Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014

Bên Trời Phiêu Lãng - Phạm Đình Chương - Sĩ Phú

      Những năm sau 75 nhiều người đã bỏ quê hương ra đi, khi ra đi là nghĩ rắng lần đi này là sinh ly tử biệt sẽ không còn gặp lại gia đình, bạn vè và người thương, Nên một thời gian dài vằn vặt đau thương cùng nỗi nhớ ...và tiếc nuối về người yêu còn ở lại, Sống ở xứ người nhưng trong lòng lúc nào cũng mang nhiều nỗi nhớ Từng góc phố con đường kỷ niệm trở về trong tâm thức càng làm cho nỗi nhớ dâng đầy khôn nguôi. . .


Sáng Tác: Phạm Đình Chương
Tiếng Hát: Sĩ Phú
Trình Bày: Nguyễn Thế Bình

Chờ Một Kiếp Mai



    (Cảm tác từ San Sẻ của Kim Oanh)

Anh lại tiếc thời mình còn trẻ
Đã yêu nhưng không giữ được người
Anh chỉ ước một đời đằm thắm
Đi bên nhau tay nắm bàn tay
Nhưng em đi tháng ngày hoang dại
Con sông buồn dòng nước chia hai
Trôi về đâu đời không chung hướng
Anh vẫn chờ, chờ một kiếp mai.


Biện Công Danh

Rước Lễ Đầu Năm - Vũ Bạch Hằng CHS Kỹ Thuật Vĩnh Long

Vũ Thị Bạch Hằng kính tặng cô Lê Thị Kim Phượng  

Vũ Bạch Hằng Rước Lễ Ngày Đầu Năm
Thầy Nguyễn Ngọc Tân & Cô Anh, Vũ Bạch Hằng, Thúy Vi
(Thầy Ngọc Tân là Cựu Giáo Sư Vĩnh Long)
Vũ Bạch Hằng, Thúy Vi

Vũ  Thị Bạch Hằng
( Cựu Học Sinh Kỹ Thuật Vĩnh Long)

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Cây Rọi Mù U


      Tôi sinh ra và lớn lên với cả tuổi thơ nơi quê nghèo Đồng Tháp, mấy mươi năm trôi qua nhưng ký ức vẫn còn đong đầy biết bao kỷ niệm thuở nào.

       Nhớ những sớm hừng đông theo Tía ra ruộng thăm lúa trổ đồng đồng, chạy rượt con chim nhỏ trên bờ đê vấp ngả lấm lem, trưa cả bọn rủ nhau tìm hớt bọt lia thia, bắt con ong bầu làm hát máy, xế chiều lật đất cày bắt con dế lửa, đêm về đốt rọi mù u ê...a tập đọc đánh vần, tuổi thơ đã qua với bao điều thân thương tiếc nhớ.

       Thưở ấy nhà quê nghèo khó lắm, không có tiền mua dầu lửa nên ngày nào tôi cũng ra sau vườn lượm hết những trái mù u chín rụng, đem về đập lấy ruột cho Tía Má ủ rồi quấn rọi thấp sáng mỗi đêm, hể chạng vạng tối là tôi giành phần đốt rọi, riếc rồi ghiền cái mùi thơm thôn dã nhẹ nhàng của hương khói mù u.
       Thời gian dần trôi, đưa đẩy mình thành người thành thị lúc nào không hay, rồi dần quen với ánh đèn điện sáng, với gió nóng bụi đường, nồng ngạt mùi mưa tràn nước cóng, thở ngọp cay với khói kẹt xe, điếc dần với tiếng ồn phố xá.


       Thỉnh thoảng mỗi khi về quê tôi lại lượm vài chục trái mù u về làm rọi, đốt cháy rọi mù u ngồi hít thật sâu hương quê thời thơ ấu, nhìn ánh rọi lung linh mờ tỏ mà ngỡ như có Tía Má bên mâm cơm tối, có tô canh bông bí má vừa mới cắt, có ơ cá rô đồng Tía vừa bắt chiều nay, phải chăng quê hương không chỉ là "chùm khế ngọt,,,là đêm trăng tỏ...là con diều biếc" mà còn có cả những điều bình dị như cây rọi mù u.

Phủ Hiền
26/02/2014


Hương Mù U


 

     (Cảm xúc từ bài Cây Rọi Mù U của Phủ Hiền)

Hò ơi......Người đi có nhớ ngày xưa
Nhớ cây đèn rọi đêm mưa não lòng
Nhớ chiều cùng Tiá bắt cá rô đồng
Nhớ mùi thôn dã hương nồng mù u?

Hò ơi.... Người đi ôm lấy trăng thu
Quên thời cây rọi mù u thuở nào
Má ngồi tựa cửa chờ trước ngó sau
Đứa con xa xứ mau mau trở về?

Đêm nay trở lại mái lá chòi quê
Lung linh ánh rọi song thân cận kề

Hò ơi...ru con giấc ngủ say mê
Quên đi những lúc nhiêu khê cuộc đời!

Kim Oanh
27/2/2014

Cô Hàng Kem

       Nếu không lầm thì hội chợ Tết này là cùng hội chợ Hoài Tử viết "Hội Chợ Đêm Tống Phước Hiệp". Tết vào đầu năm 73 dương lịch .... Đây quán Kem Thanh Bình và cô chủ Hà mà Hoài Tử đã có lần đến. Kem đựng trong cốc sâm banh và chiếc thìa nho nhỏ .... Theo hiểu biết thì ít khi cô chủ tiếp khách.
       Cảm tác từ Hội Chợ Tết Quán Bến Xuân, Lớp 11B3, niên khoá 1972.



Tôi về đó mùa hè chang nắng đỗ
Vĩnh long lười con lộ đã ngủ trưa
Hàng cây sao mỏi mệt ngóng gió lùa
Ngôi bệnh viện oan hồn tìm bóng mát

Cổ sa mạc, mồ hôi dường đã đặc
Kem Thanh Bình dọc phố ghé nghỉ chân
Cốc sâm banh viên ngọc rượi mang mang
Ôi! Mát quá, hay vì tay cô chủ

Kem đặc quánh mà như giòng thác lũ
Chảy vào hồn theo tiếng nhạc giục đưa
Tựa suối trong từ vạn cỗ bốn mùa
Tràn dâng khắp những vết cằn sỏi đá

Phố bật dậy khi chiều nghiêng nắng hạ
Tôi chần chừ chưa muốn bước chân hoang
Xe Honda, xe lôi tranh qua ngang
Phan Thanh Giản đường mạch tim vụt sống

Vào trả tiền để nhìn đôi tay mọng
Mắt tôi thành tên trộm cắp làn da
Để miên man lớp tuyết mỏng mịn mà
Đang nhẹ trải lên phố thành nhiệt đới

