Thứ Năm, 22 tháng 6, 2017

Từ Khi - Thơ Lê Kim Hiệp - Hương Nam Diễn Ngâm


Thơ Diễn Ngâm


Thơ: Lê Kim Oanh
Diễn Ngâm: Hương Nam
Thơ Tranh: Kim Oanh


Phố Núi Lạnh



(Pleiku tưởng nhớ 22/6)

Làm sao nói được nửa lời yêu
Biểu ai còn cắp sách mỗi chiều
Dõi bàn chân bước ngây thơ dại
Nên ngại ngần nói đến chữ "YÊU"

Kêu thời gian dừng lại Ngân Hà Bắc
Giục quạ xưa gấp nối nhịp cầu
Sông sâu Chức Nữ vô tình ngã
Ô Thước cầu lỗi mỗi mùa Ngâu

Đâu thuyền tình vắng bến vùng cao
Mau đem Chức Nữ về bến hạ
Trả nàng kiều diễm hộ Ngưu Lang
Bàng hoàng tỉnh giấc bóng đò ngang

Hàng thông lưỡi hái sao đành nỡ
Cắt đường tơ dệt thuở ban sơ
Ngỡ neo bến Hoàng Hôn rực rỡ
Phố Núi giờ xuống lạnh mù sương.



Lê Kim Hiệp 

Phố Núi U Hoài - Nhớ Hoài Phố Núi - Pleiku Một Thoáng Nhớ



(Đường Trịnh Minh Thế , Pleiku trước 1975)

Phố Núi U Hoài

Pleiku Phố Núi u hoài
Đường xưa Minh Thế áo dài trắng mơ
Lữ khách mòn gót hẹn chờ
Vàng nắng bóng đổ vương tơ kết đời
Người ơi còn nhớ nhung thời
Thương say mật ngọt gọi mời hương yêu
Tỏ tình đã ướm lời nhiều
Sao nỡ buông vội cánh diều vụt bay….


Kim Oanh
Melbourne 26/9/2013



Nhớ Hoài Phố Núi

“Pleiku Phố Núi nhớ hoài”…*
Con đường Minh Thế trải dài ước mơ
Hàng cây thắp nắng mong chờ
Đôi tình nhân trẻ làm thơ dâng đời
Qua rồi áo trắng một thời
Xa rồi em gái một đời tôi yêu
Hôm nay chợt nhớ nhung nhiều
Áo em má thắm gió chiều tóc bay.


Nguyễn Đức Tri Ân
Melbourne,
* Lời thơ của tác giả Tâm Hiền



Pleiku Một Thoáng Nhớ

Dừng chân phố núi thương hoài
Con đường Hoàng Diệu dốc dài mộng mơ!
Hàng thông lã ngọn đợi chờ
Pleiku thành phố buồn chơ vơ đời
Thân trai cũng có một thời
Si cô gái Thượng ngõ lời đã yêu
Dã Quỳ hoa nở rộ nhiều
Bụi đường đất đỏ gió chiều tung bay


Song Quang

USA 2016

Ngủ Đi Anh



Anh nằm đấy bên vườn dừa rực nắng
Bước em về hoa bưởi trắng vuông sân
Hàng xoài cũ khoe bông bên vườn mận
Nhớ về anh ray rứt biết bao lần.

Quê anh luôn xinh tươi đầy bóng mát
Con sông hiền hòa lẵng lặng như tờ
Chiếc tam bản ai chèo trên sông hát
Gió vi vu mây trắng dệt vần thơ.

Không có anh nhưng tình như còn mới
Mưa đầu mùa cho nỗi nhớ mong manh
Bên liếp cà, vườn đậu cạnh cây chanh
Anh thường đứng bây giờ xa xôi quá.

Hai đứa ta đường trần chia đôi ngã
Em cô đơn anh vẫn mãi lặng nhìn
Anh vô tâm trở thành người xa lạ
Em nghe lòng đau buốt nhói buồng tim.

Ngủ đi anh cho em luôn yên dạ
Rằng anh yêu an giấc tận nghìn thu…

Dương hồng Thủy



Bài Thơ Năm 18 Tuổi



Thôi nhé, những chiều sương khói xưa
Vai em rồi cũng lạnh sang mùa
Tóc em rồi cũng trăm sợi nhỏ
Theo nắng phai tàn, theo gió mưa

Phố dài thêm, cây nhú lá non
Cành quạnh hiu những nụ hoa buồn
Tai nghiêng mấy tiếng đời lặng lẽ
Vai nhỏ nghiêng về như khói sương

Môi xưa còn vướng nụ hôn đầu
Trời xanh xa quá thủa yêu nhau
Tay chia từng phiến mây phiêu lãng
Trả hết cho người đi phía sau

Khi em xa khuất một dòng sông
Tiếng sóng khua tan vỡ trong lòng
Như tan vỡ những mùa mưa cũ
Ôi những thu buồn nghe chớm đông

Chân em bước nhạt hết mùa hoa
Bỏ lại ngày xưa dấu lệ nhòa
Tình đã xa vời theo kỷ niệm
Trên những hao gầy câu tiễn đưa.

Từ Kế Tường
Ân Nguyễn sưu tầm

Thứ Tư, 21 tháng 6, 2017

Thơ Tranh: Ngồi Thiền


Thơ: Huy Phương
Thơ Tranh: Kim Oanh


Tháng Sáu Hạ Nồng



Hạ đến chói chan tháng Sáu nồng
Lung linh hoa sáng tỏa trời không
Mây xanh che mặt thu mình trốn
Gió vẫn ngủ vùi mặc đợi trông

Lạc bước đi tìm dấu Hạ xưa
Công viên im vắng bóng ai mờ
Hàng cây lặng lẽ nằm say nắng
Mặt nước u sầu sóng gợn thưa

Bạn bè, trường cũ đã mù khơi
Thuở ấy, giờ đây cách biệt lời
Viễn xứ một đời chưa dứt nợ
Đâu còn phượng đỏ Hạ về rơi

Áo trắng đâu rồi, sắc áo thơ
Ngàn năm còn lại dáng bơ vơ
Thòi gian cuồn cuộn theo giòng nước
Thổn thức trong tim một bóng mờ ...

Nhã Giang Thu Tâm

Nỗi Nhớ Tháng Sáu


Tháng Sáu lại về phượng đỏ yêu
Hây hây làn nắng gió hiu hiu
Cứ ngỡ em về xao xuyến phố
Con đường thắc thỏm tiếng chim reo

Tháng Sáu lại về lất phất mưa
Chút buồn rơi lệch nắng lưa thưa
Lòng anh chỉ muốn là hoa nở
Ngan ngát quanh em suốt bốn mùa

Ngan ngát ngày trôi kỷ niệm vương
Phương trời em có xõa tóc buồn
Anh xin mấy sợi tơ lòng biếc
Cột vần thơ nhớ với mùa thương

Cột những ngày xa với hẹn hò
Con đường chờ đợi nắng so đo
Hoa thì vẫn nở người xa vắng
Hương buồn theo cỏ nhớ quanh co

Tháng Sáu về man mác tiếng ve
Nỗi buồn nhẹ khuấy tách cà phê
Phố đông chỉ thiếu mình em đó
Nên dửng dưng bay ngọn gió hè

Trầm Vân

L’ isolement - Alphonse de Lamartine - Cô Đơn

 

L’ isolement 

Souvent sur la montagne, à l’ ombre du vieux chêne
Au coucher du soleil, tristement je m’assieds
Je promène au hazard mes regards sur la plaine
Don’t le tableau changeant se déroule à mes pieds

Ici gronde le fleuve aux vagues écumantes
Il serpent, et s’enfonce en un lointain obscur
Là, le lac immobile s’étend ses eaux dormantes
Où l étoile du soir se lève dans l’ azur.

Au sommet de ces monts couronnés des bois sombres,
Le crépuscule encore jette un dernier rayon
Et le char vaporeux de la reine des ombres
Monte, et blanchit déjà les bords de l’horizon

Cependant,s’ élancant de la flèche gothique
Un son religieux se répand dans les airs
Le voyageur s’ arrête ,et la cloche rustique,
Aux derniers bruits du jour mêle de saints concerts

Mais à ces doux tableaux mon âme indifferente,
N’ éprouve devant eux ni charme ni transports;
Je contemple la terre ainsi qu’une ombre errante
Le soleil des vivants n’échauffe plus les morts.

De colline en colline en vain portant ma vue
Du sud à l’aquilon,de l ‘aurore au couchant,
Je parcours tous les points de l’ immense étendue,
Et je dis:”Nulle part le bonheur ne m’ attend “.

Que se font ces vallons,ces palais, ces chaumières
Vains objets dont pour moi le charme est envolé?
 Fleuves,rochers,forêts,solitudes si chères,
Un seul être vous manque, et tout est dépeuplé

Que le tour du soleil ou commence ou s’ achève,
D’ un oeil indifferent je le suis dans son cours
En un ciel sombre ou pur qu’ il se couche ou se lève,
Qu importe le soleil? Je n ‘ attend rien des jours.

Quand je pourrais le suivre en sa vaste carrière,
Mes yeux verraient partout le vide et les deserts
Je ne désire rien de tout ce qu’ il éclaire
Je ne demande rien l’ immense univers.

Mais peut-être au delà des bornes de sa sphère,
Lieux où le vrai soleil éclaire d ‘autres cieux
Si je pouvais laisser ma dépouillé la terre
Ce que j’ ai tant rêvé paraitrait à mes yeux!
Là, je m’ enivrerais à la source où j’aspire,
Là,je trouverais et l’ espoir et l’ amour
Et ce bien idéal que tout âme desire
Et qui n’ a pas de nom au terrestre séjour!

Que ne puis-je,porté sur le char de l’Aurore
Vague objet de mes voeux,m élancer jusquà toi!
Sur la terre d’ exil pourquoi resté-je encore?
Il n’ est rien de commun entre la terre et moi .

Quand la feuille des bois tombe dans la prairie,
Le vent du soir sélève et l’ arrache aux vallons
Et moi,je suis semblable à la feuille flétrie
Emportez-moi comme elle,orageux

Alphonse de Lamartine 
***
Bài Dịch: Cô Đơn

Dưới bóng sồi già giữa núi đồi
Chiều tà buồn bả tôi hay ngồi
Chiều tà buồn bả tôi hay ngồi
Chiều tà buồn bả tôi hay ngồi

Cảnh chiều thay đổi dưới chân tôi
Nơi đây gầm thét sóng tung lên,
Sông lượn rồi chìm nẽo tối đen
Hồ kia nước lặng mơ màng ngủ

Chân trời lấp lánh ánh sao đêm
Âm u trên đỉnh núi rừng mờ
Hoàng hôn thoi thóp nắng lơ thơ
Sương lên hoàng hậu màn đêm ngự

Cao dần trắng xóa chân trời bờ
Gác chuông lúc ấy cũng ngân nga
Âm thanh tôn giáo quyện trời xa
Lữ hành dừng bước chuông thôn dã

Trong tiếng chiều tà quyện thánh ca
Vẫn lạnh lùng trước cảnh đẹp mơ
Chẳng gì quyến rủ chẳng nên thơ
Một bóng mơ hồ của trái đất

Mặt trời hết sưởi kẻ trong mồ
Đồi đồi ngút mắt tận ngàn khơi
Gió nam lên bắc sáng chiều trôi .
Bốn phương rộng mở lê chân khắp

Chẳng nơi nào hạnh phúc chờ tôi.
Thung lũng lâu đài cả mái tranh
Núi sông, cô tịch, rừng thân ái
Thiếu một người nhân loại vắng tanh

Rạng đông rực rỡ hay chiều tàn
Với mắt lạnh lùng tôi bước hoang.
Mặc sáng tối, âm u, lặn thức
Đâu gì quan trọng lúc ngày sang

Khi tôi đến tận chốn mênh mông
Chỉ toàn sa mạc với trời không
Tôi chẳng mơ gì nơi rạng rỡ
Đòi chi nơi vũ trụ vô cùng!

