Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2014

Thơ Tranh: Lụn Tàn


Thơ& Thơ Tranh: Kim Quang


Lời Ước Hẹn

Cả hai đang ở độ tuổi 17. Họ gặp nhau trong 1 bệnh viện khi đang đi dạo. Trong 1 chớp mắt, 2 trái tim non trẻ rộn lên 1 niềm xúc động. Họ đọc trong mắt nhau 1 tình cảm sâu sắc. Họ đọc trong mắt nhau một tình yêu nồng nàn. Kể từ hôm đó họ không còn cô đơn nữa.

Đến 1 ngày, cả 2 được thông báo rằng bệnh tình của họ không có cách nào chữa trị được nữa. Trước khi được gia đình đón về nhà, họ ngồi bên nhau 1 buổi tối, hẹn cùng nhau vượt qua số phận…. Họ hứa mỗi tuần sẽ viết cho nhau 2 lá thư để chúc phúc và động viên nhau. Rồi hôm sau họ chia tay nhau.


Thấm thoát đã 3 tháng trôi qua. Cô gái ngày càng yếu ớt. Một hôm cô gái cầm trong tay bức thư chàng trai gửi đến rồi thanh thản khép đôi bờ mi, miệng thoáng mỉm cười mãn nguyện. Bà mẹ cuống cuồng gọi con. Nhưng cô gái đã ra đi, bà gỡ lá thư trong tay cô gái và đọc: “khi số phận đùa giỡn với sinh mạng của em, em không nên sợ hãi vì bên cạnh em luôn có anh và mọi người quan tâm đến em. Anh đang khỏe dần lên, anh sẽ đến với em một ngày gần đây, em sẽ không cô đơn.”

Hôm sau, bà mẹ mở tủ của con gái, phát hiện ra vài chục lá thư do con gái bà viết, bỏ sẵn vào phong bì, dán tem đàng hoàng. Phía trên tập thư là mẩu giấy cô gái viết cho bà mẹ: 
“mẹ ơi, đây là tập thư con viết cho 1 người bạn trai mà chúng con đã có lời hẹn ước đi cùng nhau suốt quãng đời còn lại. Nhưng con thấy mình yếu đi nhanh chóng, sợ không giữ được lời hứa ấy. Con đã viết sẵn những lá thư này, mỗi tuần mẹ gửi giúp con 1 lá cho anh ấy để anh ấy nghĩ con vẫn còn sống và đang động viên anh ấy vượt lên trên bệnh tật. Con chỉ mong anh ấy đủ niềm tin để sống tiếp. Con gái của mẹ.”

Bà mẹ lần theo địa chỉ ghi tên bìa thư để đến nhà chàng trai. Bà nhìn thấy trên bàn là một tấm ảnh của một thanh niên trẻ, tràn đầy sinh khí và sức sống được viền dải băng đen. Bà vô cùng ngạc nhiên khi biết chàng trai ra đi cách đây 1 tháng.'


Bà mẹ chàng trai nước mắt lưng tròng chỉ vào chồng thư đặt bên cạnh khung ảnh và kể rằng: “con trai tôi đã mất cách đây 1 tháng, nhưng trước khi ra đi, nó dành 3 ngày 3 đêm để viết những lá thư này. Nó nhờ tôi mỗi tuần gửi cho cô bạn gái nào đó 1 lá. Nó bảo cô gái đó cũng đang mong chờ sự cổ vũ động viên của nó. Thế là cả tháng nay tôi thay con trai gửi những lá thư này đi, ko biết cô gái đó có nhận được không ?…”

Bà mẹ cô gái lao đến ôm chầm lấy bà mẹ của chàng trai và khóc không thành tiếng. Khi cả 2 bà mẹ đã hiểu ra tất cả, 2 bà quyết định vẫn cứ hàng tuần gửi cho nhau 1 lá thư mà con họ đã để lại. Họ bảo làm như thế vì 1 ước nguyện cao cả./

Đặng Anh Tuấn chuyển

Nhớ Thu




Trên đồi hoang, nắng chiều vương vấn
Lá phong vàng lấm tấm sương thu
Thông ngàn theo gió vi vu
Cánh chim bạt gió, mịt mù hoàng hôn

Chiều chầm chậm còn hôn trên tóc
Mắt mơ nhìn mấy nóc nhà xa
Áo ai nhuộm ánh dương tà
Nắng thu hiu hắt thướt tha tơ sầu

Mưa giăng mắc giọt ngâu trên phố
Mấy bóng dù lố nhố hành lang
Đèn đường mờ ảo sương đan
Trăng thu lãng đãng mơ màng cánh cung

Chung cư quạnh, mông lung tiếng trẻ
Không gian mờ khe khẻ giọng ru
Buồn tênh lắng đọng chiều thu
Như dày như xéo tâm tư lạnh lùng!

Cơn gió nào làm rung màn cửa?
Hal-lo-ween đêm giữa âm u
Bên đèn lạnh lẽo lù mù
Lạc loài một chiếc lá thu trên giường!!

( Mùa thu 1986 thành phố ERIE – Pennsylvania )
Mailoc
***
Thu Đông Lạnh Lùng

Rừng phong nhớ lại sao vương vấn,
Lá vàng khô thơ thẩn đưa Thu.
Đâu đây tiếng sáo vi vu,
Nghe buồn tiễn biệt khói mù ôm hôn.

Đôi môi, khóe mắt, hôn làn tóc,
Đâu nỡ chia tay khóc xót xa.
Bâng khuâng bóng ngã dương tà,
Tàn Thu hơi lạnh tình ta âu sầu.

Mưa bay lất phất đầu đường phố,
Nam nữ sinh cuốc bộ hành lang.
Dung dăng mấy nhỏ tay đan,
Rủ nhau ngắm nửa trăng vàng cánh cung.

Bóng nguyệt khuyết mông lung dỗ trẻ,
Giọng mẹ quen khe khẽ hát ru.
Con ơi hãy ngủ, buồn Thu,
Như cơn gió thỏang cương nhu lạnh lùng.

Chuyển mùa Đông ai cùng đứng đợi?
Trang trí vườn ma tới âm u,
Quỹ vương giả dạng lù mù,
Chong đèn song cửa lá Thu vô giường!

Mai Xuân Thanh 
 
Ngày 20 tháng 11 năm 2014
***
Sầu Đông

Có những lúc hoang mang tự vấn
Sao lá vàng rơi rụng chiều thu
Mùa đông, phong cảnh hoang vu
Mênh mông tuyết ngập, sương mù hoàng hôn ?