Dốc cầu Lộ không là núi vời vợi
Mà đôi giày khập khểng bước lên qua
Nhìn giòng sông ngầu đục dấu phù sa
Như mơ mộng chợt đắp bồi trong máu

Qua giáo đường in nền chiều ẩn dấu
Thánh giá sầu bên ngả ba đời nhau
Những chia tay không muốn cũng bắt đầu
Như lối rẽ Cần Thơ hay Ông Cảnh

Đêm Vĩnh Long tô hủ tiếu sóng sánh
Cọng hẹ mềm mà ngỡ bút em xanh
Đưa lên môi nghe nét chữ lịm dần
Theo những ngón cô hàng kem nho nhỏ

Mai mốt tôi hành trang xa ngôi phố
Vĩnh long còn em đó thoảng bâng khuâng
Sa mạc tôi ít ra cũng một lần
Trong khao khát có chút gì rất mát

Hoài Tử

Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Nhạc Sĩ Khánh Băng - Huy Tâm Biên Soạn & Diễn Đọc



Radio VNHN - Chương Trình Tác Giả & Tác Phẩm Kỳ 1.
Nhạc sĩ Khánh Băng.
Biên soạn và Diễn đọc: Huy Tâm

Thủy Gia Trang 2/2014

Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

CHS Bán Công Nguyễn Thông 4B1 - 1966





Kim Phượng

Lợi Châu Nam Độ

      Đầu Xuân ,nắng ấm , thấy được một vài nét đẹp chữ nghĩa lấp lánh trong một bài thơ xưa , lòng vui khôn ngăn muốn được chia sẻ cùng với mọi người thân quí trong nhà. Thế thôi. Còn chuyện thoát vòng danh lợi thị phi thế tục, tâm hồn an nhiên ,hưởng thú trăng nước trời cho thì nhà giáo tôi thật tình không dám lạm bàn.  
PKT 02/22/2014
 Lợi Châu Nam Độ - Ôn Đình Quân (- 859 -)

Đạm nhiên không thủy đới tà huy
Khúc đảo thương mang tiếp thúy vi
Ba thượng mã tê khan trạo khứ
Liễu biên nhân yết đãi thuyền quy
Sổ tùng sa thảo quần âu tán
Vạn khoảnh giang điền nhất lộ phi
Thùy giải thừa chu tầm Phạm Lãi
Ngũ Hồ yên thủy cộng vong ky

Dịch Xuôi : Qua Bến Đò Nam Lợi Châu


Sông nước lững lờ chở nắng cuối ngày trôi
Khúc đảo xanh xanh vòng quanh chân núi xanh
Trên sóng nước, ngựa hý , nhìn thuyền chèo đi
Bên bờ liễu ,khách đợi , ngóng thuyền quay về
Bầy chim âu chạy xao xác , quanh mấy bụi cỏ trên bãi cát
Một cánh cò bay lờ lững trên cánh đồng mênh mông dọc ven sông
Có mấy ai hiểu được chuyện chèo thuyền đi tìm Phạm Lãi
Để cùng hưởng thú Ngũ Hồ khói nước ,thoát khỏi vòng danh lợi thị phi .

Chú Thích :
(1) Lợi Châu , tên đất thuộc huyện Quảng Nguyên , tỉnh Tứ Xuyên
(2) Phạm Lãi , người nước Việt . Chuyện kể , sau khi giúp Việt Vương Câu Tiễn diệt được nước Ngô của Phù Sai , đã cùng người đẹp Tây Thi sống mai danh ẩn tích ở Ngũ Hồ, vùng có năm hồ (Động Đình Hồ, Ba Dương Hồ , Sào Hồ , Thái Hồ , Chung Hồ ) thuộc các tỉnh Hồ Nam , Giang Tô , và Chiết Giang.

         Qua Bến Đò Chiều
             

Lững lờ,sông nước, ráng chiều sa,
Khúc đảo, mờ xanh, chân núi xa.
Ngựa hí, chèo xuôi, khua sóng nổi ,
Liễu buông, khách đợi, ngóng thuyền qua.
Vài con âu chạy, quanh lùm cỏ ,
Một cánh cò bay, dưới nắng tà...
Ai hiểu chuyện xưa, ông họ Phạm,
Ngũ Hồ ẩn tích, lánh phù hoa? 

                     Phạm Khắc Trí
 * * *

       Đỗ Chiêu Đức tham gia với các phần sau đây :

    1. Bản chữ Hán của bài thơ :

      利洲南渡                 Lợi Châu Nam Độ

 澹然空水對斜暉,  Đạm nhiên không thủy đối tà huy,
 曲島蒼茫接翠微。  Khúc đảo thương mang tiếp thúy vi.
 波上馬嘶看棹去,  Ba thượng mã tê khan trạo khứ,
 柳邊人歇待船歸。  Liễu biên nhân yết đãi thuyền qui.
 數叢沙草群鷗散,  Sổ tùng sa thảo quần âu tán,
 萬頃江田一鷺飛。  Vạn khoảnh giang điền nhất lộ phi.
 誰解乘舟尋范蠡?  Thùy giải thừa chu tầm Phạm Lãi?
 五湖煙水獨忘機。  Ngũ hồ yên thủy độc vong ki.( cơ ).
                      
                    溫庭筠                                 Ôn Đình Quân

   2. Nghĩa Bài Thơ :
      Nước sông lắp loáng phản chiếu long lanh dưới ánh nắng chiều, bờ đảo xanh xanh nối tiếp với rặng núi xanh biêng biếc. Mắt trông người đi ngựa hí trên thuyền đang lướt sóng ra khơi, trên bến đò dưới rặng liễu một nhóm người còn đang đợi thuyền quay trở lại. Khi thuyền qua các bụi cây trên bờ đảo làm kinh động lũ hải âu tung bay tứ tán, bên nây bờ ruộng mênh mông vạn mẫu chỉ một cánh cò đơn độc thẳng cánh tung bay. Ai biết được trong lòng ta đang muốn lướt thuyền ra khơi để đi tìm Phạm Lãi, trong cảnh khói sóng mênh mông của Ngũ Hồ mới dễ khiến cho người ta quên đi cái tâm cơ tầm thường của thế tục !

  3. DIỄN NÔM :

                    Qua Bến Lợi Châu

Lắp lánh sông trôi dưới nắng chiều,
Xanh xanh núi đảo một màu rêu.
Sóng xô ngựa hí chèo khua nước,
Thuyền đợi người mong liễu rũ xiêu.
Bãi cỏ đàn âu bay tan tác,
Cánh cò ngàn mẫu lượn tiêu diêu.
Ai hay Phạm Lãi tìm vui thú,
Mây nước Ngũ Hồ ân oán tiêu.
                        Đỗ Chiêu Đức.

* * *  

Mailoc xin gửi bản dịch sau đây .