Biết đâu bến đậu ngoài tinh cầu
Nơi mặt trời thực chiếu khắp châu
Khi xác thân vùi sâu đất cát
Ước mơ trước mắt biết đâu nào!
Nơi ấy say sưa cảm hứng về
Tình yêu hi vọng sẽ tràn trề
Lý tưởng mà hồn hằng mộng ước
Không có tên trong cõi bến mê!

Bởi chẳng thể mang tàu Rạng Đông
Chở mộng vu vơ đến bạn long
Trái đất đọa đày còn phải sống
Với tôi trái đất chẳng chung dòng

Khi lá rừng rơi nhẹ thảm xanh,
Gió chiều thung lũng cuốn đi nhanh.
Tôi như chiếc lá vàng tơi tả,
Gió hỡi! mang tôi tận cuối gành

Mailoc phỏng dịch 2011     
                      

Nước Là Thủy

Phiếm:


Nước là chất lỏng có ký hiệu là H₂O, từ Hán Việt là Thủy 水, thuộc dạng chữ Tượng Hình trong CHỮ NHO ... DỄ HỌC, được hình thành theo diễn tiến của chữ viết như sau:


Ta thấy:
Từ Giáp Cốt Văn cho đến Đại Tiểu Triện đều là hình tượng của một dòng nước, 4 chấm 2 bên là tượng trưng cho dòng nước đang chảy. cho nên, có nước là có dòng nước chảy, như suối, khe, sông, biển ... và nơi nào có suối, khe, sông, biển là nơi đó có nguồn sống, có dân cư. Cái quần thể dân cư nầy sinh sống phát triển là nhờ dựa vào nguồn nước. Cho nên ông bà ta có câu " Uống nước phải nhớ nguồn ", và có phải vì thế mà dân ta gọi một Quốc Gia là Một Nước ? Không có nước sẽ không có người sinh sống và cũng sẽ không có quốc gia nào hình thành được cả !
Nước mất thì nhà tan, quốc phá thì gia vong ! Không có nước sẽ không có nhà, mà không có Nhà thì cũng không thành ... Nước ! Cho nên, ta lại có từ Nhà Nước để chỉ Chính Quyền của một Quốc Gia.

Nước là thủy, thủy là nước. Bên dòng nước là bên dòng sông, nên thủy cũng là sông, như Hương Giang còn gọi là dòng Hương Thủy; tương tự, Tương Giang cũng gọi là Tương Thủy như trong bài thơ " Tảo hàn giang thượng hữu hoài " của Mạnh Hạo Nhiên đời Đường:

我家襄水曲, Ngã gia Tương Thủy khúc,
遥隔楚云端. Dao cách Sở vân đoan.

Có nghĩa:
Sông Tương quê cũ vời trông,
Ngẩn ngơ mây Sở cách ngăn mấy lần. 

H₂O là phân tử nước do 2 nguyên tử Hidro và 1 nguyên tử oxy kết hợp mà thành, đó là theo công thức Hóa học. Còn theo Âm Dương Ngũ Hành của Kinh Dịch thì Kim sanh Thủy. Nước là do ... vàng sinh ra, và theo một câu trong sách Thiên Tự Văn 千字文 là KIM SANH LỆ THỦY 金生麗水. Có nghĩa: Khi vàng bị nung chảy thì trở thành một chất lỏng lắp lánh đẹp đẽ. Nhưng căn cứ vào thực tế thì không phải như thế, vì chất lỏng lóng lánh của vàng sẽ rất nhanh đong cứng lại thành chất rắn của kim loại. Nên ...

KIM SANH LỆ THỦY ở đây là chỉ dòng sông Kim Sa Giang ở tỉnh Vân Nam thuộc nước Sở thời Chiến Quốc. Vì có rất nhiều cát vàng ở trong lòng sông, nên nước sông lắp lánh rất đẹp, vì thế mà dân chúng mới gọi Kim Sa Giang là LỆ GIANG 麗江 hay là dòng LỆ THỦY 麗水, là dòng nước đẹp ! Đẹp vì cái Thần của con sông là vàng là Kim, nên chi vị Thủ Tướng đầu tiên của nước Việt Nam ta là cụ Trần Trọng KIM mới lấy hiệu là LỆ THẦN, là cái THẦN của dòng sông LỆ, chính là KIM đó vậy!
 
Trong mùa xuân thì nước gọi là Xuân Thủy. Từ những băng tuyết trên nguồn tuôn chảy thành những khe suối trong veo vào mùa xuân, rồi chảy thành những dòng sông len lỏi qua thôn xóm mang lại nguồn sống cho dân cư, như trong thơ của Đổ Phủ:

一徑野花落, Nhất kính dã hoa lạc,
孤村春水生. Cô thôn xuân thủy sinh.

Có nghĩa:
Bên đường hoa dại rụng đầy,
Nước xuân trong vắt đâu đây xóm nghèo.
Nước xuân trong vắt như ánh mắt của các cô thôn nữ mộc mạc ngây thơ như lời thơ của Thôi Ngọc trong Đường Thi :
两臉夭桃從镜發, Lưỡng kiểm yêu đào tòng kính phát,
一眸春水照人寒。 Nhất mâu xuân thủy chiếu nhân hàn.

Có nghĩa:
Má đào ửng đỏ trong gương
Một làn xuân thủy vấn vương lòng người.
Xuân thủy là ánh mắt xuân của các cô gái ngây thơ trong trắng, khác với thu thủy là ánh mắt gợn buồn đa sầu đa cảm của các giai nhân tài hoa bạc mệnh như Thúy Kiều :
Làn Thu Thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh !
Thu Thủy là nước mùa thu, trong veo, lạnh lùng mà se sắt dễ làm rung động và cũng dễ làm tê tái lòng người.

Theo Âm Dương Ngũ Hành, thủy thuộc cung Hợi và Tý, có màu đen và nằm ở phương bắc. Bắc phương Nhâm Qúy Thủy mà ! Nên, ở Bắc bán cầu nầy, thường các dòng sông đều phát nguyên từ vùng Tây Bắc và chảy về hướng Đông Nam mà đổ ra biển theo như một câu nói xưa :
世間無水不朝東. Thế gian vô thủy bất triều đông.

Có nghĩa:
Trên đời nầy không có dòng nước nào mà không chảy về hướng Đông cả!
Hãy nghe Lý Bạch mở đầu bài Tương Tiến Tửu bằng câu:

君不見
黃河之水天上來,奔流到海不復回?
Quân bất kiến
Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai bôn lưu đáo hải
bất phục hồi?

Có nghĩa:
Bộ bạn không thấy sao, nước sông Hoàng Hà như từ trên trời đổ xuống, chảy cuồn cuộn về biển rồi không quay trở lại nữa ?
Nước chảy cuồn cuộn mất hút vào biển đông, cũng như thời gian cứ vùn vụt mất hút về qúa khứ, cho nên ông viết tiếp:

人生得意須盡歡, Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,
莫使金樽空對月。 Mạc sử kim tôn không đối nguyệt!

Có nghĩa:
Đời người đắc ý nên vui thích,
Chớ để chai vàng hết dưới trăng!
Có dịp vui chơi đắc ý thì hãy vui cho đến cùng, đừng để cho cụt hứng nửa chừng mà hết rượu dưới ánh trăng còn đang vằng vặc!

Khác với Tản Đà trong " Thề Non Nước " vì không phải " Nước đi đi mãi không về cùng non ", mà ...
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn,
để cho ...
Nước non hội ngộ luôn luôn.
và ...
Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước không nguôi lời thề !

" Thề Non Nước " là Hải thệ sơn minh, là " Thề non hẹn biển ". Biển và Non cũng là thế thân của Non và Nước. Nhưng Non và Nước sống động hơn, khắng khít hơn với cái vòng tròn hóa thân của nước, nước chảy ra bể bốc hơi rồi lại mưa về nguồn với non xanh đang mõi mòn chờ đợi !

Nước là nguồn tươi mát mang lại sức sống cho con người và vạn vật. Không có nước con người sẽ khô cằn, cỏ cây sẽ héo úa. Nước đem sinh khí đến cho muôn loài. Nên trong ca dao dân gian của ta mới ví:
Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra!

Nước trong nguồn chảy ra thì không bao giờ cạn kiệt, cũng như tình mẹ bao la không bờ không bến vậy. Sự mát mẻ của nước còn được ví như trong đêm thanh vắng, êm ả dịu dàng như câu thơ của Đỗ Mục trong bài Thu Tịch :
Thiên giai dạ sắc lương như thủy 天街夜色涼如水

Có nghĩa:
Đường phố trong Kinh thành lúc về đêm cũng mát mẻ như nước vậy.
Trong đêm thanh vắng, nước là những giọt sương khuya mờ ảo mát lạnh mà nên thơ, làm cho lòng người lâng lâng như 2 câu thơ toàn là thanh bằng trong bài Nhị Hồ của Xuân Diệu :

Sương ngưng theo trăng ngừng lưng trời,
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi !...


Nước được ví như những tình cảm nhe nhàng, tình yêu nồng thắm làm mát dịu tâm hồn với thành ngữ NHU TÌNH TỰ THỦY 柔情似水 êm ái mát mẻ như nước hồ thu làm say đắm lòng người, nhẹ nhàng trôi chảy như những dòng sông dài êm đềm về tận chốn xa xăm :
Sông dài cá lội biệt tăm,
Phải duyên phu phụ ngàn năm em cũng chờ ...

Nhưng lắm khi ...
Lạc hoa hữu ý mà lưu thủy lại vô tình, làm cho lỡ vỡ mộng ngày xanh, lỡ làng duyên cá nước ! Như lời than thở của cô gái xóm đông:
Cây da tróc gốc, thợ mộc đang cưa,
Đôi đứa ta ra đi cũng xứng mà ...
Đứng lại cũng vừa.
Tại cha với mẹ còn kén lừa suôi gia !
" Kén lừa suôi gia " nên để lỡ làng " duyên cá nước !"

Nhắc đến duyên cá nước lại nhớ đến câu NHƯ NGƯ ĐẮC THỦY 如魚得水 với tích của Lưu Bị trong Thục Thư thời Tam Quốc :
Lúc bấy giờ, Lưu Bị đang nương nhờ vào Lưu Biểu ở Kinh Châu, đóng quân ở Tân Dã để cầm cự với quân Tào Tháo. Nhờ sự tiến cử của Từ Thứ và lòng thành của Lưu Bị phải Tam cố thảo lư 三顧草廬 ( 3 lần đến cầu cạnh ở gian nhà cỏ nơi Ngọa Long Tiên Sinh ở ) mới gặp được mặt Khổng Minh Gia Cát Lượng, bất chấp sự phản đối quyết liệt của Quan Vũ và Trương Phi. Lưu Bị nói rằng : " Cô chi hữu Khổng Minh, do ngư chi hữu thủy dã 孤之有孔明,猶鱼之有水也 ". Có nghĩa : " Ta mà có được Khổng Minh, thì như là cá mà gặp được nước vậy !". Khiến cho Quan Trương 2 người đành im hơi, không dám phản đối nữa!

Còn " Cá Nước " bây giờ thường được dùng để chỉ về duyên đôi lứa, tình yêu trai gái khi gặp được đối tượng xứng ý vừa lòng:
Đôi ta như lúa đòng đòng,
Như cá gặp nước thỏa lòng mẹ cha.
hoặc ...
Tình anh như nước lên cao,
Tình em như cá lội vào nước anh ...

