Hiển thị các bài đăng có nhãn LỊCH SỬ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LỊCH SỬ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

Tiết Phụ Kiên Trinh Bà Phan Thị Minh Yến Phu NhânTướng Quân Lê Nguyên Vỹ

 

Mất nhà mất Nước mất người thương
Một Mẹ bốn Con vượt dặm trường
Đất khách con côi trau hạnh - học
Quê người mẹ góa dệt tình thương
Giai nhân cẩm chướng đang xuân sắc
Tiết phụ hải đường tỏa diễm hương
Cắt tóc chuyên tay nuôi dạy trẻ
Thành nhân chi mỹ nguyệt soi gương

Nguyễn Minh Thanh kính bút

Lược truyện: Bà Phan Thị Minh Yến:

Bà Phan Thị Minh Yến người Hải Phòng theo cha mẹ di cư vào Nam năm 1954. Năm 1964, cô Phan Thi Minh Yến 19 tuổi lập gia đình. Tiếp theo là 10 năm làm vợ lính thời chinh chiến. Rồi bắt đầu làm mẹ. Những đứa con lần lượt ra đời.: Quang, Minh, Chính, Đại. Ba đứa con trai đầu đúng tên. Riêng cô gái út được gọi là em Đại ở trong gia đình. Khi ở lớp học là Tường Vi .

Tháng 4 năm 1975, bà Phan Thị Minh Yến khoảng 30 tuổi dẫn 4 con từ 6 tuổi đến 10 tuổi di tản sang Hoa Kỳ. Chồng Bà, Tướng Lê Nguyên Vỹ bận việc quân không tiễn chân vợ con được. Và rồi, vĩnh biệt, tử biệt,.TUẪN TIẾT..!!!. Từ đó Bà Phan Thị Minh Yến trở thành góa phụ và ở vậy nuôi con...!!!.

Tới Hoa Kỳ, mẹ trẻ và 4 con nhỏ long đong...!! Bà Minh Yến bắt đầu bằng nghề cắt tóc. Duy nhứt làm nghề cắt tóc. Cố gắng tự lập nuôi con. Bà vừa làm mẹ, vừa làm cha. Bà Minh Yến thiếu thời là nữ sinh trường đầm Sài Gòn, rồi trở thành vợ lính sống cảnh trại gia binh. Sau cùng trở thành góa phụ truân chuyên...!! Qua bao năm trời Bà đương đầu nghịch cảnh, các con đã trưởng thành, tốt nghiệp đại học, Bà đã có cháu nội cháu ngoại.
Và sau khi ổn định, Bà đã liên lạc được với bà Mẹ Chồng ...



Thứ Tư, 3 tháng 6, 2026

Vị Ân Nhân Của Người Việt Tị Nạn


Tháng tư đen đã qua nhưng dư âm vẫn còn vọng trong lòng người. Mỗi năm một tháng tư, hơn năm mươi năm rồi vết thương tuy liền da nhưng nỗi đau vẫn âm ỉ khôn nguôi. Nước mất nhà tan là nỗi đau lớn nhất của tất cả những người yêu dân tộc, yêu quốc gia. Sài Gòn sụp đổ dẫn đến hàng chục ngàn di tản và tiếp đến là hàng trăm ngàn người vượt biển, vượt biên lao vào cõi chết để tìm sự sống. Đã có nhiều sách, báo, phim ảnh tường thuật lại nỗi kinh hoàng của những người vượt biển: tàu chết máy, hết lương thực, gặp hải tặc, bão tố…theo ước tính của các tổ chức nhân quyền thì có thể lên đến 500.000 người Việt đã bỏ mạng ở biển Đông. Đây là một thảm họa nhân quyền lớn nhất thế kỷ hai mươi, sử thế giới gọi là Boat People – thuyền nhân.