       Qua miền Nam Lợi Châu 

Chiều bảng lảng nước sông xanh biếc , 
Đảo quanh co núi tiếp xanh rờn . 
Thưyền đi ngựa hí sóng vờn , 
Dừng chân tựa liễu khách chờ thuyền quây . 
Bờ cát cỏ chim bầy xao xác , 
Một cánh cò man mác đồng không . 
Ai tìm Phạm Lải thuyền dong ,
 

Ngủ Hồ khói nước để mong quên đời . 
                                      Mai Lộc

* * *

Lộc Mai xin góp bài phỏng dịch cùng Thầy và các bạn:

              Bến Đò Chiều


Con sông lờ lững chở ngày trôi
Đảo biếc vòng chân núi cuối trời
Ngựa hí, thuyền chèo rời bến vắng
Người chờ, liễu rũ ngóng đò xuôi
Chim âu xao xác quanh cồn cỏ
Cò trắng chập chờn giữa khoảng khơi
Ai đã theo dòng tìm Phạm Lãi
Thảnh thơi xa lánh chuyện trên đời?
                                Lộc Mai (Phương Hà)

* * * 

Quên Đi cũng xin góp vui.

    Qua Bến Nam Lợi Châu.

Sắc ráng nhoà trong nước lững lờ
Kề nhau đảo núi một màu lơ
Sóng đùa ngựa hí chèo khua động
Liễu rũ mong thuyền khách ngẩn ngơ
Đám cỏ ven bờ âu tản mác
Bên sông đồng rộng vạc bơ vơ
Đi tìm Phạm Lãi thuyền không lối
Khói nước Ngũ Hồ tựa giấc mơ.

                                   Quên Đi


* * * 
      Kính  Thầy và các bạn "thơ than vườn nhà "
      Thấy vài vận bài thơ phỏng dịch của Lộc Mai hay hay. Song Quang xin mượn tạm vài đoạn để ghép vào bài phỏng dịch của mình để mua vui cùng nhóm vườn nhà. Mời quý vị cùng đọc để cộng hưởng với người xưa.

      Qua Bến Đò Chiều

Nắng tà theo nước chở chiều trôi!
Ốc đảo xanh xanh tiếp núi đồi
Ngựa hí, thuyền xuôi theo sóng biếc
Đò về, khách đợi liễu buông lơi
Chim âu xào xạc quanh cồn cỏ
Cò trắng lượn lờ ruộng lúa khơi
Ai hiểu chuyện đi tìm Phạm Lãi?
Ngũ Hồ ẩn náu lánh xa đời.
                          Song Quang

Lịch Sử Tỉnh Vĩnh Long -1832

 

        Tỉnh Vĩnh Long xưa nguyên là đất Tầm Đôn - Xoài Rạp (đất Tầm Đôn còn gọi là xứ Tầm Đôn, vị trí trung tâm của Tầm Đôn xưa thuộc khu vực của Tỉnh Vĩnh Long cũ, nay thuộc khu vực TP Vĩnh Long ). Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào nam kinh lý thì vùng này còn để cho dân khai phá, lập trang trại một cách tự do. Về địa giới hành chánh của VL cũng lắm "thăng trầm" ....Tỉnh Vĩnh Long được thành lập vào năm 1832 thời chúa Nguyễn. Sau khi Pháp cưỡng chiếm 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, bỏ khung hành chính nam kỳ lục tỉnh. Vĩnh Long bị chia ra làm 3 tỉnh: Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long.

       Chuyện về địa giới hành chánh của VL cũng lắm. "thăng trầm" Năm 1732 chúa Nguyễn đặt vùng này làm châu Định Viễn. Năm 1803, đổi tên thành dinh Hoằng Trấn, năm 1804 cải tên thành dinh Vĩnh Trấn, đem 2 đạo Long Xuyên và Kiên Giang thuộc Hà Tiên về đây, năm 1808 cải tên thành trấn Vĩnh Thanh, thăng châu Định Viễn làm phủ Định Viễn. Năm 1810 trả lại hai đạo Long Xuyên và Kiên Giang về Hà Tiên, đến 1832 phân hạt gọi là tỉnh Vĩnh Long, nhập thêm phủ Lạc Hoá (gồm 2 huyện Tuân Ngãi và Trà Vinh), tăng thêm huyện Vĩnh Trị đồng thời cho tách 2 huyện Vĩnh Định, Vĩnh An và đạo Châu Đốc về lập tỉnh Kiên Giang. Năm 1867, Pháp cưỡng chiếm 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, bỏ khung hành chính nam kỳ lục tỉnh. Vĩnh Long bị chia ra làm 3 tỉnh: Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long. Sau 1975, Vĩnh Long và Vĩnh Bình nhập lại thành tỉnh Cửu Long, đến năm 1991 lại chia ra thành Vĩnh Long và Trà Vinh như cũ.

       Việc thành Vĩnh Long 2 lần thất thủ 1867, dẫn đến việc tự sát của Phan Thanh Giãn. Song đất VL xưa và nay luôn là miền đất trù phú, ngoài việc là nơi miệt vườn với cây trái sum xuê còn là một vườn ươm nghệ thuật với nhiều nghệ sĩ đờn ca tài tử trứ danh một thời.

        "Từ thời Pháp thuộc sang đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa, Bến Tre, Trà Vinh, Sa Đéc, Cần Thơ lần lượt tách ra làm thành tỉnh mới, Vĩnh Long chỉ còn lại phần đất nằm giữa Tiền Giang và Hậu Giang, tiếp giáp với các tỉnh Tiền Giang (Định Tường) ở phía Bắc, Đồng Tháp (Kiến Tường) ở phía Tây, Cần Thơ (Phong Dinh) ở phía Nam, và Trà Vinh (Vĩnh Bình) ở phía Đông.

 (Nam Kỳ Lục Tỉnh 1841-1862)
          Địa lý
        Diện tích:      1.475,2 km²
        Dân số:         1.044.900 người (năm 2003)
        Mật độ:        708 người / km²
        Nông thôn:   85,16%
        Thành thị:     14,84%
        Tỉnh lỵ:         Thành phố Vĩnh Long
        Các huyện:  Long Hồ, Mang Thít, Bình Minh, Tam Bình, Trà Ôn, Vũng Liêm.
        Dân tộc:       Việt (Kinh), Khmer, Hoa, Gia Rai.
        Miền:            Đồng bằng sông Cửu Long - miền Nam Việt Nam.