Nước là Thủy, đi với Sơn thì thành SƠN THỦY 山水, mà Sơn Thủy là ... Phong cảnh. Nhớ hồi nhỏ đến rạp hát xem các họa sĩ vườn vẽ phong cho gánh hát, bà con cứ nói là: " Đi coi cái thằng cha đó vẽ SƠN THỦY !". Thực tế thì phong cảnh cũng phải có sơn có thủy có núi có nước thì mới đẹp, và ít nhất thì cũng phải có nước, phải có những dòng sông con rạch với những ngọn dừa lả bóng như đồng bằng sông Cửu Long thì mới là cảnh đẹp được ! Trong văn chương cổ điển thì ca ngợi cảnh đẹp bằng Sơn Minh Thủy Tú 山明水秀, Thanh Sơn Lục Thủy 青山綠水, là non xanh nước biếc như trong ca dao của ta :

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ. 
Ai vô xứ Nghệ thì vô ! 

Khi Dương Qúy Phi bị bức tử ở Mã Ngôi Pha rồi, Đường Minh Hoàng chỉ còn lại một mình chạy vào đất Thục, mà lòng vẫn không nguôi thương nhớ đến Dương Phi. Bạch Cư Dị đã viết trong Trường Hận Ca là:
Thục giang thủy bích Thục sơn thanh, 蜀江水碧蜀山青,
Thánh chúa triêu triêu mộ mộ tình ! 聖主朝朝暮暮情。

Có nghĩa:
Sông Thục kia nước xanh biêng biếc,
Núi Thục kia biêng biếc non xanh.
Ngày sầu đêm thức năm canh,
Não lòng thánh chúa tình thành chiêm bao!

Nước ướt át là thế, tình tứ là thế, dịu dàng là thế. Thế nhưng, khi gặp phải phong ba bão tố thì nước lại trở nên cuồng nộ hung hăng, nhấn chìm tất cả xuống lòng sông, lòng biển, lòng đại dương một cách vô tình không thương xót. 
Người con gái chết đuối đầu tiên thời thượng cổ là con gái của Viêm Đế : Nữ Oa ( Trung Hoa cổ xưa gọi các cô gái chưa chồng là Nữ Oa, như ta gọi các cô gái con của vua Hùng là Mỵ Nương vậy ). Trong một lần đi chơi ở biển đông, Nữ Oa đã bị chết bởi một trận ba đào cuồng nộ. Ức lòng vì chết trẻ, hồn Nữ Oa đã hóa thành con chim Tinh Vệ, hàng ngày tha sỏi đá cỏ cây để lắp bằng biển đông cho hả giận. 
Trong Truyện Kiều lúc lập đàn tế Thúy Kiều trên sông Tiền Đường, cụ Nguyễn Du cũng đã mượn tích nầy để tả nổi oan khiên của cô Kiều:
Tình thâm bể thảm lạ điều,
Nào hồn Tinh Vệ biết theo chốn nào ?
Trong truyện Sãi Vãi, khi bàn về chữ MUỐN, cụ Nguyễn Cư Trinh cũng cho ông Sãi nói rằng:

Đá Tinh Vệ muốn lắp sao cho cạn biển,
Đất nghỉ phù muốn đắp để nên non ...

Không phải chỉ riêng chim Tinh Vệ, mà những người Việt Nam vượt biên tìm tự do sau 1975 cũng muốn lắp cho cạn biển Đông, cũng như những người Syria tị nạn hiện nay muốn lắp cho cạn Địa Trung Hải vậy. Nước đã nhấn chìm biết bao sinh linh, biết bao là hy vọng, biết bao niềm mơ ước để đến được bến bờ tự do, để đến được miền đất hứa, để xây dựng một cuộc sống mới trong hòa bình thịnh vượng. Hết ý thức hệ rồi lại đến chiến tranh khủng bố làm rối loạn, xáo trộn cuộc sống yên bình của cư dân địa cầu, và ... để cho nước lại có dịp dìm chết những dân thường vô tội, vì chẳng đặng đừng mới phải bỏ quê Cha đất Tổ, nơi chôn nhau cắt rốn để ra đi! 
  
Hơn 2000 năm trước, Tuân Tử đã ghi lại lời nói giữa Khổng Tử và Lổ Ai Công là : Quân dã, chu dã; thứ nhân dã, thủy dã. Thủy tắc tải chu, thủy tắc phúc chu. 君者,舟也;庶人者,水也。水则载舟,水则覆舟. Có nghĩa : " Vua là thuyền, dân là nước. Nước có thể chở thuyền thì nước cũng có thể lật thuyền ". Đó là 2 mặt của nước, khi bình thường trôi chảy thì nước có thể chở thuyền đi muôn ngàn dặm; còn lúc ba đào dậy sóng thì nước sẽ nhấn chìm thuyền trong chớp mắt mà thôi. Nếu biết lợi dụng cái ưu thế " Nước " của mình, thì tất cả những dân tị nạn sẽ không phải bỏ đi đâu cả, cứ nhấn chìm cái " Thuyền " mình đang chở là được ngay!
Nhưng, thực tế cũng đâu phải dễ, vì muốn cho thuyền chìm thì nước cần phải có cuồng phong yễm trợ, không có gió to thì nước làm sao có thể dậy sóng để nhấn chìm thuyền cho được! 

Nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền.

Nước mang đến cái lợi mà cũng mang đến tai họa nữa. Cái lợi do nước mang đến cho con người gọi là THỦY LỢI 水利. Trước tiên, nước là thức uống không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Ta có thể ba ngày không ăn chớ không thể 3 ngày không uống nước. Nước dùng để tưới tiêu, nước dùng để tắm gội, nước dùng để giặt giũ, nước dùng để nấu ăn ... Cái LỢI của nước thật to lớn vô cùng, nhưng người đời thường chỉ biết THỦY LỢI là dẫn thủy nhập điền, là đưa nước vào với ruộng đồng cho tiện việc tưới tiêu, tăng gia sản xuất mà thôi ... Thậm chí sau 1975, hễ nhắc đến từ THỦY LỢI là thanh niên ở thành thị đều xanh mặt, vì đi làm công tác Thủy Lợi là đi ... Đào Đất!

Còn tai họa lớn nhất do nước đem đến là Lũ Lụt, là THỦY HỌA 水禍. Nước lụt cuốn trôi tất cả nhà cửa, đồ đạc, xe cộ, trâu bò, gia súc... Ruộng đồng tan hoang, vườn tược xơ xác, nhà cửa điêu tàn... như đồng bào miền Trung của ta hằng năm phải gánh chiụ:
Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm,
Khiến đau thương thấm tràn ngập Thuận An... 
Còn đồng bào Nam Kỳ Lục Tỉnh vùng An Giang Châu Đốc thì lạc quan hơn. Bà con gọi mùa lũ lụt hằng năm bằng " Mùa Nước Nổi ". Mùa nước nổi cũng là mùa len trâu ( đọc truyện của nhà văn Sơn Nam ) bà con xoay qua đánh bắt thủy sản, mọi người đều hối hả đua nhau đặt dớn, bơi xuồng giăng câu, thả lưới... ai cũng vui đón mùa nước nổi về để được thưởng thức các món ngon như: Lẩu cá linh, canh chua nấu bằng bông điên điển, cá lóc bọc lá sen nướng hay chuột đồng nướng trui là những món đặc sản ngon nổi tiếng của Đồng Tháp trong mùa nước nổi.

Đặt dớn bắt cá Đặt trúm bắt chuột, lươn

Cơn lụt lớn nhất của nhân loại là cơn Đại Hồng Thủy trong Thánh Kinh Cơ Đốc, nhưng cơn lụt để lại nhiều huyền thoại nhất là cơn Đại Hồng Thủy do sông Hoàng Hà gây nên, khiến Cổn phải bị tội vì suốt 9 năm mà không trị được thủy. Con ông Cổn là Hạ Vũ phải mất thêm mười ba năm đôn đốc toàn dân phá núi khai kinh dẫn nước từ cao xuống thấp, lại mở rộng thêm cửa song cho nước chảy ra biển, mới chấm dứt được cơn hồng thủy, nên cửa biển mới được gọi là Vũ Môn, nơi mà theo tương truyền cá chép nào vượt qua được sẽ hóa thành rồng (nên còn gọi là Long Môn) Nhưng không phải con cá nào cũng muốn hóa rồng cả. Ta hãy nghe cô gái Nam Bộ hát trên sông nước như sau:
Khá khen con cá hóa long,

Hóa long không hóa, hóa lòng thương anh!
...qủa là tình nghĩa thắm thiết biết bao nhiêu!

Trở lại chuyện Hạ Vũ trị thủy, trong qúa trình làm cái công việc của một Công Trình Sư thủy lợi, tương truyền ông đã sáng chế ra Viên Quy 圓規 ( compasses ), Phương Củ 方矩 là Thước vuông góc ( Rectangular ) ta quen gọi là cái " Ê-Ke " ( Không có QUY thì vẽ không TRÒN, không có CỦ thì kẻ không VUÔNG. Nên QUY CỦ 規矩 là cái nguyên tắc phải tuân theo để làm việc, không có QUY CỦ 規矩 sẽ bị méo mó mà chẳng làm nên cơm cháo gì cả !) và ông cũng quy định lại thước tấc để đo đạc và vẽ đường cho ... nước chảy ! Trong Tây Du Ký, Ngô Thứa Ân đã huyền thoại hóa cây thước nầy thành Cây Định Hải Thần Châm của Đông Hải Long Vương để dằn dưới rốn biển cho biển đừng dao động, bị Tề Thiên Đại Thánh Tôn Hành Giả lấy làm binh khí và gọi nó là Như Ý Kim Cô Bổng mà ta quen gọi là cây Thiết Bản của Tề Thiên, chính là cây thước đo đạc dùng để trị thủy của Hạ Vũ ngày xưa đó. Vì trị thủy mang lại cuộc sống ổn định cho dân chúng, nên mọi người tôn xưng ông là ĐẠI VŨ 大禹 ( là ông VŨ vĩ ĐẠI : xin đừng nói lái ) và vua Thuấn nhường ngôi cho ông để lập nên nhà HẠ. Nhà Hạ truyền được 471 năm, qua 17 đời vua, đến vua Kiệt 桀 vì si mê Muội Hỉ, hoang dâm vô độ, dân tình khốn khổ, nên bị Thành Thang tiêu diệt, lập nên nhà Thương.

Vua VŨ vì giúp dân trị thủy, thoát khỏi thãm họa do lũ lụt gây nên mà được nhường ngôi vua. Còn vua KIỆT 桀 vì ham mê nữ sắc mà mất ngôi vua. nên sử sách ví cái họa của nữ sắc như là cái họa do nước mang đến. Vì thế mà có thành ngữ HỒNG NHAN HỌA THỦY 紅顏禍水. Và cái HỌA THỦY của HỒNG NHAN nầy còn được chứng minh dài dài qua các triều đại kế tiếp, như ...

