Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

Mùa Xuân Yêu Em - Phạm Duy - Ý Lan


Sáng Tác: Phạm Duy
Ca Sĩ: Ý Lan
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình

Mơ Thành Học Sinh Tống Phước Hiệp

     

     Vào thập niên 60s học sinh tiểu học ở các tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Bình và Sa Đéc chắc ai cũng như tôi, đều mơ thành học sinh Tống Phước Hiệp (thuở đó còn mang tên Nguyễn Thông). Tại sao tôi mơ thành học sinh Tống Phước Hiệp? Dễ hiểu thôi, thứ nhứt là nhà tôi quá nghèo, cha mẹ tôi phải tần tảo vất vả lắm mới nuôi nổi anh em chúng tôi thì lấy tiền đâu ra để cho tôi học trường tư; thứ nhì thuở ấy khắp 3 tỉnh chỉ duy có một trường trung học có từ lớp đệ thất đến đệ nhất, đó là trường Tống Phước Hiệp và thanh thiếu niên nghèo cở tuổi tôi trong ba tỉnh này chỉ có một con đường lựa chọn duy nhứt là phải đậu vào Tống Phước Hiệp để còn được tiếp tục đi học. 

     Ngày đó học sinh tiểu học chúng tôi, sau khi học xong bậc tiểu học là phải chuẩn bị thi tuyển vào lớp đệ thất, tức là lớp 6 bây giờ. Hễ ai đậu thì tiếp tục học trường công, còn ai rớt mà nhà có tiền thì theo trường tư hoặc bán công, nhưng nếu nhà không tiền thì hoặc ở nhà tiếp tục học thi cho năm sau, hoặc khăn gói ra đồng phụ giúp cha mẹ. Bây giờ hồi tưởng lại những kỷ niệm một thời những thí sinh tí hon chúng tôi phải lều chõng đi thi, mình thấy nó vui vui làm sao ấy. Hồi đó thi tuyển vào đệ thất trọn ngày nên những đứa nhà gần như chúng tôi thì buổi trưa chạy ù về nhà ăn cơm, rồi trở lại trường thi tiếp; còn những đứa ở xa như ở các quận lên thì thường có cha mẹ đi theo, lúc con vào thi thì cha mẹ ngồi ngoài quán nước gần đó hay những gốc cây sao ven đường, đợi các con thi xong buổi sáng rồi cùng ăn trưa với các con và tiếp tục đợi buổi chiều để rước con về.  

     Tôi sanh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, nghèo lắm, nghèo da diết, lại sống trong một khu xóm toàn là dân lao động tay chân, nên ít có gia đình nào có ý hướng muốn cho con cái học hành đi lên. Thường thì ai được học tới khi biết đọc biết viết hoặc cùng lắm là hết tiểu học đều cũng ở nhà phụ cha mẹ trong kế sinh nhai. Gia đình tôi thì khác, lúc nào ba mẹ tôi cũng tranh cãi với nhau về vấn đề cho con ăn học. Mẹ tôi thì một mực phải cho con ăn học để có chữ có nghĩa với đời dù thân mẹ có ra sao mẹ cũng cam, vì theo mẹ, giáo dục không những chỉ được dùng để giáo hóa con người hay là bực thang thăng tiến trên đường đời, mà trường học còn là bức chắn không làm cho thanh thiếu niên hư hỏng khi bước chân vào trường đời, khiến cho họ có khả năng sống một đời đáng sống hơn. Còn ba tôi thì ngược lại, ba tôi thực tế trong vấn đề sanh kế trước mắt hơn nên ba thường nói: “học để sau này làm ông cống ông nghè gì đó mà học?” Cứ thế mà tôi phải sống vằng vặt trong hai ý hướng đối nghịch giữa ba và mẹ. Tuy nhiên, thuở đó ba tôi thường không có ở nhà nên mọi chuyện về học hay nghỉ của anh em chúng tôi đều do mẹ quyết định. Thế là anh em chúng tôi vẫn được tiếp tục đi học trong sự đùm bọc của mẹ. 

Năm tôi học lớp nhì cũng là năm ba tôi trở về sống với mẹ con chúng tôi. Từ lúc ba về lúc nào ba cũng có ý định bắt ép tôi phải ở nhà để ra tiệm phụ làm thợ mộc với ba, nhưng lần nào cũng vậy, mẹ và ba tôi đều cãi nhau một trận quyết liệt, rồi tôi vẫn được mẹ cho tiếp tục đi học. Năm tôi chuẩn bị thi đệ thất, không biết ba vô tình hay cố ý, trước ngày thi có một ngày ba kêu tôi và em Minh lại để ba hớt tóc cho. Mẹ nói: “Tự thuở giờ tôi có thấy mình hớt tóc đâu mà đòi hớt tóc cho tụi nó?” Ba nói: “Nhà không tiền nên tôi mua tông đơ về hớt cho sắp nhỏ cho đở tốn kém.” Tôi cũng lại cho ba hớt, ba loanh quanh một hồi rốt cuộc cái đầu của hai anh em tôi trọc lóc. Tôi ứa nước mắt, hôm sau mắc cở quá nên không chịu đi thi, dù mẹ có năn nỉ thế mấy tôi cũng không đi. Mẹ tôi khóc hết nước mắt và hết lòng năn nỉ tôi nhưng tôi vẫn không chịu đi ra ngoài vì mắc cở. 
Ba nói: “Thây kệ nó, nó không đi thi thì ở nhà ra tiệm phụ làm thợ mộc với tôi, chứ có gì đâu mà mình phải khóc!” Sáng hôm sau ba kêu tôi ra tiệm phụ làm với ba. Mẹ tôi òa lên khóc thật to: “Tôi biết mà, mình muốn cho con tôi sống trong ngu dốt để suốt đời chỉ đi làm cu li mà. Tôi nhứt định không cho nó đi đâu hết. Năm nay không thi thì năm tới thi. Tôi cho nó đi học, đi học hoài, tôi nuôi hoài.” Thấy mẹ khóc, tôi cảm thương cho mẹ quá. Từ đó tôi dặn lòng là phải cố gắng học cho thật giỏi cho mẹ vui. Tôi lại bên mẹ xin lỗi vì đã bỏ cuộc thi hôm qua. Mẹ tôi âu yếm nhìn tôi rồi nói: “Thôi hổng sao đâu con, trễ một năm cũng không hề hấn gì. Từ rày về sau con nhớ đừng bao giờ để cho ba con hớt tóc nữa nghe hôn!”  


     Năm sau tôi đi thi với quyết tâm không được quyền rớt, vì rớt là chắc chắn phải bị nghỉ học để đi làm phụ thợ mộc với ba. Ngày tôi đi thi, mẹ nhờ dì Sáu trông coi gánh hàng cho mẹ để mẹ đưa tôi đi thi và rước tôi về. Bây giờ nhớ lại cái ngày đi thi kỷ niệm năm đó tôi vẫn còn cảm thấy một niềm hạnh phúc trào dâng trong tâm hồn. Hôm trường đọc kết quả cuộc thi tuyển vào lớp đệ thất, tôi ra trễ và chui vào đám đông học trò cũng như các cha mẹ đang chờ nghe kết quả. Tôi đợi trường đọc đến hết danh sách mà cũng không nghe tên mình, tôi buồn bã trở về nhà chứ không đợi họ dán giấy lên tường. Buồn quá, tôi không muốn về nhà ngay nên tạt qua nhà ông bà ngoại ở góc đường Trương vĩnh Ký và Lý thường Kiệt, khi đến góc đường thì tôi gặp ngay bạn Nguyễn phước Anh, bạn kêu tôi và chúc mừng. Bạn nói: “Ê mừng ghê mậy, mầy đậu hạng 6 còn tao đậu hạng 5.” Đang buồn mà nghe bạn nói như vậy, tôi cứ tưởng là bạn muốn trêu chọc mình, nên tôi nói: “Thôi rớt rồi bạn ơi! Đừng có chọc tôi hoài! Bạn biết hôn, tôi mà rớt là kể như bị ba cho nghỉ học để ra tiệm làm phụ thợ mộc với ba chớ không được tiếp tục đi học đâu.” Bạn Phước Anh nói: “Ai nói bạn rớt, tôi nghe đọc tên bạn rõ ràng, tôi thứ 5, bạn thứ 6, ngay sau khi họ đọc tên tôi mà, không tin tôi với bạn trở ra xem giấy kết quả thì biết.” 
Thế là hai đứa chúng tôi cùng nhau đi lộn trở ra trường để xem giấy, nhưng ra đến nơi thì hai tờ giấy đầu, từ hạng nhứt đến hạng 50 đã bị xé mất. Bạn an ủi và bảo về, bạn nói: “nhứt định bạn đậu với tôi mà, tôi nghe hổng có trật đâu. Nếu không tin thì bạn cứ đi hỏi mấy ông thầy coi!” Trời đất ơi, mình làm gì có quen với ông thầy nào mà biểu đi hỏi. Hồi đó thấy mấy ông thầy là sợ muốn gần chết, thiếu điều muốn chạy trốn, thì làm gì có gan mà đi hỏi? Vừa về đến nhà, mong sao cho gặp mẹ để thủ thỉ với mẹ, nhưng lại không gặp mẹ mà gặp ngay ba, tự thuở giờ lúc nào ba cũng là khắc tinh của tôi, nên khi ba hỏi: “Sao mậy, đậu rớt?” Tôi giật bắn người lên và lập bập: “Con không nghe tên mình vì con ra trễ, nhưng nghe bạn Phước Anh nói con đậu hạng kế bạn.” Ba liền hỏi tiếp: “Nói thiệt cho tao nghe đi, để tao tính cho. Rớt cũng không sao, ba không đánh đâu. Hễ đậu thì đi học tiếp, còn rớt thì ra làm phụ thợ mộc với ba chớ có gì đâu!” Tôi nói với ba: “Con nói thiệt, con không nghe tên vì ra trễ, nhưng bạn Phước Anh cả quyết là con đậu.” 
Hôm sau trời vừa tờ mờ sáng là ba biểu thức dậy ra tiệm phụ mộc với ba. Mẹ vì đi bán về khuya quá nên tôi chưa có dịp nói chuyện với mẹ. Khi ba biểu đi làm với ba thì tôi cố tình nói lớn cho mẹ nghe, ý mong cầu cứu mẹ: “Hôm nay con phải đi trả sách cho bạn bè, vì cả năm nay ở nhà nên chỉ mượn sách và bây giờ phải trả lại cho họ.” Ba nói: “Thi rớt thì phải đi làm, sách chừng nào trả cũng được.” Mẹ nghe cuộc nói chuyện giữa ba và tôi nên mẹ lồm cồm ngồi dậy, hỏi tôi về kết quả thi cử. Tôi cũng thuật lại cho mẹ y như tôi thuật cho ba. Mẹ tôi nói: “Con nó vừa mới thi xong, ví dầu nó có rớt cũng phải cho nó nghỉ vài ngày, chứ làm gì mà bắt phải đi làm liền, con người chứ đâu phải con trâu.” Nói xong mẹ xoay qua tôi: “Con cứ ở nhà, chuyện hỏi lại kết quả để mẹ lo. Mẹ sẽ qua nhờ thầy Sanh bên trường Thiềng Đức dọ hỏi dùm.” Thú thiệt về sau này khi tôi đã học và hiểu được về khoa tâm lý, tôi mới cảm thương ba tôi hơn, chứ không giận hờn oán trách. Tội nghiệp, ba tôi từ nhỏ đã sống trong môi trường như vậy, lại nữa nhà ông nội có tiền nên chuyện học hành đối với ba không quan trọng bằng chuyện kiếm ra tiền. Chính vì vậy mà chuyện học hành của tôi hầu như lúc nào cũng là đề tài cho ba mẹ cãi nhau. 