       Thông tin khác
        Mã điện thoại: 70
        Mã bưu chính: 91000
        ISO 3166-2      VN-49
        Biển số xe:      64

       Hành chính
 
       T
rước ngày 30/04/2009
      Tỉnh Vĩnh Long trước ngày 30/04/2009 gồm có 1 thị xã Vĩnh Long và 7 huyện là:
  • Huyện Bình Minh
  • Huyện Bình Tân
  • Huyện Long Hồ
  • Huyện Mang Thít
  • Huyện Tam Bình
  • Huyện Trà Ôn
  • Huyện Vũng Liêm
         


       Từ ngày 30/04/2009
       Thành phố Vĩnh Long được thành lập bao gồm diện tích tự nhiên, đơn vị hành chính và toàn dân số của thị xã Vĩnh Long hiện nay. Sau khi được thành lập, thành phố Vĩnh Long có tổng diện tích tự nhiên là 4.800,8 ha với 147.039 nhân khẩu. Đơn vị hành chính gồm có 7 phường là phường 1, phường 2, phường 3, phường 4, phường 5, phường 8, phường 9 và 4 xã là: xã Trường An, xã Tân Hòa, xã Tân Ngãi, xã Tân Hội.

       Thành phố Vĩnh Long có địa giới hành chính: Đông và Nam giáp huyện Long Hồ tỉnh Vĩnh Long, Tây giáp huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp, Bắc giáp sông Tiền.

       Thành phố Vĩnh Long cách thành phố Sàigòn 136km về phía tây nam. Tỉnh Vĩnh Long là trung tâm và là hình ảnh thu nhỏ của đồng bằng sông Cửu Long bởi sự đa dạng và trù phú của vùng đất giữa hai dòng sông lớn Tiền Giang và Hậu Giang. Phía bắc tỉnh Vĩnh Long giáp Tiền Giang, tây bắc giáp Đồng Tháp, đông giáp Bến Tre, đông Nam giáp Trà Vinh, phía nam giáp Hậu Giang, Sóc Trăng, tây nam giáp Cần Thơ.

       Địa hình tỉnh Vĩnh Long tương đối bằng phẳng, sông rạch chằng chịt, giao thông thuận tiện. Trên địa bàn tỉnh có quốc lộ 1A và quốc lộ 53 đi ngang qua, đây là cầu nối giao thông quan trọng giữa Tp. Sàigòn và Tp. Cần Thơ. Sông, rạch chằng chịt, cù lao nhiều, phù sa màu mỡ, rất thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái.

       Vĩnh Long có khí hậu nhiệt đới 2 mùa. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Nhiệt độ trung bình năm là 27ºC, lượng mưa trung bình năm từ 1.300-1.500mm.

       Là tỉnh ở giữa đồng bằng sông Cửu Long, Vĩnh Long có đất đai màu mỡ do được sông. Tiền và sông Hậu bồi đắp phù sa hàng năm. Trồng trọt là một thế mạnh của tỉnh. Bên cạnh cây lúa (90% diện tích đất trồng lúa), hàng năm người dân Vĩnh Long còn thu hoạch hàng trăm ngàn tấn trái cây như cam, nhãn, quít, bưởi, dừa... và chăn nuôi gia súc, gia cầm.
       Vĩnh Long có nhiều đình, chùa như đình Long Thanh, tịnh xá Ngọc Viên, chùa Phước Hậu, chùa Tiên Châu, chùa Saghamangala...

       Dân tộc, tôn giáo: Vĩnh Long có 3 dân tộc chính : Việt, Khmer, Hoa. Người Khmer trong tỉnh tuy chiếm tỉ lệ nhỏ (2%), nhưng nơi đây vẫn mang đậm nét truyền thống văn hóa lễ hội của người Kh'mer.

       Giao thông: Bến xe khách liên tỉnh cách trung tâm thành phố khoảng 5km. Có các tuyến đi bến xe miền Tây ở Sàigòn, Tp. Cần Thơ, Mỹ Tho, Long Xuyên, Sa Đéc, Rạch Giá và các nơi khác trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long. 

        Lịch sử
   
(Dinh Long Hồ)
  
       Vĩnh Long ngày nay là một phần của Long Hồ dinh, được hình thành từ năm 1732, bao gồm các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và một phần của Cần Thơ 

        Năm 1732, Chúa Nguyễn thứ bảy là Ninh vương Nguyễn Phúc Trú (1696-1738) đã lập ở phía Nam dinh Phiên Trấn đơn vị hành chính mới là dinh Long Hồ, châu Định Viễn, tức tỉnh Vĩnh Long ngày nay. Lỵ sở của dinh Long Hồ lúc mới thành lập đóng ở thôn An Bình Đông, huyện Kiến Đăng, được gọi là đình Cái Bè. Đến năm Đinh Sửu (1757) thì chuyển đến xứ Tầm Bào (thuộc địa phận thôn Long Hồ, nay là thị xã Vĩnh Long). Thành Long Hồ được xây dựng tại xứ Tầm Bào là thủ phủ của một vùng rộng lớn. Nhờ đất đai màu mỡ, giao thông thuận lợi, dân cư đông đúc, việc buôn bán thông thương phát đạt, địa thế trung tâm…, dinh Long Hồ đã trở thành một trung tâm quan trọng thời bấy giờ. Để bảo đảm an ninh quốc gia, Chúa Nguyễn đã thiết lập ở đây nhiều đồn binh như ở Vũng Liêm, Trà Ôn...

        Đến giữa thế kỷ 18, dinh Long Hồ là thủ phủ của vùng đất phía nam và là đại bản doanh của quân đội nhà Nguyễn có nhiệm vụ phòng thủ, ổn định và bảo vệ đất nước. Sử cũ còn ghi: Vào năm Canh Dần 1770, tại vùng đất này, lưu thủ dinh Long Hồ đã chặn đánh tan tác quân Xiêm La do Chiêu Khoa Liên cầm quân, tiêu diệt 300 tên địch, làm tan vỡ âm mưu xâm chiếm nước Việt của chúng. Nơi đây cũng từng diễn ra nhiều cuộc giao chiến ác liệt giữa nghĩa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh. Năm 1784, tại sông Mang Thít (Vĩnh Long) nghĩa quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã đánh bại liên quân Xiêm La do Nguyễn Ánh cầu viện.

       Thay đổi hành chính qua các thời kỳ
 (Không Ảnh Vĩnh Long Từ Năm 1966-1967)
       Ngày 27/6/1951, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ (thuộc chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) nhập hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Trà. Huyện Tiểu Cần được nhập vào huyện Càng Long. Tỉnh Vĩnh Trà tồn tại đến năm 1954.

       Trước 1948, huyện Chợ Lách (tỉnh Bến Tre) thuộc tỉnh Vĩnh Long; sau đó giao cho Bến Tre; đến giai đoạn 1957–1965, huyện Chợ Lách giao về cho tỉnh Vĩnh Long. Năm 1966, tách huyện Chợ Lách về tỉnh Bến Tre.
Trước năm 1948, hai huyện Cầu Kè, Trà Ôn thuộc tỉnh Cần Thơ; từ 1948–1950, hai huyện này thuộc tỉnh Vĩnh Long; Từ năm 1951–1954, thuộc tỉnh Vĩnh Trà; Từ năm 1954–1971, huyện Cầu Kè, huyện Trà Ôn thuộc tỉnh Trà Vinh. Thời kỳ 1971–1975 huyện Trà Ôn thuộc tỉnh Vĩnh Long.