Nhà Thương truyền được 526 năm, đến đời vua Trụ, vì si mê Đắc Kỷ giết hại công thần, mà bị Châu Võ Vương tiêu diệt, lập nên nhà Châu. Nhà Châu truyền 803 năm, đến đời U Vương lại vì si mê Bao Tự muốn cho nàng cười mà phải đốt Phong Hỏa Đài để gạt chư hầu rồi ... bị mất vào tay nước Tần sau đó. Đến thời Chiến Quốc, Ngô vương Phù Sai cũng bị mất nước vì mê Tây Thi, Hạng Võ Sở Bá Vương cùng Ly Cơ tự vẫn trên bến Ô Giang, Đường Minh Hoàng vì Dương Qúy Phi mà phải chạy loan An Lộc Sơn ẩn mình nơi đất Thục ... Nên sử sách đều cho là Muôi Hỉ, Đắc Kỷ, Bao Tự, Tây Thi, Ly Cơ, Dương Qúy Phi ... đều là Hồng Nhan Họa Thủy, mà không biết rằng tại các hôn quân đó qúa ... mê gái rồi tự làm cho mình mất nước, mắc cở và quê qúa nên mới đổ thừa cho HỒNG NHAN là HỌA THỦY ! Nhưng ...
Họa Thủy thì họa thủy, thi sĩ thì vẫn cứ yêu người đẹp như thường, gần ba ngàn năm sau, Xuân Diệu đã viết :

Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi,
Tôi mê Ly Cơ hình nhịp nhàng,
Tôi muốn tôi là Đường Minh Hoàng,
Trong cung nhớ nàng Dương Qúy Phi!


Sự thật thì " Đằng sau sự thất bại của người đàn ông, lúc nào cũng có bóng dáng của một người đàn bà !". Đây gần như là sự thật hiễn nhiên, không sai bao giờ!.
Nhưng dù cho thánh hiền, vua chúa, hiền nhân quân tử hay anh hùng hảo hán ... gì gì đi nữa, thì cũng phải chịu chung cái quy luật của thời gian. Thời gian sẽ cuốn trôi và xóa nhòa tất cả như bài đề từ của Hứa Thận đời Minh cho quyển Tam Quốc Chí của La Quán Trung như sau :

滾滾長江東逝水, Cổn cổn Trường Giang đông thệ thủy,
浪花淘盡英雄。     Lãng hoa đào tận anh hùng.
是非成敗轉頭空。 Thị phi thành bại chuyển đầu không.
青山依舊在,         Thanh sơn y cựu tại,
幾度夕陽紅。         Kỷ độ tịch dương hồng.
白髮漁樵江渚上, Bạch phát ngư tiều giang chử thượng,
慣看秋月春風。     Quán khan thu nguyệt xuân phong.
一壺濁酒喜相逢。 Nhất hồ trọc tửu hỉ tương phùng.
古今多少事,         Cổ kim đa thiểu sự,
都付笑談中.            Đô phó tiếu đàm trung!

NGHĨA BÀI TỪ:
Sông Trường Giang sóng xô nước cuốn cuồn cuộn chảy về biển đông rồi không bao giờ còn trở lại nữa; cũng như biết bao anh hùng hào kiệt đều như hoa sóng kia tan biến biệt tăm và chịu đào thải theo dòng lịch sử. Bất luận là thị hay phi, là đúng hay sai, là thành hay bại, trong chớp mắt quay đầu nhìn lại thì đã không còn gì nữa. Chỉ có núi xanh vẫn như cũ đứng trơ gan cùng tuế nguyệt và nắng chiều vẫn biết bao lần hồng lên rồi chợt tắt. Những ông lão đốn củi và đánh bắt cá trên bến nước, họ đã quen rồi với thu nguyệt rồi lại xuân phong, thời gian cứ thế trôi đi. Nên khi gặp nhau thì cứ cùng vui với nhau bên chung rượu lạt. Biết bao nhiêu là chuyện lớn chuyện nhỏ trên đời nầy từ xưa đến nay, chẳng qua cũng chỉ là những chuyện nói cười trong lúc nhậu, là chuyện phiếm chuyện gẫu khi trà dư tửu hậu mà thôi!
Thật là cảm khái! Tam Quốc Chí chẳng những viết lại lịch sử, mà còn viết lại những cuộc đời anh hùng, sự chìm nổi hưng suy của anh hùng, cái khí thế và khí phách của anh hùng, cái thành công và thất bại của anh hùng, cuối cùng đều phải chịu chung sự đào thải vô tình của thời gian và lịch sử. Lịch sử đã sang trang, thời gian đà biền biệt, rốt cuộc họ còn được gì ? Chẳng qua chỉ là những câu chuyện khề khà với nhau khi trà dư tửu hậu của hậu thế mà thôi ! Tất cả đều qui về một chữ KHÔNG to lớn !. 

DIỄN NÔM :
Trường giang cuồn cuộn nước về đông,
Sóng xô đào thải hết anh hùng.
Thị phi thành bại quay đầu : hết!
Núi xanh vẫn còn đó,
Bao lượt nắng chiều hồng.
Ngư tiều đầu bạc trên sông nước,
Đã quen rồi thu nguyệt với xuân phong,
Một bầu rượu lạt thắm tình nồng,
Xưa nay bao thế sự,
Cười nói cũng như không!

Lục bát :
Trường Giang cuồn cuộn về đông,
Anh hùng như sóng theo dòng trôi xuôi.
Thị phi thành bại trên đời,
Quay đầu là hết núi đồi còn đây.
Núi xanh sừng sửng tháng ngày,
Hoàng hôn mấy lượt thêm dài hoàng hôn.
Ngư tiều đầu bạc ven thôn,
Trên dòng sông nước vùi chôn tháng ngày.
Một bầu rượu lạt ngà say,
Cổ kim thế sự nào ai có lòng ?
Nói cười nhấp rượu như không !

Xin được kết thúc bài Phiếm luận về NƯỚC theo dòng đào thải của thời gian ở nơi đây !

Đỗ Chiêu Đức

Thứ Ba, 20 tháng 6, 2017

Mùa Hè Tới - Nhạc Phạm Anh Dũng - Quốc Dũng Hoà Âm



 Nhạc Phạm Anh Dũng
Quốc Dũng Hoà Âm
Tiếng Hát Hạnh Nguyên

Thư Gởi Người Khách Nam Bộ



Từ miền Nam anh ra thăm Huế
Gọi xích lô viếng lăng tẩm chùa chiền
Tính người Nam vốn thật thà cởi mở
“Đã từ lâu nghe danh đất thơ mộng
Trên báo đài, trong nghệ thuật văn chương
Sau bao năm chắt chiu dành dụm
Nay tôi thấy rồi núi Ngự sông Hương”

Đời đã từng trải qua nhiều nỗi khổ
Anh hiểu sâu về những giọt mồ hôi
Khi gặp dốc cao anh liền nhảy xuống
Chia sẻ cùng tôi chút nặng nhọc một thời
Đi nửa đường biết chân tôi đã mỏi
Anh thay tôi đạp một đoạn dài
Trong giây phút không còn ai khách chủ
Anh và tôi hòa nhập một con người.

Khi chia tay anh mời tôi đi nhậu
Nổi hứng lên tôi đọc tặng bài thơ
Đời có lúc không cần đeo mặt nạ
Anh bảo tôi:
“Ở Sài Gòn mình cũng đạp xích lô”.

 Vĩnh Trinh

Bóng Xuân Qua - Mộng Ban Ngày!



Bài Xướng: Bóng Xuân Qua

Nhìn bóng chiều qua mây trắng bay,
Mà nghe thương nhớ mãi vơi đầy.
Vần thơ thương kết bao lưu luyến
Nhật ký trao tình lắm ngất ngây
Mượn gió đưa lời lên má thắm,
Nhờ hoa gửi ý đọng môi say.
Ngày xuân dài lắm không em nhỉ!
Sao tiếc không thôi những tháng ngày!

Hoành Trần
***
Bài Cảm Tác:
Mộng Ban Ngày!


Thướt tha áo trắng lụa vờn bay
Tim kẻ tình si chất ngất đầy
Mắt ngọc ánh ngời thầm hứa hẹn
Tương tư uống nguyệt vẽ vời ngây
Ôm choàng dáng ngọc tình nồng thắm
Môi ấp hương nồng men đượm say
Se chỉ tơ lòng duyên kết mối
Ơ hay ngơ ngẩn! Mộng ban ngày

Kim Oanh
25/5/2016
***
Tình Nhớ

Tóc thề ngang áo thướt tha bay
Ngõ vắng xưa qua nhớ đong đầy
Nắng đỗ bờ vai còn lưu luyến
Trăng tàn cơn mộng mãi ngất ngây
Người đến bên ta đời xuân thắm
Gieo tình lữa hạ phượng hồng say
Thời gian còn lại bao lâu nhỉ
Sao nỡ mang đi tháng với ngày.

Biện Công Danh
26/5/16

Ca Nhạc với Sức Khỏe


Nếu nói rằng ngôn ngữ đã tách rời loài người ra khỏi những động vật khác thì âm nhạc chính là cái nôi của ngôn ngữ và mãi mãi là một thứ ngôn ngữ chung của mọi chủng tộc, mọi nền văn hóa.

Thiên tài âm nhạc Beethoven có viết: “Âm nhạc phải làm trái tim người nam sôi sục và khóe mắt người nữ đẫm lệ”.
Heinrich Heine-Poet lại nói “Âm nhạc là một cái gì khác lạ mà hầu như tôi muốn nói nó là một phép thần diệu. Vì nó đứng nửa đường giữa tư tưởng và hiện tượng, tinh thần và vật chất, một thứ trung gian mơ hồ thế đó mà không là thế đó giữa các sự vật mà âm nhạc hòa giải”

Theo Plato: “Âm nhạc là một trò chơi thực tế. Nhạc ghép linh hồn cho vũ trụ; lắp cánh cho tâm trí; đưa sáng tạo cho trí tưởng tượng; mang lại sự hấp dẫn, hài lòng cho buồn chán, sự vui vẻ và sống động cho mọi sinh vật”
Ngày nay, âm nhạc đã được dùng trong y học như một phương thức trị liệu phụ thêm với dược phẩm, giải phẫu, y khoa phục hồi...

Vài hàng lịch sử

Như đã nêu ở trên, kể từ khi loài người biết phát âm, những nốt nhạc đầu tiên đã được hình thành trước khi những từ ngữ có ý nghĩa được quy định để có thể truyền đạt tư tưởng đến đồng loại. Và thực tế là tất cả những ngôn ngữ hiện nay đều mang tính chất âm nhạc, cụ thể nhất là tiếng Việt của chúng ta.

Tác động của âm nhạc có thể chỉ đơn thuần từ nhu cầu cần biểu lộ tình cảm, vui buồn của một cá nhân và nếu “đúng tần số” có thể làm cho những người chung quanh rung động theo những tư duy trầm mặc của người khởi xướng ra những thanh âm trầm bổng ấy. Đi xa hơn, những thanh âm có thể làm kích động người nghe từ tư duy cho đến hành động, từ những tế bào nhỏ li ti cho đến những cơ phận trong cơ thể

Từ ngày xửa ngày xưa, sức mạnh lành bệnh của nhạc đã đươc dân chúng biết tới. Họ dùng lời ca và nhạc cụ như trống, lúc lắc để hỗ trợ cho tác dụng của thuốc cỏ cây thiên nhiên. Họ nhẩy múa, hát ca để nâng đỡ tinh thần người bệnh cũng như chính bản thân họ Những âm điệu nhịp nhàng như thấm vào tiềm thức. Phương thức này vẫn còn tồn tại ở nhiều bộ lạc trên thế giới.

Cựu Ước có ghi là David chơi đàn lyre để giảm bệnh trầm buồn của King Saul.
Thời Cổ Hy Lạp, Apollo vừa là thiên thần âm nhạc vừa là nhà y học.
Với Hy Lạp và Ai Cập xưa, âm nhạc là một khoa học rất thiêng liêng và có sức mạnh thấm nhuần vào các góc cạnh rất thâm sâu của tâm hồn. Khoảng thế kỷ thứ 15, dân Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ đã mời các nhạc sĩ tới giúp vui cho những người mắc bệnh tâm thần

Vào triều đại nữ hoàng Anh Elizabeth I, y sĩ Thomas Campion dùng lời ca để chữa trị trầm cảm và vài bệnh tâm thần. Ðầu thế kỷ trước, bác sĩ John Kellog, Hoa Kỳ, dùng âm nhạc như một phương thức trị bệnh tại viện điều trị sanatorium của ông ở Michigan. Năm 1914, bác sĩ Evan O’Neil Kane đã thấy rằng nhạc làm bệnh nhân đang được giải phẫu ít lưu tâm tới cơn đau và cảm thấy bình thản hơn.

