Hiển thị các bài đăng có nhãn Dương Tử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dương Tử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 14 tháng 7, 2022

Boat Mother And Son Statue - Vịnh Tượng Đài Mẹ Bồng Con Vượt Biển

 

Boat Mother And Son Statue

(To sculptor Phạm Thế Trung)

Long time ago, holding her son, a Vietnamese woman
waited for her husband ang became A Coast Rock Statue (1)
Today, the husband is put into Hard Brain Washing Jails" (2)
The wife, holding son, despite multiple dangers, crosses ocean!

"Myself, my own body, oh my Honey! I do not care
I love You very much, You so little and innocent!
On high sea, waves are often enormous and terrible
and the sharks and Vikings always cruel and frequent!

But while the sharks and Vikings kill person and person
Communists kill,oh! generation and generation!
So, I do have the sacred duty to take you away
As your Dear Dad wished at the time of separation!

In this foreign country, the dear Canada, Our New One,
Our country is no more, oh Honey, where can we lean on?
I must work very hard, night and day, sonny and foggy
To get money, and grow you up and send you to school.

If you love me, Honey, try with all your strength to study
Get high graduations and successes in society
Then replace your Father, save our dear miserable fatherland
Do that our countrymen have enough Food and Liberty!

Dương Tử 
Oct.31st, 1998
 (1) "Husband Waiting Rock "(Hòn Vọng Phu)
(2) "Brain Washing Jails" (Tù Cải Tạo)
***
Cảm Đề Tượng Đài Mẹ Bồng Con Vượt Biển

Ngày xưa thiếu phụ bế con
Chờ chống hóa đá thành "Hòn Vọng Phu"
Ngày nay chồng bị đi tù
Bồng con vượt biển cho dù hiểm nguy!...

Thân Mẹ, mẹ có sá chi
Thương con thơ dại , tội gì gian nan?
Biển khơi sóng cả phũ phàng
Cá Xà, cá Mập, Cướp đàng như rươi!

Giặc, cá, giết hại từng người
Cộng sản giết hại đời đời cháu con!
Vậy nên Mẹ phải liệu toan
Bồng con lánh nạn cho tròn lời Cha!

Quê người, Canada, tạm gọi là nhà
Nhà còn đâu nữa để mà tựa nương?
Dãi dầu một nắng hai sương
Lo cho con trẻ đến trường đua tranh.

Thương Mẹ, con cố học hành
Mai sau đỗ đạt, thành danh với đời.
Dạy con, Con hãy nhớ lời
Thay cha Cứu nước, giúp người ấm no
Quê mình có được Tự Do!
 
Dương Tử 
31 tháng 8 ,1998

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2020

Văn Chương Pháp - Alexis Felix Arvers


Thi Sĩ Và Một Bài Thơ Nổi Tiếng
Alexis Felix Arvers Célébre Sonnet

I.-BIOGRAPHIE: Sơ lược tiểu sử

Qui est-ce ARVERS? Thi sĩ và Kịch tác gia Pháp nhờ một Bài thơ mà nổi tiếng. Tên đầy đủ là Alexis-Félix ARVERS,
Sinh ngày 23/7/1806 tại PARIS- PHÁP, mất ngày 7/11/1850, ở tuổi 45

“Tinh hoa phát tiết ra ngoài
Nghìn thu bạc mệnh, một đời tài hoa” (Kiều)

Là con của một thương gia rượu vang tại CÉZY, Hạt YONNE, cách Paris 162 km về phía Đông-Nam. Ông theo học ngành Luật và trở thành Clerc de notaire ( Lục sự), nhưng lại say mê văn chương, mà ông cho là “thiên phú” và năm 25 tuổi cho ra đời Thi Tập “Mes Heures Perdues” (Những tháng ngày đánh mất của tôi) năm 1833, trong đó có thi phẩm nổi tiếng truyền tụng cho đến nay: Bài thơ không tựa nên được người đời biết đến với cái tên SONNET vì làm theo thể thơ sonnet, hay rõ hơn SONNET D’ARVERS Baì thơ làm theo mẫu thơ sonnet của thi sĩ ARVERS ( sonnet là loại thơ 14 câu gồm 4 đoạn, 2 đoạn 4 câu và 2 đoạn 3 câu, theo vần điệu ấn định) 

Sonnet D’arvers

Mon âme a son secret, ma vie a son mystère
Un amour éternel en un moment conçu:
Le mal est sans espoir, aussi j'ai dû le taire,
Et celle qui l'a fait n'en a jamais rien su.

Hélas! j'aurai passé près d'elle inaperçu,
Toujours à ses côtés et pourtant solitaire;
Et j'aurai jusqu'au bout fait mon temps sur la terre,
N'osant rien demander et n'ayant rien reçu.

Pour elle, quoique Dieu l'ait faite douce et tendre,
Elle suit son chemin, distraite et sans entendre
Ce murmure d'amour élevé sur ses pas.

A l'austère devoir pieusement fidèle,
Elle dira, lisant ces vers tout remplis d'elle:
"Quelle est donc cette femme ?" Et ne comprendra pas!

Felix Arvers
Bản khắc họa ảnh Arvers

Năm 30 tuổi, ông bỏ hẳn ngành luật, chuyên viết kịch, lui tới các Salons littéraires (Câu lạc bộ văn nghệ), đặc biệt là Cénacle ARSENAL (Thi Hội ARSENAL) do Nhà văn Charles NODIER (Hàn lâm viện Pháp) chủ trì và các Hành lang Hí viện ( Galleries théâtrales). Các vở kịch của ông cũng có được chút tiếng tăm thời bấy giờ, nhưng sau nầy không còn được nhắc đến nữa.

Quả thật, cuộc đời thường nói chung và cuộc đời nghệ thật nói riêng của ông quá ngắn ngủi. Năm 1850, ở tuổi 45 ông bị chứng đau tủy cột sống (moelle épinière) và mất trong sự nghèo nàn và bị quên lãng (pauvre et oublié). 

II.-VĂN NGHIỆP,

Do bài SONNET của Ông quá nổi tiếng, nên ông được người đời tặng cho Biệt danh “ THI SĨ MỘT BÀI THƠ”. Thật ra, ngoài những vở kịch ngắn của ông được trình diễn trên sân khấu và cũng có chút ít tiếng tăm thời bấy giờ, ông còn sáng tác tất cả 32 bài thơ cho các thân hữu như A. De Musset, Alfred Tattet, Victor HUGO, Bury, MM Barthélemy & Méry, Charles X... về những đề tài như “Ce qui peut arriver à tout le monde” (việc có thể xảy ra cho mọi người), “Déclaration” (Tuyên cáo), “Examen de conscience” (Xét lương tâm), Fête du Peuple ( Lễ lộc trong dân chúng),...