Sài Gòn sụp đổ, hàng triệu gia đình ly tán, mất tài sản, người chết. Hàng trăm ngàn quân dân cán chính miền Nam bị đi tù, đi tập trung cải tạo và hàng chục ngàn người đã chết nơi ngục tù, rừng sâu, núi thẳm…
Trong cơn khốn cùng, điêu đứng và tuyệt vọng như thế này, bỗng nhiên phép lạ đã hiện ra. Thế giới phương Tây có những con người quả cảm, nhân ái đã ra tay hào hiệp cứu vớt người vượt biển chẳng hạn như con tàu Cap Anamur (Đức), Ile De Lumière (Pháp) đã cứu vớt hàng chục ngàn thuyền nhân. Đặc biệt nhất là vị tổng thống thứ 39 của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã trực tiếp ra lệnh cho hải quân Mỹ cứu vớt thuyền nhân trên đại dương. Hạm đội bảy cử 5 tuần dương hạm đi cứu người đang lênh đênh trên biển. Jimmy Carter đã ký đạo luật tị nạn 1980 (The Refugee Act of 1980) để thâu nhận những người tị nạn từ Đông Dương. Jimmy Carter đấu tranh với những thành phần bảo thủ kỳ thị người tị nạn để gia tăng nhanh chóng việc cứu người tị nạn. Ông đã thúc đẩy mạnh mẽ để việc thâu nhận người tị nạn mỗi tháng từ 7000 lên đến 14.000 suốt những năm trong nhiệm kỳ của ông. Đích thân Jimmy Carter còn yêu cầu thủ tướng Bergin của Do Thái cùng ra tay cứu người vượt biên. Ông nhắc nhở thủ tướng Do Thái rằng họ cũng từng là những nạn nhân tị nạn khắp thế giới.


Để đáp lại những thành phần bảo thủ, cực đoan chống lại việc tiếp nhận người tỵ nạn. Jimmy Carter đã tuyên bố: “Cho tôi nhắc quý vị rằng, Mỹ là một quốc gia của những người di dân, quốc gia của những người tị nạn. Những người tị nạn Đông Nam Á từng là đồng minh của chúng ta trong chiến tranh Việt Nam. Họ đang chạy trốn khỏi đất nước, nơi mà họ bị tước hết mọi quyền căn bản”. Những thuyền nhân trên biển, những tù nhân của các trại tù cải tạo…đã đến được bến bờ tự do cũng nhờ đạo luật tị nạn, nhờ tình thương lớn , nhờ sự tranh đấu quyết liệt của vị tổng thống nhân ái đến từ tiểu bang Georgia. Những người tị nạn không chỉ được đến Mỹ mà còn được trợ giúp rất nhiều để làm lại cuộc đời. Tổng thống Jimmy Carter và chính phủ do ông lãnh đạo đã cấp ngân khoản cho sở anh sinh xã hội để giúp người tị nạn học tiếng Anh, dạy nghề, giúp chỗ ở ban đầu, giúp thực phẩm, y tế…Vị tổng thống thứ 39 này đã cứu mấy trăm ngàn người Việt Nam và cả gia đình của họ, để họ có được cuộc sống thanh đạt như ngày hôm nay.

Jimmy Carter sinh ra và lớn lên ở tiểu trấn Plains thuộc vùng Tây Nam của tiểu bang Georgia. Thuở nhỏ ông rất thông minh và thích đọc sách. Lớn lên học đại học kỹ thuật Georgia, Đại học Union, Học viện hải quân Hoa Kỳ. Đã từng là kỹ sư hạt nhân và phục vụ trong tàu ngầm của hải quân Hoa Kỳ. Ông là thống đốc thứ 76 của Georgia và là tổng thống thứ 39 của Hoa Kỳ. Trong cuộc tranh cử tổng thống ông từng tuyên bố: “thời kỳ phân biệt chủng tộc ở đây đã qua rồi”. Đây là một việc làm can đảm và nguy hiểm vì điều này đã từng khiến cho nhiều vị chính khách kết thúc sự nghiệp chính trị của mình.


Jimmy Carter đảm nhận chức vụ tổng thống với một hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Nạn suy thoái kinh tế sau chiến tranh Việt Nam, dư âm của Watergate vẫn âm ỉ nhức nhối, thất nghiệp tăng cao, giá dầu đột biến vì OPEC làm khó…Jimmy Carter đã có những thành tựu lớn trong sự nghiệp ngoại giao trên trường thế giới. Ông đã giúp Ai Cập và Do Thái ký hòa ước David chấm dứt chiến tranh, hòa bình hai nước giữ vững đến tận hôm nay. Jimmy Carter với chủ tịch Liên Xô ký hiệp ước SALT II hạn chế vũ khí. Ông từng muốn hủy bỏ hết vũ khí nguyên tử trên trái đất này.