Ý niệm về âm nhạc như phương thức trị liệu bắt nguồn từ thế chiến I và II, khi các nhạc sĩ được mời tới giải khuây cho thương binh điều trị tại các bệnh viện. Sau đó nhạc trị liệu trở nên phổ thông hơn như là một thành phần của sự điều trị các bệnh tâm thần và thể chất.

Bên Mỹ, khóa huấn luyện chuyên viên trị liệu bằng âm nhạc được mở tại Ðai học Michigan năm 1944 rồi sau đó tại Ðại học Kansas, Texas, vào năm 1946. National Association of Music Therapy thành lập năm 1950 với trên 5000 hội viên. Ngày nay đã có tới gần 70 chương trình huấn luyện Chuyên Viên Nhạc Trị Liệu Music Therapist tại các trường đại học bên Mỹ. Các chuyên viên này có thể làm việc tại nhà thương, viện dưỡng lão, trung tâm phục hồi, bệnh viện tâm thần, trường học, nhà người già hoặc hành nghề tư.

Bác sĩ Raymond Bahr, Giám đốc Coronary Care tại bệnh viện St Agnes Baltimore, Maryland phát biểu: “Không còn nghi ngờ nào về sự hữu hiệu của nhạc trị liệu với sự chăm sóc bệnh nhân trong tình trạng trầm trọng. Tác động thư giãn, giảm căng thẳng của âm nhạc khiến bệnh nhân khỏe lại mau hơn bằng cách giúp họ vui vẻ chấp nhận hoàn cảnh của mình và sẵn sàng nhận sự điều trị”

Âm nhạc tác dụng lên cơ thể bằng cách nào.

Theo nhiều nghiên cứu, ít nhất có hai cách để lời ca điệu nhạc đi vào lòng người nghe:

a-Tác dụng lôi cuốn, hòa hợp, đi vào tiềm thức con người. Khi ta bước vào một căn phòng có âm nhạc, thì bao nhiêu ưu tư trong đầu chợt như dừng lại và cơ thể như hòa với điệu nhạc, toàn thân như đu đưa, nhún nhẩy theo nhịp đàn, miệng âm ư theo lời hát.

b-Làm lạc hướng khiến ta không để ý tới hoàn cảnh hoặc cảm xúc đau đớn, không vui, không muốn. 3

Giáo sư âm nhạc Arthur Harvey, Ðại Học Hawaii, cho hay não bộ có bốn cách để tiếp nhận và đáp ứng với nhạc điệu:

a-Não bộ trái tiếp nhận, phân tích, thưởng thức nhạc điệu;
b-Não bộ phải đáp ứng với nhạc điệu bằng các xúc cảm khác nhau;
c-Cơ thể đáp ứng âm nhạc bằng sự thay đổi các chức năng sinh học như nhịp tim, hơi thở, huyết áp, sức căng bắp thịt, cảm giác đau, sản xuất kích thích tố;
d-Trong đáp ứng xuyên thân transpersonal, âm nhạc được dùng để thiền suy, thư giãn, phản hồi sinh học biofeedback, học hỏi.

Vài nghiên cứu mới đây còn tìm ra sự liên hệ giữa tần số vài điệu nhạc với sinh hoạt điện năng của tế bào não. Nếu dùng một tần số nhạc nào đó, ta có thể tăng khả năng học hỏi, thư giãn cơ thể, giúp ngủ ngon giấc. Do đó, theo nhiều nhạc sĩ, để hưởng ích lợi của nhạc điệu không những chỉ nghe mà còn để toàn thân rung động theo điệu nhạc.

Fabien Maman, soạn nhạc gia kiêm sinh học người Pháp đã quan sát ảnh hưởng của âm thanh trên tế bào ung thư. Dưới tác dụng của các âm điệu khác nhau từ nhạc khí hoặc lời ca, tế bào dường như không chịu đựng được sự dao động vibration và vỡ tung, nhất là với tiếng hát cao vút Thái Thanh.

Phúc lợi của nhạc trị liệu với con người

Những nghiên cứu xưa nay đều cho thấy là âm nhạc trước hết làm cho con người được phát triển toàn diện ngay từ trong bụng me. Các thai nhi được cho “nghe nhạc” thuờng khoẻ khơn các thai nhi khác và khi sanh ra đời ít bệnh hoạn hơn. Các bác sĩ hiện nay vẫn khuyên các bà mẹ đang mang thai nên nghe nhạc êm dịu và cho thai nhi cùng nghe. Em bé được mẹ hát và ru cho nghe từ thuở còn thơ thường thường thông minh và sau này ít bị những bệnh về tâm trí. Dân tộc ta là một dân tộc thông minh, cần cù hiếu học phải chăng là nhờ vào những "tiếng mẹ ru từ lúc nằm nôi"? Những lời ca dao thắm thiết mà các bà mẹ Việt Nam ta ru con từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Kinh nghiệm cũng như quan sát, nghiên cứu cho thấy âm nhạc có nhiều phúc lợi cho con người. Nhạc giúp giải quyết một số vấn đề như thương tiếc khi mất người thân yêu; tăng tự tin bằng cách giúp ta tự diễn tả, lựa chọn và sáng tạo; diễn tả xúc động hoặc bằng lời nói hoặc cử chỉ; thư giãn, giảm thiểu lo âu, giảm đau đớn; giảm cô lập với xã hội; tăng sự chú ý, tập trung; kích thích cảm xúc và nhận thức; nhìn vào sự thực. Nhạc cũng làm cơ thể nhiều sinh lực; kích động não bộ; làm thức tỉnh các cảm xúc; tháo gỡ các xúc động; phục hồi tâm hồn; làm hứng khởi hành động; giúp ngủ ngon; giúp lý luận tốt cũng như giúp tránh lao tâm suy nghĩ.

Lãnh hội ảnh hưởng tốt

Dùng đúng cách, âm nhạc có thể giúp ta khỏe mạnh. Khỏe mạnh không phải chỉ là không có bệnh tật mà còn bao gồm một tâm hồn thanh thảnh, một 4

hài hòa gia đình, xã hội. Nhạc nào cũng cũng có ảnh hưởng nhất là khi ta dùng nhiều loại khác nhau. Ðiều cần là dùng một cách khôn ngoan.

Nhạc trị liệu không chỉ là nghe nhạc mà còn viết nhạc, thảo luận về âm điệu, biểu diễn hoặc tham dự các sinh hoạt liên quan tới âm nhạc. Nhiều người cho là muốn hưởng phúc lợi của nhạc thì phải có hiểu biết về nhạc. Nhưng thực ra không phải vậy, ai cũng có thể tận hưởng các lợi điểm của nhạc miễn là để toàn thân rung động, hòa nhịp theo lời ca tiếng hát..

Tâm lý chung cho là nhạc cổ điển rất khó thưởng thức nhưng lại là thứ nhạc giúp con người thư giãn, tập trung và trị bệnh hay hơn cả. Người ta đã dùng nhạc của Mozart để giúp bệnh nhân có triệu chứng lo âu cũng như giúp trẻ em bị chứng kém tập trung ADHD.

Cũng nên nhớ rằng toàn bộ cơ thể ta được coi như là tập hợp một hệ thống có nhịp điệu với nhau. Trong khi nghe nhạc trị bệnh, ta phải hết sức cảm nhận và để ý coi xem vùng nào của cơ thể đáp ứng với điệu nhạc. Vì mỗi âm điệu có một tác dụng riêng vào từng thớ thịt hoặc bộ phân cơ thể. Một điệu nhạc làm nhẩy múa cơ thịt ở người đẹp có bụng thon nhỏ belly-dancer sẽ không gây ra rung động nào ở bạn ta mập phì bụng mỡ la de.

Chẳng có một quy luật nào về thưởng thức nhạc, vì nhạc vốn bay bổng tự do mà người nghe thì cũng không kém phần phóng khoáng. Cho nên nghe khi hứng, khi muốn, nghe sao cũng được, chẳng ai áp đặt được ai. Nhưng theo nhiều người sành điệu, để tận hưởng tác dụng thư giãn hoặc nâng cao tinh thần của nhạc thì cũng có vài điều lưu ý:

 Chẳng nên mở nhạc quá to và cũng không nên nghe quá lâu;
 Ðể hữu hiệu hơn, nên tập trung nghe với ống nghe chụp tai headphone;
 Nghe khi có một mình thì dễ relax hơn;
 Ðể ý coi xem ảnh hưởng của nhạc trên cơ thể như thế nào; nếu điệu nào không thích hợp thì thay bằng điệu khác;
 Cũng nên tập viết nhạc bằng cách hát theo hoặc tập một nhạc khí.

Áp dụng thực tế

Ngày nay, nhạc trị liệu là lãnh vực trong đó âm nhạc được xử dụng như một phương thức phục hồi, duy trì và hoàn thiện đời sống của người bệnh về thể chất, tinh thần cũng như cảm xúc. Nhạc được coi như một nghệ thuật sáng tạo trị liệu tương tự như vũ trị liệu, trị liệu khéo tay art therapy, và cũng có thể phối hợp với nhiều phương thức trị liệu như thiền, xoa bóp, thôi miên.

Với người khỏe mạnh, âm nhạc được dùng như một phương thức thư giãn, giảm căng thẳng ở phòng cấp cứu, phòng sanh, phòng trẻ sơ sanh vì tác dụng êm dịu của nó, hoặc trong khi tập luyện cơ thể. Với một số bệnh đặc biệt là ở trẻ em và người lớn có rối loạn về cảm xúc, hành vi, ít khả năng học hỏi, suy giảm các cử động, âm nhạc trị liệu thường được dùng đồng thời với các phương thức trị liệu căn bản để làm bệnh nhân cảm thấy dễ chịu hơn.

a-Trong giải phẫu, âm nhạc giúp giảm thiểu cảm giác đau đớn, giúp bớt lo âu sợ hãi trước và sau giải phẫu, giúp hồi phục lại sức lực và khả năng diễn đạt tư tưởng. Nhiều phụ nữ đã thư giãn nghe nhạc mà nhẹ nhàng sanh con không cần đến thuốc tê. Nhiều nghiên cứu cho hay sự kích thích của nhạc điệu đôi khi lấn át được các kích thích tạo ra cảm giác đau, nhờ đó bệnh nhân tập trung vào điệu nhạc và trấn áp được cơn đau. Ngày 27 tháng 6, 2005, bác sĩ Suleyman Ganidagly, Ðại học Y Khoa Harran bên Thổ Nhĩ Kỳ, công bố một kết quả nghiên cứu tương tự: Trước khi giải phẫu mà bệnh nhân được nghe nhạc thì tác dụng giảm đau, thư giãn của thuốc an thần tăng lên.

Các nhà nghiên cứu tại Ðại học Ðiều Dưỡng Atlantic, Florida cho hay nghe nhạc 20 phút có thể giảm đau nhức trong viêm xương khớp. Họ đã thử nghiệm với 68 bệnh nhân cao tuổi: một nửa nghe 20 phút nhạc mỗi ngày, nhóm kia ngồi lặng thinh tĩnh tại. Ðo cường độ đau cho thấy nhóm nghe nhạc ít nhức nhối khớp hơn nhóm kia tới 50%. Nhóm này cho biết họ cảm thấy được khích lệ với điệu nhạc và đứng lên nhún nhẩy đi qua đi lại. Ta biết rằng sự cử động rất cần để ngừa viêm xương khớp. Giáo sư Ruth McCaffrey, người đứng đầu cuộc nghiên cứu cho hay âm nhạc dường như kích thích cơ thể tiết ra nhiều endorphins là chất làm giảm cảm giác đau, giảm huyết áp, nhịp tim và nhịp thở cũng như giảm tiêu thụ oxy.