Tuần sau, mẹ nhờ thầy Sanh dọ hỏi dùm và thầy cho biết thằng nhỏ đậu hạng 6, y như lời của bạn Phước Anh. Như vậy kể từ đó tôi đi học chẳng những khỏi phải đóng tiền, mà mỗi năm còn được học bỗng của trường cho nữa. Thuở đó những ai đậu hạng cao, hình như từ hạng nhứt đến hạng 20 thì được học bỗng toàn phần, mỗi năm 1.800 đồng, từ hạng 21 đến hạng 50 thì được học bỗng bán phần, mỗi năm được 900 đồng. Tôi biết tôi chỉ là một trong rất nhiều học sinh của ba tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Bình và Sa Đéc mơ làm học sinh Tống Phước Hiệp, mà cũng có rất nhiều người khác cũng mơ như chúng tôi, nhưng chẳng bao giờ thực hiện được giấc mơ của mình vì thuở đó thi đệ thất vào trường công là thi tuyển, chứ không phải chỉ đủ điểm là đậu. Ngoài ra, thi đệ thất hồi đó, ngoài sức học của mình ra, phải nói cuộc thi này còn là một canh bạc may ruổi cho rất nhiều người. Có khi có người học rất giỏi mà hôm đi thi lại bị cảm mạo nóng sốt là cũng kể như rồi. Mỗi năm chỉ có một lần, nên biết bao thư sinh lứa tuổi tôi phải lở khóc lở cười vì phải hoặc ở nhà phụ làm thợ mộc với ba, hay phải xếp bút nghiêng lo việc đồng áng. Bây giờ đã hơn nửa đời nhìn lại, tôi thấy thương quá cả mẹ lẫn cha, thương quá thầy cô, thương quá ngôi trường đã cho tôi kiến thức và trí tuệ để làm một con người thật là người.  

     Thế là niên học 1962 tôi bắt đầu vào lớp đệ thất 5 của trường Tống Phước Hiệp, nhưng thuở đó có lẽ vì trường mới chưa có đủ lớp nên những lính mới chúng tôi còn phải học một năm ở trường cũ, mang tên Nguyễn Thông mà bấy giờ đã trở thành trường bán công. Lớp học tôi nằm bên phía đối diện với tiểu chủng viện Xuân Bích, được cách bởi con đường đầy cây me còng (loại có trái khi chín thì trở màu đen và tươm mật rất ngọt, khi ăn vào có thể bị say máu ngà). Tôi vẫn còn nhớ anh trưởng lớp tên Hậu, hơi lớn tuổi hơn chúng tôi, nhưng rất hiền và dễ thương. Về sau nghe nói anh đã hy sinh ở mặt trận vùng Chương Thiện. Đến năm đệ lục, anh em chúng tôi lại khăn gói dọn về trường lớn, nằm ngay trên đại lộ Gia Long, đối diện với sở công chánh, mà ngày đó người dân quen gọi là sở trường tiền. Tại trường mới, lớp của chúng tôi nằm ở tầng hai, ngay hai góc đường Pasteur và Hùng Vương, ngó xuống là thành lính truyền tin. 
Trường Tống Phước Hiệp tọa lạc trên một mảnh đất khá rộng, bao quanh bởi bốn con đường, mặt tiền hay phía bắc của trường là đại lộ Gia Long, phía đông là đường Pasteur, phía nam là đường Hùng Vương, tôi không còn nhớ phía tây là con đường tên gì, nhưng phía này giáp với khu phố của chợ Vĩnh Long. Đây là ngôi trường thiệt đẹp, trong sân trường được trồng nhiều cây phượng vỹ, nhứt là con đường từ cổng đi vào phòng khánh tiết, hai bên được viền bởi hai hàng phượng vỹ thật tuyệt, nhứt là những lúc sắp vào hè, những lúc chúng tôi sắp sửa xa nhau thì hai hàng phượng nở rộ đỏ thắm cả trường. Bây giờ ngồi đây, hơn nửa vòng trái đất xa quê, tôi thấy nhớ thương làm sao những năm tháng vụn dại của tuổi học trò năm xưa. 
Thời gian qua mau, sau đệ thất, đệ lục, đệ ngũ, rồi đệ tứ, chúng tôi chuẩn bị thi trung học đệ nhất cấp thì được tin cuộc thi này được bộ Giáo Dục hủy bỏ, những ai thi đậu hai kỳ lục cá nguyệt ở trường sẽ được đương nhiên được cấp bằng trung học. Cuối năm đệ tứ, anh em lớp đệ thất 5 của chúng tôi phải chia tay vì trường sắp lớp đệ tam theo ban mà mình chọn, hoặc A (vạn vật), hoặc B (toán), hoặc C (văn chương), hoặc D (cổ ngữ). Ngày đó với tôi chỉ có ban B là thích hợp nhất, vì không có thì giờ học bài nên không dám theo ban vạn vật, không biết gì về văn chương thi phú nên ban văn chương cũng không dám ngó tới, còn cổ ngữ thì hầu như không có người theo. 
Những năm đầu trung học, vì nhà nghèo, phải phụ mẹ giữ em nên không có giờ học bài vì thế suốt ba năm thất lục ngũ, tôi học hành không giống ai hết, bắt đầu từ năm đệ tứ, tự nhiên tôi học vượt lên hầu hết các bạn trong lớp, nên tháng nào cũng được nhà trường cho vào đứng trong bảng danh dự và cuối năm ấy tôi được lãnh thưởng hạng danh dự, rồi đệ tam và đệ nhị năm nào tôi cũng được lãnh thưởng toàn trường. Tuy nhiên, năm thi tú tài I tôi chỉ đậu hạng bình vì không làm được một câu việt văn nào. Sau khi xong tú tài I, vì nước hay vì nhà mà tôi phải ra đi, lên đường chinh chiến, bỏ lại sau lưng tất cả những kỷ niệm êm đềm của một thời vàng son ngày đó. Cuộc đời tôi lúc đó cũng nổi trôi theo vận nước, chỉ là một đám mây mù trước mặt, nên tuổi chim non đã ngưng bặt tiếng hót khi chưa chớm bay được vào đời. Thời gian êm đềm đối với tôi như một chớp mắt, thoáng đó mà vật đổi sao dời, con người thay đổi và hoàn cảnh thay đổi. Tuổi trẻ nghèo nàn của tôi qua đi trong cơ hàn vất vả, không có lấy một ngày vui, nhưng những kỷ niệm lưu lại trong tôi là những gì tôi trân quí nhứt đời. Bây giờ dù tuổi trẻ tôi đã qua đi nhưng tâm hồn tôi vẫn như ngày nào, vẫn nhớ nước nhớ quê, nhớ trường xưa bạn cũ với chất ngất kỷ niệm một thời.     


     Dù tôi không được học hết trung học trong mái trường Tống Phước Hiệp thân yêu, nhưng với tôi, Tống Phước Hiệp lúc nào cũng là nơi thân thương đong đầy kỷ niệm của thời đi học. Nếu không có ngôi trường thân yêu ấy thì năm năm sau, không cách chi tôi có khả năng hoàn tất được hai chương trình đại học ban Anh văn và Việt Hán, và rồi trên bước đường lưu lạc nơi xứ người, cũng không có cách chi mà tôi tiến xa hơn được để thành công trên bước đường sự nghiệp. Tôi muốn nhân bài viết này để cảm ơn tất cả thầy cô và nhân viên của trường, từ thầy cô hiệu trưởng (thầy Đào khánh Thọ dạy Vạn vật và cô Võ thị Ngọc Dung dạy Sử địa), thầy Nhơn dạy Pháp văn (đã thất lộc), thầy Vỹ dạy toán (đã thất lộc), thầy Bai dạy Lý Hóa, thầy Nguyên dạy Lý Hóa, thầy Hiệp dạy Việt văn, thầy Bảo dạy Lý hóa, thầy Ngẫu dạy Công dân, thầy Côn dạy Pháp văn, cô Phi dạy Anh văn, thầy Nhã dạy Anh văn, hai thầy Diệp (một mắt kiếng và một móm) đều dạy Toán, thầy Quang dạy Toán, cô Ross (người Mỹ dạy Anh văn), thầy Vĩnh dạy vẽ, cô Từ tiểu Linh và cô Hượt dạy Việt văn. Còn nhiều thầy cô nữa mà tôi không còn nhớ được tên. Tôi cũng xin cảm ơn tất cả nhân viên của trường từ chú y tá, bác lao công đến bác Năm đánh trống (đã thất lộc). Tôi cũng không quên tri ân những bằng hữu đã an ủi và khuyến tấn tôi trong thời hàn vi cơ cực như bạn Hữu An, Lai, Chí Hiếu, Đầy, Dương (đã thất lộc), Thới, Khánh, Hỷ, Dậu, Còn, Phước Anh và Công Danh, Việt Dũng, Hữu Dũng, Hoàng, Đen, Hội, Tấn, Ngọc Huệ, Ngọc Chúc, Tương Thục, Nhạn, Minh Lan và Minh Nga. Tất cả đã gói ghém, đã đong đầy trong tôi không biết bao nhiêu là kỷ niệm, tất cả là một phần đời, một phần kỷ niệm vô cùng tươi đẹp của tôi, mà cho mãi đến hôm nay lúc nào tôi cũng trân trọng mỗi khi chia sẻ những kỷ niệm này với bằng hữu.        
Ngưỡng cửa trung học là ngưỡng cửa mà ai trong chúng ta cũng đều có rất nhiều kỷ niệm. Hồi đó ai cũng ngán quý thầy quý cô, thấy mặt là sợ là ngán. Như năm học Vạn Vật với thầy Thọ, hồi đầu năm học, đứa nào đứa nấy đều ngán thầy vì mặt thầy rất nghiêm. Nhưng rồi thời gian trôi qua, mấy tuần lễ sau đó, riêng tôi tôi không sợ thầy mà tôi kính trọng vì thầy rất nguyên tắc đúng cách của một nhà mô phạm. Cô Dung thì dạy Sử, cô rất hiền, ít khi nào rầy la học trò; tuy nhiên, giờ Sử của cô là giờ cô bắt trả bài nhiều nhất, mà tôi thì ít khi nào thuộc bài sử địa, không phải vì làm biếng mà ngày ngày đi học về là bận giữ em tới tối, đến tối khi mấy em đã đi ngủ thì tới phiên mình cũng nhướng mắt hết lên, nên bài của cô tôi để nguyên trả lại cho cô chứ ít khi học. Hồi đó tôi thích nhứt là giờ toán của mấy thầy Diệp, thầy Quang, thầy Vỹ, và Lý Hóa của thầy Nguyên, thầy Bảo, thầy Bai... vì những giờ này, chỉ cần nghe mấy thầy giảng ở trường là có thể làm bài được nên khỏi phải học bài, rất thích hợp với hoàn cảnh không có giờ học bài của tôi thời đó. Tôi cũng thích giờ Việt Văn của thầy Hiệp, nhứt là những giờ thầy giảng về Kiều, rồi thầy Ngươn dạy Hán văn. Vào giờ học anh văn với cô Phi hồi đó mấy bạn học của tôi hình như ai cũng có biệt hiệu riêng, riêng tôi không hiểu vì sao mà tôi thoát được cái cảnh mang biệt hiệu. Như bạn Trần chí Hiếu, đọc mãi không ra chữ “picture” mà cứ đọc là phít-chờ, nên từ đó thành danh là “phít-chờ.” Bạn Đầy cũng vậy, đọc mãi không ra chữ “twentyone,” mà cứ đọc là tu-quen-ti-quanh, nên từ đó về sau hễ nói đến “tu-quen-ti-quanh” là biết ngay đến bạn Đầy.  Đầy bây giờ hiện là hiệu trưởng của một trường trung học ở Vĩnh Long. Năm trước tôi về thăm quê, có tìm thăm Đầy. Tôi nói với Đầy: “Trời đất ơi! Hiệu trưởng gì mà sáng say chiều xỉn như thế này ông địa ơi!” Đầy tâm sự: “Bạn ơi, bạn sớm chạy nên thân thể được nguyên vẹn, chứ bạn thấy tui hông, từ chết tới bị thương nên nhậu cho quên đời.”        
  