Đâu còn nữa nụ hôn trên tóc
Khi vầng trăng vừa mọc đồi xa
Chỉ còn đêm lạnh trăng tà
Cô đơn buốt giá, lòng da diết sầu

Màn sương xám một màu trên phố
Vệt rêu mờ hoen ố hành lang
Lệ buồn chan chứa sầu đan
Cánh chim chấp chới theo hàng vòng cung

Nhìn tóc bạc, nhớ nhung thời trẻ
Những đêm nào gió nhẹ như ru
Bên nhau cùng ngắm trăng thu
Mà nghe xao động tâm tư lạ lùng...

Nghe gió giật mưa rung ngoài cửa
Thèm ánh đèn ngọn lửa mù u
Nhưng trong đêm tối mịt mù
Chỉ vầng trăng lạc từ đâu đến giường.

Phương Hà
***
Lạnh Tàn Thu

Cây lặng lẽ như đang tự vấn
Hay buồn vì xa tấm áo thu
Gió ngàn về chốn hoang vu
Giờ đây tình đã biệt mù môi hôn

Dòng đời đã hoàng hôn nhuộm tóc
Khói chiều đang vương nóc xóm xa
Phải chăng tiễn ánh chiều tà
Khiến lòng ray rức thiết tha cung sầu

Tí tách vang mưa ngâu đẫm phố
Bóng xa mờ nhấp nhố tình lang
Khuê phòng vắng lạnh mộng đan
Thuỷ chung giữ vẹn đâu màng lầu cung

Trong đêm vắng trăng lung linh trẻ
Gió thì thào cất khẻ lời ru
Cũng rồi thêm một mùa thu
Thêm mùa thương nhớ niềm tư mơ lùng

Sương sủng ướt lẻn rung song cửa
Đem cô đơn vào giữa thâm u
Hồn như lạc bước mây mù
Tình còn đọng mãi hơi thu bên giường

Quên Đi 

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014

Xin Tạ Ơn


(Nhân dịp Thanksgiving Day)

Tạ ơn ai trong ngày lễ Thanksgiving?
Tuỳ theo tín ngưỡng và tôn giáo.
Trước hết xin tạ ơn Người: Đấng Thiêng-Liêng cao cả,
Rồi tạ ơn tổ tiên, cha mẹ, anh chị em.

Sinh ra trên quê hương Việt Nam yêu dấu,
Xin tạ ơn quốc tổ Hùng-Vương.
Hiện là công dân trên đất nước cưu mang,
Xin tạ ơn dân tộc, quê hương mới.
(.....)
Xin cảm ơn vợ con, họ hàng, thân thuộc,
Hiện sống cùng tôi hay trong thời thơ ấu đã qua.
Cảm ơn thầy cô, bạn bè, thân hữu gần xa
Và cộng đồng xã hội đã giúp tôi trong cuộc sống.

Cũng không quên cảm ơn người yêu dĩ vãng,
Nay đã xa rồi nhưng kỷ niệm đẹp chưa phai.
Trong cuộc sống cuối đời, tình thân nhân đang nhạt,
Mối tình xưa xoa dịu trái tim này.

Và cũng nên tạ ơn cả thiên nhiên vĩ đại:
Mặt trời, mặt trăng, ánh sáng, bóng tối
Không khí, nước, lửa, đất đai, sinh vật, thảo mộc
Đã và đang nuôi dưỡng sự sống cho nhân loại.

Xin nguyện cầu Đấng Thiêng-Liêng tôn kính
Cho tâm con được vui sống cảnh an bình,
Xin tạ ơn Người, nhân dịp Thanksgiving
Với tất cả tấm lòng con thành tín.


ChinhNguyen/H.N.T. USA.2012-14

Mùa Lễ Tạ Ơn



Khi những chiếc lá vàng cuối cùng rơi và khí trời càng trở lạnh cũng là lúc cả đất nước Hoa Kỳ đang chuẩn bị bước vào những ngày lễ trọng đại và thiêng liêng. Một trong những ngày lễ quan trọng đó là Lễ Tạ Ơn . 

Lễ Tạ Ơn như đem những người sống trên đất nước Hoa Kỳ trở về với những ngày đầu của tổ tiên họ… Vào ngày 6 tháng 9, 1620, có 102 người, vừa đàn ông, đàn bà, trẻ con cùng một số vật dụng bước lên con tàu Mayflower rời Anh Quốc, vượt đại dương để tiến về Tân-thế-giới. Họ ra đi và mang trong lòng một nỗi khao khát: tìm tự do tôn giáo (seeking religious freedom). Họ được gọi bằng tên mới “Những người hành hương” (Pilgrims). Một vài nhà sử học coi đây là Lễ Tạ Ơn đầu tiên mặc dầu không có tiệc tùng, ăn uống, vui chơi… 

Mùa đông đầu tiên quá lạnh, thật vô cùng khắc nghiệt, đến với họ. Thực phẩm lại thiếu thốn trầm trọng. Tháng 12 năm ấy có sáu người qua đời, qua tháng Giêng có tám người, tháng Hai tăng lên 17 người, và 13 người qua đời trong tháng Ba. Những người này đã âm thầm chôn cất những thi hài trong đêm tối vì sợ Thổ Dân (Native Indians) biết được có thể tấn công họ chăng! May mắn thay, không có một xung đột nào đáng kể giữa Người Da Đỏ và Người Hành Hương như họ dự đoán. Trái lại Thổ Dân rất thân thiện và tận tình giúp đỡ những Người Hành Hương trong cuộc sống mới về việc dạy cách trồng tỉa, săn bắn, nấu nướng các thứ hoa quả lạ… 

Tháng Tư họ cùng nhau trồng bắp dưới sự chỉ dẫn của một Người Da Đỏ tên là Squanto. Những luống bắp nầy quyết định sự sống còn của họ trong mùa Đông sắp tới. Họ vui mừng vì mùa Xuân và mùa Hè năm 1621 thật quá tuyệt đẹp! Bắp lên tươi tốt hứa hẹn một vụ mùa no nê như lòng họ mơ ước. Mùa Đông lại về, nhưng bây giờ không còn là một đe dọa nữa. Mùa màng đã gặt hái xong, họ có dư thực phẩm để sống qua những ngày đông giá rét. Cũng không còn sợ lạnh vì đã làm được 11 cái nhà vững chắc đủ chỗ để quây quần sum họp. Họ quyết định tổ chức một Hội Ngày Mùa (Harvest Festival) để tạơn Thượng Đế cho họ sống sót qua mùa đông đầu tiên. Đó là lễ Tạ Ơn đầu tiên trên đất Mỹ. Ngày tháng chính thức của "First Thanksgiving" nầy không được chép lại, chỉ biết đầu tháng 11 năm 1621. 

Thực phẩm chính trong Lễ Tạ Ơn nầy gồm: Bắp, bí đỏ, chim, vịt, ngỗng và gà tây. Họ cũng mời khách là các Thổ Dân. Tù trưởng Massasoit dẫn 90 dũng sĩ đến dự "party" và cũng đem biếu Thống Đốc của nhóm Người Hành Hươnglúc bấy giờ là Bradford năm con nai nhân ngày Lễ Tạ Ơn đó. Họ ăn uống vui chơi suốt một tuần lễ. 