Kiểm điểm, thấy có tất cả 32 bài thơ sáng tác cho các thân hữu và các đề tài sau đây:
Les 32 poèmes de Félix Arvers :

o À Alfred de Musset, À Alfred Tattet, À MM. Barthélemy et Méry, À Charles X, À Gianetta, À Madame ***, À mon ami ***,
À Victor Hugo, Bury, Ce qui peut arriver à tout le monde. Déclaration, Examen de conscience, Fête du Peuple,
o La femme adultère, L'amour caché, L'anniversaire, La pauvreté, La première passion, La ressemblance,.
o La Saint-Barthélemy, La vengeance, La vie, La villégiature, Le commencement de l'année, Le livre de mon cœur,.
Le poète, Le retour de la bien-aimée, L'immortalité, Lorsqu'autrefois, Ospitalita, Pourtant, si tu m'aimais,.
o Sonnet à mon ami R.
Ses poèmes classés par œuvres (thi phẩm xếp theo tập):
- Mes heures perdues (1833). Thời gian đã mất)
- Pièces inédites (1851) (Tác phẩm không được xuất bản) 

III.- CÁC GIAI THOẠI.

Vì khi ghi lại 14 câu của Bài thơ trên tập vở của Marie NODIER, Tác giả không có đề TỰA, nên người đời căn cứ vào nội dung và hình thức mà gán cho nó cái tên cho dễ nhớ và khỏi nhầm lẫn với các bài  thơ khác. Thí dụ:

-SONNET D’ARVERS hay ngắn gọn SONNET vì làm theo thể sonnet là 1 thể thơ cổ điển, có từng 
đoạn 4 câu (strophe), mỗi câu có 12 âm tiết (syllables), vần liền hay xen kẻ (như “ère” và “aire”, “cu”
và “su”...)
-“Amour Solitaire”, “Amour Désespéré”, “Amour Muet”, “Amour Sans Retour”, “Amour Platonique”
Tình Đơn Phương, Tình Tuyệt Vong, Tình Câm hay Câm Nín, Tình Một Chiều, Tình Lý Tưởng, v.v...là dựa theo nội dung.
Có người vẵn “tiếc dùm” cho tác giả: Sao không tìm cách “thố lộ tâm tư” để xem “đối tượng” phản ứng như thế nào? Ướm thử xem sao, có hy vọng gì không? Thật vậy, Không ít các mệnh phụ chán chê chồng vì nhiều lẽ, hoặc là vì chồng lớn tuổi, chồng bỏ bê để chạy theo công danh, bóng sắc, có chồng vì bị cưởng ép, cha mẹ đặt đâu ngồi đó...nên đôi khi cũng có ước mơ được giải thoát, hoặc trên thực tế, hay ít ra cũng trong tâm tư. Như nhà văn PHAN KHÔI, bị bỏ tù, còn được người thiếp của viên Chủ ngục tìm cách tỏ tình khi nhà văn “được” tên Chủ ngục cho giải đến nhà bắt viết câu đối Tết. Nhà văn Pháp G. Flaubert đã viết:”Les balconières et les fenêtrières sont faciles à  séduire” (Những mệnh phụ hay đứng ở hành lang hay cửa sổ thì dễ quyến rủ)

Nói thế là người ta nghĩ đến Bài thơ nổi tiếng không kém là Bài thơ Đường “TIẾT PHỤ NGÂM’ của
Tiết phụ ngâm 節婦吟 • Khúc ngâm của người tiết phụ

節婦吟

君知妾有夫, 
贈妾雙明珠。 
感君纏綿意, 
繫在紅羅襦。 
妾家高樓連苑起, 
良人執戟明光裡。 
知君用心如日月, 
事夫誓擬同生死。 
還君明珠雙淚垂, 
恨不相逢未嫁時。

Tiết phụ ngâm 

Quân tri thiếp hữu phu, 
Tặng thiếp song minh châu. 
Cảm quân triền miên ý, 
Hệ tại hồng la nhu. 
Thiếp gia cao lâu liên uyển khởi, 
Lương nhân chấp kích Minh Quang lý. 
Tri quân dụng tâm như nhật nguyệt, 
Sự phụ thệ nghĩ đồng sinh tử. 
Hoàn quân minh châu song lệ thuỳ, 
Hận bất tương phùng vị giá thì.

Dịch nghĩa 

Chàng biết em đã có chồng 
Tặng em đôi hạt châu sáng 
Cảm động trước tình đeo đẳng của chàng 
Em buộc vào áo lụa hồng 
Nhà em có lầu cao bên vườn hoa 
Chồng em cầm kích túc trực trong điện Minh Quang 
Vẫn biết lòng chàng trong sáng như mặt trời, mặt trăng 
(Nhưng) em đã thề cùng sống chết với chồng 
Trả lại chàng hạt châu sáng, hai hàng nước mắt ròng ròng 
Ân hận rằng không thể gặp nhau lúc chưa chồng.

Dịch ra tiếng Việt Vì là bài thơ quá hay nên có rất nhiều bản dịch ra Tiếng Việt (ít nhất là 16 bản), xin chọn 2 bản dịch sớm hơn hết của 2 học giả có tiếng là Ngô Tất Tố và  Trần Trọng Kim.

Bản dịch của Ngô Tất Tố
(Gửi bởi Vanachi ngày 19/02/2006)

Chàng hay em có chồng rồi, 
Yêu em chàng tặng một đôi ngọc lành. 
Vấn vương những mối cảm tình, 
Em đeo trong áo lót mình màu sen. 
Nhà em vườn ngự kề bên, 
Chồng em cầm kích trong đền Minh Quang. 
Như gương, vâng biết lòng chàng, 
Thờ chồng, quyết chẳng phụ phàng thề xưa. 
Trả ngọc chàng, lệ như mưa, 
Giận không gặp gỡ khi chưa có chồng.