Sau khi bước qua ngưỡng cửa nửa đời người, bây giờ tôi mới thấy hình như không có kỷ niệm nào đẹp hơn những kỷ niệm thời trung học, tiểu học còn quá nhỏ nên chỉ nhớ lan man, đại học thì quá loãng nên thường thì mạnh ai nấy lo, chứ không khắn khít như thời trung học. Thời gian gần 40 năm kể từ ngày tôi rời xa mái trường xưa, thế mà tôi cứ tưởng như mới hôm nào, tất cả những kỷ niệm vẫn còn hiện ra rõ mồn một trong tôi chứ chẳng hề phôi phai tí nào cả. Bây giờ hễ mỗi lần tôi nghe ai nói đến ba chữ “Tống Phước Hiệp” là lòng tôi rộn lên một niềm vui khó tả. Đã bao nhiêu năm trôi qua rồi nhỉ! Đã gần năm thập niên kể từ ngày tôi bước chân vào mái trường thân yêu ngày ấy, và cũng đã gần  bốn thập niên kể từ ngày tôi rời xa nó, nhưng sao kỷ niệm về trường Tống Phước Hiệp vẫn còn đong đầy trong tôi. Ngày ấy trường tôi là trường hổn hợp giữa nam và nữ, nên không chỉ khô khan với bộ đồng phục quần tây xanh áo sơ mi trắng, mà thoang thoáng đó đây là những tà áo dài trắng thướt tha của các nữ sinh. 
Nữ sinh Tống Phước Hiệp hiền lành và dễ thương, hiền lành và dễ thương như chính cái miền đất đã cưu mang họ: Vĩnh Long, Long Hồ, Long Thanh, Long Mỹ, Mỹ An, Phước Hậu, Phước Ngươn, Tân Ngãi, Trường An, Chợ Lách, Tân An Luông, Cái Nhum, Tam Bình, Vũng Liêm, Trà Ôn... Tưởng như đã quên vì đã hơn bốn chục năm xa trường rồi còn gì? 

Bốn chục năm tính ra nó còn dài hơn nửa đời người, hoặc giả nó còn dài hơn sinh mệnh của những thanh niên yêu nước thời tôi, lên đường vì tiếng gọi hồn thiêng sông núi để rồi hy sinh cho lý tưởng tự do ở cái tuổi đôi mươi. Bốn chục năm trôi qua mà tôi cứ tưởng như mới hôm nào, mới hôm nào cùng bạn bè rủ nhau trốn học để đi qua cù lao An Thành, hoặc đạp xe một vòng ngoại ô thành phố Vĩnh Long. Có khi chúng tôi đi từ cầu Thiềng Đức, dọc theo bờ sông Long Hồ đi vô Long Thanh, Long Mỹ, có khi chúng tôi đi ngã Cầu Lầu vô Văn Thánh, rồi đi cầu Ông Me, có khi chúng tôi đi lên cầu Lộ, rồi lên ngã ba Cần Thơ, qua cầu Vồng, rồi trở về bằng ngã phường ba qua cầu Công Xi Heo. Cũng có khi chúng tôi qua cầu Thiềng Đức đi xuống Mỹ An, đây là con đường đẹp nhứt với những ruộng lúa xanh rì hai bên đường, loáng thoáng bên trái chúng tôi là sông Cổ Chiên, nhưng hồi đó ít khi nào chúng tôi đi ngã này, vì ngã này kể ra mất an ninh hơn những ngã khác. Ngày ấy, nhà tôi nghèo lắm nên tôi ít khi dám làm bạn với ai, một phần vì mặc cảm, phần khác không có thì giờ đâu để mà kết bạn. Đi học về, vừa buông tập vở là phải giữ em và dọn dẹp nhà cửa, rồi còn phụ với mẹ để mẹ chuẩn bị cho buổi bán hôm sau. Tuy nhiên, tôi cũng có những người bạn trai cũng nghèo như tôi, đó là các bạn An và Lai  từ Cái Nhum lên học. Bạn Còn từ Cổ Cò qua, bạn Hiếu gia đình không giàu lắm, nhưng nhờ ít anh em nên Hiếu rất sướng. Bạn Hội, Khôi và Hoàng ở Long Thanh. Bạn Đầy, thì cha ở trong quân đội, còn bạn Dương ở vùng quê lên trọ học, nhưng bị tai nạn xe honda và qua đời năm đệ ngũ. Ngoài ra, tôi còn một số các bạn nối khố từ thời tiểu học ngay tại thị xã Vĩnh Long như các bạn Bê, Xê (đã thất lộc), bạn Khánh, Hỷ, Dậu, Thới, Lộc (Long Hưng)...  

     Trường Tống Phước Hiệp là nơi đã đưa tôi đến quen thân với hai người con gái, một tên H và một tên T, cả hai cũng là bạn rất thân trong thời trung học. Hai người này gia đình khá hơn gia đình tôi nhiều, nhưng hình như chúng tôi có duyên với nhau nên lúc nào họ cũng giúp đở và khuyến tấn tôi. H thì quê ở Tân An Luông, còn T thì sát cạnh nhà tôi. H lên trọ học gần xóm nên nhân một buổi tan trường, về cùng đường, xe đạp của nàng bị sút dây xên, tôi sửa dùm, thế là chúng tôi quen nhau từ năm 1964. Những ngày nghỉ học, tôi và H thường hay rủ nhau qua chơi cù lao An Thành, hoặc giả cùng đạp xe trên những con đường làng Long Hồ. Còn T là cô bạn láng giềng, nhà gần nhà tôi, nhưng lúc ấy nhà T lúc nào cũng cổng kín cao tường nên tôi ít khi có dịp được cùng T chuyện trò hay đi đâu chơi với nhau. Mẹ tôi có biết về những quan hệ này của tôi, mẹ không cản ngăn tôi kết bạn với ai, nhưng khi biết tôi quen thân với T và H, mẹ có khuyên: “Mẹ thấy T và H, đứa nào cũng thùy mị dễ thương, nhưng như con thấy đó, nhà mình nghèo không xứng với ai hết. Con còn nhỏ nên chưa biết về bức tường môn đăng hộ đối, nhưng con ơi chính bức tường ấy đã cướp mất đi biết bao nhiêu là mơ ước của tuổi thơ.” Tuy nhiên, về sau này, một lần ghe dầu cháy, cả T và H, đều chạy qua nhà tôi để lánh nạn lửa, lúc đó mẹ có dịp quan sát hai cô bạn gái của tôi thật lâu và thật nhiều, nên mẹ có nói: “Cả hai đứa H và T đều rất dễ thương. Nhà con H ở đâu thì mẹ không biết, nhưng nhà con T ở đây, con nhà tử tế, nên con trai xóm này ít ai dám dòm ngó, mà sao con của mẹ gan quá.” 
Ngày đó, trong gia đình, ngoài mẹ ra tôi rất thân với đứa em trai kế tên Minh, nhỏ hơn tôi hai tuổi, nhưng lúc nào Minh cũng tỏ ra có những ý kiến đứng đắn và chính xác trong mọi vấn đề. Tôi thường tâm sự và chia sẻ với Minh về tất cả mọi thứ, ngay cả những riêng tư tình cảm. Minh nhận xét rất khách quan và rất đúng về hai cô bạn gái rất thân của tôi, Minh nói: “Cả hai chị H và T, chị nào cũng rất dễ thương, nhưng chị H có vẻ kiêu kỳ hơn, còn chị T thì thùy mị và gần gủi hơn. Nếu là em thì em sẽ lựa chị T.” Tôi nói với em Minh là tôi, H và T chỉ là bạn thường thôi, chứ tôi không bao giờ nghĩ đến chuyện lập gia đình với họ, vì gia cảnh khác biệt. Tôi rất mến họ vì họ làm bạn với tôi bằng tất cả sự chân thành của tình bạn, chứ không nghĩ gì đến sự cách biệt giàu nghèo.               

Về sau này, trước khi vào quân đội, tôi và H có nhiều chuyện bất đồng. Lúc đó tôi chưa bao giờ nghĩ đến  chuyện lập gia đình, vì thứ nhứt nhà nghèo mà tôi thì chưa có sự nghiệp gì trong tay và thứ hai là tôi sắp sửa sống đời lang bạt của kiếp chinh nhân, rày đây mai đó, sống chết không hạn kỳ thì làm gì dám nghĩ đến chuyện lập gia đình. H thì không muốn thấy tôi đi lính, H nói: “Phải chi anh học dở hay học không nổi thì bỏ đi lính không ai cản, nhưng anh thấy đó, ở cái xứ Vĩnh Long này có mấy người đậu tú tài được hạng ưu hạng bình như anh? Thế mà anh lại quyết định bỏ đi. H sẽ giúp anh học tiếp, anh đừng đi.” Dù tôi cố giải thích cách mấy đi nữa, H cũng không chịu nghe, mà chỉ một mực nài nỉ tôi đừng đi lính. Tôi biết khả năng gia đình tôi, ba mẹ tôi lo cho con cái đến trung học là đã không còn hơi sức, lấy đâu khả năng lo cho tôi lên đại học, còn nhờ vả H, tôi sẽ không bao giờ chấp nhận. Thế rồi tôi vào quân đội, cả T và H đều buồn, nhưng tôi không có khả năng lựa chọn là nên ở hay nên đi. Sau này cả H và T đều lên Sư Phạm, rồi năm 1970 H qua đời vì bệnh tim lúc tôi còn đang du học bên Mỹ. T tiếp tục xong Sư Phạm và ra dạy ở Chương Thiện năm 1971.  

     Đầu năm 1972, sau bao năm chinh chiến miền xa (tận vùng địa đầu hỏa tuyến) tôi bỗng nhớ đến bài hát vè quen thuộc về địa danh Vĩnh Long: “Đèn nào cao bằng đèn Cầu Lộ, gái nào ngộ bằng gái Cầu Lầu,” nên tôi đã xin phép về Vĩnh Long cưới vợ. Tôi và T thành hôn, dù sống trong khói lửa chiến tranh và tôi phải luôn xa nhà, nhưng chúng tôi rất tâm đầu ý hợp. Rồi chưa được bao lâu thì cơn đại hồng thủy đã úp lên đầu mọi người. Cùng chung số phận nghiệt ngã của bao nhiêu quân cán chánh miền Nam, tôi phải mang thân tù đày không biết có ngày ra, còn T thì mất việc nên phải bương chảy ngược xuôi trong suốt tám năm biệt xứ của tôi để vừa lo cho chồng, vừa nuôi dạy con cái. Thương quá người nữ sinh Tống Phước Hiệp, mới hăm bốn hăm lăm tuổi đầu đã phải chịu cảnh đọa đày theo vận nước nổi trôi, bỏ quên cuộc đời trẻ trung, quyết giữ một lòng trung trinh chung thủy với chồng. Ngày tôi ra tù chưa bao lâu thì tôi lại phải ra đi tìm lẽ sống, lại một lần nữa xa vợ xa con, xa cha xa mẹ để dấn thân vào con đường “thập tử nhứt sinh” trong khi vợ tôi đang có mang đứa con trai út của chúng tôi. Thật trớ trêu làm sao cho những cái bánh vẽ và những danh từ hoa mỹ mà người ta lợi dụng để xô đẩy cả một dân tộc vào hố thẳm của nghèo khổ cực cùng. Thật trớ trêu thay cho một cuộc đổi đời, từ ấm áo no cơm đến bần cùng cơ cực, từ ấm êm hạnh phúc đến tan tác, chia ly, tủi nhục và khổ đau! Ngày tôi đi tù, con trai lớn tôi mới có 18 tháng, và con gái tôi chỉ mới có 6 tháng. 

Đến ngày chúng tôi đoàn tụ với nhau trên đất Mỹ thì con trai lớn tôi đã 16 tuổi, con gái 15 tuổi và con trai út đã gần 5 tuổi. Thật trớ trêu quá cho thanh niên trong thời đại của chúng tôi.  Chúng tôi đã bắt đầu làm lại tất cả với hai bàn tay trắng trên mảnh đất tạm dung này. Giờ thì hai đứa con lớn chúng tôi đã trưởng thành và nên người, còn con trai  út của chúng tôi cũng đã lên năm thứ hai đại học. Nhìn các con tôi lớn lên trên miền đất tự do và thành tựu những mơ ước học hành, tôi cảm thấy hạnh phúc cho các con quá, vì chúng không phải trải qua những mơ ước tưởng chừng bình thường, nhưng lại hóa ra là “chỉ mành treo chuông” như tuổi thơ của chúng tôi.         