Lịch sử ngày Lễ Tạ Ơn của người Mỹ cũng thăng trầm, trôi nổi theo vận nước của họ. Các tiểu bang thuộc địa đầu tiên không thống nhất được ý kiến chung về một ngày Lễ Tạ Ơn. Họ giữ ngày lễ tùy ý mà họ cho là thích hợp. Khi cuộc cách mạng giành độc lập từ tay Người Anh thành công họ mới nghĩ đến một Lễ Tạ Ơn chung cho 13 tiểu bang. Tổng Thống đầu tiên của nước Mỹ, George Washington, kêu gọi dân chúng giữ ngày thứ năm 26 tháng 11 năm 1789 làm ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên cho toàn quốc (First National Thanksgiving). Nhưng sau đó lễ tạ ơn cũng không được mọi người công nhận theo một ngày tháng nhất định. Dầu vậy, càng ngày càng có nhiều người đưa ra ý kiến nên có một ngày nhất định, đưa lễ Tạ Ơn thành quốc lễ (National Holiday) và đưa quyền quyết định cho chính phủ Liên-Bang. 

Một trong những người có công trong việc thúc đẩy việc thành hình ngày Lễ Tạ Ơn là bà Sarah Josepha Hale. Vào năm 1837 bà Sarah trở thành chủ bút của một tạp chí phụ nữ nổi tiếng có tên "Godey's Lady's Book". Bà đã viết hàng trăm lá thư gởi đến các nghị sĩ Quốc Hội và những người có thế lực lúc bấy giờ hầu vận động đưa ngày Thanksgiving vào quốc lễ. Trong thời kỳ nội chiến (Civil War) năm 1861, bà viết một tâm thư kêu gọi hai phe buông súng một ngày để giữ Lễ Tạ Ơn, nhưng không phe nào chịu nghe cả. Bà thất vọng! 

Mãi đến năm 1863, Tổng thống Abraham Lincoln nhận thấy chiến tranh đã đến hồi kết thúc nên chỉ định ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11 làm ngày Lễ Tạ Ơn cho toàn quốc. Chẳng may ông bị ám sát, Andrew Johnson lên làm Tổng Thống, tiếp tục truyền thống cũ, nhưng đổi lại ngày thứ năm tuần lễ thứ 4 của tháng 11 làm Lễ Tạ Ơn. Rồi trong khoảng thời gian từ năm 1939 đến 1941, Tổng Thống Franklin Roosevelt chỉ định ngày thứ năm của tuần lễ thứ ba trong tháng 11 làm lễ Tạ Ơn thay vì thứ năm trong của tuần lễ thứ 4.Nhưng lần nầy Roosevelt bị các thương gia và các đảng viên Đảng Cộng Hòa chống đối dữ dội, cho rằng Tổng Thống đã đi ngược lại truyền thống cũ. Hai năm sau Tổng Thống Roosevelt rút lại quyết định và đặt ngày thứ năm tuần lễ thứ 4 của tháng 11 làm ngày Lễ Tạ Ơn cho toàn quốc mãi cho đến ngày hôm nay.


Lễ Tạ Ơn là dịp để chúng ta đếm các ơn lành Trời ban. Nhìn lại những ngày tháng tại quê nhà, cuộc hành trình tị nạn đầy gian nan vừa qua và những thành quả mà Người Mỹ Gốc Việt đạt được ngày hôm nay để chúng ta dânglên Thượng Đế lời Tạ Ơn sâu xa nhất. Tạ ơn Trời vì Ngài đã ban cho ta sự sống, hơi thở, sức khoẻ và bao nhiêu là ân huệ. Chúng ta cũng nên cảm ơn nhau. Cảm ơn thân quyến, bạn bè, những người thân quen và ngay cả những người chưa từng biết về sự chan hòa của họ trong cuộc sống của mỗi chúng tatrong cộng đồng nhân loại. 

Kính chúc mọi người, mọi nhà một kỳ Lễ Tạ Ơn tràn đầy ý nghĩa.


Mai Xuân Thanh

Mừng Lễ Tạ Ơn


Lại về ngày Lễ Tạ ơn
Mừng nhau tiếng gió qua hồn thênh thang
Cành cây níu đóa cúc vàng
Chớm đông về lạnh, thu tàn bóng rơi

Chắp tay cảm tạ ơn đời
Đưa bàn tay đỡ niềm vui bềnh bồng
Chào em má đỏ môi hồng
Nắng tràn thương nhớ vào trong mắt tình
Nõn nà mười ngón tay xinh
Giữ đời nhau đẹp bóng hình lứa đôi

Tiệc vui lấp lánh tiếng cười
Mời dùng squash soup, món khoai chiên dòn
Gà Tây nướng chín vàng ngon
Bánh Pumpkin pie mùi thơm ngọt ngào

Nâng ly cụng với trăng sao
Nghe bao ân sủng trời cao rải về
Niềm vui hạnh phúc đam mê
Xua tan bao nỗi tái tê cuộc đời

Nâng ly uống cạn tình người
Từ thành thị tới xa xôi xóm làng
Tấm lòng tình nghĩa cưu mang
Men tri ân ngấm ngút ngàn trời xanh

Trầm Vân

Tạ Ơn



(Tặng Biển Xanh)

Tạ ơn em
những lời ru
Cho ta mãi nhớ
sương mù phố xưa

Tạ ơn em
những cơn mưa
Cho ta ướt sũng
hồn vừa chớm đau

Tạ ơn
dù áo phai mầu
Cho ta mãi nhớ
tình sầu năm xưa

Tạ ơn
sớm đón chiều đưa
Đầu con dốc nhỏ
cho vừa nhớ nhung

Tạ ơn
biết mấy cho cùng
Tình xưa lối cũ
lạc vùng đau thương

Suối Dâu,
Hai sáu mười một 2ngàn10

Tạ Ơn Đời




Tạ ơn đời đã có anh
Vườn thơ đơm nụ trĩu cành ngày xanh
Tạ ơn tình mộng an lành
Hoa đời đua nở đầy cành tỏa hương

Tạ ơn giấc ngủ miên trường
Mơ màng em ngỡ người thương hiện về
Tạ ơn lụa nắng chiều quê
Để ta thêu dệt ngày về có nhau

Tạ ơn cho ta khổ đau
Vết hằn kỷ niệm phai màu phôi pha
Tạ ơn đời chút thật thà
Cho ta trú ngụ mưa sa cuối đời

Tạ ơn giấc mộng tuyệt vời
Quên đi ngày tháng thả lơi gánh sầu
Tạ ơn anh mối tình đầu
Cầm bằng như nước qua cầu ... mất nhau!