Jimmy Carter là một vị Tổng Thống nhân ái, yêu chuộng hòa bình. Ông ký đạo luật bảo vệ môi trường, lập khu công viên quốc gia Alaska với một diện tích khổng lồ. Ân xá cho những người trốn quân dịch trong chiến tranh Việt Nam. Jimmy Carter lập ra trung tâm Carter, Habitat for Human để cứu trợ nhân đạo, giúp đỡ người nghèo khổ khốn cùng ở Mỹ cũng như khắp thế giới. Habitat của ông đã cứu nhiều triệu người châu Phi thoát khỏi dịch bệnh, chết chóc, cung cấp thuốc men và chăm sóc sức khỏe… Habitat đã dựng hơn 5000 căn nhà cho người nghèo. Bản thân Jimmy Carter là một thợ mộc lành nghề. Ông xắn tay áo vào làm cùng với các thiện nguyện viên của Habitat. Jimmy Carter được thế giới nhìn nhận như là trung tâm kiến tạo hòa bình, bởi vậy mà năm 2002 ông vinh dự được trao giải thưởng Nobel hòa bình. Jimmy Carter còn là tác giả của 23 quyển sách trong ấy nhiều quyển rất ăn khách, Tiêu biểu như: Why Not The Best?, Talking Peace: A Vision For The Next Generation, An Hour Before Daylight: Memories of a Rural Boyhood, Palestine: Peace Not Apartheid…


Tiểu bang Georgia chúng ta thật vinh hạnh có được một vị Tổng Thống nhân ái, lịch thiệp, nhã nhặn nhưng cũng rất kiên cường trong việc tranh đấu cho những người tị nạn. Ông là một vị tổng thống sống cho mọi người, suốt đời làm việc vì mọi người. Một trăm năm đời người của ông quả thật là một chuỗi ngày vô cùng trân quý. Sau một đời phục vụ tha nhân, ông lại về an nghỉ cùng người vợ thân yêu ở tại tiểu trấn Plains. Ngôi nhà thuở thiếu thời vẫn còn ở đấy. Thư viện và bảo tàng của ông thì ngay tại vùng Metro của Midtown Atlanta.

Một ngày tháng tư tôi đến đây thăm viếng và tưởng nhớ một vị tổng thống nhân ái, một đại ân nhân của người Việt Nam tị nạn tại Hoa Kỳ.

Tiểu Lục Thần Phong
Ất Lăng thành, 0526


Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

Đôi Dòng Về Học Viện Quốc Gia Hành chánh Của Việt Nam Cộng Hòa


Học viện Quốc gia Hành chánh là một cơ sở giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa đặt trọng tâm vào việc đào tạo nhân viên hành chánh cao cấp cho chính phủ.

Lúc đâu, Trường Quốc gia Hành chánh được thành lập tại Đà Lạt do sắc luật của Quốc trưởng Bảo Đại ký ngày 07 tháng 4 năm 1952.

Trường lúc đó thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục với học trình hai năm nhưng sau được chuyển giao cho Phủ Thủ tướng rồi Phủ Tổng thống, đến năm 1955 sau khi về nước chấp chánh, Thủ tướng Ngô Đình Diệm vì nhận thấy vai trò quan trọng của cán bộ hành chánh trong công cuộc xây dựng quốc gia nên đã cho dời trụ sở của trường về Saigon và cải danh thành Học viện Quốc Gia Hành Chánh (QGHC), trụ sở đặt tạm tại số 4 đường Alexandre de Rhodes, sau này là trụ sở của Bộ Ngoại giao,

Đến năm 1962, Học viện được chánh thức chuyển về trường sở mới to lớn và khang trang tại số 10 Trần Quốc Toản.

Cơ sở vật chất gồm có giảng đường 500 chỗ ngồi, ký túc xá cho 114 sinh viên, thư viện lớn nhứt Việt Nam với 100.000 văn bản, nhà sinh hoạt, sân quần vợt, sân bóng chuyền, câu lạc bộ.

Mục đích của Hoc viện QGHC là nhằm đào tạo cán bộ cho guồng máy hành chánh của quốc gia qua 4 chương trình học gồm ban Cao học, ban Đốc sự, ban Tham sự, và ban Năng lực Hành chánh.

Ban Cao học có học trình hai năm và Đốc sự có học trình ba năm rưởi nhằm đào tạo công chức hạng A cho các ngành hành chánh và chuyên môn như kinh tế, tài chánh, thuế vụ, xã hội, ngoại giao.

Môn học gồm những kiến thức như soạn thảo công văn, kế toán thương mại, tư tưởng và định chế chính trị, quản trị công quyền, quản trị nhân sự, luật hành chánh, luật thuế vụ… và cả huấn luyện quân sự.