Thầy Hiệu Trưởng Đào Khánh Thọ

Cách đây hai năm chúng tôi có duyên mai gặp lại thầy cô hiệu trưởng và một số bạn hữu, chúng tôi đã co cụm quanh thầy cô hiệu trưởng để thành lập hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Tống Phước Hiệp. Dù không ai cùng lớp với ai ngày xưa, nhưng chúng tôi không cảm thấy chút nào xa lạ, chỉ một vài lần anh em chúng tôi quây quần bên thầy cô hiệu trưởng và các vị giáo sư khác trong những lần họp mặt là những kỷ niệm thân thương năm xưa cứ trào dâng và trào dâng khiến cho chúng tôi có cảm tưởng như đã quen nhau tự thuở nào. 
Từ đó đến nay sinh hoạt của anh em chúng tôi ở quận Cam và khắp nơi trên thế giới trở nên sinh động như được hồi sinh. Đọc lá thư hội trưởng trong Đặc San Xuân Giáp Thân 2004, Mái Trường Xưa của hội, tới đoạn ‘dù anh ở ngã Tư Long Hồ, hay chợ Trường An, dù ở Long Thanh, Long Mỹ hay Phước Hậu, Phước Ngươn, dù chị ở Bắc Mỹ Thuận hay Bắc Cổ Chiên, Bình Hòa Phước, dù em ở Cầu Kinh Cụt hay trong xóm Bún, thì chúng ta vẫn là dân một xứ, xứ Vĩnh Long, cùng học một trường, trường Tống Phước Hiệp” lòng tôi nghe rộn ràng nhớ nhung quá về xứ Vĩnh, nhớ về thầy cô và ngôi trường đã hun đúc cho tôi thành người. 
Bây giờ khi đã trải qua những ngã đường nắng mưa xuôi ngược, đã trải qua những cơn mưa dồn sóng vỗ của kiếp nhân sinh, khi đã trải qua không biết bao nhiêu là tang điền thương hải, khi tuổi càng gần với buổi xế chiều, thì những kỷ niệm thời đi học càng sống dậy, càng thắm đượm trong tâm hồn mình như những hành trang cho mình tiếp tục bước đi trong cuộc hành trình cho những ngày còn lại của đời người. Thật tình mà nói, ai trong chúng ta cũng đều có tấm lòng gắn bó với quê hương xứ sở, ai cũng có một nơi thân thương để trở về, trở về lại ngay cái chốn mà năm xưa mình đã ra đi, trở về với biết bao kỷ niệm chất chồng, buồn vui lẫn lộn, trở về dù biết rằng rất có thể sau cuộc đổi đời trớ trêu năm đó rất có thể họ đã xóa tan hết những kỷ niệm thân thương xưa, nhưng ai trong chúng ta cũng đều mong mỏi được một lần trở về. 

Thời gian qua đi nhanh quá, mới đây mà đã gần bốn mươi năm mình xa trường xa bạn, bốn mươi năm không dài nếu đem so với thời gian vô cùng vô tận của vũ trụ, nhưng bốn mươi năm không quá ngắn đối với một đời người. Bốn thập niên với biết bao thăng trầm thay đổi từ hoàn cảnh đến cuộc sống, nhưng thời gian ấy chưa đủ dài để làm phôi phai những kỷ niệm êm đềm về mái trường, về thầy xưa bạn cũ. Năm ngoái tôi có về thăm lại quê hương, thăm lại trường cũ, quê hương vẫn còn đây và trường cũ vẫn còn đó, nhưng buồn thay hầu hết thầy xưa bạn cũ đã tản mạn phương nào, hay vĩnh viễn ra đi trong cơn nổi trôi của vận nước. 
Con đường thẳng từ nhà tôi ra cầu Lầu rồi đến trường Tống Phước Hiệp vẫn còn đây, ngày trước nó mang tên Gia Long, bây giờ tôi không biết và tôi cũng không cần biết nó mang tên gì, nhưng với tôi, con đường Gia Long năm xưa vẫn hết sức thân thương, vì nó đã chuyên chở tôi đến trường trong suốt thời trung học. Ngày đó nhà nghèo, không có tiền mua xe đạp nên anh em chúng tôi đều đi bộ tới trường. Nhìn lại những góc phố thân quen lòng tôi bỗng bồi hồi một niềm cảm xúc, cổng trường vẫn là cái cổng ngày đó, nhưng người ta đã thay bảng đổi hiệu. Nhìn lại trường xưa, rồi nhìn những em học sinh tới lui trong trường với những khuôn mặt đầy khắc khoải lo âu, tôi thấy thương quá ngôi trường và thương quá cho tuổi thơ Việt Nam. Phải chăng các em khắc khoải lo âu cho ngày mai hay bất cứ ngày nào, khi cha mẹ các em không có tiền để đóng cho những khoản tiền mà nhà nước đã đặt ra là các em sẽ không còn cơ hội đến trường nữa? Phải chăng các em lo âu cho cái tương lai mù mịt không có ngày mai của các em trên cái xứ mà những kẻ chóp bu vênh váo tuyên bố rằng họ chỉ xem ‘trí thức như những cục phân không hơn không kém’ nên tiêu chuẩn lựa chọn không những chỉ riêng cho trường học, mà ở khắp nơi nơi chỉ đều dựa trên đảng tịch, hay các em lo rồi đây dù có ra trường mà cha mẹ không có đảng tịch hay không có khả năng lo được thủ tục “đầu tiên” cũng khó lòng mà vô đại học hay một trường chuyên môn nào được? Đó là chưa kể những em kém may mắn hơn, không có lấy một ngày cắp sách đến trường, mới lên năm lên bảy đã phải theo cha mẹ ra đồng gánh mạ, gánh phân, thì còn gì là tuổi trẻ, còn gì là tương lai? Đâu rồi tinh thần nhân bản, dân tộc và khai phóng của nền giáo dục năm xưa? Đâu rồi những khuôn mặt nghiêm trang mà đáng kính của những bậc thầy đúng nghĩa của nó? Đâu rồi một thời vang bóng của ngôi trường nổi tiếng là nơi đào tạo nhân tài tương lai của đất nước? Tôi còn muốn hỏi nhiều lắm, nhưng tôi tự hỏi, hỏi chi nhiều khi mình chả có được lấy một câu nào trả lời gọi là thích đáng. 

Quê tôi tự thuở giờ vẫn nghèo, nhưng là cái nghèo bình an chứ không như cái nghèo bất ổn như bây giờ. Người dân Vĩnh Long hôm xưa luôn cần cù, luôn kiên nhẫn chịu đựng tai trời, ách nước, họa người. Người dân Vĩnh Long hôm nay  cũng vẫn nghèo, họ vẫn cần cù và kiên nhẫn chịu đựng những tai trời, ách nước, họa người, nhưng đâu rồi cuộc đời dung dị hồn nhiên của thuở nào? Ngày trước học trò chúng tôi xuất thân từ mọi tầng lớp xã hội, nghèo có mà giàu cũng có, đi học thì có đứa học giỏi mà cũng có đứa học dở, có đứa siêng năng chăm chỉ, nhưng cũng có đứa lười biếng hay cúp cua dạo phố, có đứa ngoan ngoản nhưng cũng có đứa hay phá phách thầy cô trong lớp, tuy nhiên, tâm hồn chúng tôi lúc nào cũng dung dị hồn nhiên, chứ không vật vả chán chường như các em hôm nay. Nhìn thấy một đám con nít ở lứa tuổi 12 hay 13, tay đứa nào cũng cặp một cặp vé số, miệng mồm há hốc, chạy theo khách kỳ kèo từng tờ giấy số. 
Khi đang đứng thẫn thờ trước cổng trường xưa, tôi kêu một em bán vé số lại, hỏi tuổi, hỏi tên, hỏi nhà, hỏi tại sao em không đi học, và hỏi nhiều thứ lắm? Em tự nhiên trả lời như không có chuyện gì: “Đi học rồi lấy gì ăn chú ơi! Phải lo miếng ăn trước đã.” Tôi đã kêu em lại mà cho tiền, nhưng không muốn lấy những tờ giấy số em trao. Tôi nói: “Thôi tiền này chú cho cháu, cháu hãy giữ lấy vé số mà bán cho người khác, chú không bao giờ muốn có cái may mắn lãnh được tiền của cái gọi là CHXHCN này đâu, vì chú biết tiền này là tiền mồ hôi nước mắt và máu xương của dân tộc chú.” Em bé nhìn tôi lạ lùng: “Chú khác nhiều người mà cháu gặp lắm, ở đây họ chỉ biết có tiền mà không cần biết xuất xứ của đồng tiền ấy từ đâu đến. Thôi cháu cám ơn chú và chúc chú gặp nhiều may mắn, nhưng nếu chú không lấy vé số thì cháu cũng không dám nhận tiền của chú đâu vì ba cháu dặn vậy.” Tôi tò mò hỏi tiếp: “Cha cháu làm gì, ở đâu mà không cho cháu đi học?” Em bé trả lời: “Cha cháu ở Cái Nhum, hiện đang bệnh hoạn vì hậu quả của những năm tháng khổ sai trong lao tù, nhưng vẫn phải cày ruộng mỗi ngày để nuôi mấy cháu. Cháu nghe ba kể lại thì ngày ba đi tù về, má trước của cháu bỏ ba, nên ba bước thêm bước nữa với má cháu, sanh ra ba anh em cháu thì má cháu bị bệnh mà qua đời. Thấy ba bệnh hoạn nên cháu không đành tiếp tục đi học, thế là cháu nghỉ học, lên tỉnh bán vé số gửi tiền về phụ ba nuôi hai đứa em nhỏ. Nghe nói hồi trước ba cháu cũng học trường này, nhưng là tên gì khác chứ không phải là Lưu văn Liệt như bây giờ đâu. Cháu cũng mơ được học trường này như ba cháu lắm, nhưng chắc không bao giờ được đâu chú ơi!” Nghe cháu bé nói xong, tôi xúc động và cảm thương quá cho tuổi trẻ Việt Nam, tôi vội móc hết số tiền còn lại trong túi ra mà trao cho cháu bé và nài nỉ cháu lấy, như trau hết tấm lòng của tôi cho dân tôi nước tôi. Trời hỡi! Còn bao nhiêu thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam nữa cũng với chỉ một giấc mơ đơn giản như giấc mơ năm nào của tôi! Trời hỡi! Xã hội hôm nay còn bao nhiêu nữa những con người bất hạnh mà phải âm thầm chịu đựng chứ không có miệng để nói ra hay để chia xẻ với người khác! Thôi, bây giờ có nói gì thì sự thể đã như vậy, nói nhiều chỉ thêm buồn, nói nhiều chỉ thêm tội nghiệp cho dân tôi nước tôi mà thôi. 



