là mắc cỡ.
      Cũng như một lần đứa học trò cũ đang ở Úc, hình của em tôi đặt ở phòng khách trong nhà, nơi hầu như mỗi ngày đi ngang qua là thấy.Vậy mà hôm kỉ niệm 55 năm Trường Tống Phước Hiệp, tôi thấy có một em đang ngồi trên dãy ghế dọc lối đi làm lễ, em cười cuối đầu chào, tôi thấy sao rất gần gũi tự thuở nào. Có lẽ không nhận ra em vì một người ở cách xa biển rộng bên ấy mà vẫn có mặt ở sân trường xưa vào lúc họp mặt thầy trò này.


      Đứng trước cửa nhà tôi cùng với hai em nam, nữ khác theo sau, tôi nhận ra em ngay. Thật là vui khi gặp lại sau mười mấy năm xa cách. Sau đó em đã dẫn các bạn cùng lớp đã học toán với tôi đến thăm, đứa từ Sài Gòn xuống, đứa từ Vĩnh Long lên và trước khi ra về các em còn gửi bao thư cho thầy mua thuốc uống, ăn bồi bổ.
      Em hỏi tôi ngày tái khám ở bệnh viện Chợ Rẩy trên Thành phố,điện cho em hay lúc gặp bác sĩ và nhận thuốc xong.Sao thấy lâu quá mặc dù chỉ mười phút sau là em xuất hiện trong sân trước của bệnh viện.Thăm tôi xong,em chỡ tôi đến bến xe buýt về Long An.Lần đầu tiên tôi chịu để một đứa con gái chỡ mình,lý do là tôi tuổi đã lớn,còn đang điều trị bệnh,rồi không biết đường cũ giờ đã đổi mới nhiều. Đành chịu vậy. Trước khi từ giả, em trao cho tôi mấy quyển sách. Ngồi trên xe buýt, giở ra. Nào là sách y học điều trị bệnh tiểu đường, cao huyết áp, suy tủy, lại còn thêm hãy vui với tuổi già.Thật khác hẳn hồi trước tôi chỉ có mua sách học làm người, thiền học,rèn luyện khí công, thái cực đạo, hiệp khí đạo, toán đại số, giải tích,hình học, thống kê xác suất,..Mà sao em lại thấy bây giờ tôi nên đọc những sách em đã chọn?

      Lần cùng đi uống nước với em sau khi đã khám bệnh xong, em cho tôi xem học bạ những năm trung học em còn gìn giữ cẩn thận.Tội nghiệp cho tôi khi dò đến chỗ lời phê của mình, không biết mình có nhận xét điều gì chưa đúng? May mắn cho tôi, vì ngày xưa em học giỏi và ngoan.
      Công bằng mà nói, lúc dạy ở Vĩnh Long sau 1975,có những trò nam lớp tôi chủ nhiệm, hoàn cảnh gia đình quá nghèo khó, rõ ràng ảnh hưởng đến việc học dễ dẫn đến thua kém bạn bè, khó mà đậu tốt nghiệp trong năm cuối. Khi chủ nhiệm lớp em, nhận thấy em có khả năng học tốt. Nhưng thường xin phép nghỉ học, những bạn cùng lớp rất che chở em, cho biết em nghỉ có lý do.Tôi đã buộc mấy bạn em chủ nhật dẫn tôi đến nhà em không báo trước. Các em hết hồn!
      Qua đường lớn rồi vào đường đất ngoằng ngoèo đến nhà em. Ba em nói em đang phụ lợp nhà trong xóm.Tôi không cho gọi em hay báo có thầy chủ nhiệm đến, bạn em hỏi chỗ rồi dẫn tôi đi. Em đang trên khung mái, nhìn thấy tôi như là không tưởng thật. Trèo xuống chào tôi. Dĩ nhiên lối xóm bắt em phải đưa tôi trở về nhà vì có thầy đến thăm.Trở về nhà em, rồi nói rất bình thường là thầy khỏi vào cửa trước. Tôi bình thường chui vào vách lá chỉ còn vài mảnh tượng trưng cho cái gọi là vách mà thôi.
      Em đã rời khỏi trường rồi dấn thân vào cuộc sống. Tôi đã đến thăm lúc em đang vác bao lúa nặng trĩu trên vai từ ghe chài đậu xa dưới bến, đi trên đòn dài nhún nhảy để đưa vào nhà máy, gần đền thờ cụ Phan Thanh Giản.