Bản dịch của Trần Trọng Kim
(Gửi bởi Vanachi ngày 14/07/2006)

Chàng hay thiếp có chồng rồi 
Còn đem cho thiếp một đôi ngọc lành. 
Cảm lòng quyến luyến không đành 
Thiếp đeo vào áo lót mình màu sen 
Vườn kia nhà thiếp kề bên, 
Lang quân chấp kích trong đền Minh Quang 
Biết chàng bụng sáng như gương 
Thờ chồng thề quyết đá vàng chẳng sai. 
Gạt châu, trả ngọc chàng thôi, 
Tiếc không gặp gỡ đương thời còn son.

Nguồn: Trần Trọng Kim, Đường thi, NXB Văn hoá thông tin, 1995

Xin trở lại Bài Sonnet D’arvers

IV.-CÁC BẢN DỊCH BÀI SONNET 

Dĩ nhiên, vì đây là một thi phẩm nổi tiếng nên có nhiều bản dịch. Xin gởi kèm theo đây hai bản dịch ra Anh văn và một số bản dịch ra Việt văn để tiện việc tham khảo 

My Secret

My soul its secret has, my life too has its mystery,
A love eternal in a moment's space conceived;
Hopeless the evil is, I have not told its history,
And the one who was the cause nor knew it nor believed.

Alas! I shall have passed close by her unperceived,
Forever at her side, and yet forever lonely,
I shall unto the end have made life's journey, only
Daring to ask for naught, and having naught received.

For her, though God has made her gentle and endearing,
She will go on her way distraught and without hearing
These murmurings of love that round her steps ascend.

Piously faithful still unto her austere duty,
She will say, when she shall read these lines full of her beauty,
"Who can this woman be?" and will not comprehend.

Translated by Henry Wadsworth Longfellow
***
The Sonnet of Arvers (Le Sonnet d'Arvers) 
· Artist: Serge Gainsbourg
· Album: L'étonnant Serge Gainsbourg
· Song: Le Sonnet d'Arvers
French original (nguyên tác)


Le Sonnet d'Arvers

Ma vie a son secret mon âme a son mystère
Un amour éternel en un moment conçu
Le mal est sans espoir aussi j'ai dû me taire
Et celle qui l'a fait n'en a jamais rien su
Hélas j'aurai passé près d'elle inaperçu
Toujours à ses côté pourtant solitaire
Et j'aurai jusqu'au bout fait mon temps sur la terre
N'osant rien demander et n'ayant rien reçu
Pour elle quoi que Dieu l'ait faite douce et tendre
Elle ira son chemin distraite et sans entendre
Ce murmure d'amour élevé sur ses pas
À l'austère devoir pieusement fidèle
Elle dira, lisant ces vers tout remplis d'elle
"Quelle est donc cette femme ?"
Et ne comprendra pas.

***
English translation
Submitted by Gavier
The Sonnet of Arvers

My life has its secret my soul has its mystery
An eternal love conceived in a moment
Evil is without hope and I’ve had to keep quiet
And she who did it never knew anything about it
Alas I will have passed close to her unnoticed
Always at her side and yet alone
And I will have to the end spent all my time on earth
Not daring to ask for anything and receiving nothing
For her even though God made her sweet and gentle
She will go her way distracted and unhearing
This murmur of love raised by her steps
To austere duty piously faithful
She will say, reading these verses all filled with her
“So who is this woman?”
And will not understand

Và đây là Tình Tuyệt Vọng bản dịch của Nhà văn Khái Hưng, Thuộc Tự Lực Văn Đoàn, bị VM thủ tiêu tại Bến đò CỰA GÀ, Phủ Xuân Trường, Tỉnh Nam Định. 

Sơnnet De Félix Arvers - Khái Hưng dịch

Lòng ta chôn một khối tình 
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu 
Tình tuyệt vọng nỗi thảm sầu 
Mà người gieo thảm như hầu không hay 
Hỡi ơi, người đó ta đây 
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân 
Dẫu ta đi trọn đường trần 
Chuyện riêng đâu dám một lần hé môi 
Người dù ngọc nói hoa cười 
Nhìn ta như thể nhìn người không quen 
Đường đời lặng lẽ bước tiên 
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình 
Một niềm tiết liệt đoan trinh 
Xem thơ nào biết có mình ở trong 
Lạnh lùng, lòng sẽ hỏi lòng: 
"Người đâu tả ở mấy giòng thơ đây".

Và nhiều dịch giả khác nữa, mời vào xem trong Encyclopedia vì bài viết khá dài không thể chép ra đây hết được (cũng như những bản dịch của bài TIẾT PHỤ NGÂM)


V.-THƠ NHÁI (IMITED POEMS, PASTICHES) PASTICHES ET REPRISES

Vì sự “thầm lặng”, “câm nín” của Arvers, nhiều thi sĩ tức tối, đua nhau làm những Bài Thơ Nhái để vui với nhau,  vô hình chung “làm quảng cáo” cho Arvers, nội dung đại để như lối “xướng họa” của mình vậy, tác giả của những Pastiches tự đặt mình vào địa vị của một người bạn, hay chính người “đàn bà” trong mộng của Arvers: 
-“Ông bạn ơi! Làm gì mà Ông giữ kín như vậy chứ? Nói ra đi! Ông không nói ra, ai mà biết được Ông muốn gì mà “đáp ứng”. Cầu đi chứ, không cầu sao có được?”
-“Này Ông bạn ơi! Làm gì mà giữ kín như vậy, Ông bạn không nói ra “chúng tôi” cũng đã biết tổng Ông bạn muốn gì rồi! Trời cho phụ nữ chúng tôi có những giác quan bén nhạy, chỉ cần nhìn cái nhìn “đắm đuối”, cử chỉ “lúng ta lúng túng” của Ông bạn là chúng tôi biết ngay. Nhưng vì tôi đã có chồng và tôi muốn gìn giữ lòng trung thành với  nhà tôi nên làm ngơ đấy thôi. “I xin U”
-Thậm chí có một “Ông bạn” kể lại máy xe. vỏ xe mình có vấn đề, nhưng may quá thắng kịp tại một ngã đường vắng không đụng một phụ nữ, tưởng đâu êm, không ngờ cảnh sát cho ticket và khi người phụ nữ nầy đọc báo hay được  câu chuyên bèn rủa “đồ chauffard lái xe ẩu tả” và đó là “điều bí mật the secret “ của anh ta!