Kim Oanh

Nhân Lễ Thanksgiving ở Hoa Kỳ


Tạ ơn cha mẹ đã sanh ta,
Nuôi dưỡng nhọc nhằn sánh hải hà.
Cực khổ sơ sinh không kể xiết,
Gian truân tấm bé chẳng kêu ca.

Dòng đời hổn độn luôn che chở,
Cuộc sống khó khăn bế ẳm quà.
Nước Mỹ dân tình lo báo đáp,
Của đồng, công lượng, nghĩa bao la.*

Ngày 13 tháng 11 năm 2014
Mai Xuân Thanh

* Của1đồng, công1lượng 

Thứ Năm, 27 tháng 11, 2014

Thi Phẩm Da Diết - Thơ Thuơng Hà - Vân Khanh Diễn Ngâm


Thơ: Thuơng Hà 
Diễn Ngâm:Vân Khanh 

Giăng Tơ


Nhện giăng tơ để bắt mồi
Em giăng những sợi tơ đời bắt anh!
Gửi mây giữ hộ lòng thành
Phân đường phổ rộng để dành riêng em
Lời thơ thao thức hằng đêm
Nhớ người thục nữ bên thềm ngày qua
Thả hồn theo ánh dương xa
Trọn đời soi mãi vóc ngà thân thương
Năm dài ngày nắng đêm sương
Sợi tơ buộc lạt - lòng vương khôn rời!

Đắc Thu

Thơ Tranh: Phượng Tím


Thơ: Trầm Vân
Thơ Tranh: Kim Quang

Phượng Tím


Nơi anh ở chưa có trồng phượng tím
Đà Lạt em, phượng tím dịu nắng hè
Trên đồi Mộng Mơ, phượng tím chờ ai?
Khi ta đã không còn bên nhau nữa…

Chỉ anh biết em yêu màu hoa tím
Và chỉ anh biết em thường mong ước
Phượng đỏ kia sẽ hóa tím dịu buồn
Những hè về, phượng tím gợi nhớ thương…

Anh không có tâm hồn người nghệ sĩ
Anh sinh viên mê sách nhất giảng đường
Không hiểu em cô bạn học mộng mơ
Mắt u sầu, em buồn và khẽ nói:

Phượng tím nở là tuổi em mười chín
Phượng tím buồn cho sự học dở dang
Phượng tím hờn khi tình bạn sang trang
Phượng tím sầu cho tình mình hai ngả…

Hết khóa học, mỗi người đi mỗi hướng
Biết ai còn có nhớ đến ai chăng?
Hôm nay, đứng lặng trên đồi phượng tím
Lòng nhớ về em, cô bạn mộng mơ

Có những ước mơ muôn đời không thực
Nhưng mơ ước em hiện thực rồi đây
Để anh vẫn mãi là chàng mê sách
Biết ôm chùm phượng tím, nhớ người xưa…

Phượng Trắng
Winnipeg, hạ 2004

Thứ Ba, 25 tháng 11, 2014

Môt Số Nhận Xét Về Phật Giáo Nam Tông Và Phật Giáo Bắc Tông



Trước đây, người ta thường cho rằng giáo lý Nguyên Thủy là giáo lý Tiểu Thừa không đưa đến quả vị tối hậu thành Phật, mà chỉ có giáo lý Đại Thừa mới là giáo lý chân chính của Phật giáo. Ngược lại, một số khác lại cho rằng giáo lý Nguyên Thủy mới chính truyền là của Phật, còn giáo lý Đại Thừa là ngoại đạo. Sự bất đồng quan điểm ấy đã làm băng giá mối quan hệ cả hai truyền thống đến hàng ngàn năm!
Ngày nay, với những phương tiện tiến bộ, quan điểm như thế về Tiểu Thừa và Đại Thừa đã không còn thích hợp! Phần lớn các nhà nghiên cứu Phật giáo đều chấp nhận một số tư tưởng Đại Thừa là những tư tưởng của Phật giáo Nguyên Thủy. Nếu chúng ta chịu khó so sánh bốn tập A Hàm của Trung Quốc với các tập Pàli Nikàya tương đương, chúng ta sẽ thấy có nhiều đoạn văn A Hàm lại nguyên thủy hơn các đoạn văn Pàli.
Thái độ của một số Phật tử Đại Thừa xem tư tưởng Tiểu Thừa là thiển cận, nhỏ hẹp, không đáng học hỏi, cũng như phủ nhận ba tạng Pàli, bốn bộ A Hàm và các Luật, Tạng không phải là những tinh hoa tốt đẹp và nguyên thủy nhất của lời Phật dạy, cũng là một thái độ nguy hiểm, nông nổi, nếu không phải là ngây thơ, phản tri thức!
Trong lịch sử Phật giáo, thời kỳ Phật giáo Nguyên Thủy cho đến thời kỳ Bộ Phái (sau Thích Ca Mâu Ni 400 năm) chưa có danh từ Đại Thừa hay Tiểu Thừa! Hai danh từ này xuất hiện đồng thời với kinh điển Đại Thừa khoảng thế kỷ I trước hoặc sau Công nguyên. Các danh xưng Tiểu Thừa và Đại Thừa chỉ là sự tranh chấp về đường lối hành đạo do lúc bấy giờ người ta quá chú trọng về lý luận và hình thức.
Vào năm 1950, Hội Phật tử Thân hữu Thế giới (World Fellowship Buddhists) đã họp tai Colombo (Tích Lan-Sri Lanka ngày nay-) đã nhất trí quyết nghị loại bỏ danh từ “Tiểu Thừa” khi nói đến Phật giáo Nam Tông. Từ đó đến nay, Phật giáo được phân thành hai truyền thống: truyền thống Nguyên Thủy (Phật giáo Nam Tông) và truyền thống Phát Triển (Phật giáo Bắc Tông). Từ ngữ “Nguyên Thủy” và “Phát Triển” khi sử dụng, đã nói lên tính xuyên suốt, giống như một cây đại thọ (tức giáo lý Phật giáo) mà với phần gốc rễ là Nguyên Thủy và phần thân cành là Phát Triển! Không một cây nào có thể gọi là cây khi không có gốc hay ngọn! Sự nhất quán trong hệ thống giáo lý phải được thiết lập và không ra ngoài hai hệ thống Nguyên Thủy và Phát Triển, bởi vì cả hai đều cần thiết phải bổ sung cho nhau! Nói cách khác, mọi tư tưởng của Phật giáo Phát Triển đều phải mang tính kế thừa giáo lý Nguyên Thủy; nếu không, giáo lý Phát Triển sẽ mất đi giá trị của nó!