Khi thi mãn khóa ngoài các bài thi về các môn đã học, sinh viên còn phải nộp một Luận văn tốt nghiệp về một đề tài được giáo sư hướng dẫn chấp thuận.

Ban Tham sự với học trình hai năm nhằm đào tạo công chức hạng B. Còn ban Năng lực Hành chánh là những lớp học buổi tối dành cho quân nhân và công chức để giúp họ cải tiến kỹ năng và kiến thức chuyên môn hành chánh để dự thi vào các ngạch hành chánh.

Ngoài ra, Học viện cũng là trung tâm phụ trách nghiên cứu hành chánh và tu nghiệp quốc gia. Về tu nghiệp Hoc viện phụ trách các chương trình tu huấn cho chánh phủ như chương trình phát triển chỉ huy cao cấp, chương trình quản trị hành chánh cao cấp dành cho các viên chức giữ các chức vụ cao tại các phủ bộ, và chương trình tu nghiệp cho cựu sinh viên QGHC đã tốt nghiệp quá 5 năm.

Muốn được nhận vào Học viện QGHC các ứng viên phải qua một kỳ thi nhập học khá gay go. Trong số hàng ngàn người dự tranh trên toàn quốc, mỗi năm Học viện chỉ nhận một số nhỏ hội đủ tiêu chuẩn, khoảng 50 người cho ban Cao học, và khoảng 100 người cho ban Đốc sự, và ban Tham sự.

Nhưng bù lại các sinh viên trúng tuyển được nhận một học bổng $2000.00 mỗi tháng cho sinh viên thường, còn sinh viên nguyên là công chức được tiếp tục lảnh lương cũ, ngoại trừ phụ cấp chức vụ.

Ngoài ra, từ năm 1960 trở đi với sự yểm trợ của Đại học Michigan State University (MSU), các sinh viên tốt nghiệp thủ khoa của các khoá Đốc sự hầu hết đã được cấp học bổng để du học lấy bằng Master tại Hoa kỳ, sau đó thủ khoa các khoá Cao học cũng được học bổng đi Mỹ học lấy bằng Ph.D. Đa số các cựu sinh viên có bằng Ph.D. và một số có bằng Master tại Mỹ đã trở về giảng dạy cho Học viện.

So với các trường đại học khác như các phân khoa thuộc Viện Đại học Saigòn, Viện Đại học Huế, Viện Đại học Đàlạt, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú thọ, Trường Đại học Nông Lâm Súc, Học viện QGHC đã có một ban giảng huấn rất hùng hậu.

Ngoài nhiều giáo sư cơ hữu có bằng Tiến sĩ tốt nghiệp trong nước và ngoại quốc, Học viện còn mời được nhiều chánh khách có tăm tiếng và nhiều viên chức hành chánh cao cấp trong chánh phủ giàu kinh nghiệm đến giảng dạy về các đề tài thuộc lãnh vực chuyên môn của họ.

Về phương diện học trình, với sự hỗ trợ của Institute of Public Administration (IPA) tại New York chương trình học tại Học viện cũng luôn được cải tiến để sinh viên tốt nghiệp có được những kiến thức hiện đại về các lãnh vực quản trị công quyền, quản trị nhân sự, về các lãnh vực kinh tế, tài chánh, thuế vụ, về lãnh vực quyết định hành chánh, cũng như các kiến thức về văn hoá và luật pháp quốc gia.

Không giống như tại các trường đại học khác, sinh viên QGHC ngoài việc theo dõi các bài giảng tại lớp học có tánh cách lý thuyết, còn phải tham gia các buổi thuyết trình và hội thảo với các chánh khách và chuyên gia về các đề tài chuyên môn.

Ngoài ra, sinh viên còn đuợc đi thực tập 6 tháng tại các cơ quan công quyền ở địa phương và trung ương như một công chức thực sự. Và để chuẩn bị cho các viên chức tương lai biết sống hòa đồng với dân chúng, học trình cũng đòi hỏi các sinh viên phải tham gia vào các công tác xã hội hằng tuần do Học viện tổ chức.

Sau khi tốt nghiệp tại Học viện các nam sinh viên còn được gởi đi thụ huấn về quân sự tại trường sĩ quan Thủ đức trước khi đi nhận nhiệm sở.