     Ngôi trường thân yêu năm xưa của tôi vẫn còn đây, nhưng giờ đã thay tên đổi họ. (...), từ tên Phước Hiệp nay đổi thành Lưu Văn Liệt gì đó. Những dãy lớp uy nghi ngày nào giờ tiêu điều xơ xác, gần như muốn sập. Học sinh thì vẫn tấp nập tới lui, nhưng những khuôn mặt hồn nhiên ngày nào đã biến đi đâu mất, nhường lại cho những gương mặt lo âu khoắc khoải. Tội nghiệp cho mấy em quá! Dù gì đi nữa thì tôi vẫn thấy trường tôi đẹp, đẹp ngay cả những bờ tường cũ mốc rêu phong, cái gì của trường tôi cũng đẹp, vì nó chính là một phần của cuộc đời tôi. Bây giờ muốn trách thì trách ai đây? Lẽ ra tôi phải ở lại nơi này, tôi phải phụng sự, phải chăm sóc nó như đã chăm sóc chính tôi và gia đình tôi vậy, vì nó chính là nơi bước vào của đàn hậu duệ của tôi kia mà. Lẽ ra tôi phải tưng tiu nó như tưng tiu đứa con thân yêu của chính mình, thế nhưng không phải riêng tôi mà cả một thế hệ của chúng tôi đã không làm được chuyện này. Giờ thì trách ai? Giờ đây sau bao nhiêu năm xa cách, tôi quay trở về đây để trực diện với nó, giờ đứng đây, đứng ngay trước cửa trường Tống Phước Hiệp mà họ không muốn cho mình vào nếu mình không biết điều phải quấy với họ. Cớ sự này là tại ai? Tại tôi và tại thế hệ của tôi, hay tại cơ trời hay tại số phận nhược tiểu? Dù là tại cái gì đi nữa, tôi nghĩ tự tôi, tôi phải đứng đây, đứng ngay trước cửa trường Tống Phước Hiệp thật lâu, đứng để nghe nó trách móc về sự tắc trách của mình và đứng để ngậm ngùi cho thân phận của mình và của dân tộc mình. Một dân tộc đã chịu quá nhiều tai trời, ách nước, lại thêm họa người. Tự thuở giờ, từ ngày còn lệ thuộc Bắc phương, đến độc lập, rồi chính những người cùng màu da, sắc tóc, chủng tộc với mình đã hô hào những cuộc chiến tranh, nhân danh những mục tiêu tốt đẹp, để rồi khi kết thúc thì chỉ có một số người trong dòng họ hay trong đảng phái là có đặc quyền đặc lợi, còn thì đa phần dân tôi vẫn sống trong cơ cực lầm than. Tôi đau xót ngậm ngùi chẳng những cho tôi hay thế hệ của tôi, mà cho cả thế hệ sau này và nhiều thế hệ kế tiếp. Ngày nào đây, dù nghèo nàn cơ cực như gia đình tôi mà con cái vẫn được cắp sách đến trường, tuổi thơ chúng tôi vẫn đầy ắp những mộng mơ của tuổi hoa niên, nhưng bây giờ thanh thiếu niên của thế hệ kế tiếp chúng tôi được gì ngoài những cái bánh vẽ, còn thì ngày ngày con trai phải cặp nách những cặp vé số để kiếm sống qua ngày, còn con gái lắm khi chưa đến tuổi dậy thì đã phải chen chúc vào các hang cùng ngỏ hẻm của những quán bia ôm, những hang động mãi dâm trá hình để bán thân nuôi miệng. Khu xóm lao động như khu xóm nhà tôi ngày xưa vẫn là một khu xóm ngạt ngào hương cam hương bưởi, bây giờ thì hởi ơi, nó đã biến thành một khu nhà ổ chuột, mạnh ai nấy cất, hễ có tiền đút lót là cứ cất. Tôi đứng ngay trước cổng trường Tống Phước Hiệp rất lâu, lâu lắm với những suy nghĩ miên man, cho đến khi có một đứa cháu chạy lại nắm tay kéo tôi về với thực tại. Tội nghiệp cho tôi, cho dân tôi nước tôi với dẫy đầy những vết sẹo hằn sâu để lại từ nhiều cuộc chiến chỉ để nhằm phục vụ cho tham vọng của một dòng họ hay một thiểu số bè phái vô tích sự. Càng nghĩ tôi càng thấy tội nghiệp quá cho số phận của dân tôi nước tôi, mang thân ra làm trâu cày ngựa kéo, quầng quật quanh năm mà vẫn chết đói, chết đói ngay trên vùng đất phì nhiêu mầu mỡ của quê hương. Trong khi nơi đất tạm dung, chỉ cần năng lực tầm thường, chưa hết sức của mình, mình cũng có đầy đủ những tiện nghi như dân bản xứ, họ có bà con thân tộc gì với mình đâu, thế mà họ vẫn dang rộng vòng tay ra chia sẻ với mình những gì họ có, trong khi đó nơi chôn nhao cắt rún của mình lại chối bỏ mình như 
chối bỏ một thứ hun hủi không bằng. Tôi miên man với những suy nghĩ, những thắc mắc không bao giờ có lời giải đáp “tại sao trên địa cầu này lại có những loại người nẩy sinh ra những tư tưởng hay những thứ ý thức hệ bệnh hoạn, chỉ muốn tiêu diệt người khác, chỉ muốn đè đầu cỡi cổ người khác, chỉ muốn người khác làm trâu cày ngựa cỡi cho mình đi lên?” 

     Trước khi từ giả ngôi trường Tống Phước Hiệp thân thương tôi còn quay lại luyến tiếc về một thời vàng son đã qua. Tôi tự nhủ: “Tống Phước Hiệp ơi, ta hứa sẽ có một ngày ta trở lại thăm mi, nhưng không phải trong hoàn cảnh trớ trêu như thế này. Ta sẽ trở lại và ta quyết giúp cho thanh thiếu niên hậu duệ của ta thực hiện được giấc mơ thành học sinh Tống Phước Hiệp đúng nghĩa của nó.” Thôi tạm biệt mi, Tống Phước Hiệp!!!  

Người Long Hồ

Thu Vàng


Bài Xướng:
Thu Vàng


Tôi đi tìm lại nắng thu vàng
Thu của năm nào trở tiết sang
Ngơ ngẩn thả hồn theo sắc thắm
Miên mang mộng tưởng đến trăng tàn
Tình thư nắn nót o con chữ
Xương lá âm thầm ép những trang
Hơi lạnh thu mang lùa tóc rối
Ai lau nhan sắc nhuộm thu vàng

Kim Phượng
***
Bài Họa:


Sắc Vàng Mùa Thu


Xin gió đừng lay rụng lá vàng
Cho mùa đông xám khỏi theo sang
Trời mây bãng lãng màn sương nhẹ
Sông nước chơi vơi ánh nguyệt tàn
Áo lụa dịu dàng trong bóng nắng
Trang thư nhàu nhĩ dưới hành trang
Bên thềm, bụi cúc xôn xao nở
Nhuộm cả không gian với sắc vàng.

Phương Hà
***
Vườn Thu


Đường cũ còn đây ngập lá vàng,
Gió chiều lành lạnh chở mùa sang.
Từ khi bướm bỏ vườn hoang vắng
,Là lúc hoa rơi cánh úa tàn.
Nhớ quá bờ vai ai mảnh khảnh,
Thương hoài áo lụa nét đoan trang.
Lấy gì đổi được trời thu ấy,
Man mác hồn ta tuổi võ vàng.

Mailoc
Cali 11-13-15
***
Tình Theo Mùa Thu

Một buổi trời thu có nắng vàng 
Quen em,nên cũng muốn tìm sang 
Vờ xin xem lá rơi vừa rung 
Mượn cớ nhìn hoa úa sắp tàn 
Sẵn dịp,trao thơ tình mới viết 
Tìm vào nhật ký thảo vài trang 
Ngập ngừng,hàng dậu ngăn đầu ngõ 
Lại ngại ngoài hiên....cột chó vàng

Song Quang
***
Sắc Vàng Thu


Tà áo ai khoe lộng sắc vàng
Xui mình yêu trộm mỗi thu sang
Vô tư em hát trong nắng mới
Luyến tiếc anh lo nếu mộng tàn
Dẫu biết nhưng rồi đông vẫn đến
Niềm mơ đến lúc phải qua trang
Bao năm cách biệt anh còn nhớ
Tà áo ai khoe lộng sắc vàng

Quên Đi
***
Tình Thu Quê Mùa


Ví dầu than nướng cá trê vàng
Chấm nước mắm gừng chả gọi sang
Xuồng đục lênh đênh con nước bạc
Cà rèm mát mẻ nắng thu tàn
Xuân tình bậu muốn nghe vài lớp
Vọng cổ qua vừa thuộc mấy trang
Gặp gỡ chung luồng câu dấu ó
Đồng không đâu có lá rơi vàng.

Cao Linh Tử
14.11.2015
***
Nhặt Lá Thu Vàng
(Mượn vận bài thơ Thu Vàng của KP)

Cúi nhặt cầm tay chiếc lá vàng
Ôi thương thân úa mỗi Thu sang
Phải rời nhánh mẹ buồn hiu quạnh
Vào chốn hư không cảnh lụn tàn
Mượn bút đề thơ o nét chữ
Tình thơ chan chứa ghép vài trang
Âm thầm nghĩ đến đời trôi nổi
Cũng giống như ta lúc tuổi vàng

Song Quang
***
Nét Thu Vàng

Rừng phong lả tả lá rơi vàng,
Gió lạnh thu buồn lướt thướt sang.
Sáng sớm mây mù sương khói tỏa,
Xế trưa nắng nhẹ cánh hoa tàn.
Yêu cô áo lụa ngời đôi mắt,
Mến bạn tóc huyền mới điểm trang.
Khỏe khoắn gót hài đang gõ nhịp,
Bâng khuâng hoài niệm nét thu vàng.

Mai Xuân Thanh
Ngày 06 tháng 10 năm 2016
***
Sắc Thu Vàng

Bóng nắng ngày thu nhuốm sắc vàng
Phơi đầy lá úa trở mình sang
Vầng mây lãng đãng chen màu nhớ 
Sợi nắng buâng khuâng lịm ráng tàn
Gợi dáng ngiêng ngiêng trời viễn xứ
Say chiều bẽn lẽn nét đài trang
Còn thương áo tím vườn năm cũ
Cứ đến ngày thu sắc chuyển vàng!

Nguyễn Đắc Thắng

Duyên Thơ


Không trao ước hẹn cũng mong chờ
Một chút ân tình dệt áng thơ
Có phải gieo thoi từ thuở ấy
Cho nên kéo chỉ đến bây giờ
Miệt mài năm tháng ong làm mật
Bền bỉ thời gian sóng vỗ bờ
Góp nhặt hương đời khơi ý sống
Ta về ươm lại những niềm mơ

Trần Thị Kim Dung

Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2016

Chiều An Nhiên


Hình Ảnh & Thơ: Lê Đăng Mành
Thơ Tranh: Kim Oanh

Ru Con



Cứ mỗi đêm con nằm nghe cổ tích
Chuyện thần tiên thay giọng hát ru hời
Nghe mẹ kể bao giờ con cũng thích
Những bà tiên thương tất cả con người

Tiên cảnh đẹp như đời con thơ bé
Như mộng mơ trong giấc ngủ thiên thần
Mẹ buông màn giữ gìn cơn mộng đẹp
Cổ tích không hề cho kẻ ác dung thân

Vì quỹ dữ khó sống nơi tiên cảnh
Nên lang thang sống lẫn khuất trên đời
mẹ vừa viết, vừa quơ tay đập muỗi
câu chuyện nửa chừng…
…. Chưa kết thúc con ơi.

Ngọc Hiệp

Ký Ức Rong Rêu

Image result for trường xưa

Một ngày về lại trường xưa
Hàng cây nghiêng xuống đong đưa bóng chiều
Sân trường ríu rít chim reo
Tiếng thu dìu dặt thương dìu lá rơi

Tìm về lớp học bồi hồi
À đây bục giảng chỗ ngồi trên cao
Ngày xưa ngó xuống nôn nao
"Các em ngồi xuống, thầy chào các em"

Thương sao lớp học êm đềm
Học trò nghiêm chỉnh ngước lên nhìn thầy
Từng dòng chữ viết nghiêng tay
Lăn dài trang giấy thơ ngây học trò

Thương sao cái tuổi chưa lo
Ham vui chẳng biết so đo nghèo giàu
Nghĩa tình bè bạn đậm sâu
Trái me trái ổi chia nhau ngon lành

Về trường tìm lại ngày xanh
Tiếng cười ánh mắt long lanh xa vời
Nhìn quanh phòng ốc khắp nơi
C2, D1 đây rồi A3...
C5, P4 ...đây mà
Tiếng thưa thầy vọng ngày qua dịu dàng

Nhớ dài theo Tết liên hoan
Câu ca khúc hát tiếng đàn vọng xa
Hồng lên lời chúc thiết tha
Mùa xuân về vội trổ hoa trong lòng

Về trường một buổi chiều trong 
Vỡ òa kỷ niệm bềnh bồng cánh mây 
Chợt nghe bờ mắt cay cay 
Xa trường đã biết bao ngày nhớ mong

Trầm Vân


Thương!