        Chính quyền Việt Nam Cộng hòa (Đệ nhất Cộng Hoà) chia tỉnh Vĩnh Long làm 6 quận, 22 tổng, 81 xã (Nghị định số 308-BNV/NC/NĐ của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 8/10/1957):

Quận Châu Thành Vĩnh Long có 5 tổng: Bình An, Bình Long, Long An, Phước An, An Mỹ Đông; quận lị: Long Châu.
  • Quận Chợ Lách (nay là huyện thuộc tỉnh Bến Tre) có 5 tổng: Bình Hưng, Bình Xương, Bình Thiềng, Minh Ngãi, Thanh Thiềng; quận lị: Sơn Định.
  • Quận Tam Bình có  3 tổng: Bình Định, Bình Phú, Bình Thuận; Quận lị: Tường Lộc.
  • Quận Bình Minh có 3 tổng: An Ninh, An Khương, An Trương; Quận lị: Mỹ Thuận.
  • Quận Sa Đéc có     4 tổng: An Thạnh, An Trung, An Thới, An Mỹ Tây; Quận lị: Tân Vĩnh Hòa. Năm 1966 nhập vào tỉnh Sa Đéc mới lập.
  • Quận Lấp Vò có  2 tổng: Phong Thới, Phú Thượng; quận lị: Bình Thành Đông. Năm 1966 nhập vào tỉnh Sa Đéc mới lập.
        Sau có thêm quận Cái Nhum do tách từ quận Chợ Lách ra, và ngày 31/5/1961, quận Cái Nhum đổi thành quận Minh Đức (nay là huyện Mang Thít). Quận lị đặt tại xã Chánh Hội.
Ngày 11/7/1962 lập thêm 2 quận Đức Tôn (quận lị đặt tại Cái Tàu Hạ) và Đức Thành (quận lị đặt tại Hòa Long). Năm 1966 cả 2 quận nhập vào tỉnh Sa Đéc mới lập.

      Theo Nghị định số 856-NĐ/NV của Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa ngày 2/8/1969 thì Vĩnh Long có 7 quận, 18 tổng, 65 xã:
  • Quận Châu Thành Vĩnh Long có 4 tổng: Bình An, Bình Long, Long An, Phước An; quận lị: Long Châu.
  • Quận Chợ Lách có 3 tổng:  Bình Hưng, Bình Xương, Minh Ngãi; quận lị: Sơn Định.
  • Quận Tam Bình có 2 tổng: Bình Phú, Bình Thuận; quận lị: Tường Lộc.
  • Quận Bình Minh có 2 tổng: An Ninh, An Trương; quận lị: Mỹ Thuận.
  • Quận Minh Đức có 2 tổng: Bình Thiềng, Thanh Thiềng; quận lị: Chánh Hội.
  • Quận Trà Ôn có 2 tổng:  Bình Lễ, Thạnh Trị; quận lị: Tân Mỹ.
  • Quận Vũng Liêm có 3 tổng: Bình Hiếu, Bình Quới, Bình Trung; quận lị: Trung Thành.
       Năm 1976, Vĩnh Long đã sáp nhập với Trà Vinh thành tỉnh Cửu Long. (đầu năm 1976)
       Ngày 26/12/1991 lại tách ra thành hai tỉnh riêng như cũ. Khi tách ra, tỉnh Vĩnh Long có diện tích 1487,34 km², dân số 975.281 người, gồm thị xã Vĩnh Long và 5 huyện: Long Hồ, Vũng Liêm, Bình Minh, Tam Bình, Trà Ôn.

         Ngày 13/02/1992 tái lập huyện Mang Thít từ huyện Long Hồ.
       Ngày 31/07/2007 thành lập huyện Bình Tân, Bình Tân được tách từ huyện Bình Minh
       Ngày  30/04/2009 thành lập Thành phố Vĩnh Long trên cơ sở của Thị xã Vĩnh Long

         Nguời Vĩnh Long

(Trương Vĩnh Ký )
( Phan Liêm)
(Bùi Hữu Nghĩa)

      Ngoài truyền thống lịch sử, Vĩnh Long còn là nơi hội tụ anh hào. Nhiều danh nhân được sinh ra tại đây. Tiêu biểu có: nhà nghiên cứu văn hóa Trương Vĩnh Ký, Bùi Hữu Nghĩa, anh em Phan Tôn, Phan Liêm.
      Các chính khách có: Trần Văn Hương, cựu Thủ tướng và Tổng thống của Việt Nam Cộng Hòa.
      Trong lĩnh vực văn nghệ có:
  • Nữ nghệ sỹ cải lương Lệ Thủy: quê ở huyện Bình Minh. Cô có một giọng ca đặc biệt (giọng kim pha thổ). Đoạt giải Thanh Tâm năm 1964. Được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú năm 1993. Các vở tuồng để lại dấu ấn: Cây sầu riêng trổ bông', Tô Ánh Nguyệt, Đời cô Lựu, Kiếp chồng chung, Áo cưới trước cổng chùa.
  • Cố nghệ sỹ Út Trà Ôn: một ngôi sao sáng của bộ môn nghệ thuật cải lương. Ông sinh năm 1918 tại huyện Trà Ôn Vĩnh Long, tên thật là Nguyễn Thành Út, mất 13 tháng 8 năm 2001. Ông đã trải qua các sân khấu lớn như: Thống nhất, Dạ Lý Hương, Thanh Minh Thanh Nga... ca khúc để đời của soạn giả Viễn Châu: Tình anh bán chiếu.
  • Kỷ lục gia Tòng Sơn: độc tấu kèn Acmônica quê ở Cầu Thiềng Đức - Phường 5  thị xã Vĩnh Long, có biệt tài vừa thổi kèn acmônica vừa ăn chuối vừa uống bia. Năm 2007 tròn 77 tuổi vẫn đang biểu diễn tại các sân khấu như Trống Đồng hay các quán bar tại Sài Gòn.
       Kinh tế
       Vĩnh Long là tỉnh chủ yếu trồng cây lúa nước và cây ăn quả.
      Tỉnh có 119.000 Ha đất nông nghiệp, sản lượng lương thực 950.000 tấn/năm. 90% hộ gia đình làm nghề nông. Vĩnh Long nổi tiếng khắp Việt Nam với đặc sản bưởi Năm Roi  ở xã Mỹ Hoà - huyện Bình Minh. 

        Văn hóa, di tích lịch sử

 (Văn Xương Các Vĩnh Long)
      Do địa thế và lịch sử hình thành, từ ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa cùng sinh sống lâu đời ở đây đã hòa quyện và tạo nên một nền văn hóa đặc trưng cho vùng đất này. Vĩnh Long có khá nhiều loại hình văn học dân gian như: nói thơ Vân Tiên, nói tuồng, nói vè, hát Huê Tình, cải lương...