Khi ra trường các sinh viên tốt nghiệp được bổ dụng đến nhiều cơ quan từ Phủ Tổng Thống, Phủ Thủ tướng, Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo, Tổng Nha Ngân sách và các Bộ, Nha ở trung ương cho đến các ty, các sở ở địa phương và Phó tỉnh trưởng hoặc Phó quận trưởng,

Nhờ vào tất cả những ưu điểm về huấn luyện đó mà Học viện QGHC không những là một cơ sở giáo dục được trong nước biết tiếng mà cả các quốc gia vùng Đông Nam Á cũng thừa nhận Học viện như một trong nhiều trung tâm có uy tín về đào tạo nhân sự cho ngành quản trị công.

Với một quá trình hiện diện dài 23 năm, Học viện QGHC đã đào tạo được 2784 sinh viên.

Với một số lượng tốt nghiệp khá đông đảo như vậy, các cựu sinh viện QGHC với một kiến thức chuyên môn dồi dào và một kiến thức căn bản về quân sự đã một thời như Nguyễn Công Trứ có nói:

“Trong lăng miếu ra tài lương đống,
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương”.

Những con người trẻ và đầy nhiệt huyết đó đã có mặt khắp mọi nơi trên đất nước từ các thị thành an ninh đến những quận lỵ xa xôi đầy hiểm nguy và khói lửa chiến tranh.

Những con người đó đã đảm trách hầu hết các chức vụ chỉ huy hành chánh từ trung cấp cho đến cao cấp tại các cơ quan địa phương cũng như trung ương. Một số còn đảm nhận các chức vụ chánh trị quan trọng từ Tổng, Bộ trưởng đến cả Thủ tướng trong chánh phủ và nhiều chức vụ nồng cốt thuộc hai ngành Lập pháp và Tư pháp.

Tất cả họ đã đóng góp không ít cho công cuộc cải tổ và hoàn thiện guồng máy hành chánh quốc gia cũng như công cuộc chiến đối đầu với cộng sản xâm lược.

Nhưng tiếc thay ngày lịch sử định mệnh 30 tháng 4 đã xảy đến làm ngôi trường QGHC phải bị đóng cửa và các cựu sinh viên QGHC phải tứ tán khắp bốn phương trời. Nhưng dù sống ở đâu, những ngày xưa thân ái dưới mái trường QGHC và giai đoạn dấn thân phục vụ cho quê hương xứ sở vẫn không phai nhòa trong tâm trí họ.

- Để kết thúc, xin có 4 câu thơ:

Tài lương đống một thời ngang dọc
Mộng can tương bỗng chốc khói mây
Dù cho lưu lạc đó đây
Trường xưa vẫn mộng một ngày đoàn viên…

Nguyễn Minh Triết
(Sương Lam Chuyển)

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

Giỗ Tổ Hùng Vương



Ngày Giỗ Hùng Vương Việt tộc ta
Hàm ân Ngài đã dựng sơn hà.
Chinh Nam ngạo nghễ, hưng bờ cõi
Chiến Bắc oai hùng, vững nước nhà.
Bảo quốc, tiền nhân gìn trọn vẹn
Thương dân, hậu thế giữ an hòa.
Vì đâu nội chiến đau lòng Tổ?
Ý thức hệ nào...lệ máu pha!


Duy Anh
Tháng Ba Mùng Mười Âm Lịch
26/4/2026


Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

Hạo Khí Trường Tồn - ( Trần Cẩm Hương Đại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa)

 
 (Đại Tá Trần Cẩm Hương)

Trường Nữ Quân Nhân: - Trưởng Chỉ Huy
Gương trăng vằng vặc mấy ai bì
Sa cơ đày đọa không e ngại
Thất thế đương đầu chẳng quản chi
Khí Hạo kiên trung ngời Hạo Khí
Mi thanh bất khuất rạng thanh mi
Cần Thơ thổn thức... trang trung dũng
Hậu Nghĩa ngậm ngùi... bậc nữ nhi....!!!

(Hình ảnh Đại Tá Trần Cẩm Hương do Ông Đỗ Văn Phúc cung cấp)

Lược Sử Bà Trần Cẩm Hương:

Trần Cẩm Hương (1926 – 1987) là nữ sĩ quan duy nhất của Việt Nam Cộng Hòa mang cấp bậc Đại Tá. Bà làm Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân nhân kiêm Chỉ Huy Trưởng Trường Huấn Luyện Nữ Quân Nhân đường Nguyễn Văn Thoại từ năm 1965 đến năm 1975.
Bà Trần Cẩm Hương sinh tại Cần Thơ, trưởng nữ của kỹ sư Trần Văn Mẹo, cựu Bộ trưởng Bộ Công Chánh dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa.