      Cuối năm cũ, em cùng mấy bạn thân vào nhà tôi trong khu tập thể, xin phép cô mời tôi đi ra ngoài lộ để chúc Tết.Tôi nói mấy em đã nghèo còn bày đặt ăn uống tốn kém..Tụi nó nói thầy yên tâm, mấy em đãi thầy lẩu dưa. Món nầy tôi nghe lạ, mà lẩu thì phải có tiền mới dám kêu. Tưởng sao, tụi nó đáp ngay sạp dưa đối diện trường, rồi lựa trái bự chắc cú. Mượn dao vớt ngang mặt trái dưa, bỏ vài cái muỗng dài, rồi múc làm nháp cho tôi học. Lẩu dưa là vậy, tôi cũng quấc ngon lành cùng ly rượu đế nhỏ khi tới tua.


      Thật tội nghiệp cho học trò cũ, khi rời sạp dưa để chia tay đưa tôi về nhà tập thể, các em nhất định phải đi theo để chúc Tết cô và hai cháu con tôi. Nhìn lại thấy hai đứa khệ nệ ôm hai trái dưa lớn tổ bố, mang đặt lên chỗ kệ thờ có ảnh ba tôi. Các em vái lạy rồi mới chịu ra về. Rất tiếc lúc đó tôi đang có hai đứa con trai còn nhỏ, không cách nào giúp được bằng vật chất cho những học trò quá khó khăn. Thật ra thì không đứa nào yêu cầu tôi điều đó.
      Còn chuyện này bây giờ tôi mới dám kể, lúc đang dạy lớp 12 trường Tư thục Đạt Nhân.Tôi nghe gọi vui là hàng không mẫu hạm, cả trăm học trò ngồi trong phòng quá lớn. Dãy cuối lớp có những em nữ tuổi dám gần bằng tuổi tôi.Thời đất nước còn chiến tranh mà.Được cái là mấy em rất chú ý nghe thầy dạy, mặc dù nhiều lúc tôi biết thầm là nhiều em chắc không nhét vô nỗi những rắc rối của toán cuối cấp trung học. Có khi tôi cảm thấy nữ sinh bàn cuối đang bình phẩm gì về tôi. Mong rằng tôi đã nghĩ nhầm!

      Một sáng bước chân đến cổng trường, chú trật tự gọi tôi đưa môt bao thư gởi thầy. Tôi lên lớp dạy xong, về nhà trọ mở ra xem. Đến giờ tôi chỉ còn nhớ là em yêu cầu thầy trưa mai lúc mười hai giờ gặp em ở quán ngã ba chiều tím, nếu không đến em sẽ tự tử.
      Tội nghiệp cho tôi phải ngồi kiểm tra lại mình. Từ lúc dạy lớp hàng không mẫu hạm đó đến giờ ,mình có gây ra hiểu lầm gì để học sinh nào đó phải chết vì mình như thế này.
      Cuối cùng tôi phải đưa thư cho bạn thân đồng nghiệp cùng ở với tôi xem.Tôi nhờ bạn chở tôi đến chổ em yêu cầu gặp. Tôi đã núp phía sau lưng bạn mình, đội nón ngụy trang nhìn thoáng khó nhận ra tôi, chạy ngang qua, lại tôi nhìn vào quán thấy không có người đẹp nào ngồi chờ.

      Vậy là em sau một đêm trằn trọc không ngủ, đã hoặc là thoát qua cơn khủng hoảng của tuổi mới lớn, hoặc là em cũng đang giả dạng để quan sát tôi đi đến trông thế nào, hoặc là em có thương tôi thiệt, nên không bao giờ muốn làm khổ người mình đã lỡ thương.?!
      Còn nhiều chuyện lắm trong đó có đủ cả thầy trò...

Tháng 20/11/2009

Huỳnh Hữu Trí


Thầy Huỳnh Hữu Trí Cùng Đồng Nghiệp

Kính gửi Cô và Gia Đình Nhân Giỗ giáp năm của Thầy ( 20 tháng 5 Âm Lịch)

 Thầy Lê Tân( Dạy Sử Địa), Thầy Lê Thượng Hiền ( Pháp Văn), Thầy Huỳnh Hữu Trí( Toán) - 1973
 Năm 2000
Năm 2004

Huỳnh Hữu Trí

Về Cái Răng


Cầu trên mây, lượn mắt cuối con sông
Đóa lục bình lờ lững cuốn theo dòng
Sóng nhấp nhô, thuyền con ai nhẹ lướt
Trôi về đâu, ngày rộng tháng mênh mông

Cầu Cái Răng, anh về đường hun hút
Nối đôi bờ, kết chặt nỗi lòng ta
Ngược xuôi tình, chân gõ nhịp thiết tha
Muà hoa nắng ươm vàng trên áo trắng