Ghi chú: Pastiches vắn tắt “work of art that mixes styles or copies the style of the another artist tác phẩm có cóp nhặt ít nhiều phong cách hoặc nhại theo tác phẩm của một nghệ nhân khác”. Tương tự như “Xướng Họa “ của chúng ta vậy.

Sau đây xin chép ra vài Pastiches nói trên: nội dung đại khái như: Sao lại bảo rằng “kín đáo”, “không ai biiết”, “tuyệt vọng”? 

-Bạn chưa nói ra, mọi người đều biết, trời sinh người đàn bà nhạy cảm, chỉ cần thấy cử chỉ lúng túng của bạn và những dư luận chung quanh là đoán được ngay bạn muốn gì

-Sao bạn lại dấu kín mà không thổ lộ ra? Có nói ra người ta mới biết bạn muốn gì chứ. Không cầu sao có được? Nói ra đi chứ

-Chắc chắn là “người đàn bà thần tượng “ của bạn cũng đã biết, nhưng vì muốn giữ lòng chung thủy với chồng nên không nói ra đấy thôi: “Elle avait bien compris, mais ne le đisait pas” 

Pastiche De Louis Aigoin 

Ami, pourquoi me dire avec tant de mystère
Que l'amour éternel en votre âme conçu
Est un mal sans espoir, un secret qu'il faut taire
Et comment supposer qu'elle n'en ait rien su ?

Non, vous ne pouviez point passer inaperçu,
Et vous n'auriez pas dû vous croire solitaire.
Parfois les plus aimés font leur temps sur la terre
N'osant rien demander et n'ayant rien reçu.

Pourtant Dieu mit en nous un coeur sensible et tendre.
Toutes, dans le chemin, nous trouvons doux d'entendre
Le murmure d'amour élevé sur nos pas.

Celle qui veut rester à son devoir fidèle
S'est émue en lisant ces vers tout remplis d'elle :
Elle avait bien compris, mais ne le disait pas.

***
Ssecond Pastiche De Louis Aigoin 

Mon cher, vous m'amusez quand vous faites mystère
De votre amour immense en un moment conçu,
Vous êtes bien naïf d'avoir voulu le taire :
Avant qu'il ne fût né, je crois que je l'ai su.

Pouviez-vous, m'adorant, passer inaperçu,
Et, vivant près de moi, vous croire solitaire ?
De vous il dépendait d'être heureux sur la terre :
Il fallait demander et vous auriez reçu.

Apprenez qu'une femme au coeur épris et tendre
Souffre de suivre ainsi son chemin sans entendre
L'aveu qu'elle espérait trouver à chaque pas.

Forcément, au devoir on reste alors fidèle ;
J'ai compris, vous voyez, ces vers "tout remplis d'elle":
C'est vous, mon pauvre ami qui ne compreniez pas.

***
Pastiche De Maurice Donnay

Mon âme a son secret, ma vie a son mystère,
Un déplorable amour en un moment conçu,
Mon malheur est public et je n'ai pu le taire,
Quand elle m'a trompé, tout le monde l'a su.

Aucun homme à ses yeux ne passe inaperçu,
Son coeur par-dessus tout craint d'être solitaire :
Puisqu'il faut être deux pour le bonheur sur terre,
Le troisième par elle est toujours bien reçu.

Seigneur, vous l'avez faite altruiste et si tendre
Que, sans se donner toute, elle ne peut entendre
Le plus discret désir murmuré sur ses pas ;

Et fidèle miroir d'une chère infidèle,
Elle dira lisant ces vers tout remplis d'elle :
"Je connais cette femme." et n'insistera pas.

***
Pastiche De Madame Gay 

Es-tu bien sûr, ami, qu'elle n'ait pu l'entendre,
Ce murmure d'amour élevé sur ses pas ?
La femme, crois-moi, sait toujours le comprendre
Ce langage muet qui se parle tout bas.

Si Dieu l'avait créée à la fois douce et tendre,
Elle a dû se livrer de douloureux combats
Et tenir à deux mains son coeur pour le défendre
Contre un amour si vrai qu'il ne se trahît pas.

A l'austère devoir pieusement fidèle,
Sa vertu la plus haute était peut-être celle
De paraître insensible et distraite à ta voix.

Penses-tu seul avoir un secret dans ton âme ?
Il est sur cette terre, ami, plus d'une femme
Qui garde un front serein tout en traînant sa croix.

***
Autre Pastiche

Mon cadre a son secret, ma toile a son mystère :
Paysage éternel en un moment conçu,
Suis-je un pré, suis-je un bois ? Hélas ! je dois me taire,
Car celui qui m'a fait n'en a jamais rien su.

Ainsi je vais passer encore inaperçu.
Toujours assez coté, et pourtant solitaire,
Et mon auteur ira jusqu'au bout de la terre,
Attendant la médaille et n'ayant rien reçu.

Le public, quoique Dieu l'ait fait gobeur et tendre,
Va passer devant moi, distrait, et sans entendre
Malgré mes tons criards, mon appel sur ses pas.

Au buffet du Salon, pieusement fidèle,
Il dira, dégustant son bock tout rempli d'ale :
" Quels sont ces épinards ?" et ne comprendra pas.

***
Autre Pastiche 

Ma Ford a son secret, mes pneus ont leur mystère.
Par un brusque freinage, en un moment conçu,
J'ai failli déraper, aussi j'ai dû me taire :
Celle que j'épargnai n'en a jamais rien su.

Hélas ! je croyais bien passer inaperçu
Ayant stoppé dans un carrefour solitaire,
Mais un agent survint s'élançant ventre à terre,
M'infligeant une amende et m'en donnant reçu.

Pour elle, quoique Dieu l'ait faite agile et tendre,
Elle m'aurait frôlé, distraite, et sans entendre
Le coup de frein brutal qui protégea ses pas.

Au journal du matin pieusement fidèle,
Elle dira, lisant ce fait tout rempli d'elle:
"Quel est donc ce chauffard ?" et ne comprendra pas. 

VI.-Historique ET DÉDICATAIRE:( LAI LỊCH CỦA BÀI THƠ VÀ NGƯỜI ĐƯỢC ĐỀ TẶNG) 

Hai vấn đề còn lại là bài thơ viết ra lúc nào và đề tặng cho ai.