Với nhận định trên, khi học tập và nghiên cứu, chúng ta cần phải thoát ra khỏi những tượng đài quá lớn của các học giả có một bề dày nghiên cứu, nhưng chưa có quá trình tu tập; cần phải có sự độc lập trong nhận thức để tránh tình trạng nô lệ kiến thức -bởi một con sư tử được làm bằng vàng thì râu hay đuôi, cũng đều có giá trị như nhau trong mắt của người thợ kim hoàn- và cũng bởi vì Phật giáo là một tôn giáo “khi tìm đến để nắm bắt chứ không phải để chiêm ngưỡng”!


(26/11/2014)
Hà Nguyên

Về Mùa Nước Nổi - (Quê Nghèo, Phạm Duy)


Nhạc Đệm: "Quê Nghèo"
Sáng Tác: Phạm Duy, 
Đàn bầu: Phạm Đức Thành
Hình ảnh & Thực hiện: Khúc Giang

Xướng Họa Ẩn Dật




Càn qua gió bụi nhuộm thêm sầu
Áo rách vẫn còn Khảm dạ châu
Ngược gió lỏi luồn mà chạy Cấn
Xa nơi Chấn động để ngồi câu
Nuôi thân gạo Tốn ngày hai bữa
Dưỡng khí thân Ly tháng một chầu

Khôn dại thường lên voi xuống chó
Tôi Đoài mạc kiếp được gì đâu ?


Cao Linh Tử

13/11/2014
***
Số Kiếp 


Càn quét địch quân, thấy thảm sầu,
Chẳng qua họ Khảm hạt minh châu.
Mang thai em bé nghe như Cấn,
Bung chửa làm sao Chấn lưới câu.
Nếu biết buông ra mà Tốn của,
Nào hay thất thủ bị Ly thân.
Khôn ngoan một chút đừng nghe họ,
Số kiếp tôi Đoài chạy được đâu!


Mai Xuân Thanh
Ngày 17 tháng 11 năm 2014

** *
Bát Tiên

Lộn xác ăn xin Thiết Quảy sầu (1)
Tiên Cô rực rỡ tựa minh châu
Hàn Tương truyền sấm khuyên ông chú (2)
Trương Quả tướng người giống lão câu
Lam Thái trẻ trung hay nhảy múa
Chung Ly quan lớn chán đi chầu
Hoàng thân Quốc Cữu không màng đến
Chó cắn Đồng Tân chẳng có đâu.(3)

Quên Đi

- (1) Lý Thiết Quảy xuất hồn đi gặp Lão Tử, căn dặn học trò quá 7 ngày mới được chôn. Nhưng vì mẹ bệnh nặng nên người học trò phải chôn sớm. Khi hồn Thiết Quảy về không thấy xác, đành phải nhập vào xác ăn mày bị chết đói.

- (2) Hàn Tương Tử khuyên chú là Hàn Dũ đi tu đạo. Nhưng Hàn Dũ chê mê tín. Hàn Tương mới tặng cho Hàn Vũ 2 câu thơ : 
Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại (Mây giăng Tần Lĩnh nhà nơi đâu) 
Tuyết ủng Vân Quan mã bất tiền ( Tuyết phủ Vân Quan ngựa không đi tới được) 
Hàn Dũ không hiểu. Sau đi nhậm chức ở Triều Châu đếm Lam Quan thì gặp cảnh y như 2 câu thơ trên. Bấy giờ mới hiểu ra. 

- (3) - Câu " Cẩu Yểu Lữ Đồng Tân" dựa vào câu chuyện của Cẩu Yểu và Lã Đồng Tân, ý nói không biết lòng người tốt, nghĩ xấu cho lòng tốt của người khác. Vì chữ Cẩu Yểu đồng âm với "cẩu giảo" (chó cắn) nên truyền tới truyền lui thành ra "Chó cắn Lữ Đồng Tân"

Thứ Hai, 24 tháng 11, 2014

Chỉ Là Dường Như


Dường như giọt nhớ
Vô cớ buộc ràng
Lỡ làng ngày nọ
Đầy đọa tình này

Dường như giọt nắng
Chìm lắng môt thời
Dòng đời hoang vắng
Bạc trắng đường mơ

Dường như bóng tối
Đang trói cuộc tình
Bóng hình sương khói
Nhức nhối từng đêm

Dường như mưa đổ
Nhánh trổ trái sầu
Đậm mầu cây khổ
Làm tổ tương tư

Dường như lầm lỡ
Trăn trở trong lòng
Bềnh bồng nức nở
Nhắc nhở tim đau

Dường như mơ mộng
Rung động nơi nào
Ngọt ngào lắng đọng
Khát vọng chìm sâu

Dường như môi mắt
Hương sắc mặn mà
Đậm đà ngây ngất
Vừa mất hôm qua

Dường như hoa nở
Luôn ở bên người
Tiếng cười khờ dại
Ở lại bên ta

Đỗ Hữu Tài 
( Nov.17-2014 )

Dường Như


(Nối tiếp vần thơ 4 chữ của Đỗ Hữu Tài)

Dường như giọt nhớ vấn vương
Vô cớ buộc ràng sợi thương kết chuỗi
Lỡ làng ngày nọ ngậm ngùi
Đầy đọ tình này thui thủi năm canh

Dường như giọt nắng mong manh
Chìm lắng một thời tuổi xanh đánh mất
Dòng đời hoang vắng chồng chất
Bạc trắng đường mơ khuyết tật đôi tim

Dường như bóng tối im lìm
Đang trói cuộc tình chìm vào quên lãng
Bóng hình sương khói bãng lãng
Nhức nhối từng đêm lãng vãng quanh ta

Dường như mưa đổ lệ sa
Nhánh trổ trái sầu hóa đá thiên thu
Đậm màu cây khổ âm u
Làm tổ tương tư ngục tù chôn kín

Dường như lầm lỡ giết mình
Trăn trở trong lòng chỉ biết lặng thinh
Bềnh bồng nức nở khối tình
Nhắc nhở tim đau bóng hình ngự trị

Dường như mơ mộng lỡ thì
Rung động nơi nào khắc tỳ lưu vết
Đậm đà ngất ngây vụt hết
Vừa mất hôm qua lại chết hôm nay

Đường như hoa nở trắng bay
Luôn ở bên người đọa đày suốt kiếp
Tiếng cười khờ dại nối tiếp
Lại ở bên ta trùng điệp khổ đau

Kim Oanh
21/11/2014

Cũng Là Dường Như


( Cảm tác từ Chỉ Là Dường Như của Đỗ Hữu Tài)

Dường như sợi nhớ
Se thắt tim lòng
Chiều đông lạnh vắng
Nỗi buồn mênh mông

Dường như sợi nắng
Lặng lặng rơi rơi
Hoàng hôn rũ bóng
Mây gió lả lơi

Dường trong bóng tối
Che khuất nẻo đời
Đường mờ sương khói
Một bóng chơi vơi

Dường mùa lá đổ
Vườn trổ sầu đâu
Thu nhường đông đến
Gió chướng đêm sâu

Dường trên lối mộng
Xanh biếc trời mây
Mơ đời muôn sắc
Hồn nửa tỉnh say

Dường trong khóe mắt
Rưng giọt lệ buồn
Tàn canh tỉnh giấc
Tình vương vấn vương

Dường hoa tuyết nở
Phủ trắng đồi thông
Đồng thơ gió lộng
Buốt giá đêm đông!