Bà nhập ngũ ngày 21 tháng 8 năm 1952. Tốt nghiệp Cán sự Xã Hội tại Trường Sĩ Quan Nữ Trợ Tá Xã Hội năm 1952. Ngày 5 tháng 1 năm 1965, ngành Nữ Trợ Tá Xã Hội được đổi tên thành Đoàn Nữ Quân nhân , trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Cơ sở của Đoàn Nữ Quân Nhân ở đường Nguyễn Văn Thoại, Sài Gòn, bên cạnh Trường Nữ Quân Nhân.

Bà Trần Cẩm Hương đang là Thiếu Tá được bổ nhiệm làm Đoàn Trưởng đầu tiên kiêm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn luyện Nữ Quân Nhân. Bà giữ chức Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân Nhân kiêm Chỉ Huy Trưởng cho đến ngày 1 tháng 4 năm 1975 thì giải ngũ vì đáo hạn tuổi với cấp bậc Đại Tá, Người kế vị bà là Trung Tá Lưu Thị Huỳnh Mai, Đoàn trưởng Đoàn Nữ Quân nhân thứ hai và cuối cùng.

Nguyễn Minh Thanh kính bút
(GA, 2 - 23 - 2026)


Quốc Học - Trần Xuân Thời


Các trường trung học thường mang tên một danh nhân như Pellerin, Taberd, Puginier, Pétrus Ký, Chu Văn An, Trưng Vương, Gia Long… nhưng đặc biệt một ngôi trường tọa lạc tại đất thần kinh, biểu tượng cho nền giáo dục quốc gia mệnh danh là “Trường Quốc Học” (Collège National) sánh với danh xưng “Quốc Học Viện” vào đời nhà Trần…

Quốc học, trường trung học đầu tiên của Việt Nam, được thành lập năm 1896 năm Vua Thành Thái thứ 8. Tên trường “Quốc Học” cũng thăng trầm theo vận nước nổi trôi. Năm 1907, chính phủ bảo hộ Pháp đã ép Vua Thành Thái thoái vị và phong Vua Duy Tân lên kế vị. Năm 1916 Vua Duy Tân bỏ kinh thành theo nghĩa quân kháng chiến chống Pháp. Người Pháp phong Vua Khải Định kế vị Vua Duy Tân. Vua Khải Định băng hà năm 1925. Vua Bảo Đại nối ngôi và muốn vinh danh tiên đế nên đổi tên trường Quốc học thành trường Khải Định. Sau năm 1954 trường được đổi tên là Trường Ngô Đình Diệm, nhưng đến năm 1956, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, châu lại về hiệp phố, danh xưng Quốc Học lại trở về với mái trường xưa.

Quốc Học đã đào tạo biết bao nhiêu nam thanh nữ tú phục vụ trong mọi ngành sinh hoạt của quốc gia. Năm nay, lễ kỷ niệm 128 năm (1896-2024) Quốc Học không những sẽ diễn ra tại miền sông Hương núi Ngự, chốn cố đô nghiêm mật mơ màng mà sẽ được cử hành khắp năm châu bốn bể vì ngày nay đâu đâu cũng in hình dấu vết của cựu học sinh Quốc Học.
Nếu quan niệm gặp nhau là một cơ duyên, vào chung trường, ngồi chung lớp là một sự tiến bộ và cùng tốt nghiệp ra trường là một sự thành công thì những cựu học sinh tốt nghiệp Quốc Học đều đã công thành danh toại.


Tôi còn nhớ vào năm 1958, khoảng cuối hè và đầu thu, tôi nạp đơn vào lớp Đệ Tam Quốc Học. Như truyền thống đã định tất cả ứng viên phải trải qua một kỳ thi nhập học. Tôi không nhớ đã thi những môn gì nhưng đây là một loại "contest” đã loại một số học sinh không được nhận vào ngôi trường nổi tiếng nầy.