     Đến nay, Vĩnh Long vẫn còn lưu giữ và phát huy rất nhiều loại hình văn học dân gian như: nói thơ Vân Tiên, nói tuồng, nói vè, hát huê tình, cải lương... Nhưng đặc sắc nhất vẫn là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa, khắc họa và ghi nhận công lao to lớn của các bậc tiền hiền một lòng một dạ yêu nước thương nòi... tạo nên cốt cách người Vĩnh Long “trọng sĩ, khinh tài”, được nhận diện bởi sự hiện hữu như thành Long Hồ xây dựng năm 1813, miếu Công Thần, đình Tân Giai, đình Tân Hòa... Đặc biệt là Văn Xương Các, dân địa phương còn gọi với cái tên Văn Thánh Miếu nằm ngay trung tâm thị xã Vĩnh Long.

     Vĩnh Long cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa như: thành xưa Long Hồ được xây dựng năm 1813, miếu Công thần, đình Tân Giai, đình Tân Hoà. Đặc biệt là Văn Xương các ở thị xã Vĩnh Long (dân địa phương còn gọi phổ biến với một tên khác là Đền Văn Thánh hay Văn Thánh Miếu) do Đốc học Nguyễn Thông (người gốc Phan Thiết) lập ra.

Bùi Quang Võ 
Sưu tầm từ nhiều nguồn
* longhovinhlong.blogspot.com cảm ơn bài sưu tầm của Quang Võ  rất công phu về Vĩnh Long  

Nhớ Lại (Ái Hữu 72)




Vào hôm đó có 2 người, một người xin tình yêu nhưng chẳng được
Nếu người ấy xin tôi, tôi sẽ cho người
nhưng rồi người ấy không xin tôi được.
Nếu được, tôi cũng chẳng cho người được gì.
Nếu được, tôi chỉ cho người con tim cô đơn và lạnh lẽo.

Thế rồi vào hôm đó có 2 người, một người ngồi nhớ gia đình,
nhớ những đứa em hiền hậu đáng thương,
và người đó đang cần một người làm cho bớt nhớ vơi thương,
Nếu người nhờ tôi, tôi sẽ làm cho người hết nhớ gia đình
nhưng rồi ngươi ấy chẳng nhờ tôi gì cả,
đến khi người ấy nhờ tôi, tôi đã làm cho người ấy bằng lòng
vì nỗi nhớ, buồn, rầu, của người đã tăng gấp đôi

Thế rồi vào hôm đó có 2 người, một người nghèo
đang cần sự giúp đỡ của mọi người, để làm tròn bổn phận của mình .
Nếu người ấy nhờ tôi, tôi sẽ giúp đỡ cho người thật nhiều,
nhưng đến khi người ấy nhờ tôi,
tôi đã giúp cho người buồn thêm, buồn thật nhiều
với phận nghèo và đáng thương của người ấy.

Ái Hữu 4 - Nguyễn Hùng Sơn
(Trích từ Nội San 3 của Hội Ái Hữu 72)
 

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Về Quê Hoà Tân










Phủ Hiền
2014

Tản Mạn - Ái Hữu 72 Tống Phước Hiệp

      


      Các bạn AH thân mến tính đến ngày hôm nay thì còn vài ngày nữa là mình sẽ nghỉ hưu theo quy định của Nhà nước! Công việc đã bàn giao xong chỉ còn chờ đến ngày 01/3/2014 là nghỉ ( ngày 28/02/2014, cơ quan sẽ tổ chức họp mặt để chia tay với đồng nghiệp!). Thời gian trôi qua nhanh quá phải không các bạn? – không chờ đợi một ai – Như vậy là mình đã công tác trong ngành được 40 năm. 
      Năm 1974 mình tốt nghiệp trường Sư Phạm Vĩnh Long, được Ty Tiểu học Vĩnh Long bổ nhiệm về trường Tiểu học cộng đồng Cái Sơn ( trước thuộc huyện Bình Minh, nay thuộc huyện Tam Bình ), đi dạy 7 năm mình mới được chuyển về Thị xã Vĩnh Long dạy ở trường Bổ túc Văn hóa Tại chức tỉnh đến năm 1994 thì sở Giáo dục và Đào tạo rút về công tác tại phòng Kế hoạch-Tài chính cho đến nay.

        Tết Giáp Ngọ năm nay mình cùng với Sương, Tâm có đi thăm lại những nơi (Cái Tàu, Chợ Lách) mà cách nay trên 40 năm nhóm bạn mình đã có cùng nhau biết bao là kỷ niệm của thời học sinh! Hôm rồi có xem lại trên email của Sương gởi những hình ảnh, bài viết của từng người trong nhóm và của “ Má Tùng “ , mình cảm thấy bồi hồi nhớ lại từng kỷ niệm của nhóm bạn! Lúc học lớp 10B3, mỗi ngày đi lại nhà của Tùng rồi ngang nhà của Hòa … rủ nhau đi học; rồi đi chơi trên cồn Cái Tàu, đi xuống quê của chị Hà ở Chợ Lách; tham gia Hội chợ Bến Xuân do trường Tống Phước Hiệp tổ chức và đoạt giải nhất…

 
(Gian Hàng Hội Chợ Tống Phước Hiệp của AH72)

        Các bạn có biết tại sao cô Tùng trong bài viết của cô đã gọi mình là “hồi chánh viên” hay không? Số là năm học lớp 11B3 mình ngồi ở dãy bàn cuối cùng với Kiệt,Vinh Quang, Phi, Xuân … hay phá phách và chọc ghẹo các bạn cùng lớp – có lần bị thầy Ngô Quang Vĩ rầy mắng “ mày học được đó nhưng mà phá quá chịu không nổi”. Sau nầy khi gia nhập nhóm bạn của AH( Ái Hữu) mình tu tĩnh lại, hết phá phách, học hành chuyên tâm hơn nên mới thi đậu được Tú Tài 1! 
       Có thể nói nhờ các bạn AH đã vực dậy bản thân mình.Bây giờ khi hồi tưởng lại mình rất quý các bạn với tất cả chân tình và cảm kích!

       Đúng ra mình học trước các bạn một lớp (mình vào đệ thất năm học 1964 – 1965, cùng một lứa với Bùi Chí Hiếu, Biện Công Danh, Phạm Văn Đành, Nguyễn Văn Bửu, Hồ Văn Cưng …) nhưng vì năm Mậu Thân 1968, tài sản của gia đình bị cháy hết nên mình phải nghỉ học đi bán báo,thuốc lá! Sau nầy nhờ thầy Mai Phùng Võ xin cho đi học lại năm lớp đệ ngũ cho nên mới có dịp may học chung  và kết bạn với AH. 