Yên Dạ Thảo
21.11.2014

Đăng Cao

 " Đây là bài thơ bày tỏ cảm xúc lúc trèo lên cao vào ngày tết Trùng Cửu (mồng 9 tháng 9 âm lịch, còn gọi là tết Trùng Dương). Tào Phi trong bài “Cửu nhật dữ Chung Do thư” có viết: “Năm qua tháng lại, bỗng tới mồng 9 tháng 9. Chín là số dương (số nhiều), mà tháng và ngày cùng ứng thì tục lệ đón mừng là để hợp với sự trường cửu, cho nên bày tiệc hội”. Ở Trung Hoa tục lệ có từ cổ xưa là đến ngày lễ tết này thì trèo trên đồi cao và cắm cánh thù du lên đầu hoặc mình nhằm tránh nạn dịch ". 

 Cả bài thơ mang đến một nỗi buồn diệu vợi, sự chán nản ê chề toát lên trong từng lời thơ,gieo vào lòng người đọc cảm giác yếm thế khi tuổi già bóng xế. Chúng Ta cùng thưởng thức "Đăng Cao" của Đỗ Phủ

     
登高
風急天高猿嘯哀
渚清沙白鳥飛回
無邊落葉蕭蕭下
不盡長江滾滾來
萬里悲秋常作客
百年多病獨登臺
艱難苦恨繁霜鬢
潦倒新停濁酒杯

              Đăng cao

Phong cấp thiên cao viên khiếu ai
Chử thanh sa bạch điểu phi hồi
Vô biên lạc diệp tiêu tiêu hạ
Bất tận trường giang cổn cổn lai
Vạn lý bi thu thường tác khách
Bách niên đa bệnh độc đăng đài
Gian nan khổ hận phồn sương mấn
Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi



Dịch nghĩa: Lên cao


Gió thổi gấp trời cao,tiếng vượn kêu nghe thật buồn thảm
Bãi nước trong xanh, làn cát trắng,chim bay trở về
Không biết bao nhiêu lá rụng nghe xào xạc
Sông dài ngút ngàn nước cuồn cuộn chảy đi
Muôn dậm thu buồn khi thân cứ mãi nơi đất khách
Trăm năm tuổi hạc nhiều bệnh lại một mình lên đài cao
Hận vì khổ sở khó khăn nên mái tóc bạc màu sương gió
Ốm yếu chán nản đến rượu thường rượu đục cũng đành ngưng không uống

Dịch Thơ
:

Gió lộng trời cao vượn khóc than
Vũng trong cát trắng chim về đàn
Vô vàn lá úa lao xao rụng
Cuồn cuộn sông đi tận ngút ngàn
Muôn dặm thu buồn thân đất khách
Trèo cao trăm tuổi bệnh đa mang
Hận sầu tóc nhuốm màu sương bạc
Rượu đục đành ngưng  sức lực tàn

                                   Quên Đi
 


Thơ Tranh An Nhàn


Thơ: Quên Đi
Tranh Thơ: Hữu Đức

Sự Tích Nhà Bè ( Truyện Thủ Huồn)