Năm 1833, trong một buổi tham dự Họp Mặt Văn Nghệ tại Câu Lạc Bộ CÉNACLE ARSENAL do Nhà văn CHARLES NODIER (VIỆN HÀN LÂM) chủ trì, trong một lúc ngẩu hứng, ARVERS viết 14 câu thơ trên quyển sổ của MARIE NODIER, Ái nữ của CHARLES, tức Mme MENNESSIER (đã có chồng), không TỰA , không ĐỀ TẶNG AI ( sans TITRE, sans DÉDICATAIRE), Đó mới là cái rắc rối cho người đời sau. Về Tựa thì cứ thi nhau gán cho hết tựa nầy đến tựa khác như đã nói ở trên, nhưng còn “tặng ai”thì thật sự chưa dứt khoát:

1/ Phần đông cho là tặng cho Marie NODIER, vì lẽ viết trên tập của Marie, nếu không sao lại viết trên đó. Nhưng lại cũng có người phản bác cho là một người kín đáo, trọng đạo đức, không dám nói “yêu một người có chồng” thì sao lại có thể viết lời tỏ tình như thế trên sách vở người đó, phải vậy không? Có thể là xem Marie “như cháu” và mượn tập giấy của cháu để ghi tâm sự của mình 

2/ Có người cho là Mme HUGO, Victor HUGO, tức Adèle HUGO vì hai vần “FIDÈLE” và “ELLE” trong đoạn thơ cuối tương tự như “ADÈLE”,

Điều nầy được Général ARVERS, anh họ của thi sĩ ARVERS xác nhận là do người Cha lập lại nhiều lần vì Mme HUGO cò trẻ đẹp lắm và biết đâu ARVERS thầm yêu trộm nhớ “Le coeur a ses raisons que La Raison ne connait pas!” 

3/ Theo Jean-Pierre FONTAINE, trong “Les Nouveaux Mystères de l’Yonne” (Yonne quê của ARVERS) thì “người được tặng thơ” là bạn thân của ARVERS hồi còn nhỏ nên hai người không thể “yêu nhau” được , cô nầy lại chết yểu và được chôn cùng Nghĩa trang với ARVERS.

4/ Có người lại cho rằng:” Không nhất thiết phải có một người bằng xương bằng thịt nào đó, như ELVIRE của LAMARTINE, THI SĨ có thể tưởng tượng một “nhân vật” để làm thơ tặng “cho có đối tượng”, điều nầy có thể lắm, ai mà biết được sự “ngẩu hứng” của thi sĩ? , nhưng Elvire lại là tên LAMARTINE đặt cho một người yêu có thật ( sẽ có bài nói về LAMARTINE)

Sau cùng có một chi tiết lý thú do Encyclopedia nêu ra là ngay cả GRAND DICTIONNAIRE UNIVERSAL của Pierre LAROUSSE, Ấn bản mới, LE NOUVEAU LAROUSSE, cũng còn nhầm lẫn “ma vie” và “mon coeur” từ nào trước, từ nào sau, mãi cho đến 1914 mới xác định!

Dương Tử 
(Sept 20, 2017)

                                                                                                                                               

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2020

Một Trang Văn Chương Lãng Mạn Pháp: Chuyện Tình Của Nữ Sĩ George Sand


Một chuyện tình khá sôi nổi trong LỊCH SỬ VĂN CHƯƠNG NƯỚC PHÁP. 

“George Sand” nhìn thoáng qua cứ tưởng như là Bút danh của một nam nhân, nhưng đây lại là Bút danh của một Nữ sĩ. Nhưng tại sao Bà lại chọn Bút danh của một nam nhân? Vì Bà muốn đường hoàng bước vào Làng Văn với tư cách một VĂN SĨ không phân biệt NAM hay NỮ. Nhưng tại sao lại phải phân biệt Nam Nữ trong lãnh vực Văn nghệ chứ? Đấy, cá tính cứng cỏi của Bà như thế, chống lại mọi bất công Phân biệt giới tính nói riêng và bất công xã hội nói chung.

Thuở thiếu thời, Bà thích ăn mặc như con trai, hút thuốc, cởi ngựa…Bà kết hôn rất sớm và cũng sớm li dị, sau đó thì đơn thương độc mã lên PARIS để tự lập, kiếm sống bằng nghề viết báo, viết văn, từng có những tư tưởng và hoạt động Chính trị, Xã hội, thuộc Nhóm GLOBE của Pierre LEROUX (1717-1871), bênh vực người nghèo, chống lại những bất công xã hội,những tập tục cũ kỹ, gò bó, sáng tác các Tiểu thuyết xã hội, mô tả cảnh đồng quê, đời sống của giai cấp bình dân ( Le Compagnon du Tour de France, Francois le Champi, Consuelo, La Mare au Diable, La Petite Fadette…)

Bà là Nữ sĩ hiếm hoi, cũng như sau nầy có FRANCOISE SAGAN, dám nghĩ, DÁM SỐNG THẬT, dám làm theo cảm nghĩ của mình và DÁM NÓI THẬT, dám nói lên, dám viết ra những việc làm của mình (Elle et Lui, L’Histoire de Ma Vie), bất chấp dư luận, cho dù có kẻ khen, người chê, tùy theo thành kiến. Chúng ta cho đó là sự can đảm vượt bực.

Cá tính thì như thế, nhưng trong TÌNH TRƯỜNG, nhiều lúc Bà tỏ ra YẾU ĐUỐI, ĐA TÌNH, ĐA CẢM, MÊ MUỘI và chiều theo bản năng NHỤC DỤC, như những thí dụ sau đây:

*Đang đưa người yêu Alfred de MUSSET, nhỏ hơn Bà 6 tuổi, đi chữa bệnh tại thành phố VENISE, Bà lại ngã vào vòng tay của tên bác sĩ tâm thần “lắm bạc, nhiều tài nghệ trong tình trường”, đang chữa bệnh cho Musset, khiến cho cuộc tình đẹp đẻ của Bà và Chàng thi sĩ trẻ rạn nứt và tai hại hơn nữa là do hành vi “phản bội” của Bà, Musset khi lành bệnh trở lại PARIS, buồn chán, sống buông thả, trụy lạc, mượn rượu giải sầu, và do đó sức khỏe và sự nghiệp văn chương của Chàng cũng “xuống dốc” luôn!

*Cũng với Musset, đang lúc say đắm trong cuộc tình, Bà đã không ngần ngại trả lời tỉnh bơ, không e thẹn, khi Musset “đòi hỏi”:
-“Quand voulez-vous que je couche avec vous?”
-“Cette nuit!”