Bệnh hoạn có thể khiến ta mệt mỏi, rã rượi, không muốn sinh hoạt, cử động. Nhưng khi nghe những điệu nhạc có âm điệu khích lệ, thúc dục, ta thấy muốn lắc lư cử động theo điệu nhạc, quên cả đau đớn, tê cứng

b-Nhạc điệu cung cấp phương tiện để hiệp thông với xã hội.

.Bệnh nhân ở trong bệnh viện hoặc các vị cao niên sống trong nhà người già thường cảm thấy cô đơn, trầm buồn. Nếu có một nhóm người tới trình diễn âm nhạc rồi bệnh nhân cùng ca hát, sẽ làm họ vui vẻ, hòa nhập với người khác. Thân nhân cũng có thể thâu băng nhạc riêng mà bệnh nhân thích để họ nghe.

c-Sau cơn tai biến não, nhiều bệnh nhân rơi vào tình trạng mất khả năng vận động, cần tập luyện để phục hồi chức năng. Âm nhạc có vai trò quan trọng giúp bệnh nhân phấn khởi, lần lần mấp máy cử động theo điệu nhạc cũng như giảm thiểu cảm giác buồn chán, ngồi không chẳng làm gì được. Kinh nghiệm cho hay nhiều người mất tiếng nói lấy lại được phát âm sau khi ầm ừ hát theo.

c-Âm nhạc trị liệu được dùng trong các trường hợp như: trẻ em tật nguyền giúp khôi phục sự phối hợp các hoạt động thể chất cũng như sự khéo léo của các bắp thịt chân tay; người bị bệnh sa sút trí tuệ người có rối loạn hành vi lấy lại sự bình thường hành động..

Bác sĩ Pascal Belin và cộng sự viên tại bệnh viện Frederic Joliot ở Orsay, Pháp đã dùng loại nhạc điệu đặc biệt Melodic Intonation Therapy để giúp phục hồi khả năng nói ở người bị tai biến não, không nói được. Theo các tác giả này thì nhạc MIT đã kích thích phần não Broca tại bán cầu não trái là nơi điều khiển ngôn ngữ.

d-Âm nhạc giúp thư giãn tâm hồn và các cơ thịt ở người đang có căng thẳng với stress, với lo âu. Âm nhạc làm giảm stress bằng nhiều cách. Nhạc giúp tâm hồn ta cởi mở và giải thoát những cảm xúc khiến ta cảm thấy stress. Khi ngả bệnh, bệnh nhân thường rơi vào tình trạng lo âu, sợ hãi, cảm thấy đau đớn, buồn rầu, đôi khi kém tự tin. Âm nhạc có thể giúp họ khuây khỏa, giảm thiểu các cảm xúc tiêu cực, khiến họ vui hơn, tự tin hơn, có nhiều phấn khởi trong đời sống.

e-Không ngủ được: xin hãy nghe những điệu nhạc chậm dãi, êm dịu. Âm nhạc tác dụng như một chất an thần giúp ngủ mà không cần thuốc, nhất là với người cao niên, đã uống nhiều thuốc cho các bệnh khác nhau. Nhớ là nhạc êm dịu chứ không phải rock, rap ồn ào kích động thần kinh.

f-Khi đi bộ mà nghe âm nhạc thì thật là tuyệt vời: ta sẽ đi lâu hơn và hăng hái hơn vì âm nhạc giúp ta quên với sự cố gắng cất bước và làm cuộc đi bộ trở nên hào hứng.

g-Vài loại nhạc giúp hạ huyết áp, nhịp tim, điều hòa hơi thở .Vận động làm tăng máu lưu thông trên não, có ích cho não nếu lại nghe nhạc trong khi vận động làm các chức năng của khối óc ta mạnh hơn . Nghiên cứu tại Ðại học Ohio cho hay bệnh nhân tim phục hồi mau hơn nếu khi đi treadmill mà lại nghe nhạc, so với người không nghe nhạc.

Chuyên viên nhạc trị liệu Barry Bernstein đã thực hiện cuộc cuộc nghiên cứu ảnh hưởng của nhạc với bệnh nhân Alzheimer tại Bệnh viện Cựu Chiến Binh Topeka, Kansas. Ông ta dùng trống . Với hai lần mỗi tuần nghe nhạc trong 10 tháng, bệnh nhân có thể tăng khả năng tập trung và phối hợp các cử động, ít nhất trong khi nghe.

h-Năm 1996, British Medical Journal có đăng kết quả nghiên cứu của bác sĩ Lars Olov Bygren, Ðại học Umea Thụy Ðiển, về ảnh hưởng sinh hoạt văn hóa với sống lâu. Ông ta theo dõi 12,675 người tuổi từ 16- 74 trong mười năm và thấy rằng âm nhạc dường như có ảnh hưởng tốt trên tuổi thọ. Và đề nghị nên có nhiều nghiên cứu hơn về tác dụng này.

i-Âm nhạc cũng được dùng với bệnh nhân ở giai đoạn cuối cuộc đời tại các cơ sở Chăm Sóc Cận Tử Hospice để tạo ra khung cảnh thương yêu, thanh thản của người sẽ ra đi cũng như của thân nhân. Trong hoàn cảnh này, đôi khi giữa người bệnh và gia đình có một cái gì ngập ngừng, dè dặt, không nói cùng nhau được. Nhưng theo Hans Christian Anderson “ When words fail, music speaks”, âm nhạc có thể thay lời nói.

Riêng với các lang y thì thi nhạc cũng có nhiều ảnh hưởng trong khi làm công tác được người đời gán cho là “cứu nhân độ thế” đối với thân chủ.

Khi phải đương đầu với những căng thẳng hằng ngày trong việc trị liệu, kẻ sống người chết, bệnh nan y khó chữa v.v..., chính người thầy thuốc đôi khi cũng rất dễ rơi vào tình trạng căng thẳng tâm thân rồi trầm cảm, tuyệt vọng. Người thầy thuốc có lòng thường dễ "mang bệnh của người vào mình", "mang bệnh ở phòng mạch về nhà". Nhưng " Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng!". Vì ca nhạc cũng đóng một vai trò rất quan trọng làm lắng dịu tinh thần của người làm công tác chăm lo sức khoẻ. "Physicians heal yourselves!" Người thầy thuốc có khỏe thì mới chữa cho người bệnh được khoẻ!

Trong phòng cấp cứu, phẫu thuật gia và người cộng tác vẫn thường nghe nhạc cùng với bệnh nhân, vậy mà tâm trí không những không xao lãng, lại còn có thể chú tâm nhiều hơn đến những vấn đề cần giải quyết cấp thời trên bàn mổ. Những ca “cắt xén” như thế thường kết thúc êm đẹp và ít gặp khó khăn hơn. Và hầu hết bệnh nhân cũng mau hồi phục.

Ngoài ra khi được tận mắt chiêm ngưỡng sự huyền diệu về cấu tạo và chức năng của cơ thể con người, thầy thuốc cũng chợt nhận ra sự nhỏ bé của chính bản thân mình. "The physicians treat you but only God can heal you!" Ca nhạc trở thành một phương tiện để người điều trị giải bày những bức xúc, những cảm tình chợt đến, chợt đi như vậy. Lang y với tinh thần nghệ sĩ sẽ nhìn bệnh nhân qua lăng kính của một sự tôn trọng và nâng niu như là một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại được tạo hoá nắn nót thành hình và mình chỉ là người tu bổ, gìn giữ.

Kết luận

Ca-Nhạc có sẵn khắp nơi như không khí ta thở cho nên mọi người chúng ta cũng nên lợi dụng sức mạnh của nó. Chúng ta không cần phải là một nhạc sĩ, một chuyên viên ca-nhạc trị liệu để thấy được giá trị này. Chỉ cần thoải mái hát lên những lời nhạc ...là đã thấy người nghe cũng như người diễn tả sảng khoái vui đời rồi...Vì hát hay không bằng hay hát.

Vậy thì xin cùng nhau:
“ Nào anh em ta cùng nhau vang ca....”
“Cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu...”

Bác sĩ Nguyễn Ý Ðức
Texas – Hoa Kỳ

Giai nhân Hà Thành Tiết Lộ Về Tác Giả Bài Thơ 'Hai Sắc Hoa Ti Gôn'

Bà Viên Thị Thuận. 

- Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào. 

Trường nữ sinh Đồng Khánh - Hà Nội (College de Jeunes Filles) được thành lập năm 1917, nay là trường THCS Trưng Vương - Hà Nội, là ngôi trường duy nhất của miền Bắc dành riêng cho nữ sinh tới cấp trung học. 
Ngôi trường được xây dựng vào những thập niên đầuthế kỷ 20, khi vấn đề nữ quyền đang gặp nhiều rào cản của tư tưởng phong kiến. 
Từ đây, nhiều tiểu thư khuê các nhanh chóng bước ra khỏi chốn “màn che trướng rủ” để nhập cuộc với thời đại, trở thành những nữ sinh Đồng Khánh có tiếng duyên dáng và nết na. 
Trong số họ có rất nhiều người là bậc kỳ nữ tài hoa sau này, như giáo sư Lê Thi (Dương Thị Thoa) con gái GS Dương Quảng Hàm, nhà giáo Hoàng Xuân Sính - nữ tiến sĩ toán học đầu tiên ở Việt Nam...

Bên cạnh đó, trường Đồng Khánh còn được nhiều người biết đến là ngôi trường của những giai nhân… 
Ngôi trường của những giai nhân 
Trong tâm trí người Hà Nội xưa, trường nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng với những cô học trò xinh đẹp đầy mộng mơ, hồn thiên thướt tha trong tà áo dài đã trở thành một miền kí ức khó phai. 
Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào. 

Thời gian dẫu nhuốm màu tuổi tác, nhưng vẻ quý phái, thanh tao của giai nhân Hà thành ngày đó vẫn toát ra từ người đàn bà ở tuổi cửu thập cổ lai hy này. 
Bằng chất giọng nhỏ nhẹ với phong thái đoan trang, bà Thuận kể: “Muốn vào trường Đồng Khánh học, các học trò phải vượt qua các kỳ thi gắt gao, chỉ ai thực sự học giỏi mới đỗ được vào trường Đồng Khánh”. 
Theo bà Thuận, ngày xưa nữ sinh Đồng Khánh được học toàn diện, họ không chỉ được dạy văn hóa, dạy tiếng Pháp mà còn được dạy nữ công gia chánh, hát, đàn piano, thể dục thể thao. 

Lớp của bà Viên Thị Thuận khóa 1934 - 1942. 

Bên cạnh đó, trường còn dạy thêu thùa may vá, cách tắm và chăm sóc cho trẻ sơ sinh, cách chi tiêu sao cho hợp lý bằng cách phân loại ra tiền điện, tiền nước, tiền ăn… 
Ngày đó, nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng không chỉ thông minh, xinh đẹp mà còn hết sức nết na thuỳ mị. Ai cũng dịu dàng đài các, rất đỗi đa cảm nhưng vô cùng kín đáo, tế nhị. Dù có thích ai họ cũng chỉ giữ kín trong lòng hoặc gửi gắm vào những trang lưu bút. 
Cựu nữ sinh Đồng Khánh cho biết: "Ngày đó cuộc sống của chúng tôi nói riêng và các tiểu thư đương thời nói chung rất lãng mạn. Chúng tôi thường đọc thơ và chép thơ vào những quyển lưu bút". 
Một cô bạn cùng lớp bà Thuận, so với các bạn có phần cá tính, mạnh mẽ hơn nhưng tâm hồn cũng không kém phần lãng mạn, cô là con gái một bác sĩ. 
Cô bạn này có tình cảm với thầy giáo dạy thể thao người Pháp, đẹp trai và phong độ. Bị các bạn trong lớp phát hiện, trêu đùa, cô thường hay ngượng ngùng. 
Rồi mối tình đơn phương đó cũng sớm kết thúc khi thấy giáo kết hôn cùng người phụ nữ khác. Còn cô thì gửi nỗi buồn da diết của mối tình đầu tan vỡ vào những quyển sổ lưu bút. 