Năm Đệ Tam là năm học tà tà, dưỡng sức cho năm đệ nhị chuẩn bị xông pha trường thi trận bút. Năm Đệ nhị “tình hình chiến sự” có vẻ gây cấn hơn, chẳng những phải “gạo” bài cho đệ nhất và đệ nhị lục cá nguyệt mà còn phải học kỳ cho kỳ thi Tú tài I cuối năm. Thường thường tôi dùng 2/3 thì giờ để học bài thầy giảng trong chương trình và 1/3 đọc thêm những gì không được giảng dạy nhưng có liên quan đến chương trình như thế sẽ khỏi bỡ ngỡ khi đề thi liên hệ đến kiến thức tổng quát. Cũng theo cách học nầy mà tôi trúng tuyển dễ dàng hai kỳ Tú tài I và II.

Đã khá lâu nên không nhớ rõ hết các đề thi, duy chỉ có hai đề thi có phần lý thú nên khó quên. Đó là đề thi Tú Tài I-1960 về văn chương VN “Con người do 3 yếu tố tạo thành: Địa phương, giống tộc và thời đại, bạn hãy căn cứ vào văn chương thế kỷ thứ XIX để chứng minh câu nói trên”. Đề thi nầy phỏng theo đề thi “Dissertation littéraire “, kỳ thi BAC I tại Paris, thập niên 1950, về văn chương Pháp, thế kỷ thứ XIX mà tôi đã có dịp đọc qua luận văn bằng Pháp ngữ, chỉ khác là thay vì luận về văn chương Pháp thì luận về văn chương Việt Nam thế kỷ thứ XIX. Nền giáo dục Tậy phương có ưu điểm là thường in lại các đề thi và bài giải về văn học, triết học cũng như toán học... khoa học của các kỳ thi trong quá khứ để giúp học sinh tự luyện thi. Nền giáo dục Việt Nam thời bấy giờ chưa đạt đến trình độ đó.

Khi còn học lớp Đệ Tứ, tôi và vài người bạn khác như thường mở các đề toán Géométrie và Algèbre trong sách hoc trò (Livre de L’Élève) ra làm thử. Bài nào không giải được thì mở sách của thầy (Livre du Maitre) ra xem bài giải. Cứ như thế mà giải hết các bài trong sách của Gs Bossé thì rất dễ dàng giải quyết các nan đề trong phòng thi.

Đề thi triết Tú tài 2-1961 cũng rất gọn gàng và dễ nhớ “Vai trò của trí tuệ trong tri giác ngoại giới”. Trong cả hai trường hợp, đọc qua đề thi thì hình như dàn bài đã có sẵn trong trí, tôi viết một mạch 3 giờ liền, đọc lại và nạp bài, ra khỏi phòng thi, thấy rất thoải mái vì chẳng những không “bí” mà còn viết thao thao bất tuyệt, tự biết thế nào cũng “dính”.

Tuy vậy, những lần đi nghe xướng danh cũng rất hồi hộp. Cái hồi hộp lý thú của tuổi học trò. Những năm học ở trung học thi cử liên miên khiến cho học sinh phải lo âu thường trực. Càng lo âu thì càng dễ trở nên thất vọng. Có người không chịu nổi cái “đệ nhất buồn là cái hỏng thi” nên phải quyên sinh. Học chế của mình kể ra cũng khắc khe. Cô, thầy thì nghiêm khắc vì “Giáo bất nghiêm thì sư chi đọa”. Bài vở phần lớn học thuộc lòng, vận dụng trí nhớ nhiều hơn suy luận. Chúng ta thường nghe nói: “gạo như gạo vạn vật…”

Bây giờ thì tất cả đều quá vãng, có còn lại chăng chỉ dư âm thôi!

“Thôi đã xa rồi vạn gót hương
Của người đẹp đến từ muôn phương
Xa rồi những bước không hò hẹn
Đã bước trùng nhau một nẻo đường”

Nẻo đường Quốc Học của thời niên thiếu vẫn luôn luôn chập chờn trong trí tưởng với hình ảnh của con sông xưa, thành phố cũ.

“Áo em lụa trắng sông Hương
Qua đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào”

Nỗi nhớ, niềm thương đó vẫn canh cánh bên lòng như bản nhạc vàng ru trọn đời mình. Dù vì quốc biến nên

”Có những người đi không về.
Xa xôi rồi quên ước thề”!

Hoài niệm về trường xưa, bạn cũ không chỉ là hoài niệm đơn thuần tình cảm mà còn tiềm ẩn tinh túy của Quốc học là những gì lưu lại sau khi đã quên hết “La culture (de QH) c’est ce qui reste après on a tout oublié”.