Và trong một giai thoại khác, trong bài thơ “mời mọc” Musset, Bà không ngần ngại ởm ờ “của em” như thế nầy (profonde, étroite), “của anh” như thế kia (longue, dure, grosse), khiến độc giả phải đỏ mặt và so sánh thơ bà với thơ của Nữ sĩ HỒ XUÂN HƯƠNG .

*Cuộc tình với MUSSET chưa thực sự ngã ngũ, thì năm 1838, Bà gặp Nhạc sĩ tài ba Frédéric CHOPIN, cũng nhỏ hơn Bà 6 tuổi, rồi đem lòng say mê người nhạc sĩ nầy, hy sinh, hết lòng chăm sóc cho Chàng trong lúc Chàng đang bị bệnh phổi và cùng sống say mê, hạnh phúc bên nhau trong suốt 7 năm trời (1839-1846) trong lâu đài ở NOHANT của Bà, để rồi sau đó cũng hờn giận, tan rả, đúng như một câu Triết lý đã nói: “Mỗi người trong chúng ta chỉ gặp nhau một đoạn đường trong cuộc đời”, không chia tay sớm thì cũng chia tay khi chết!

CUỘC ĐỜI VÀ CÁC TÁC PHẨM CỦA GEORGE SAND:

George Sand et Dudevant

- CUỘC ĐỜI (1804-1876)

Bà khuê danh là Aurore DUPIN, sau hôn nhân thì được biết dưới tên là Nữ Bá tước DUDEVANT (Baronne DUDEVANT), bút danh George Sand, sinh tại PARIS năm 1804 mất năm 1876 thọ 72 tuổi. Bà thuộc dòng dõi quí tộc ở NOHANT, Miền Trung nước Pháp (Comm.. de l’Indre,Départment de la Région Centre), mồ côi Cha năm lên 4, nhưng sớm đưọc theo học về các môn Văn (tiếng La tinh) và Khoa học.

Có một điều đặc biệt là cuộc đời và các tác phẩm của Bà biến chuyển theo những quan hệ tình cảm nóng bỏng của Bà (Sa vie et son oeuvre évoluèrent au gré de ses attachements passionnés)

1/ Bá tước DUDEVANT (Baron DUDEVANT) 

Năm 1822, lúc18 tuổi, Bà kết hôn với Bá tước DUDEVANT và có với ông 2 con, một trai, một gái, nhưng chỉ được tám năm thì li dị năm 1830, Bà 26 tuổi. chồng Bà giữ con trai, Bà giữ con gái.

2,JULIEN SANDEAU


dit Jules (1811-1883)- Académicien Francais ( Hàn lâm viện sĩ Pháp), nhỏ hơn George 7 tuổi. George toàn yêu những người đàn ông nhỏ hơn Nàng 6,7 tuổi, xử sự như người Mẹ, người Chị, thương yêu, bảo bọc, chăm sóc, che chở, mà những anh Chàng nầy lại mê mệt Nàng mới lạ, có lẽ chỉ vì Nàng đẹp, trông trẻ hơn tuổi thật, có những nét đẹp, cử chỉ đặc biệt quyến rủ, hay còn có bí quyết tình trường nào khác chăng, sách vỡ không thấy nói.

Sau khi ly dị, G. SAND bỏ lên Paris tự lập, viết Báo và viết Văn để “kiếm sống” và họp tác với nhà văn SANDEAU, Julien SANDEAU, theo kiểu “già nhân ngải, non vợ chồng”, để viết tác phẩm “Rose et Blanche” (1831), nhưng không bao lâu thì hai người chia tay , chấm dứt mối tình “chênh lệch tuổi tác”

Ca dao Vlệt Nam có câu

“Chồng già vợ trẻ là duyên
Vợ già chồng trẻ là tiên trên đời”

Không biết có phải đúng như thế không mà cuộc hôn nhân nào của Nàng với những ông chồng trẻ cũng trắc trở, chia ly!

. Tuy nhiên, chính sự họp tác với SANDEAU đã giải thích Bút danh của Bà: Bà sửa bút hiệu của Julien SANDEAU môt chút để làm bút hiệu của mình: Jules SAND, đánh dấu sự họp tác của 2 người trong lúc còn mặn nồng và sau khi chia tay, Bà thay chữ Jules bằng chữ George, thế là thành George SAND. George là tên đàn ông, nhưng Bà không care, Bà muốn như thế, vì quan niệm rằng trong văn chương, đàn ông cũng như đàn bà và không hơn gì đàn bà. 

3/ Alfred de MUSSET (1880-1857)


Văn, Thi sĩ và Nhà viết kịch Pháp, nhỏ hơn Bà 6 tuổi,con nhà quyền thế, bẩm chất thông minh, không thích môn Khoa học, bằng cớ là khước từ không theo học Trường ĐH Bách Khoa POLYTECHNIQUE như ý muốn của gia đình, nhưng lại có năng khiếu về văn chương và sớm nổi tiếng với Contes d’Espagne et d’Italie (1830). Trong khi George SAND viết văn để kiếm sống thì A. de MUSSET làm thơ, viết kịch, để vui chơi. Họ gặp nhau tại nhà Giám đốc Báo REVUE DES DEUX MONDES, “rất tâm đầu ý hợp”, “tiếng sét ái tình đã bùng nổ” và một mối tình sôi nổi, nóng bỏng đã xảy ra giữa nữ sĩ 29 tuổi và thi sĩ và kịch tác gia trẻ 23 tuổi với sự cổ vũ, tán đồng của giới văn nghệ sĩ Paris. Nhũng vở kịch không thành công lắm và tiếp theo cuộc tình bảo tố với George SAND đã làm đảo lộn cuộc sống của Chàng ( Des essais malheureux au théâtre, et puis une liaison orageuse avec George Sand bouleversèrent sa vie). Đôi tình nhân say đắm bên nhau, dùng văn thơ đối đáp nhau, lã lơi với nhau.

Chàng Alfred “mèo nheo” Nàng George:

Quand le vous fais, hélas, un éternel hommage
Voulez-vous qu’un instant je change de langage?
Vous seule possédez mon âme et mon coeur

Que ne puis-je avec vous gouter le vrai bonheur!
Je vous aime, ma belle, et ma plume en délire
Couche sur ce papier ce que je n’ose dire.
Avec soin de mes vers, lisez les premiers
Vous saurez quel remède apporter à mes maux!