Nhìn chú mèo con thật dễ thương
Mắt xanh nhấp nháy đẹp phi thường
Ai bảo trần gian là đáng chán
Cuộc đời còn lắm vẽ lên hương


Chinh Nguyên/H.N.T.  
Oct.2.16

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2016

Khi Ta Rời Xa Nhau - Sáng Tác Trúc Hồ - Tiếng Hát Lâm Thúy Vân


Sáng Tác Trúc Hồ 
Tiếng Hát Lâm Thúy Vân
Thực Hiện: Đặng Hùng

Còn Đâu



Tuổi mộng xuân vừa mới
Tim đòi học tiếng yêu
Em vầng quang xuất hiện
Anh ngơ ngẩn bao chiều

Con đường xưa bóng quyện
Cười nói sóng vai nhau
Êm ái hoà chung nhịp
Rung động những ngọt ngào

Nhưng dòng đời bao ngã
Tình mình cũng rẽ hai
Lật tìm trang ký ức
Màu tím sắp dần phai

Nhìn sắc mây u ám
Em ở tận trời xa
Ngọn gió nào có thể
Đưa nàng đến cùng ta

Lãng đãng áng mây chiều
Hoàng hôn đời như vội
Đâu nữa cuộc tình xưa
Giờ cam khép lại rồi.

Quên Đi

Hồ Thu Muôn Thủa


Trong đôi mắt hồ thu
Ta tìm vớt ngôn từ
Ngôn từ vừa chết đuối
Trăn trối gì? Hoang vu

Trên mặt nước hồ thu
Ta soi mình hình như
Tên hành khất bại hoại
Xin được lần tương tư

Em, đôi mắt hồ thu
Như có lũy ngục tù
Ta không tìm lối thoát
Tim tra cùm thiên thu

Hồ thu. Hỡi hồ thu!
Những ghềnh đá sương mù
Ta trơn từng năm tháng
Rơi vực đời âm u

Hoài Tử

Nhạc Khúc Đêm Mưa


Nhạc Khúc Đêm Mưa

Vĩ cầm ai trỗi khúc đêm mưa
Lúc bổng, khi trầm, lúc nhặt thưa
Thác dữ ào ào tuôn xuống lũng
Sóng xa ì oạp vỗ xô bờ
Nhẹ nhàng sương tỏa trên cành lá
Róc rách dòng len đến suối hồ
Đồng cảm, nâng đàn ta dạo phím
Tưởng chừng song tấu với người xưa.

Phương Hà
***
Khúc Nhạc Đồng Quê


Khúc nhạc đồng quê vẳng gió mưa,
Ểnh ương, ếch nhái tấu lưa thưa.
Giọt rơi tí tách nghe ngoài cửa,
Lá rụng đầy ghe sóng vỗ bờ.
Khói trắng chiều hôm trên chái bếp,
Mây đen sấm chớp xẹt sông hồ.
Đàn ai khảy tiếng kêu sầm sập,
Gánh thóc nhịp nhàng, nhớ buổi xưa.

Mai Xuân Thanh
Ngày 24 tháng 08 năm 2016
***Mùa Thu Đầu Tiên

Lần đầu cám cảnh lá thu mưa
Phố xá chiều về nắng đã thưa 
Đất khách bơ vơ sầu nặng trĩu
Lòng quê khắc khoải nhớ vô bờ.
Âm thầm bước bước sương mơn tóc,
Lạnh lẽo rơi rơi tuyết ngập hồ.
Tri kỉ xa xôi người có thấu ,
Muôn trùng cách trở bóng ai xưa 

Mailoc


Vĩnh Long Xa Để Nhớ



      (Cầu Lộ - Vĩnh Long)

Vĩnh Long ơi đi xa để nhớ
Cầu Lộ giờ tan học buồn không?
Em có về cho anh tà áo lụa
Anh mỗi chiều dõi mắt mòn trông

Vĩnh Long ơi đi xa để nhớ
Hàng sao xanh con lộ thẳng hàng
Anh xa em trong điệu buồn nức nở
Còn đâu đây tiếng khóc buổi sang ngang

Vĩnh Long ơi đi xa để nhớ
Bến đò xưa tiếng nước khua sông
Ta tìm nhau suốt cuộc đời lỡ vỡ
Có khi nào ta về lại Vĩnh Long?

Biện Công Danh
21/9/2016

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2016

Sóng Về Đâu - Trịnh Công Sơn - Vũ Khanh

"Nỗi mình" không hẹn vẫn ngóng chờ 
Người bỗng hiện về trong giấc mơ
Hỏi gió, hỏi mây... nay hỏi sóng
Có ai, còn ai hỏi bây giờ?...


Trịnh Công Sơn 
 Vũ Khanh
Quýdenver

Độc Ẩm Trên Đảo


Đêm ngữa nghiêng cơn sóng bạc đầu
gỏ bầu rượu hát suốt canh thâu
bởi em như nhạc rơi trên đảo
làm nhói tim ta buổi tiễn nhau.

Rượu đầy ly nhắp nửa phương trời
một nửa chờ em uống chung môi
độc ẩm tang bồng hề độc ẩm
bến cũ say mèm giấc mộng trôi.

Đêm trữ tình hát khúc lang thang
vầng trăng chìm đáy nước mơ màng
em rơi trên biển, tan theo rượu
làm cõi lòng ta hóa địa đàng.

Rượu cạn bầu - đảo bỗng hóa em
nằm dài xỏa tóc dáng nghiêng nghiêng
ta như ngọn sóng quanh chân đảo
trôi nổi cho em rạng rỡ thêm.

Phạm Hồng Ân 

Biển Chiều


Xướng:Biển Chiều

Biển chiều tơ nắng nhẹ nhàng buông
Từng đợt triều dâng sóng cuộn cuồng
Quán vắng mộng mơ dìu khúc nhạc
Chùa xa thanh thản vọng hồi chuông
Núi chờ trăng hẹn soi niềm nhớ
Mây đợi gió ru xoá nỗi buồn
Trở gót men theo bờ cát mịn
Ta hoài ôm ấp mãnh tình suông.

Trần Thị Kim Dung
***
Họa: Sóng Cả Lênh Đênh

Nghe tiếng tơ đồng réo rắt buông,
Được mùa trai tráng nhậu điên cuồng.
Bên bờ liễu rũ hòa thơ nhạc,
Ghềnh đá chùa xa vọng tiếng chuông.
Thấp thoáng ngoài khơi buồm lộng gió,
Lênh đênh ngọn sóng cá tanh buồn.
Thương anh mất hết đời tay trắng,
Mến chị còn đâu mái tóc suông.

Mai Xuân Thanh
Ngày 30 tháng 09 năm 2016
***
Tập Buông

Muống sống an nhàn phải tập buông
Quên đi một thuở trót si cuồng
Tình yêu sôi nổi như dòng thác
Hạnh phúc thâm trầm tựa tiếng chuông
Vòng xoáy cuộc đời khi sướng khổ
Chuyến xe định mệnh lúc vui buồn
Nặng lòng chi để duyên thành nợ
Danh lợi trần gian ngọn gió suông. 

Trần Thị Kim Dung
***
Buông Xã

Bạn hiền "vui lắm" xả rồi buông,
Thẳng thắng tránh xa chỗ loạn cuồng.
Nhắc nhở thân tình không phật ý
Quan tâm tỉnh táo lắng nghe chuông.
Lời hay cảm giác lòng thanh thản,
Ý đẹp niềm riêng giãi nỗi buồn.
Một kiếp làm người sao ngắn ngủi,
Thế gian cõi tạm nói cười suông!

Mai Xuân Thanh
***
Tình Thu Đêm Trăng

Mượn vận bài thơ của Trần thị Kim Dung) 

Trăng rớt bên thềm nhẹ ánh buông
Tình Thu lai láng đến quay cuồng
Từng cơn ý tưởng trào dâng sóng
Mỗi vận ru hồn gióng tiếng chuông
Gió thổi mang lời trêu ghẹo lá
Mây bay hò hẹn xóa tan buồn
Ôi mùa xao động màu nhung nhớ
Thổn thức đêm tàn ,dế hát suông

Song Quang


Cả Đời Này, Vợ Chồng Chính Là Ân Nhân Của Nhau!


Cuộc đời con người bôn ba khắp nơi nhưng cuối cùng thành công lớn nhất không nằm ngoài cuộc hôn nhân mỹ mãn sao?Đức Phật thường nói rằng nếu không nợ nhau thì làm sao gặp gỡ. Cùng khám phá nghiệp quả giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái.

“Có thể người vợ ở kiếp này là người bạn chôn kiếp trước, tới trả nợ cho bạn. Đứa con trai ở kiếp này, là chủ nợ của bạn ở kiếp trước, để đòi món nợ chưa trả. Đứa con gái ở kiếp này, là người tình ở kiếp trước, tới vì tình cảm chưa dứt. Người tình kiếp này, là vợ chồng của kiếp trước tới nối tiếp phần duyên phận chưa dứt. Hồng nhan tri kỷ của kiếp này là anh em của kiếp trước tới chia sẻ những tâm sự chưa nói hết. Người giàu có kiếp này là người giàu lòng thiện kiếp trước, tới nhận phần công đức đã phát ra từ kiếp trước….. Đây không phải là mê tín mà là nhân quả luân hồi, là số kiếp. Phật thường nói rằng nếu không nợ nhau thì làm sao gặp gỡ”.

Theo Phật giáo giảng, để có thể trở thành vợ chồng kiếp này của nhau, cả hai đều phải có duyên tiền định, tức là có mối quan hệ nhân duyên từ các đời trước trong sự tái sinh luân hồi của con người.

Vợ chồng gặp được nhau là duyên nợ. 
Duyên nợ vợ chồng kiếp này có được nhờ mối quan hệ nhân quả từ các đời trước mang đến cho đời này.

Nếu vợ chồng bạn sống bình yên bên nhau, hẳn là các kiếp trước hai bạn có thiện duyên với nhau, người này đã làm những việc tốt cho người kia và ngược lại. Nếu vợ chồng bạn đời này thường xuyên xung đột với nhau, người chồng hay lấn át, bắt nạt vợ hoặc ngược lại, thì đó là do trong kiếp trước một trong hai bạn đã gây ác duyên với người kia, và đến kiếp này thì hoán đổi lại.

Tình cảm lớn nhất của một người là tình cảm vợ chồng, và sự kết nối ý nghĩa nhất cũng chính là sợi dây kết nối giữa vợ và chồng.

Lòng khoan dung vô bờ bến nhất là lòng khoan dung mà vợ chồng dành cho nhau; sự nhường nhịn ân cần nhất cũng là sự nhường nhịn giữa hai vợ chồng; và sự quan tâm không thể thiếu của một người cũng chính là sự quan tâm giữa vợ và chồng.

Người ta ví hôn nhân giống như một tách trà. Khi vợ chồng êm ấm thuận hòa thì tách trà mang vị ngọt, khi bền lòng vượt qua bão tố thì tách trà nồng đượm hương thơm… Ngay cả những tách trà đắng thì cuối cùng vẫn để lại vị ngọt trên môi. Khi vợ chồng cùng nắm tay bước đến cuối con đường, thì hết thảy những khổ đau trong đời đều tỏa ra hương vị!

Sau khi kết hôn, vì những điều vụn vặt trong cuộc sống mà vợ chồng không thể tránh khỏi ma sát hay va chạm. Khi chung sống lâu dài, người chồng có thể thấy vợ mình không còn xinh đẹp bằng những cô gái khác, còn người vợ cũng nhận ra rằng chồng mình không còn lịch lãm như xưa… Cũng có một số người, khi đã có trong tay tiền tài và địa vị sẽ đi tìm cho mình một bến đỗ mới mẻ hơn. Nhưng bạn đã bao giờ nhìn lại? Vợ mình khi xưa cũng là cô gái xinh đẹp trẻ trung, nhưng vì toàn tâm toàn ý với gia đình mới trở thành đóa hoa tàn úa?