Ngày xưa ở Gia-định có một người tên là Thủ Huồn. Hắn xuất thân làm thơ lại. Trong hơn hai mươi năm luồn lọt trong các nha các ti, hắn đã làm cho bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiêu người bị oan uổng; do đó hắn đã vơ vét được bao nhiêu là tiền của. Vợ hắn chết sớm lại không có con cho nên tiền bạc của hắn không biết tiêu đâu cho hết. Ngoài số chôn cất, hắn đem tiền tậu ruộng làm nhà. Ruộng của hắn cò bay thẳng cánh, mỗi mùa thu hoạch kể hàng ngàn "giạ" lúa. Khi thấy cuộc sống quá thừa thãi, hắn bèn thôi việc về nhà, sống một cuộc đời trưởng giả. Một hôm, có người mách cho Thủ Huồn biết chợ Mạnh-ma ở Quảng-yên là chỗ người sống và người chết có thể gặp nhau. Muốn gặp người chết, người sống phải chờ đến mồng một tháng Sáu, mang một món hàng vào chợ hồi nửa đêm mà đi tìm. Thủ Huồn là người rất yêu vợ. Tuy vợ chết đã ngoài mười năm nhưng hắn vẫn không lúc nào quên. Hắn bèn giao nhà lại cho người bà con rồi làm một chuyến du lịch ra Bắc, mong gặp lại mặt vợ cho thỏa lòng thương nhớ bấy lâu. Khi gặp vợ, Thủ Huồn không dám hỏi vì thấy vợ ăn mặc rất đài các. Sau cùng người đàn bà ấy cũng nhận ra được. Thủ Huồn mừng quá vội dắt vợ ra một chỗ kể cho vợ nghe cảnh sống của mình từ lúc âm dương cách biệt. Rồi hắn hỏi vợ:   
- Mình lâu nay làm gì?
 - Tôi làm vú nuôi trong cung vua. Cuộc đời của tôi không có gì đáng phàn nàn. Tôi có một gian nhà riêng trong hoàng cung, cái ăn cái mặc được chu cấp đầy đủ. Hắn nói: 
- Tôi nhớ mình quá. Tôi muốn theo mình xuống dưới ấy ít lâu có được không? 
- Đi được. Nhưng chỉ trong vài ngày là cùng, nếu quá hạn sẽ nguy hiểm. Thủ Huồn và vợ cùng đi. Qua mấy dặm đường tối mịt, chả mấy chốc đã đến cõi âm. Hắn rùng mình khi lọt qua bao nhiêu cổng trước lúc vào thành nội, qua những tên quỷ gác cổng có những bộ mặt gớm ghiếc. Nhờ có vợ nên chỗ nào cũng vào được trót lọt. Đến một gian nhà thấp, vợ bảo chồng: 
- Đây là nhà bếp, đằng kia là nhà ngục, trước mặt là cung hoàng hậu, chỗ tôi túc trực hàng ngày. Qua khỏi đấy là cung vua. Cứ ẩn tạm trong buồng vắng này vì không thể lên buồng tôi trên kia được. Tôi sẽ kiếm cách cho chàng đi xem một vài chỗ, nhưng rồi phải về ngay. Chiều hôm đó người vợ về trao cho Thủ Huồn một mảnh giấy phép và nói: 
- Chỉ có cung vua và cung hoàng hậu thì đừng có vào còn mọi nơi khác chàng cứ đi xem cho thỏa thích. Hắn lượn mấy vòng xung quanh nhà bếp rồi tiện chân đến nhà ngục. Chưa lọt khỏi cổng mà những tiếng kêu khóc, tiếng la hét ở phía trong làm cho hắn bồn chồn. Qua mấy phòng chuyên mổ bụng, móc mắt, cắt tay, v.v... hắn thấy đây quả là nơi hành hạ tội nhân kinh khủng, đúng như lời đồn ở trên trần thế. Sau cái bàn xẻo thịt là cả một kho gông. Trong đó có một cái gông đặc biệt: nó vừa to vừa dài, làm bằng những thanh gỗ nặng như sắt. Thủ Huồn lân la hỏi người cai ngục: 
- Thứ gông này để làm gì? 
- Để chờ một thằng ác nghiệt ở trần xuống đây. Bao nhiêu những cái gông trong này đều đã có chủ cả. Cứ xem gông to hay nhỏ thì biết tội ác của nó. Thủ Huồn lại hỏi: 
- Thế cái thằng sẽ đeo cái gông vừa to vừa dài đó là ai? Lão cai ngục thủng thỉnh giở một cuốn sách vừa to vừa dày chỉ vào một hàng chữ, đọc: "Hắn là Võ Thủ Hoằng[1] tức là Thủ Huồn". Rồi nói tiếp: 
- Thằng cha đó ở Đại-nam quốc, Gia-định tỉnh, Phúc-chính huyện... Nghe nói thế, Thủ Huồn giật mình mặt xám ngắt. Nhưng hắn vẫn giữ được vẻ bình tĩnh. Hắn hỏi thêm: 
- Thế nào? Hắn có tội gì? Lão cai ngục mắt vẫn không rời quyển sách. 
- Khi làm thơ lại hắn bẻ mặt ra trái làm bao nhiêu việc oan khốc đến nỗi tội ác của hắn đen kín cả mấy trang giấy đây. Này nghe tôi đọc này: năm Ất sửu hắn sửa hai chữ "ngộ sát" thành "cố sát" làm cho hai mẹ con thị Nhân bị chết để cho người anh họ chiếm đoạt gia tài. Việc này Thủ Huồn được mười nén vàng và mười nén bạc, một trăm quan tiền. Cũng năm đó, hắn làm cho ông Ngô Lai ở thôn Bình-ca bị hai mươi năm tội đồ chỉ vì trong nhà có cái áo vải vàng, để đoạt không của ông ta mười hai mẫu ruộng. Năm... Thủ Huồn tái mặt, không ngờ mỗi một cái cất tay động chân của mình trên kia, dưới này đều rõ mồn một. Hắn ngắt lời đánh trống lảng. 
- Thế vợ hắn có cùng đeo gông không hở ông? 
- Ồ! Ai làm người ấy chịu chứ! Vợ hắn nghe đâu là người tốt đã xuống đây rồi. Thủ Huồn lại hỏi gặng: 
- Ví thử hắn muốn hối cải thì phải làm thế nào? Lão cai ngục hạ sách xuống bàn, đáp: 
- Đã vay thì phải trả! Nếu hắn muốn thì phải đem những thứ của cải cướp giật được đó bố thí và cúng lễ cho hết đi. Từ biệt lão cai ngục và những hình cụ khủng khiếp, Thủ Huồn không còn bụng dạ nào để đi xem nơi khác nữa. Vợ thấy chồng đòi về, lại đưa chồng ra khỏi hoàng cung của Diêm vương và ra khỏi mấy dặm đường tối tăm mù mịt. Lúc sắp chia tay hắn bảo vợ: 
- Tôi về trang trải công nợ có lẽ ba năm nữa tôi lại xuống. Mình nhớ lên chợ đón nghe! Về tới Gia-định. Thủ Huồn mạnh tay bố thí. Hắn tập hợp những người nghèo khó trong vùng lại, phát cho họ tiền, lúa. Hắn đem ruộng đất của mình cúng cho làng, cho chùa, chia cho họ hàng thôn xóm. Hắn mời hầu hết sư, sãi các chùa gần vùng tới nhà mình cúng đơm, tốn kém kể tiền vạn. Người ta lấy làm lạ không hiểu tại sao một tay riết róng như hắn bây giờ trở nên hào phóng một cách lạ thường. Ai xin gì được nấy. Có những người trước chửi hắn bây giờ lại đâm ra thương hại hắn. Nhiều người bảo nhau: - "Thứ của vô nhân bất nghĩa ấy không trước thì sau thể nào cũng đội nón ra đi mà thôi!" hay là: - "Có lẽ hắn không con, biết để của cũng chả làm gì nên tự làm cho vợi bớt". Thủ Huồn có nghe rất nhiều lời đàm tiếu về mình, nhưng hắn chẳng nói gì sất, cứ việc quẳng của không tiếc tay. Cứ như thế sau ba năm, Thủ Huồn tính ra đã phá tán được ba phần tư cơ nghiệp. Nhớ lại lời hẹn, hắn lại khăn gói ra Bắc tìm đến chợ Mạnh-ma. Ở đây, hắn dỗ khéo được vợ cho hắn xuống thăm cõi âm một lần nữa. Khi trở lại nhà ngục. Thủ Huồn thấy quang cảnh vẫn như cũ. Lão cai ngục vẫn là lão cai ngục ba năm về trước. Cách bố trí y hệt như xưa: cũng có nơi mổ bụng, nơi móc mắt, cắt tay: v.v... Duy chỗ để gông thì có ít nhiều thay đổi. Bên cạnh những cái vẫn còn nguyên hình như xưa thì lại có những cái trước bé nay đã lớn lên, có cái trước lớn, nay nhỏ hẳn đi. Đặc biệt cái gông mà Thủ Huồn chú ý nhất thì bây giờ đã rút ngắn lại tuy vẫn còn to và dài hơn các thứ gông thường một tý. Hắn lân la hỏi lão cai ngục: 
- Cái gông để ở nơi này trước kia tôi nhớ hình như to lắm thì phải. 
- Đúng đấy! Lão đáp. Có lẽ gần đây ở trên dương thế thằng cha ấy đã biết chuộc lỗi nên nó đã nhỏ lại. Nếu hắn gắng hơn nữa, thì rồi sẽ có phúc lớn. Thủ Huồn lại lên đất, trở về Gia-định. Hắn lại làm tiếp công việc bố thí cúng dàng. Lần này hắn bán hết tất cả những gì còn sót lại, kể cả nhà của của mình. Hắn đến Biên-hòa dựng một ngôi chùa lớn để cúng Phật. Hắn xuôi sông Đồng-nai để làm một việc nghĩa cuối cùng. Hồi đó ở ngã ba sông Đồng-nai và sông Gia-định việc đi lại rất bất tiện. Cũng vì thế mà bên kia sông Đồng-nai người ta còn ngần ngại chưa dám di cư sang để sinh cơ lập nghiệp. Thủ Huồn liền quyết định ở lại đây. Hắn kết một cái bè lớn, trên bè có nhà ở, có đủ chỗ nghỉ, có sẵn nồi niêu, đồ dùng và tiền gạo. Những thứ ấy hắn dùng để tiếp rước những người qua lại, nhất là những người nghèo khó. Hắn cho họ trú ngụ tại bè của mình kẻ năm ba ngày, người một đôi tháng mà không lấy tiền. Hắn làm công việc đó mãi cho đến ngày xuống âm phủ thật sự.
*