Trời rực hồng chở tình anh sâu lắng
Hương quê nghèo ấp ủ bóng quen thân
Con đường xưa ai chờ đón ân cần
Kỷ niệm vỡ nồng say như nắng mới

Mùa lúa chín cánh đồng vàng phơi phới
Gạo nàng Thơm môi ngọt bữa cơm trưa
Tiếng chim chào ríu rít dưới hàng dừa
Anh có thấy mắt lá bừng yêu dấu

Cần Thơ đó nơi đất lành chim đậu
Cây nghiêng mừng cỏ bén gót tình xa
Bước anh về reo tiếng hát ngõ nhà
Ca dao lượn qua cầu dâng sức sống

Đêm thao thức vầng trăng vàng mong ngóng
Bình minh chờ, vai sánh bước bên nhau
Gió qua sông gùi tiếng sóng dạt dào
Về mau nhé kề vai tràn hơi ấm


Kim Quang                                                 

Đồi Thông Hai Mộ - Giao Linh


Thơ: Phương Hà
Thơ Tranh: Kim Oanh


Sáng Tác: Hồng Vân
Tiếng Hát: Giao Linh
Thực Hiện Youtube: minhanben

Tình Lịm Tắt


Lâu rồi chim di rời phương Bắc
Để lại đây tuyết phủ màu tang
Quanh gốc thông già tình lịm tắt
Lá ngừng trôi suối nhỏ vương mang

Đem giòng lệ cứu hàng mi dại
Ngữa lên trời tìm ánh sao mai
Vu vơ ngắm đèn khuya vắng bóng
Suối cạn dần thân lộ gốc thông

Lại bến xưa người trong giấc ngủ
Lạnh sương đêm hòa khúc hoang vu
Cành khô lặng đan cùng mây xám
Gót điêu linh dày xéo ngàn thu

Mai này không người bên sông đợi
Khúc ai bi cuồn cuộn khắp nơi
Đông mang gió tuyết chôn màu nhớ
Lấp tình xưa kín đáy mộ khô

Bỏ cả sau lưng lại cho đời.

Lê Kim Hiệp
ThuCali 2007



Tình Bậu Nhẹ Hều


Rất nhẹ nhàng
hình như không lay động
bậu nhẹ về
như hơi thở dòng sông
ta ngây ngất
thèm đôi môi đỏ mộng
bởi mê tình nên nuôi mãi tình không

Bậu biết đó
tình nào không mê mệt
những thiết tha
cùng nhịp đập con tim
nên một bữa
dạt dào tình dậy sóng
khi tóc thơm phảng phất một mùi quen

Như bữa đó
bậu về trong cơn gió
gió thênh thang
bay khắp nẻo vô chừng
bậu lại nữa
lượn lờ không biết mỏi
chỉ riêng ta khan tiếng gọi người dưng

Mong đêm nay
bậu về trong giấc ngủ
trong mùi thơm
hoa sứ trước hiên nhà
con bướm nhỏ
quạt hoài chùm hoa sứ
cũng như ta đuổi mệt tình càng xa

Ta rất nhẹ
nâng niu tình hai đứa
cất trong tim
không dám chạm vào tim
ta chỉ sợ
một giây hai phút nữa
tình biệt luôn trốn mất biết đâu tìm

Bậu coi nhẹ, nhẹ hều tình hai đứa
ta nặng tình, dẫu chết chẳng hề quên


Trần Phù Thế

Thứ Hai, 16 tháng 6, 2014

Lư Sơn Chân Diện Mục - 廬山真面目

      Đây là Thành ngữ khi nhắc đến Lư Sơn. " Lư Sơn Chân Diện Mục " là Bộ Mặt Thật Của Lư Sơn, thường được nói tắt thành Thành Ngữ 4 chữ là LƯ SƠN DIỆN MỤC 廬山面目, theo tích sau đây :

成語故事 
    廬山因周武王時期高人匡俗結廬而居而得名,它三面臨江,山勢十分雄偉,山清水秀,風景奇麗。它臨江靠水,山上煙霧縹緲,人們很難看清它的真實面貌。蘇軾寫《題西林壁》:

                    “橫看成嶺側成峰,
                      遠近高低各不同。
                      不識廬山真面目,
                      只緣身在此山中。”

THÀNH NGỮ CỐ SỰ
          Tên gọi LƯ SƠN là do cao nhân Khuông Tục đời Châu Võ Vương dựng lều ( kết lư ) trên núi đó ở mà thành tên gọi . Lư Sơn 3 mặt giáp sông, thế núi vô cùng hùng vĩ, sơn thanh thủy tú, phong cảnh cực kỳ tráng lệ. Vì 3 mặt giáp với sông nước, nên trên núi  luôn có mây mù vây phủ, người đời khó mà trông rõ bộ mặt thật của Lư Sơn, nên mới có Thành ngữ trên.  Tô Đông Pha ( Tô Thức ) từng làm bài thơ " ĐỀ TÂY LÂM BÍCH " như sau :

                      Hoành khan thành lãnh trắc thành phong,
                      Viễn cận cao đê các bất đồng.
                      Bất thức Lư Sơn chân diện mục,
                      Chỉ duyên thân tại thử sơn trung.