Là người chồng, đừng bao giờ hỏi dáng vẻ yểu điệu thục nữ của vợ mình đã đi đâu mất? Xin hãy quay đầu nhìn về phía các con, bởi vì cô ấy giờ đây đã là mẹ của các con mình rồi!

Là người chồng, cũng xin đừng bao giờ hỏi dung nhan xinh đẹp của vợ khi xưa đã đi đâu mất? Là bởi vì cô ấy đã dốc sức chăm lo cho gia đình để bạn yên tâm gây dựng sự nghiệp lâu dài!

Là người chồng, xin đừng trách vợ tại sao không thích đi dạo phố như xưa? Tại sao không thường xuyên mua quần áo đẹp như xưa? Cũng đừng trách cô ấy vì sao không được gọn gàng, chỉnh tề như thuở còn hò hẹn? Đó là bởi vì người vợ giờ đây đã là người phụ nữ toàn tâm toàn ý cho chồng, cho con, cho gia đình, không còn thời gian cho bản thân nhiều như xưa nữa!

ột người vợ tốt luôn vì gia đình, vì người chồng mà cam tâm tình nguyện làm hết thảy, không cần báo đáp. Đó chẳng phải là vì người chồng chính là người mà cô ấy yêu nhất trên đời, là người cô ấy coi trọng nhất hay sao?

Người vợ, người chồng luôn là người mà đêm khuya nóng ruột chờ đợi khi bạn chưa trở về, là người không ghét bỏ và rời xa khi bạn nghèo khó, luôn lặng lẽ ở bên bạn, cổ vũ khích lệ bạn, hỗ trợ bạn cho đến khi công thành danh toại. Khi bạn sinh bệnh, họ sẽ là người thời thời khắc khắc ở bên để chăm sóc bạn không quản ngày đêm. Đó chẳng phải đã đủ là ân nhân của nhau rồi sao?

Người vợ là con thuyền mang đến sự ấm áp cho chồng. Người chồng là bến cảng mang đến sự bình an cho vợ. Cho nên, bất kể một loại tình cảm nam nữ nào khác trên thế gian này đều không thể so sánh được với tình cảm giữa vợ và chồng!

Hãy luôn yêu thương và trân quý người vợ, người chồng của mình, hãy cho họ một khoảng không gian và thời gian, đừng xem nhẹ hết thảy những gì họ đã làm cho bạn! Yêu thương là phải trân quý, đừng để đến khi mất đi mới nhận ra những điều tốt đẹp của họ, lúc ấy hối hận cũng đã muộn màng!

Theo Secretchina
Mai Trà biên dịch
Yên Đỗ sưu tầm

Chút Tình Đầu - Đỗ Trung Quân

Image result for xe đạp và phượng

Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng.
Em chở mùa hè của tôi đi đâu?
Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám
Thuở chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu.
Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cơn mưa, bay qua ngoài cửa lớp
Là bài thơ cứ còn hoài trong vở
Giữa giờ chơi, mang đến lại... mang về
Mối tình đầu của tôi là anh chàng tội nghiệp
Mùa hạ leo cổng trường khắc nỗi nhớ vào cây.
Người con gái mùa sau biết có còn gặp lại?
Ngày khai trường áo lụa gió thu bay....
Mối tình đầu của tôi có gì?
Chỉ một cây đàn nhỏ
Rất vu vơ, nhờ bài hát nói giùm
Ai cũng hiểu. Chỉ một ngươì không hiểu
Nên có một gã khờ , ngọng nghịu mãi.... thành câm
Những chiếc giỏ xe trưa nay chở đầy hoa phượng
Em hái mùa hè trên cây
Chở kỉ niệm về nhà
Em chở mùa hè đi qua còn tôi đứng lại
Nhớ ngẩn người tà áo lụa nào xa.

Đỗ Trung Quân
(An Nguyen sưu tầm)

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

Về Ðâu Mái Tóc Người Thương - Hoài Linh - Duy Khánh

Thương và yêu có khác nhau nhiều lắm không? Mà sao chàng trai này, dù đã bị nàng hớp hồn bởi đôi mắt nhung, bởi mái tóc dài liễu rũ, bởi cảm giác cô đơn giữa đường phố đông người, vẫn không dám thốt lời “yêu” ?
Chợt so sánh với tình yêu thời hiện đại (thời hại điện!!!), mới thấy rằng, sự rụt rè, nhút nhát của những mối tình câm lặng chỉ có ở thế kỷ trước, hàm chứa trong đó một vẻ đẹp tinh khiết, ngây thơ, sẽ còn theo ta mãi đến muôn đời.


Sáng Tác: Hoài Linh
Ca Sĩ: Duy Khánh
Thực Hiện: Nguyễn Thế Bình


5 Đoản Khúc Buồn



Khúc đầu

Đành lỡ một cuộc vui
Bởi vì người không đến
Con đường dài cuối trời
Ngẩn ngơ chiều hò hẹn

Hà-nội
Sách vở khóc trên tay
Bờ môi nào vụng dại
Rong rêu phủ tháp gầy
Xin một lần tiếc nuối

Saigon
Nghe hụt hẫng dốc chờ
Vũng buồn in mắt nhớ
Có tiếng guốc nửa khuya
Khua hồn từng mảng vỡ

Denver
Như một nhánh muộn phiền
Chiều hoang mù sương khói
Như chút tình buông quên
Lạ xa từng giọng nói

Khúc cuối
Mộng mị rồi cũng qua
Đoản khúc buồn chợt gọi
Kỷ niệm dẫu nhạt nhòa
Lời yêu xin còn mãi

Quýdenver

Arvada, Colorado 1989

Tình Lãng Mạn


Bất cứ ở khung trời nào, Âu hay Á, Đông hay Tây, thị trấn hay đồng quê, khi người ta yêu, người ta có cùng một xúc cảm, một sự rung động, một nổi thổn thức, một chút nhỡ nhung, một niềm hạnh phúc hay có cùng một giọt lệ, một tiếng cười vui. Tình yêu ở đâu cũng có cùng một giai điệu. Bởi vì tình yêu là đặc ân của Thượng Đế dành cho con người : khi trái tim ta còn đập, ta sẽ còn có dịp rung đô.ng, thô?n thức yêu.
Khi người ta yêu, người ta không biết tại sao tim mình rung cảm vì khuôn mặt nầy, bóng hình nọ hay tại sao tình chỡm nở vào thời điểm đó. Người ta chỉ biết rằng mình đã yêu : trái tim có những lý lẽ của nó !
Khi yêu người ta sẽ thấy khi thì khung trời màu hồng, khi thì ảm đạm, khi rạng rở, khi âm thầm. Nhưng yêu để thấy đời còn đẹp, còn đáng sống.
Có những mối tình gắn bó, có những mối tình tan vở nhưng khi khởi đầu yêu, như trong những câu chuyện thần tiên, xin chân thành chúc các cặp tình nhân có một chuyện tình đẹp như thơ, lãng mạn như giấc mộng và tình sẽ vĩnh cữu, 
không phai.

Thanh Vân.
***
La Romance
Sous les cieux, où que l'on soit, de l'Europe à l'Asie, d'Ouest en Est, en milieu citadin comme à la campagne, lorsque l'on aime, on a en commun l'émotion, la vibration, les soupirs et langueurs, un peu de souvenir nostalgique, le bonheur ou la perle de larme, le rire enchanté. Dans l'espace, l'amour est toujours écrite avec la même mélodie. Car l'amour est le véritable don de Dieu à l'humanité : tant que peut encore battre son cœur, l'être aura toujours la chance de vibrer, languir pour aimer.
Lorsque l'on aime, on ne sait pas pourquoi son cœur ressent de l'émotion pour tel visage, telle silhouette, ou pourquoi son amour n'est éclos qu'à cet instant-là. Ce dont on sait, c'est qu'on est bel et bien amoureux : le cœur a toujours eu ses propres raisons !

Lorsque l'on aime, on voit le ciel changer, tantôt rose, puis sombre et terne, pour ensuite briller de mille éclats, et devenir aussi silence. Mais on aime pour voir la vie parée de sa beauté, pour donner toujours et encore un sens à sa vie.
Des amours peuvent être unis, d'autres déchirés mais pour les instants où l'amour vient de naître, comme dans les contes et légendes, puissent les vœux sincères accompagner les amoureux dans leur belle histoire d'amour à vivre comme une poésie, comme une romance tant rêvée, et ainsi l'amour est-il éternel, ineffaçable.

Thanh Vân
Paris, le 8 juin 2006

Hái Hoa Tặng Người


Sương chiều trắng cánh đồng xa
Dừng chân nẻo vắng hái hoa cho người
Thương con bướm chẳng chịu rời
Ngập ngừng cánh gió thơm lời cỏ xanh

Bờ hoang thả bước quẩn quanh
Tìm trong sắc lá một nhành bình yên
Nghiêng vai trút gánh ưu phiền
Thả theo ngọn gió qua miền viễn khơi

Tình thơ có mấy vần vui
Sầu vương sắc áo níu đôi vai mình
Chuông chiều buông ấm câu kinh
Từ tâm một cõi vô minh sáng bừng

Mặc người muôn dặm nhớ quên
Ta cùng ta giữa an nhiên bóng chiều
Ngó quanh đồng cỏ sương gieo
Hoa khoe dáng ngọc cành treo nụ chồi

Về thôi góp nhặt niềm vui
Trên tay hoa thắm sắc đời cho nhau
Tương phùng có hẹn chờ đâu
Chồi xanh nụ biếc xin trao tặng người

Du Tử Huỳnh 
31/08/2016

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2016

Trăng Thu



Thơ: Song Quang
Thơ Tranh: Kim Oanh

Mùa Thu Đầu Tiên



Bài Thơ Xướng:
Mùa Thu Đầu Tiên

Lần đầu đất khách ngắm vàng bay
Cảm xúc mênh mông cứ nhớ hoài
Hiu hắt thu phong rừng lá đổ
Chập chùng mây xám núi đồi xây
Phố phường lạnh ngắt chìm băng giá
Bông tuyết trắng ngần bám áo vai
Từng bước âm thầm chiều sắp tắt
Quê nhà ngàn dặm mắt se cay

Mai Lộc 9-22-16
( Nhớ Erie, Pennsylvania mùa thu 1983)
***
Các Bài Thơ Họa:
Thu Tha Hương


Đất khách bao thu ngắm lá bay,
Mênh mang cảm xúc những ai hoài.
Heo may gió cuốn cây vàng rụng,
Xanh ngắt da trời mây trắng xây.
Chớm lạnh lòng buồn chồn chân bước,
Vào thu sương ướt trĩu bờ vai.
Quê hương khuất nẻo chân trời cũ,
Không khói hoàng hôn sao mắt cay!?

Đỗ Chiêu Đức
Thu Phân 2016
***
Thu Nhớ Nhà

Đất khách thu về lá úa bay,
Chạnh lòng xứ sở mối u hoài.
An cư Mỹ quốc mua nhà cửa,
Lạc nghiệp Cali mở tiệm xây...
Khí hậu bốn mùa sương trắng tuyết,
Heo may tứ quý áo hồng vai.
Quê tôi xứ Quảng bao thương nhớ,
Thoáng gặp đồng hương mắt lệ cay!

Mai Xuân Thanh

***
Thu Xưa Tại CaLi


Mới tới mùa thu lá rụng bay,
Lần đầu đất khách nhớ quê hoài.
Tha hương phải học thêm Anh ngữ,
Trú ngụ nên tìm cách dựng xây.
Cơ hội đổi đời lo sự nghiệp,
Duyên may gặp được bạn kề vai
Nhìn xem thế giới văn minh sống,
Mới biết xa nhà chịu đắng cay!