Sau đó khá lâu, có lần một ông vua tên là Đạo Quang (*) bên Trung-quốc lúc mới lên ngôi có cho sứ sang Việt-nam hỏi lai lịch một người ở Gia-định. Số là khi nhà vua mới sinh, người ta thấy trong lòng bàn tay vua có mấy chữ: "Đại-nam, Gia-định, Thủ Hoằng", nên nhà vua cần biết rõ gốc gác Thủ Hoằng là ai. Sau khi sứ giả cho biết rõ lai lịch Thủ Huồn, vua Trung-quốc có cúng vào ngôi chùa Biên-hòa ba pho tượng vàng. Do việc đó người ta bảo Thủ Huồn nhờ thành thực hối lỗi, chẳng những làm tiêu mất cái gông chờ hắn ở coi âm, mà còn được Diêm vương cho đi đầu thai làm vua Trung-quốc. Ngày nay, một ngôi chùa ở Biên-hòa còn mang tên là chùa Thủ Huồn: chỗ ngã ba sông Đồng-nai và Gia-định còn gọi là sông Nhà-bè để kỷ niệm lòng tốt của Thủ Huồn đối với khách hộ hành Nam Bắc qua con sông đó[2]. Có câu tục ngữ:
  Nhà bè nước chảy phân hai,
Ai về Gia-định Đồng-nai thì về.
 
KHẢO DỊ
Truyện trên giống với truyện Người đi dạo âm phủ cũng do Jê-ni-bren (Génibrel) sưu tập: Có hai vợ chồng một người ở Nam-định, nhà giàu có lớn. Họ sinh được một cô con gái rất xinh và khôn ngoan tên là Trần Thị Xuân. Đặc biệt là mỗi bàn tay có sáu ngón. Không may năm nàng mười ba tuổi thì bị lên đậu trời mà chết. Thương nhớ con gái, hai vợ chồng không thiết làm ăn gì nữa. Nghe nói ở Quảng-yên có chợ Mạnh-ma, ở đấy dương gian và âm phủ có thể gặp nhau được, hai vợ chồng bèn tìm đến, mong được gặp con. Họ có mang theo một cái quả bằng bạc sắm cho cô gái lúc còn sống. Nhằm ngày mồng một tháng Sáu họ đến chợ giả bày hàng ra bán. Lát sau, người con gái đến hàng mua trầu, trông thấy cái quả của mình liền hỏi chuyện. Cha mẹ nhận ra con nhờ có bàn tay sáu ngón của cô và được con mời đi dạo cảnh âm phủ. Chồng của cô là một viện quan giám thành, đưa cha mẹ vợ đi coi các cửa ngục. Khi đến cửa thứ nhất, hai vợ chồng thất kinh thấy tên tuổi của họ có yết ở cửa ngục. Họ vờ hỏi chàng rể tại sao có tên yết ở cửa, thì hắn bảo: - "Hai người đó ở dương gian cho người ta vay nợ một lớp vốn năm bảy lớp lời làm cho người ta phải bán vợ đợ con nên yết lên để chờ làm tội". Hai vợ chồng lại hỏi: - "Vậy chúng nó muốn khỏi tội thì phải làm thế nào?" - "Phải làm chay bố thí cho hết của đó, mới mong khỏi được". Trở về làng cũ hai vợ chồng dốc của cải ra đón sư làm chay và mạnh tay bố thí. Sau khi hết của họ lại lần mò ra chợ Mạnh-ma tìm con gái và định đòi xuống âm phủ xem thế nào. Nhưng cô gái vừa gặp cha mẹ đã bảo: - "Cha mẹ đã sạch tội rồi, không còn thấy tên ở cửa ngục nữa. Vậy chả cần xuống làm gì". Cả hai truyện trên có lẽ chịu ảnh hưởng từ một số phật thoại ngoại lai trong đó có truyện Mục Liên thăm mẹ ở địa ngục khá phổ biến ở Việt-nam (xem cuối truyện số19).
  Phần cuối truyện Thủ Huồn tương tự với Sự tích sư ông Huyền Chân Truyện bà Hiếu. Sự tích sư ông Huyền Chân: Xưa, ở chùa Quang-minh, xã Hậu-bổng (Hải-dương) có một hòa thượng nổi tiếng chân tu. Lúc về già, Phật Di-đà hiện lên báo mộng rằng: -"Nhà người có công với đạo Phật, kiếp sau sẽ cho giáng sinh làm vua Trung-quốc". Khi hòa thượng chết, đệ tử vâng lời thầy viết vào vai mấy chữ "Hòa thượng Huyền Chân chùa Quang-minh".
Về sau có lần sứ bộ Việt-nam sang Trung-quốc. Khi yết kiến, chánh sứ Nguyễn Tự Cường được vua Minh Hy Tông cho biết là mình sinh ra trên vai có mấy chữ, rửa mấy cũng không sạch, không biết đầu đuôi vì sao. Nguyễn Tự Cường về dò hỏi mới biết câu chuyện sư Huyền Chân, vội mang nước giếng chùa Quang-minh sang cho vua Trung-quốc. Kết quả, nước rửa đến đâu chữ mất đến đấy[3].  
Truyện bà Hiếu: Ở làng Linh-chiểu Đông (Gia-định) có người đàn bà tên là Hiếu nhà giàu, không có con cái. Bà bèn lập chùa Hòa-nghiêm bao vây một khoảng đất rộng để cho kẻ nghèo chôn cất làm phúc. Nhờ có công đức đó nên khi chết được đầu thai làm con gái vua Trung-quốc. Công chúa khi đẻ ra có chữ son "Gia-định, Linh-chiểu Đông, chùa Hoa-nghiêm" vua Trung-quốc cho là sự lạ, gửi giấy sang hỏi bên ta. Sau đó vua sai cúng vàng bạc vào chùa và xin đưa bài vị sang để thờ. Làng không chịu, chỉ làm một bài vị khác đưa sang cho vua Trung-quốc[4].

 ( theo http://maxreading.com)
 

(*) Đạo Quang ( 1782 - 1850 ) là vị vua thứ 8 của Nhà Thanh bên Tàu Hiệu là Tuyên Tông lên ngôi năm 1821, mất 1850.
 ( Huỳnh Hữu Đức Sưu Tầm )