A.de MUSSET
Cette grande faveur que votre ardeur réclame
Nuit peut-être à l’honneur mais répond à ma flamme.

G. SAND

Trên đây là loại thơ Khoán thủ (Acrotiche), nếu đem ráp các từ đầu của các câu thơ sẽ có lời đối đáp “ngây thơ vô số tội” của đôi Nhân tình đang say đắm yêu nhau!

Tạm dịch 

Thư gửi: Khi hiến dâng nhau cả tấm lòng

Nào ai không nghĩ chuyện trăm năm
Em đang ngự trị tim anh đó
Cho đến bao giờ được sống chung?

Anh muốn nói yêu lại ngại ngùng
Được vần mược bút tỏ tình chung
Yêu em anh nếm mùi tân khổ
Em đọc thư nầy sẽ cảm thông.

Phúc đáp: Đêm đêm vẫn biết anh say đắm
Nay đáp tình anh nghĩ thẹn lòng! 

Và đây là thơ “mời mọc” của Nàng George gửi Alfred, lời lẽ âu yếm , ý tứ nhẹ nhàng như bất cứ một bức thư tình nào khác, nếu đọc toàn bức thư, nhưng nếu ráp các “câu lẻ” (in đậm) lại với nhau thì đó là những lời quyến rũ, khiêu gợi, dung tục với những nhóm từ như “toute nue”, “ la plus profonde comme la plus étroite”, “bien longue, bien dure et souvent grosse”… 

Cher Ami,

Je suis très émue de vous dire que j’ai
bien compris l’autre soir que vous avez
toujours une envie folle de me faire
danser. Je garde le souvenir de votre
baiser et je voudrais bien que ce soit
une preuve que je puisse être aimée
par vous. Je suis prête à vous montrer mon …
affection toute désintéressée et sans calcul et si
Vous voulez vraiment me voir aussi
vous dévoiler sans artifice mon âme
toute nue, venez me faire une visite!
Nous causerons en amis, franchement.
Je vous prouverai que je suis la femme
sincère, capable de vous offrir l’affection
la plus profonde comme la plus étroite
en amitié, en un mot la meilleure preuve
que vous puissiez rêver, puisse que vôtre …
âme est libre. Pensez que la solitude où j’habite est
bien longue, bien dure et souvent
difficle. Ainsi, en y songeant j’ai l’âme
grosse. Accourez donc vite et venez me la
faire oublier par l’amour où je veux me
mettre entièrement.

George SAND

Đây là một bức thư tình viết bằng văn xuôi, nhưng được trình bày theo hình thức một bài thơ, với lốl ngắt câu bất thường, như thường thấy trong văn chương Việt Nam, và một vài lỗi cố ý cho hợp với ý muốn diễn đạt.

Nhưng cuộc tình say đắm nào rồi cũng đến lúc đổ vở

“Tình mất vui khi đã vẹn câu thể
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dỡ”
(Ngập Ngừng-Hồ Dzếnh)

Một ngày kia, trong khi đôi tình nhân đang dạo chơi trong một khu rừng, thình lình Alfred, không biết “ông ứng bà hành” gì, tự nhiên giở chứng điên loạn, khiến George lo sợ, đưa Chàng đến VENISE tìm Thầy chữa trị bệnh tâm thần, hy vọng trong cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp, Alfred sẽ chóng lành bệnh, nhưng rồi “định mệnh an bài”, “tai họa ập đến” trong giây phút cô đơn , yếu lòng, Nàng đã buông thả như đã trình bày ở phần trên. Cả hai cùng đau khổ, giận hờn, nhưng không thể quên nhau, chia tay rồi gặp lại; làm hòa để rồi lại gây gổ, lại chia tay, cứ đuổi bắt nhau như thế trong suốt hai năm trời. “Yêu là chết trong lòng” “nhiều” chứ không phải “một ít” như một thi sĩ đã viết.. 

Phần Alfred, Chàng tự dằn vặt trong khổ đau, muốn tìm quên trong các cuộc tình ít nhiều sóng gió và tai tiếng với các fans của mình, nhưng không thể được, muốn đoạn tuyệt với quá khứ cũng không xong

A D I E U

Il est temps, ô mon Coeur, de faire nos adieux
Je vais partir bientôt sur la route des hommes
Je vous laisse, ô mon Coeur, les souvenirs trop vieux
D’un cher passé mourant en ses lointains aromes.

Les rêves d’autrefois, ah, je sais ce que c’est
Coeur,coeur de dix-huit ans, vous êtes une tombe
Où retentit encore du fossoyeur lassé
Le bruit lugubre et sourd du lourd pilon qui tombe.

Car je me sens très las de porter, ô mon coeur
L’inutile regret des choses qui sont mortes
Voyez, l’âge est venu sur ma jeunesse en fleur
Le hibou a trois fois crié devant nos portes.

Il est temps, il est temps, de faire nos adieux
Je veux tout oublier de mes lointaines heures.
Je vais vivre ma vie et rallumer les feux
Les feux qui sont éteints dans nos pauvres demeures.

Alfred de MUSSET

Chua chát, đắng cay. Một trong những tác phẩm của Chàng sáng tác trong giai đoạn nầy mang tựa đề “LE MERLE BLANC”, được đánh giá là tầm thường, mô tả một con sáo ĐEN (loài sáo cũng như loài quạ có lông đen), trong một đêm, rụng hết lông đen mọc lông trắng, trở thành một con sáo TRẮNG, ám chỉ việc “thay lòng đổi dạ” của người yêu Chàng. Mà hình như cái xã hội bấy giờ cũng lạ, họ xem việc “ngoại tình”, “phản bội nhau” là việc “bình thường”, họ công khai ve vãn nhau dù biết rằng đối tượng đã có gia đình. Trong tác phẩm LA PRINCESSE DE CLÈVE,Hầu tước NEMOURS biết rằng Công nương De CLÈVE xinh đẹp đã có chồng, mà vẫn cứ theo ve vãn cho bằng được. Trong chuyện tình của G.Sand và A. de Musset, hình như họ đứng cả về phe Nàng George. không thấy ai bênh vực Chàng và kết tội Nàng cả! Chàng cô đơn, quẩn trí là phải. Thời bấy giờ, người đàn ông bị “cặm sừng” là “đáng xấu hổ” vì thua kém,“bất tài vô tướng”,không nên làm “to chuyện” mà cần phải che dấu, chịu đựng, câm nín và tìm cách lảng quên. 