Mai Xuân Thanh
***
Mùa Thu Đầu Tiên


Mới chớm vào Thu....lá đã bay!
Đầu tiên tôi đến ở nơi đây
Heo may se lạnh càng tê tái
Mây trắng bềnh bồng cứ mãi xây
Hiu hắt rừng phong vàng lối nhỏ
Ngập ngừng sương thấm ướt đôi vai
Quê nhà cuối nẻo chân trời lạ
Chẳng khói hương trầm....mắt lại cay

Song Quang
***
Buồn Vào Thu


Từng chiếc lá vàng gió cuốn bay
Mỗi mùa thu đến cảm thương hoài
Sao dời vật đổi đâu người khiến
Vũng biến nên đồi chẳng kẻ xây
Trót mấy mươi năm nuôi ảo mộng
Để rồi một kiếp chẳng tròn vai
Cơm con áo vợ buồn năm tháng
Nỗi giận bất tài vị đắng cay.

Quên Đi
***
Mùa Thu Đầu Tiên

Họa nương vận

Với em áo lụa,tóc mây bay
Càng khiến cho đây nỗi cảm hoài
Môt thuở dập dìu trên lối mộng
Nữa đời dang dở cuộc tình xây
Thư xanh trao gởi chưa phai sắc
Mắt biếc gởi trao vẫn nặng vai
Xuyên suốt hành trình chưa bến đỗ
Để rồi chiều xuống bốc men cay

Thái Huy
***
Thu Buồn


Đếm bước trên đường ngập lá bay
Tâm tư chìm đắm nỗi u hoài
Sương chiều mờ mịt như voan phủ
Mây xám chập chùng tựa lũy xây
Nhớ bạn tri âm ngày họp mặt
Thương người tri kỷ lúc kề vai
Hợp tan dẫu biết là quy luật
Mắt vẫn rưng buồn lệ đắng cay.

Phương Hà
***
Thu Buồn


Lá úa chiều thu thoảng nhẹ bay
Mênh mang lịm đắm nỗi u hoài
Giăng giăng gió nhẹ se trời ám
Lãng đãng mây buồn phủ lớp xây
Rẽ bến con thuyền không chuyển lái
Lên đèn ngõ phố lạnh quàng vai
Mơ màng ánh điện chìm sương kín
Bóng đổ đêm tàn tẩm vị cay!

Nguyễn Đắc Thắng
2016.09.24
***
Thu Cảm Hoài


Trong nắng tơ vàng nhặt lá bay
Mùa thu lộng ngọc luyến lưu hoài
Lòng xa xôi nhớ duyên tương ngộ
Hồn ngất ngây tròn mộng đắp xây
Lắng điệu thu ca khi tựa má
Trao niềm hạnh phúc lúc kề vai
Nhưng lần định mệnh lìa xa xứ
Quê mẹ nghìn trùng nghe đắng cay

Kim Phượng

Úc Du Kỳ Ngộ Người Long Hồ


Sau một chuyến bay dài từ Los Angeles đi Hongkong rồi Sydney mất trên 25 giờ bay của hãng Cathay Pacific, tôi đến Úc vào lúc nửa đêm ngày 31 tháng 10 năm 2005. 

Trong suốt thời gian lưu lại Úc Châu gần một tháng, tôi lần lượt viếng thăm hầu hết các tỉnh thành lớn của nước Úc từ Sydney, qua Melbourne, Aldelaide, Perth và Brisbane. Hầu như tại thành phố nào tôi cũng gặp được những người bạn rất thân thương, dù đã quen lâu hay chỉ mới biết nhau qua hình ảnh của Đặc San trường Trung Học Tống Phước Hiệp. Tại Sydney, tôi gặp lại một số học trò cũ đã trên 20 không gặp, bây giờ gặp lại đa số các em đã thành nhân chi mỹ, có gia đình và con cái đầy đàng. Khi mới đến Úc, tôi lưu lại Sydney khoảng 3 ngày, sau đó tôi lại đáp máy bay nội địa Virgin Blue đi Melbourne. 

Tôi đến Melbourne vào buổi sáng sớm, mà trời hè ở đây nóng nực và khó chịu hơn ở Mỹ nhiều. Ở Úc cũng như các xứ trong khối Liên Hiệp Thịnh Vượng Anh đều lái xe bên tay trái, nên cái gì cũng ngược lại với bên Mỹ. Đường sá ở đây tuy hẹp hơn bên Mỹ nhưng cách cách cấu trúc cũng giống. Về phần cây trái thì hầu như ở Việt Nam có thứ gì là bên Úc có thứ đó. Khi tới Melbourne, tôi được các em Kim Phượng, Kim Oanh, Kim Diệp và Kim Hữu, thuộc đại gia đình dòng họ Lê Kim của anh Lê Kim Thành (San Jose) đón và đưa về nhà, tay bắt mặt mừng thể như anh em ruột đi xa lâu ngày nay lại gặp nhau vậy. Đêm 4 tháng 11, mấy anh em chúng tôi thức gần trắng đêm, nói đủ thứ chuyện, chuyện nhà, chuyện đời, chuyện Hội Ái Hữu TPH, đến gần sáng mà vẫn chưa có ai muốn đi ngủ. 

Hình chụp trước nhà Kim Oanh trong buổi hội ngộ.Từ trái sang phải Kim Phượng, Kim Oanh, Ngọc-Em, Kim Diệp. 

Mãi suy tư về chuyến hội ngộ tuyệt vời này, dòng suy tưởng của tôi chợt trở về với những kỷ niệm của tôi và gia đình Lê Kim vào những cuối 1982 đầu 1983, khi tôi mới bước chân ra khỏi lao tù CS, để bước ra ngoài cái xã hội kỳ quặc nhất trần gian, cái xã hội của những người anh em phía bên kia, quyết không chừa cho chúng tôi một chút đất nào để sinh tồn. Lúc đó chính cô dượng Hai, hai vị tiền bối của dòng họ Lê Kim đã hết lòng an ủi và khuyến tấn tôi, nâng đỡ tôi về mặt tinh thần rất nhiều, nhờ đó mà tôi vượt qua được những khó khăn và sinh tồn cho đến ngày hôm nay. À thì ra anh em chúng tôi đã có duyên với nhau từ lâu lắm rồi! 

Kim Oanh và Kim Diệp mải mê nhắc về những kỷ niệm giữa hai gia đình Cô Hai (má của Kim Oanh) và Cô Sáu (má của bà xã tôi). Còn Kim Hữu thì nhắc lại những kỷ niệm vui buồn của em và Ban Giám Hiệu mới của trường Tống Phước Hiệp trong buổi giao thời khi người anh em phía bên kia vừa vào được miền Nam. Trong khi Kim Phượng cứ mãi thắc mắc, không biết có phải tôi đã từng ở cùng xóm hay không mà chưa bao giờ biết hay nghe nói đến tôi bao giờ, rồi đùng một cái ở đâu lù lù về cưới con Cô Sáu. Tôi mỉm cười nói: “Hồi đó anh em mình hổng biết nhau, bây giờ biết nhau lại cảm thấy thân thương hơn để bù lại nè!” Suốt cả đêm anh em chúng tôi thức trắng mà vẫn chưa thấy đủ để nói hết những gì mình muốn nói. Ôi tình cảm của cựu học sinh Tống Phước Hiệp sao mà dào dạt thế! Chúng tôi hiện vẫn đang ngồi chung với nhau đây, nhưng khi chạnh nghĩ đến ngày mai mình lại chia tay nhau, một cảm giác man mác buồn lan tỏa trong hồn. Rồi việc gì đến cũng đến, ngày 6 tháng 11, 2005 tôi rời Melbourne để đi Adelaide. Anh em chúng tôi chia tay trong lưu luyến. Nhưng cuộc vui nào rồi cũng tàn, cuộc gặp gỡ nào rồi cũng phải tới hồi chia tay. Chúng tôi hẹn nhau ngày tái ngộ, có thể là ngay trên đất nước Việt Nam thanh bình của mình. 

Chiếc bánh trĩu nặng nghĩa tình trong chuyến Úc Du Kỳ Ngộ 

Chiếc bánh thương yêu của các em gái Tống Phước Hiệp tại Úc Châu dành cho người anh đến từ Mỹ quốc, cùng từng học trường Tống Phước Hiệp nhưng chưa bao giờ biết mặt . 

Các món đồ ăn chay đặc biệt do thợ nấu Kim Oanh, cựu nữ sinh Tống Phước Hiệp thủ diễn. 
Kim Oanh, Kim Phượng, Ngọc Em, Kim Hữu, Kim Diệp

Anh em chúng tôi thân mật và gắn bó nhau như thể chúng tôi đã quen nhau tự thuở nào, hay như thể chúng tôi là anh em ruột thịt xa cách từ bấy lâu nay mới gặp lại nhau vậy. 

Người ngồi kế chót bên tay phải là anh Kim, rễ TPH, cũng gắn bó với chúng tôi như anh Châu, rễ TPH bên California vậy. 
Buổi sáng anh em chúng tôi ra phố Melbourne uống cà phê giống như sinh hoạt ngày nào ở Việt Nam vậy. 
Kim Phượng đang thắc mắc có thiệt phải chúng tôi đã từng ở cùng xóm hay không? Cũng như phỏng vấn về sự tình của Hội Ái Hữu CHS TPH bên Mỹ. 

Kim Hữu (CHS-Nguyễn Trường Tộ) đã xin phép nghỉ mấy ngày để đưa người anh chưa bao giờ biết mặt đi hết vùng biển Melbourne. 
Hình chụp tại Bờ biển Melbourne. Từ trái sang phải Kim Hữu, Kim Oanh, Ngọc-Em. Tất cả đều là CHS-TPH thuộc nhiều thế hệ khác nhau.

Mấy anh em chúng tôi chụp hình chia tay trước khi tôi rời Melbourne đi Adelaide. Sau khi rời Melbourne, tôi đáp phi cơ qua Adelaide và lưu lại nơi này khoảng một tuần lễ, nhưng tại đây không có ai quen thân. Sau đó ngày 15 tháng 11, tôi bay sang Perth. Tại Perth thì tôi gặp lại Lãng, là bạn học hồi mới lên trung học và hai vợ chồng Be-Phước là hai người bạn của em vợ tôi, nhưng lại rất thân với tôi sau những năm tôi ra khỏi lao tù CS(1983). Ở đây gia đình của Be tiếp rước tôi như người anh em ruột thịy đi xa mới về. Tại đây chúng tôi mới phát giác ra chị Phước (vợ của Be) cũng là một cựu học sinh Tống Phước Hiệp cùng đi trong Hướng Đạo với Kim Oanh thời còn đi học. Ôi trái đất này quả là tròn thiệt! Tôi lưu lại nhà của Be một tuần trước khi lên đường qua Brisbane. 

(Gia đình Be-Phước tại Perth—Chị Phước cũng là một CHS TPH 1972— Từ trái sang phải: chị Phước, cháu Thiện, cháu Di, Be, Ngọc-Em) 

Sau khi rời Perth qua Brisbane, tôi lại gặp được một người đàn em cùng xóm, tên Hùng (nhà ở trong Hàng Xoài Lùn, qua khỏi Văn Thánh Miếu). Anh em chúng tôi lại tay bắt mặt mừng trong mấy ngày tôi lưu lại đây. Quả là trái đất tròn! Sau đó tôi lên đường trở về lại Sydney để bắt đầu một chuyến du hành mới qua xứ Thiên Trúc (Ấn Độ).Những tháng ngày lưu lạc đã mòn mỏi đôi chân. Quê hương ngày trở về hãy còn xa xăm diệu vợi trong bóng mờ hoàng hôn. Tuy nhiên, nơi xứ lạ quê người này chúng tôi vẫn còn nguyên vẹn tình người, tình thầy trò, tình bạn đồng học chung trường, dù có cách nhau đến cả thế hệ vẫn còn nồng ấm như truyền thống Việt Nam thân thương của chúng ta ngày nào. Một lần nữa, xin cảm ơn trường Tống Phước Hiệp đã tạo ra những thế hệ học sinh tài ba, xin cảm ơn thầy cô, xin cảm ơn các em CHS-TPH bên Úc Châu đã dành cho người anh chưa bao giờ biết mặt đến từ Mỹ một cuộc Úc Du Kỳ Ngộ tuyệt vời. Xin cảm ơn và hẹn ngày tái ngộ!!!   

Người Long Hồ