Chú Thích :
                    ĐỀ TÂY LÂM BÍCH là bài thơ của Tô Đông Pha đề lên trên vách của Chùa TÂY LÂM TỰ, nằm ở phía tây của dãi LƯ SƠN.
         1. LƯ, LÔ :   Ta có 7 chữ vừa đọc là LƯ vừa đọc là LÔ như sau :
               *. 盧 LƯ : Họ Lư.
               *. 爐,鑪 : Có bộ HỎA và bộ KIM một bên, nghĩa là cái Lò.
               *. 瀘 LÔ : Có 3 chấm thủy một bên, nghĩa là Con sông LÔ.
               *. 籚 LÔ : Có bộ Trúc hoặc bộ Thảo trên đầu là VI LÔ : lao sậy.Trong Truyện Kiều có câu :
                            VI LÔ san sát hơi may,
                            Một trời thu để riêng ai một người.
               *. 鱸 LƯ : Có bộ Ngư, là tên một loại cá, thịt ăn rất ngon. Đặc biệt là loại sống ở Tùng Giang có 4 mang rất quý hiếm, mà Tào Tháo rất thích ăn.( Xem Tam Quốc đoạn TẢ TỪ ).
               *. 驢 LƯ : Có bộ Mã, là con Lừa.
               *. 廬 LƯ : Là Nhà cất sơ sài. THẢO LƯ : là Nhà cỏ. Đây là chữ LƯ trong bài thơ, do tích cao nhân Khuông Tục đời Châu Võ Vương kết nhà tranh trên núi đó ở mà thành tên LƯ SƠN. Trong Truyện Kiều cũng có câu :
                             Gặp nhau mừng rỡ trăm bề,
                             Dọn thuyền mới rước nàng về THẢO LƯ.
          2. HOÀNH , TRẮC :Hoành là Ngang, Trắc là mặt bên, mặt xéo.
          3. LÃNH, PHONG : Lãnh là Đỉnh núi. Phong là Ngọn núi.
          4. VIỄN, CẬN, CAO, ĐÊ : là Xa, Gần, Cao, Thấp.
          5. CHỈ DUYÊN : Chữ Duyên ở đây đồng nghĩa với chữ NGUYÊN là Nguyên do, là Duyên cớ. Nên CHỈ DUYÊN có nghĩa giản dị là : Chỉ Vì .
    
  Diễn nôm :
                    Trông ngang thành đĩnh, xéo thành non,
                    Cao thấp gần xa cũng mấy hòn.
                    Mặt thật Lư Sơn ai biết được,
                    Nào hay thân đã ở Lư Sơn !
                                                          Đỗ Chiêu Đức.
                    

          Trong 100 bài Ngũ Ngôn Tuyệt Cú " Giang Hành Vô Đề " của TIỀN KHỞI đời Đường, có một bài nhắc đến Lư Sơn rất nổi tiếng còn truyền tụng đến hiện nay. Xin giới thiệu Tiền Khởi và bài thơ sau đây:


钱起
         钱起  (722-780 ),唐代诗人,“大历十才子”之一。字仲文。吴兴(今属浙江)人。天宝九载 (750)参加进士试,所作《省试湘灵鼓瑟》诗末二句“曲终人不见,江上数峰青”,为人传诵,称为绝唱。乾元年间(758~760),任长安附近的蓝田县尉,与王维时相过从,有诗酬答。王维晚年某些山水田园诗的风格对他有一定影响。大历中,任司勋员外郎、司封郎中,官至考功郎中,后人因称为钱考功。


        Tiền Khởi ( 722-780 ). Thi nhân đời Đường, là một trong " Đại Lịch Thập Tài Tử ". Tự là Trọng Văn. Người huyện Ngô Hưng ( nay thuộc tỉnh Chiết Giang ). Năm Thiên Bảo thứ 9, ứng thi Tiến Sĩ, nổi tiếng với bài " Tỉnh Thí Tương Linh Cổ Sắc " nhất là 2 câu cuối : "Khúc chung nhân bất kiến, Giang thượng sổ phong thanh ", được truyền tụng là tuyệt cú. Giữa năm Càn Nguyên, nhậm chức Huyện Úy Huyện Lam Điền gần Trường An, thường qua lại và đối đáp thơ với Vương Duy, làm quan đến chức Khảo Công Lang Trung, nên người đời sau thường gọi ông là Tiền Khảo Công.
    