Ái Hữu 5 - Trần Anh Dũng 

Thương Tiếc Hoàng Ngọc Quang (Ái Hữu 72)




Anh Quang ơi! Hỡi người anh thứ Tám
Suốt năm rồi không thấy bóng hình anh
Anh ra đi sao chẳng nói lời nào?
Hình bóng bạn mãi còn trong tâm tưởng.
               
Tôi khóc anh! Hỡi người anh thứ Tám
Sáng mai nầy sinh nhật hội mình đây
Bạn anh đây, ngồi đây đợi bạn về
Anh đi mãi, mãi đi quên trở lại
                
 Tôi thương bạn, hỡi người anh thứ Tám
Khóc số phần, thương phận h
m hiu.
Chưa trọn vẹn cuộc đời trần thế .
Sớm lìa đời khi tuổi mộng còn xuân
           
Tôi nhớ bạn hỡi người anh thứ Tám.
Nhớ tiếng cười  nhớ giọng hát của anh,
Như xa vắng trên môi khô cô đọng lại
Đã soi thấu tim gan người ở lại
          
Tôi hiểu anh hỡi người anh thứ Tám!
Tôi thương anh trong giọng hát câu hò
Anh muốn trách sao người vô tình quá?
Hay trách mình thân thế cỏn con??
            
Tôi tiếc bạn hỡi người anh thứ Tám!
Sớm ra đi không ở lại nhìn đời
Cười suy gẫm thói đời cho bỏ ghét
Anh Quang ơi! Ngàn thu anh vĩnh biệt…



Nguyễn Hữu Hải
( Trích từ Nội San 3 1974 của Hội Ái Hữu 72)

Dặn Con


Cúng bái phải thành tâm
Ông bà mới chứng giám
Miệng thành, tâm không thành
Âm dương sao thông cảm
Ngày Kỵ các tiên gia
Anh em phải thuận hoà
Nén hương cùng ly nước
Thành kính thật sâu xa
Ông bà thấy vui vẻ
Cỗ bàn bầy biện ra
Đứa mặt lưng, mặt vực
Rượu vào lời tuôn ra
Trước còn gọi chú bác
Sau đào bới ông cha
Biết hối thì đã muộn
Giỗ tết bỏ không qua
Bầy đặt cúng riêng rẽ
“Tao đây cũng xôi, gà”
Tổ tiên tuy đã khuất
Nhìn con dạ xót xa
Trót sinh đứa ngỗ nghịch
Đau lòng mẹ lòng cha
Khuyên con đừng bắt chước
Muốn báo đáp mẹ cha
Giỗ tết lo trọn vẹn
Thờ phụng phải nguy nga
Trước sau đều như một
Gốc sâu nguồn phải xa
Đời đời được hưởng lộc
Nhờ phước của ông bà
Khuyên con hãy cố gắng
Làm gương họ Nguyễn ta
Vậy có thơ rằng:
Dâu Đường dâng sữa thay cơm
Đội hươu Diệm Tử ai còn nhớ chăng
Mạnh Tông mùa lạnh khóc măng
Đinh Lan tạc tượng hình bằng mẹ cha
Quạt nồng, ấp lạnh ai mà
Kìa người Quách Cự trời đà cảm thông
Hai mươi bốn hiếu nằm lòng
Để mà thờ phụng tổ tông cho tròn
Đấy là lời MẸ DẶN CON.
 Trăm năm phải nhớ phải in vào lòng.

Hoàng Cúc

Thơ Tranh: Xuân Thì Đó Em


Thơ & Trình Bày: Thy Lan Thảo

Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Tình Quê




Chẻ tre bện sáo ngăn sông
Phải chi đó vợ đây chồng mới ưng
                                           Ca Dao

Tiếng trống đình rung rinh chùm khế ngọt
Thôn xóm hữu tình, cưởng hót líu lo
Em ngồi phe phẩy chiếc quạt mo
Con tôm nướng lửa lò im thin thít

Nắng chang chang, con nước ròng chảy xiết
Dề lục bình trôi mải miết bến bờ xa
Cò trắng chao nghiêng, sà cành trúc la đà
Con cá lội giật mình vung nước bạc

Chim khách gọi rộn ràng sau đám lát
Ngóng mong ai, tim nhảy phập phồng
Dây nhản lồng ôm quấn quýt đơm bông
Hoa vông nhuộm đỏ lòng trời xanh biếc

Quán lá dừa che, hàng bày la liệt:
Nào hạt me, xoài rụng, gáo nước chòng chành...
Em chơi chòi, tôi mơ một mái nhà tranh
Nợ mua chịu một đời chưa trả hết

Gom lá vàng hoe, bờ nương chiều nắng lệch
Em nằm ngoan, ngắm vòm lá lao xao
Mây vô tình bạc trắng vút lên cao
Tôi ở lại với vườn xanh lá thấp

Bởi có duyên nên tìm hoài cũng gặp
Vớt mù u trôi, em vướng sợi cóc kèn
Ước gì tôi níu được bước chân quen
Nhẹ hơn lá rơi đường chờ bến đợi

Rau nhút phủ mặt hồ im phơi phới
Nước trong veo em rửa cánh tay thiền
Cá lìm kìm riả bóng nắng chiều nghiêng
Thương bông súng phận ba chìm bảy nổi!

Một buổi tắm sông, tình cờ chung bối rối
Em ôm bập dừa, tôi theo nước thả trôi
Quá nhánh bần de, thoáng bóng mẹ em ngồi
Tôi quày quả ngược dòng ôm cây chuối lội

Đồng xanh mơn ráng chiều trời đỏ ối
Nước kinh tràn điên điển trổ vàng hanh
Em bơi xuồng rẽ vạt nắng mong manh
Tôi thấp thỏm giăng đường câu, ý đợi

Xẻo nước cách hai nhà, mấy lần qua chưa tới!
Tôi bện đăng ngăn cá ghép đôi bờ
Chiếc cầu tre nằm lắt lẻo suốt đêm mơ
Có dấu vết em mịn màng trên tay rượng

Hôm cúng đình, bạn cười, hai đứa ngượng
Tôi thầm lo: chóng lớn sớm có chồng
Cứ trộm nhìn rồi giả bộ ngó mông
Lòng lại thẹn với làng trên xóm dưới!

Em leo cây cam, trèo lên cây bưởi
Đu qua cành ổi... Gió thổi ào ào
Áo học trò hai vạt trắng phau phau
Như cánh hạc giữa vườn cây xanh lá

Em nghiêng nón mà lòng tôi vấp ngã
Bước qua cầu hai gót đỏ như son
Mùi rạ rơm thơm phức má hây giòn
Cổ chân trắng nõn nà in lún dạ

Cải trổ ngồng, bông vàng say bướm lạ
Cắp rổ ra vườn em hái đọt mù xa
Lượm hoa cau rơi trắng xóa liếp cà
Ngâm khạp nước em gội đầu ngồi hong tóc

Dòng tóc xõa trôi dài con đò dọc
Ngày qua nhanh, nắng vội cuối bờ đê
Em học xa, đò nhớ rước em về
Bướm lơi lã đậu bờ vai mát rượi!