Bà Viên Thị Thuận cho biết thêm, các nữ sinh Đồng Khánh thường mặc áo dài thướt tha, thả mái tóc dài mượt, gọn gẽ đến trường. 
Đặc biệt, theo nội quy nhà trường, không ai được phép trang điểm khi đi học. Thế mà các nữ sinh Đồng Khánh lại rất đẹp, đẹp đến hút hồn khiến bao trái tim nam sinh các trường THPT, ĐH phải si mê, ngơ ngẩn. 
Trang lưu bút bà Thuận viết cho người bạn học ở trường Đồng Khánh.

Theo đó nam nữ học riêng, buổi chiều tan học, nam sinh từ các trường khác thường mon men đến cổng trường Đồng Khánh, đứng ngắm, nhìn trộm từ xa lúc các cô gái tan học về. Hầu như chàng trai nào cũng mơ được làm quen với một nữ sinh Đồng Khánh. 
Họ coi đó là niềm hãnh diện, tự hào để khoe với bạn bè, nhưng điều này quả là chuyện khó, bởi mấy nữ sinh Đồng Khánh luôn lạnh như băng, thâm trầm như biển sâu. Với họ nữ sinh Đồng Khánh luôn là... một ẩn số. 
Giai nhân tiết lộ sự thật về tác giả bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” 
Bà Thuận cho biết, học sinh nữ từ các tỉnh miền Bắc về đây học tập, phần lớn là con gái gia đình trung lưu, có địa vị trong xã hội. Vào thời gian bà Thuận học năm 3 ở trường Đồng Khánh, có người bạn rất xinh đẹp, tên là Phạm Thị Lý (SN 1922, quê ở Phủ Lý). 
Người bạn này của bà được mệnh danh là hoa khôi trường Đồng Khánh, xinh đẹp, thông minh nhưng gia đình muốn bà lấy một người chồng bà không có tình cảm. Vốn có tâm hồn đa sầu, đa cảm nên khi phải lấy người mình không yêu, bà rất buồn bã. 

Bà Viên Thị Thuận chia sẻ: “Cũng có thể trong lòng bà ấy đã có ý trung nhân nào khác nhưng ở thời kỳ nữ quyền vừa bắt đầu những bước đi đầu tiên, vẫn mang nặng tư tưởng phong kiến thì việc dành tình cảm cho người con trai nào đó, dẫu “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” là điều không thể. Nên khi phải về lấy chồng bà ấy rất buồn… Trước khi lấy chồng, bà Phạm Thị Lý đã sáng tác bài thơ 'Hai sắc hoa ti gôn' gửi đăng báo bằng bút danh TTKH, với mục đích giấu tên. 
Bà không ngờ được bài thơ mình sáng tác trong cái giây phút ngẫu hứng lại trở nên nổi tiếng cho đến ngày nay. Hôm đó, bà Lý cùng tôi đến tòa soạn gửi bài thơ rồi đi thẳng nên chẳng ai tìm được tác giả". 
Bà Thuận cũng cho biết thêm: “Trước khi gửi đăng báo, bà Lý từng đọc cho các bạn trong lớp nghe…”. 
Bà Thuận lần giở những bức ảnh cũ lưu trên ipad. 

Sau này, rất nhiều giả thiết được đưa ra để xác định tác giả thực sự nhưng đều dừng lại ở mức độ nghi vấn, vì tác giả bài thơ chưa bao giờ lên tiếng xác nhận. 
Hình như, dù là cuộc hôn nhân “ép buộc” nhưng cuộc đời bà lại vô cùng hạnh phúc. Có thể vì thế, những cảm xúc đầu đời cùng bài thơ "Hai sắc hoa ti gôn" được bà Lý cất gọn trong kí ức. 
Vợ chồng bà sinh được 10 người con, sau này bà theo chồng sang Mỹ định cư và mất ở tuổi 80. Và, tác giả của một bài thơ nổi tiếng giờ vẫn là bí ẩn trong văn đàn. 
Một nữ sinh nổi tiếng khác của trường Đồng Khánh, không thể không nhắc đến là GS Lê Thi tên thật là Dương Thị Thoa, con gái của cố GS Dương Quảng Hàm. 
Bà cùng các anh chị em được cha mẹ cho ăn học tử tế ngay từ khi còn nhỏ. 
Gần 80 năm đã trôi qua, nữ sinh trường Đồng Khánh cùng khóa bà Thuận chỉ còn lại vài người. Nhưng mỗi dịp có cơ hội gặp gỡ, họ vẫn tranh thủ ngồi lại hàn huyên và ôn lại những kỉ niệm vàng son thủa nào...

Nguyễn Cao Khải sưu tầm

Thứ Hai, 19 tháng 6, 2017

Đưa Em Vào Hạ - Trầm Tử Thiêng

Quê hương đau nắng hạ cũng buồn...


Sáng tác: Cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng
Thực hiện và đàn hát: An Nguyen

Không Tên 2



Thả một cánh chim về trời thân ái,
Để bình minh bay lượn khắp trần gian,
Để tình yêu không ràn buộc vì ai,
Để cuộc đời không còn biết hờn ghen.

Một cánh chim bay trời cao biển rộng,
Như giang hồ không bến đợi chiều thu,
Như tình yêu giác ngộ vào hư không,
Như cuộc đời không còn biết ngục tù.

Cớ làm sao đời vẫn còn mơ mộng,
Bởi nhân gian có muôn vạn sắc màu,
Bởi tình yêu cao cả là lẽ sống,
Bởi có trầm luân ngàn kiếp khổ đau.

Tôi hay em sẽ thả một cánh chim,
Để tìm thấy phúc vui ngày tế độ,
Để tình yêu vẫn mãi còn trong tim,
Để biết cuộc đời còn có tự do.

Một cánh chim nối liền tôi và em,
Cho dù không gian xa nghìn thế kỹ,
Cho dù thời gian vẫn mỗi ngày đêm,
Cho dù mùa thu đẹp nhất qua đi.

Thả một cánh chim về trời thân ái,
Để biết cuộc đời vẫn không là mộng,
Để tình yêu không ràn buộc vì ai,
Để tôi và em thấy một lẽ sống.

Hải Rừng
Oakland, 22 Oct 2011
Tặng cho người thật vô lý hay thương,
hay nhớ, hay ghen hay giận và nhiều cái hay
khác không thể nói được dù có là một Tagore

Đáp Lời Anh


Xin gấp trả lời anh: Em vẫn ở
Nơi xa xôi ngàn dặm thuở trăng tròn
Mấy chục năm qua chờ đợi mỏi mòn
Thân xác đã tơi bời hoa lá nát
Hồng thắm của môi nay thành tím ngắt
Trái đào thơm trên má đã nhăn nheo
Anh có hỏi: chốn khuê phòng lạnh lẽo?
Chỉ biết rằng đôi mắt vẫn huyền mơ
Để ngóng trông anh...Em mãi đợi chờ!

ChinhNguyen/H.N.T.
 Apr.10.12/17

Chỉ Lụy Nàng



Xướng: Chỉ Lụy Nàng

Thôi nhé đôi mình hết nợ nhau
Người đi, ta chẳng trách chi đâu
Đồi xưa mất dấu làn mây trắng
Hồ lạnh còn in bóng nguyệt sầu
Dáng nhỏ nhạt nhòa xa bến cát
Dòng xanh hờ hững bỏ chân cầu
Nước đi...đi mãi...không về nữa...
Khép kín muôn đời... một nỗi đau

Một nỗi đau nào ai có hay!
Phượng Hoàng đã khuất cuối đường bay
Ta tìm mộng cũ trong đêm vắng
Hồn chuốc cơn sầu giữa rượu cay
Ngày đó... trăm lời...trăm tiếng nhớ
Bây giờ...một bóng...một trời say
Em ơi- đốt lại hương trầm cũ
Hãy rót chia nhau chén đắng đầy!

Chén đắng đầy vơi những xót xa
Bao năm mà ngỡ mới như là
Môi nồng hò hẹn... hương thoang thoảng...
Mắt biếc tạ từ...lệ thiết tha...
Sương tuyết phương xa nàng có lạnh?
Mây thu núi bạc nguyệt chưa nhòa
Ngậm ngùi đọc lại câu thơ cổ
Tâm sự người xưa hay chính ta?

Hay chính ta cùng chuỗi lệ xanh?
Xác xơ lá chiếc, xác xơ cành
Trùng dương mỏi mắt đời vô vọng
Gió bụi mòn chân bước độc hành
Biết mộng ngàn năm là ảo tưởng
Rằng tình suốt kiếp vẫn mong manh
" Bán sinh phong cốt lăng tàng thậm
Nhất phiến u hoài chỉ vị khanh "(*)

Thy Lệ Trang

(*)Thơ Đỗ Mục
Hà Thượng Nhân dịch
"Nửa đời sương gió ngang tàng
Tấm thân chỉ lụy vì nàng đó thôi"
***
Tương Tư

Chưa hẹn, một đời vẫn đợi nhau
Thời gian nào có vị ai đâu
Tóc xanh ngày ấy giờ khô trắng
Mắt sáng khi xưa đã úa sầu
Núi thằm chim bay theo cánh gió
Dòng khơi thuyền giạt tấp chân cầu
Mỏi mòn năm tháng, lòng tê tái
Mỗi độ xuân về , ta nhói đau !....

Ta nhói đau mà em chẳng hay
Xuân tàn, hoa rụng cánh bay bay...
Rực hồng phượng đỏ xui lời hẹn
Khắc khoải ve sầu giục lệ cay
Nỗi nhớ niềm mong hoài chẳng nhạt
Bình khô rượu cạn mãi còn say
Một mình độc ẩm trong đêm vắng
Gục mặt trên tay, lệ thấm đầy.

Lệ thấm đầy tay, nhớ bóng xa
Áo xanh óng mượt lụa tơ là
Ngại đường mưa ướt, duyên không đợi
Sợ mái tranh nghèo, phận chẳng tha
Gác tía lầu son, nàng đã chọn
Cầu tre lối cỏ, cảnh chưa nhòa
Dừng chân quán nhỏ chiều phai nắng
Cô quạnh bên đời một bóng ta.

Một bóng ta ngồi giữa khoảng xanh
Mây, trời, sông, nước, lá trên cành
Không gian tất cả dường không đổi
Cuộc sống xung quanh vẫn vận hành
Kẻ chốn khuê phòng chăn mấy lớp
Người ngoài sương gió áo đôi manh
Chỉ mong gặp lại trong đêm mộng
Để được ân cần gọi :" Ái khanh " !