    江行無題            GIANG HÀNH VÔ ĐỀ
 咫尺愁風雨,         Chỉ xích sầu phong vũ,
 匡廬不可登。         Khuông Lư bất khả đăng.
 秖疑雲霧窟,         Chỉ nghi vân vụ quật,
 猶有六朝僧。         Do hữu Lục Triều tăng.
                   錢起                                       Tiền Khởi.

Chú Thích : 
         1. CHỈ XÍCH : Chỉ là 8 tấc, Xích là 1 thước. CHỈ XÍCH đi chung có nghĩa là : Trong gang tất. Ta có Thành ngữ CHỈ XÍCH THIÊN NHAI 咫尺天涯, có nghĩa : Gần nhau trong gang tấc mà tưởng chừng xa cách tận chân trời. Trong Truyện Kiều có câu :
                   Gác kinh viện sách đôi nơi,
                   Trong GANG TẤC lại gấp mười quan san.
          2. KHUÔNG LƯ : 庐山,山体呈椭圆形,典型的地垒式长段块山约25公里,宽约10公里,绵延的90余座山峰,犹如九叠屏风,屏蔽着江西的北大门。以雄、奇、险、秀闻名于世,素有“匡庐奇秀甲天下”之美誉,Một tên gọi khác của Lư Sơn. Dãy núi có hình bầu dục dài khoảng 25 km, rộng 10 km, chập chùng nối tiếp nhau khoảng hơn 90 ngọn núi, giống như một bình phong 9 tầng, che lấp cả Bắc Đại Môn của tỉnh Giang Tây. Nổi tiếng với 4 tiêu chuẩn HÙNG, KỲ, HIỂM, TÚ.( Hùng vĩ, Kỳ bí, Hiểm trở, Tú lệ ), được xưng tụng với mỹ danh : " Khuông Lư kỳ tú giáp thiên hạ " , là nơi nghỉ mát lý tưởng cho mùa hè, nên rất được du khách trong ngoài nước hâm mộ.
         3. VÂN VỤ QUẬT : Vân là mây, Vụ là Mù Sương, Quật là Hang Động. VÂN VỤ QUẬT là Hang động luôn luôn được mây mù che phủ.
         4. LỤC TRIỀU : Là thời đại loạn lạc trước nhà Đường gồm có các nước : Đông Tấn, Tây Tấn ( có sách cho là nước Ngô ), Tống, Tề, Lương và nước Trần.( Nổi tiếng với Trần Hậu Chủ và khúc hát Hậu Đình Hoa ).

Dịch Nghĩa :
             Chỉ cách nhau trong gang tấc ( ý chỉ rất gần ), mà lại phải buồn vì mưa gió nên không thể leo lên được tận trên ngọn Khuông Lư. Ta lại càng ngờ ngợ nghi rằng, biết đâu trong những hang động luôn luôn bị mây mù che phủ kia, còn có những ông sư già đi tu hồi thuở Lục Triều !.
            Khéo ngớ ngẩn, nhưng chính sự ngớ ngẩn nầy của Tiền Khởi càng làm cho Lư Sơn có vẻ kỳ bí hấp dẫn hơn lên !

 Diễn Nôm :
                             Gang tấc sầu mưa gió,
                             Khuông Lư chẳng thể leo.
                             Nghi trong mây mù động,
                             Còn có sư Lục Triều !.
       Lục bát :
                            Buồn vì gang tấc gió mưa,
                            Chẳng lên đặng ngọn Khuông Lư sớm chiều.
                            Nghi trong hang động mây nhiều,
                            Lão tăng hồi thuở Lục Triều còn tu!
                                                                         Đỗ Chiêu Đức.

       Nói thêm với Thầy Phan Huy Viên CHÂN DIỆN MỤC :
       Thưa Thầy,Hồi mới về sinh hoạt với trường nhà, em cứ tưởng là Thầy họ LƯ tên SƠN, vì thành ngữ
 " Lư Sơn Chân Diện Mục" rất phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong văn chương Xưa và Nay, ai dè đâu Thầy lại còn là TÂY ĐÔ CUỒNG SĨ nữa, em chịu thua Thầy luôn!   


Đỗ Chiêu Đức.