Nói thì nói vậy, chứ tuy biết rằng “Hạnh phúc của con người ta là quên, nhưng không thể quên thành ra khổ đau”. Chàng cứ miệt mài trong các cuộc truy hoan, rượu chè túy lúy “mượn rượu giải sầu”( dục phá thành sầu dụng tửu binh), nhưng giải sầu đâu chẳng thấy, chỉ biết là cuộc sống không lành mạnh đã ảnh hưởng đến sức khỏe, tư cách đạo đức và văn phong của Chàng, đến nỗi các nhà xuất bản, các nhà đạo diễn sân khấu từ chối các sáng tác của Chàng. Quá chán chường với cuộc sống, Chàng mòn mõi đi lần đến cái chết non ở tuổi 47 (1810-1857), để rồi người đời cứ đổ thừa cho số mạng: “thiên tài mệnh yểu”, mà chẳng qua là chỉ vì “lụy vì tình quá sớm”!” Đa tình thiên cổ lụy” mà! 

Còn Nàng thì già dặn hơn, khôn ngoan hơn, đau khổ thì cũng có đau khổ, nhưng những lúc đau khổ, Nàng biết lui về tìm sư yên tịnh, khuây khỏa nơi đồng quê, trong tòa lâu đài của tổ phụ ở NOHANT, để nhờ thời gian hàn gắn vết thương lòng.

4/Pierre LEROUX (1797-1871) 

Trong số các bạn vong niên , trong giai đoạn nầy, George có giao du thân mật và chịu ảnh hưởng của một Lảnh tụ Chính trị Xã hội là Pierre LEROUX, lớn hơn Nàng 7 tuổi, sáng lập viên Nhóm CTXH GLOBE, thành ra tư tưởng, tác phẩm của Nàng trong giai đoạn nầy cũng chuyển hướng theo, tức là từ khuynh hướng tình cảm (inspiration sentimentale) như trong Indiana, Lélia…, sang khuynh hướng xã hội (sociale) như trong Le Compagnon du Tour de France, Consuelo,…)) và thôn dã như trong La Mare au Diable, Francois le Champi, La Petite Fadette. 

5/ Frédéric CHOPIN ( 1810-1849)


 Đến năm 1838, ở tuổi 34, G, Sand gặp gở và say mê F. Chopin 28 tuổi, cũng nhỏ hơn Nàng 6 tuổi.
Đôi bên cảm mến và yêu nhau vì tài sắc. 
Lúc bấy giờ Frédéric đã nổi tiếng Dương cầm thủ và Nhà Soạn nhạc tài ba, góc người Balan, Cha là người Pháp làm nghề dạy học. Mẹ là một Nhạc sĩ . Họ gặp nhau là lúc Chopin đang dốc hết tài ba và sức khỏe soạn 24 bài Hòa tấu OPÉRA, làm việc bất kể giờ giấc, suốt ngày đêm, trong điều kiện khắc nghiệt, thiếu thốn, lạnh lẻo của mùa Đông , sức khỏe giảm sút rõ rệt, nên chớm mắc bệnh Lao phổi. Chính trong giai đoạn nầy, George như người Mẹ, người Chị đã tận tình, hy sinh chăm sóc cho Chopin qua cơn bệnh hiểm nghèo để rồi từ 1839 đến 1846, trong 7 năm, tình nghĩa gắn bó, họ đưa nhau về sống hạnh phúc bên nhau trong tòa lâu đài của George ở NOHANT. 

. Chính tại lâu đài sang trọng nầy, trong niềm hạnh phúc chan chứa, Chopin đã cho ra đời những Bản nhạc bất hủ như LA POLONAISE HÉROIQUE, LA 4ÈME BALLADE, LES DERNIÈRES VALSES, LA BARCAROLLE.

Nhưng, lại nhưng,” định mệnh lại xen vào”. Tình yêu bắt đầu bớt nồng thắm từ năm 1847 để rồi đi đến đổ vở vì một lý do không đâu: đó là sự cải nhau giữa George và người con gái riêng của Bà, mà Chopin thì lại bênh vực người con gái nầy, khiến George giận sôi lên, “từ” Chopin luôn, không thèm nhìn mặt. Chỉ một năm sau, hai người mới tình cờ gặp lại nhau lần cuối, để vĩnh biệt nhau, như một bài hát

“Vẩy tay, vẩy tay chào nhau
Vẩy tay chào nhau lần cuối và trọn cuộc đời!” (trích từ một bài hát) 

Trước khi Chopin rời sang Anh quốc và mất ở đấy hai năm sau, năm 1849, vì bệnh lao, hưởng dương 39 tuổi. Lại thêm một thiên tài mệnh yểu có dính dáng đến người đẹp George SAND!

Riêng George SAND, kể từ “ngũ thập tri thiên mệnh”, bà sống một cuộc sống ổn định trở lại, thanh thản, “thân tâm an lạc”, để lại sau lưng những cuộc tình sôi nổI, nóng bỏng thời son trẻ, mà Bà không quên kể lại trong hai quyển CHÀNG VÀ NÀNG (Elle et Lui) và CÂU CHUYỆN ĐỜI TÔI (L’Histoire de ma vie) và mất năm 1876,hưởng thọ 72 tuổi.

Dương Tử 
(June. 2014)

Chú Thích:

TÁC GIẢ:


-DƯƠNG NGỌC SUM, Cử nhân giáo khoa Văn chương (ĐHVK SAIGON)
-Giáo sư các Khóa Cải ngạch GSĐIC, các Trường PETRUS KÝ và SƯ PHẠM SAIGON , Trường VĂN HÓA QUÂN ĐỘI, TRƯỜNG CỐP 63 HÙNG VƯƠNG
Một số Tư thục TÂN VĂN, ĐẮC LỘ, ĐỒNG NAI, HUỲNH THỊ NGÀ, HOÀNG NGUYÊN, các Khóa bồi dưỡng, các Lớp Tráng niên, Bổ túc Văn Hóa, Các Lớp Thiếu niên thất học, bụi đời. Xóa Nạn Mù Chữ
-Phụ Tá Giám học (Lớp Ngày) và Giám học (Lớp Đêm) Trường PETRUS KÝ 
-Thanh Tra 
-Phụ Tá Khối Nghiên Cứu và Phát Triển Giáo Dục tại Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên/ Việt Nam Cộng Hòa.