Phương Hà
***
Vương Vấn


Mối chỉ tơ hồng chẳng kết nhau!
Cánh chim phiêu bạt sẽ về đâu?
Chia tay bịn rịn hôn môi ấm
Nhỏ lệ xót xa giấu mảnh sầu
Thân phận hẩm hiu bao nghiệt ngã
Cuộc đời đơn độc lắm cơ cầu!
Nồng nàn ánh mắt đầy âu yếm
Vương vấn bên mình tim buốt đau…

Tim buốt đau dù bậu chẳng hay!
Ngoài trời lất phất hạt mưa bay
Nhắc người còn nhớ lời chung thủy?
Khép dạ đành ôm nỗi đắng cay
Một mối tình si đầy luyến tiếc!
Bao niềm hy vọng lắm mê say
Mấy năm tơ tưởng lòng chua xót
Day dứt khôn nguôi mộng ắp đầy…

Mộng ắp đầy dần dẫu cách xa
Nhủ lòng thôi nhé gắng lơ là!
Yêu sao giọng nói lời từ tốn
Mơ mãi dáng người lụa thướt tha
Ghi phút tương phùng luôn cảm động
Trao câu tiễn biệt khó phai nhòa
Nợ duyên đôi ngả hồn xao xuyến
Khắc khoải đêm ngày có thấu ta?

Có thấu ta buồn lúc tuổi xanh?
Đếm mùa tuyết phủ khắp trên cành
Hỏi ai chốn ấy đang chờ đợi?
Hay chuyến tàu kia đã khởi hành?
Lời hẹn khi xưa nào chắc chắn?
Niềm tin ngày đó dẫu mong manh(*)
Giấc mơ ngắn ngủi thì thầm gọi
Vỏn vẹn ba từ:”Trẫm nhớ Khanh!”

Như Thu
(*)Xin giữ hai từ của bài xướng
***
Cuộc Tình

Sao còn ôm mãi mộng bên nhau?
Thuyền đã xa rồi, chẳng đợi đâu!
Xóm vắng chưa phai hình bóng cũ
Đường xưa vẫn đậm vết chân sầu
Bơ vơ xứ lạ, buồn trăm nẻo
Cách trở đò ngang, hận mấy cầu
Ai thấu chăng ai, ai có biết?
Ta đem thương nhớ đổi tình đau

Đổi tình đau lại chẳng hề hay
Giấc mộng tan rồi theo gió bay
Số phận long đong nhiều trắc trở
Cuộc đời lận đận lắm chua cay
Người đem hờ hững vùi sông nhớ
Ta lấy ưu sầu lấp bể say
Yêu vẫn nồng nàn, yêu đắm đuối
Giữa trời băng giá, lệ vơi đầy

Lệ vơi đầy khóc bậu phương xa
Nhớ thuở cài trâm với lượt là
Nếu đã trăm năm không trọn ước
Thôi thì muôn lỗi cũng xin tha
Trời cao cánh nhạn tuy biền biệt
Xóm cũ vầng trăng chửa nhạt nhoà
Ký ức đau thương dằn xé mãi
Cũng không níu giữ cuộc tình ta

Cuộc tình ta bén rễ ngày xanh
Ước vọng xum xê lá rợp cành
Lại l̃ỡ chân vào nơi cát bụi
Rồi theo tiếng gọi bước quân hành
Dòng đời cứ thế trôi vùn vụt
Duyên kiếp sao mà dệt mỏng manh!
Chưa kịp trở tay đà đổ vỡ
Còn đâu ảo mộng tướng cùng khanh?

Thục Nguyên
***
Lỡ Duyên

Bồi hồi kỷ niệm lúc xa nhau.

Góc bể chân trời dễ gặp đâu
Bối rối tơ tằm đau chín khúc
Bâng khuâng ngó ý lụy muôn sầu
Vườn xanh vẫn nhớ khi thề thốt
Bóng nguyệt còn ghi lúc nguyện cầu.
Lạc bến con thuyền xa mãi bến
Bờ xưa lạnh lẽo phủ niềm đau./.

Niềm đau khắc khoải chỉ mình hay
Sáo đã sang sông chắp cánh bay
Vắng cả lời thanh âm dịu ngọt
Chỉ còn chén đắng vị chua cay
Tim đau giữ chặt niềm đau đớn
Dạ đắm chôn vùi nỗi đắm say
Án sách bình hương nay lẻ bạn
Nghiên sầu viết lạnh lệ dâng đầy./.

Dâng đầy luyến nhớ xót chia xa
Vẫn tưởng đâu đây dáng lượt là
Áo lụa bay bay mây chợt tản
Chân sen uyển chuyển đất vương tha
Đau lòng cách biệt phương trời thắm
Xé ruột chia ly mắt lệ nhòa
Một bóng cô đơn se thắt dạ
Con tim ứ máu khóc tình ta

Tình ta lỡ dở lúc xuân xanh
Úa lá tàn hoa trụi nhánh cành
Cuộc thế bồng bềnh thân gió cát
Trang đời lãng đãng bước đơn hành
Nhìn ong lấy nhụy hoa đằm thắm
Thấy nhện giăng mành sợi mỏng manh
Chỉ có Ta + Em duyên chửa kết...
Kê vàng vỡ nát mộng công khanh./.

Trần Lệ Khánh
6-6-2017

Chủ Nhật, 18 tháng 6, 2017

Thơ Tranh: Ơn Cha


Thơ: Mai Xuân Thanh
Thơ Tranh: Kim Oanh

Nhớ Thương Ba



( Viết nhân ngày lễ Cha )

Dẫu bảy mươi người ơi!
Vẫn là thằng bé thôi.
Mỗi khi nhớ cha mẹ
Lệ già không khỏi rơi!
ML

Tấm ảnh cũ nầy tôi bao lần ngắm,
Nhưng hôm nay sao nghe lắm bồi hồi.
Hình trắng đen mờ nhạt, mắt Ba tôi
Dường như vẫn đang nhìn tôi trìu mến.

Vầng trán ấy ngày nao, làm xao xuyến
Gương mặt hiền nầy quyện lấy hồn tôi.
Nhớ Ba tôi từ dáng đứng, tiếng cười,
Khi sung sướng, cùng bạn bè ha hả!

Thời ly loạn chiến tranh về tàn phá
Gia đình tôi trong vất vả khốn cùng
Thương Ba tôi cảnh khổ cực lao lung.
Đầu sớm bạc nuôi bầy con thơ dại.

Sau ly loạn, thanh bình vừa lập lại,
Với cần lao với nhẫn nại không ngưng
Một căn nhà được dựng lại xinh xinh
Bên kinh nhỏ hữu tình rào tre trúc.

Bởi học thấp, nên Ba tôi hối thúc
Từng đứa con phái ý thức học hành.
Anh dạy em, mỗi đứa cố tiến nhanh
Đời là cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ.

Ký ức tốt, Ba tôi thường nhớ kỹ
Những tích xưa đạo lý đẹp sáng ngời
Chuyện ngụ ngôn, chuyện Phật giáo răn đời
Tài kể chuyện hấp dẩn, bao người ghé.

Với con cái, Ba tôi thường nhỏ nhẹ
Không nặng nề luôn giữ vẽ bình yên
Với tình thương nhưng kỹ luật thường xuyên.
Nền đạo lý cổ tuyền trong gia tộc.

Nhớ những lúc lên Saigon trọ học,
Tôi thường xuyên đọc những cánh thơ nhà.
Lời thơ êm mường tượng kế bên Ba:
“Xoài sắp chín đang chờ con về hái…”

Rồi đến lúc hè qua đi học lại,
Hai cha con sắp phải cảnh chia tay.
Nơi bến xe nước mắt lại lăn dài,
Còn đứng ngóng, bóng ai ! xe dần khuất.

Ba tôi mất sau bảy lăm, u uất,
Tiễn Ba tôi võn vẹn chỉ vài người.
Vĩnh biệt Ba , tôi lặng lẽ ra khơi.
Vẫn còn khóc, Ba ơi! mỗi khi nhớ 


Mailoc
6-12-17

Quy Gia 歸家 - Đỗ Mục - Về nhà



歸家                   Quy Gia 

稚子牽衣問,   Trĩ tử khiên y vấn,
歸來何太遲。   Quy gia hà thái trì?
共誰爭歲月,   Cộng thuỳ tranh tuế nguyệt,
贏得鬢邊絲。   Doanh đắc mấn như ti?
                           Đỗ Mục
Dịch nghĩa:

Thằng bé níu áo hỏi
Vì sao về nhà muộn quá thế?
Cùng giành nhau năm tháng với ai
Để nay được mái tóc trắng như tơ?

Dịch Thơ: Về Nhà

Con trẻ níu tay áo
Sao về trễ vậy cha?
Cùng ai năm tháng lụi
Giành được tóc tơ pha!!


Lộc Bắc
Jun17

Trở Về Mái Nhà Xưa - Thơ Phạm Hồng Ân - Diễn Ngâm Hoàng Đức Tâm



Thơ & Youtube: Phạm Hồng Ân 
Diễn Ngâm Hoàng Đức Tâm

Ơn Cha (USA Father's Day 06/18/17)



Bài Xướng:Ơn Cha
USA Father's Day 06/18/17

Father's Day, nghĩ đến ơn cha
Dãi nắng dầm mưa, mái ấm nhà
Cột trụ vững vàng luôn gánh vác
Gia đình chống đỡ vẫn xông pha
Trăm ngàn khổ cực không than vãn
Vạn sự gian lao cố vượt qua
Thân phụ muôn đời thương dưỡng dục
Tình thâm cốt nhục thật bao la...

Mai Xuân Thanh
Ngày 07 tháng 06 năm 2017
***
Các Bài Họa:
Ba Tôi

Thắp nén hương trầm nhớ đến cha
Một tay lèo lái ấm êm nhà
Vì con thương vợ vai oằn gánh
Trải nắng dầm sương tóc điểm pha
Ngày tháng gian nan còn nặng nợ
Số phần khốn khó vẫn chưa qua
Thân già lại vướng vòng lao lý
Tiếng súng ngưng rồi nối khóc la.


Quên Đi
***
Những Mong

Che mát cây đời chỉ có cha
Nâng niu dạy dỗ lúc chung nhà
Một đời vất vả công ơn khó
Mưa nắng dãi dầu sương tuyết pha
Hình bóng thân yêu dù đã khuất
Thời gian lặng lẽ dẫu trôi qua
Những mong trở lại thời thơ ấu
Thèm tiếng đòn roi giọng mắng la

Kim Phượng
***
Nhớ Cha


Tháng sáu hằng năm lại nhớ cha,
Suốt đời lao nhọc dựng xây nhà.
Trong ngoài vất vả tâm lao nhọc,
Sớm tối ưu tư tóc điểm pha.
Bảy nổi ba chìm đơn thân gánh,
Trăm cay ngàn đắng một đời qua,
Thiên thu giờ đã thân yên nghỉ,
Tình vẫn bao la nghĩa cũng la.

Đỗ Chiêu Đức
***
Ơn Cha :Dưỡng Dục Sinh Thành
Ngày Father's day 2017


Làm sao kể hết được ơn Cha!
Thương trẻ,mến yêu rất đượm đà
Chẳng ngại thân mình quên khó nhọc
Không nề gian khổ cũng vươn xa
Dầm sương dãi nắng đâu hề ngại
Trãi gió lướt mưa vẫn cố qua
Công nghĩa sinh thành và dưỡng dục
Công lao to lớn nhất trong nhà

Song MAI Lý Lệ
6/18/2017

***
Bài Cảm Tác:

Tình Cha, Biển Rộng Núi Cao
(Cho ngày lễ Father's day/17)

Nào ai thấu hiểu nổi tình Cha!
Ấm áp ,yêu thương that đậm đà
Ngọn núi Thái Sơn nào sánh kịp
Thái Bình biển rộng cũng thua xa
Trọn đời vất vả công nuôi dưỡng
Sớm tối gian nan cũng gắng qua
Mưa nắng đâu nề thân khổ nhọc
Miễn sao yên ấm cả ngôi nhà!

Song Quang
6/12/2017