Lê Kim Thành
San José7/2007



Cõi Đời




Cõi đời nào khác một sân ga
Bao lượt người đi, đến, lại qua
Vừa mới vui mừng ngày hội ngộ
Thì đà đau đớn khóc chia xa
Thương mình phút chốc da mồi nhuộm
Xót bạn bây giờ tóc trắng pha
Buông xả cho lòng thanh thản bớt
Mai sau tất cả cũng phai nhòa.


Phương Hà


Thơ Tranh: Xuân Diễm Tình


Thơ & Trình Bày: Kim Oanh

Mùa Thu Trong Mắt Em




Chiều xuống vội sau hàng cây xa tít
Chút vàng rơi trên mái tóc em xanh
Trong mắt em mùa thu vừa chợt đến
Một khoảnh trời xanh biếc bóng hình anh
Vàng từng chiếc lững lơ theo gió thoảng
Như nỗi sầu đeo đẳng kiếp lưu vong
Và bên em chợt nghe hồn thanh thản
Đời lâng lâng khơi dậy chút hương lòng.

Anh Vân

Chiêu Đức và Quên Đi qua Hình Ảnh "Ông Đồ Houston"

     Vĩnh Long 2/2014
      Kính thưa quý Độc Giả, Thân Hữu
      Dưới đây là những Email qua lại giữa Anh Đỗ Chiêu Đức và Tôi. Sở dĩ Tôi đưa sự riêng tư này vào Trang Nhà chính vì sự Hoài Niệm về Ông Đồ mỗi khi hoa đào nở, cũng là cái tâm của Anh Đỗ Chiêu Đức luôn muốn bảo tồn nét Văn Hoá hay đẹp của Người Việt Chúng ta nơi đất khách quê người.
      Những ảnh " Ông Đồ Chiêu Đức" ở Houston này rất có ý nghĩa và tôi rất thích.

Huỳnh Hữu Đức

* * *
     Houston 2/ 2014
     Thân gởi anh Huỳnh Hữu Đức,
     Chả lẻ chỉ đăng hình "Ông Đồ " khơi khơi, xin cho tôi được trình bày câu đối dán ở 2 bên chữ PHẬT như sau :
                         靜 坐 當 思 已 過, TỊNH tọa đương tư dĩ quá,
                         律 行 戒 守 清 規。 LUẬT hành giới thủ thanh quy.

       Vì tên chùa là TỊNH LUẬT, nên lấy 2 chữ TỊNH LUẬT để mở đầu cho câu đối với Ý nghĩa như sau :
* Khi ngồi yên tĩnh thì nên suy nghĩ về những việc đã qua ( để kiểm điểm tốt xấu đúng sai ),
* Thực hành giới luật thì phải giữ đúng thanh quy ( những quy định trong sáng của người tu hành ).

       Câu đối nầy tôi làm trong lúc cấp bách, nên có tính cách chấp vá. Vì VẾ ĐẦU là câu có sẵn trong sách Lịch Tàu. Như sau :
Tịnh tọa đương tư dĩ quá,
Nhàn đàm mạc thuyết nhân phi.( Khi nhàn rỗi nói chuyện chơi, thì không nên nhắc đến cái sai trái của người khác ).
      Tôi mượn đỡ vế đầu để " xài " vì có chữ TỊNH. Nhưng bây giờ nghĩ lại, thì thấy nó SAI, vì chữ TỊNH trong Phật giáo không phải là YÊN TỊNH 安 靜, mà là TỊNH ĐỘ 淨 渡, nên sau đó, tôi đã đổi lại như sau :
                   淨 渡 十 方 迷 衆, Tịnh độ thập phương mê chúng,
                   律 行 五 戒 清 規。 Luật hành ngũ giới thanh quy.

Có nghĩa:
* Tịnh độ cho chúng sinh mê muội khắp mười phương,
* Luật tu hành thì phải giữ đúng thanh quy của ngũ giới cấm.
   Xin chân thành cảm tạ!


      Đây là tấm hình chụp lúc Một Cặp Vợ Chồng Người MỸ đến xin tôi viết cho chữ PHẬT, chữ nầy chỉ bằng một nửa chữ ở phía sau lưng tôi thôi.
     Sẵn báo với anh biết để mừng dùm tôi, hôm qua đi dự phiên họp Tổng Kết Hội Chợ Xuân Tha Hương của Chùa TỊNH LUẬT, Ban Tổ Chức cho biết là thùng tiền gây quỹ sau 2 ngày Hội Chợ của tôi đếm được 646 US Dollards. Năm nào tôi cũng bỏ chút đỉnh giấy mực và công sức để gây quỹ cho Hội Đồng Hương Cần Thơ, Hội Cựu học sinh Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm.... Năm nay thêm được Chùa TỊNH LUẬT nữa!

Đỗ Chiêu Đức 

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Bóng Trăng Lệch Khuyết Bờ Vai - Thơ Yên Sơn - Mũ Nâu11 Thực Hiện



Thơ: Yên Sơn.
Diễn ngâm: Dương thượng Trúc.
Thực hiện: Mũ Nâu 11 - Thủy Gia Trang 2014


Khung Trời Kỷ Niệm




Em có nhớ, khung trời kỷ niệm
Của chúng mình lúc mới yêu nhau
Bên hiên trường mưa gió dạt dào
Mình trú chân sau giờ tan học.

Mưa không dứt từng cơn gió lốc
Đứng bên em anh thấy ấm lòng
Dù bên ngoài gió bão mưa dông
Anh vẫn thấy trong lòng ấm áp.

Ngày hôm đó tiết trời tháng chạp
Anh chỉ quàng chiếc áo mong manh
Tay trong tay anh không thấy lạnh
Truyền cho nhau hơi ấm từ lòng.

Lâu lắm rồi em có nhớ không ?
Kỷ niệm xưa khi mới yêu nhau
Giờ nhớ lại tưởng như hôm nào
Đôi tay nắm vẫn còn hơi ấm.

Nay xa cách biển trời xa thẳm
Nơi xứ người anh vẫn nhớ em
Và nhớ mãi kỷ niệm êm đềm
Dù thời gian nhuộm màu tóc bạc.

Song An Châu

Nhà Xưa Ba Gian Của Tổ Tiên - Xã An Phước - Huyện Măng Thít - Tỉnh Vĩnh Long

 Ngôi nhà ba gian kiểu xưa do ông bà truyền lại bạn Bá

Nơi thờ Gia Tiên chính giữa nhà






Trương Văn Phú