Xuất thân từ Quốc Học cũng như xuất thân từ cửa Khổng sân Trình. Con người hấp thụ được tinh hoa của cổ và tân học. Nếu con người do ba yếu tố tạo thành: Hoàn cảnh, thời đại và giống tộc thì Quốc học đã là hoàn cảnh, là môi trường tốt cho cựu học sinh triển nở, khiến cho nam thanh, nữ tú hàng hàng lớp lớp từ thế hệ này sang thế hệ khác xuất thân từ ngôi trường thân thương nầy và đã trở thành biết bao anh tài cho Tổ quốc.

Cái tinh hoa của nền Quốc Học là ngoài khả năng, kiến thức tổng quát, cựu học sinh được bồi dưỡng tinh thần bằng niềm hãnh diện về trường xưa, bạn cũ và quan niệm về giáo dục qua phong cách giảng dạy, lối sống và triết lý giáo dục của nền quốc học Việt mà một vị Nho sĩ, Cụ cố Ngô Đình Khả, đã được bổ nhiệm nhậm chức Chưởng Giáo của Quốc Học.

Triết lý giáo dục nhân bản nhằm chủ đích không những làm cho con người giỏi giang hơn (trí dục) mà chính là làm cho con người sống cao thượng hơn (đức dục). Ngày nay học tập để ngày mai giúp đời. Giúp đời chứ không chỉ biết vinh thân phì gia. Nguyễn Du Tiên sinh rất hữu lý khi nói lên triết lý hành động qua lời Từ Hải:

“Phong trần mài một lưỡi gươm.
Những loài giá áo túi cơm sá gì”.

Lưỡi gươm đây còn mang ý nghĩa là đem sở học và sự hiểu biết để phụng sự nhân quần xã hội, sửa trị những sự việc trong xã hội cho chính trực như tinh thần Nguyễn Công Trứ

“Trong lăng miếu ra tài lương đống.
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương”.

Lợi ích của sự giáo dục là để phát triển kiến thức về luân thường đạo lý (đức dục) và kiến thức chuyên môn (trí dục). Nền quốc học chủ trương “Tiên học lễ hậu học văn” chú trọng đến sự phát triển con người toàn diện về cả ba khía cạnh đức dục, trí dục và thể dục, cốt đào tạo những người có đức hạnh, trí óc sáng suốt, có liêm sỉ, để cải tạo xã hội chính trị, hơn là chỉ chú trọng đào tạo những người có kiến thức chuyên môn như nền giáo dục Tây phương.

Nhận chân được khuyết điểm là có khoa học mà vô lương tâm chỉ đem lại phiền não, bại hoại tâm hồn. “Science sans conscience n’est que ruine de l’âme”, ngày nay nhiều đại học ở Tây phương tìm cách nhân văn hóa các chương trình khoa học bằng cách đưa các môn triết học, nhân chủng, xã hội, đạo đức, tâm lý… vào khóa học để giúp sinh viên tốt nghiệp sẽ trở nên con người toàn diện, hiểu người, biết mình hơn là con người kỹ thuật, máy móc (robot).

Sự học tô điểm cuộc đời, giúp chúng ta khám phá những kỳ hoa dị thảo trong vườn hoa kiến thức của nhân loại. Càng hiểu biết con người càng trầm tĩnh, ít lo âu, ít hoảng hốt, tâm bớt động và nhờ đó thái độ được trầm tĩnh và tránh được lầm lẫn hay sợ sệt:

(1) Ít lo âu vì nhận diện được vấn đề và biết cách ứng phó đúng với câu “Khi vui đến thì hãy vui mà chớ kiêu căng, tự phụ, khi tai họa đến thì phải suy nghĩ mà chớ buồn phiền” Chính nhờ sự suy nghĩ mới có thể mưu sinh thoát hiểm thay vì buồn phiền sẽ sinh ra nản chí và thất bại.

(2) Tránh được lầm lẫn là nhờ khả năng nhận biết phải trái, phân rõ trắng đen qua kinh nghiệm giải quyết sự việc của tiền nhân và của người đương thời. Ngày nay khoa quản trị học (management science) đào tạo những chuyên viên quản trị biết kỹ thuật tổ chức, điều hành và phương pháp giải quyết vấn đề. Tiêu chuẩn phán xét phải, trái, không hẳn do ý kiến của một cá nhân, vì ý kiến cá nhân có khi lầm lẫn. Do đó ý kiến đúng hay sai phải là ý kiến của đa số trong một hoàn cảnh và thời gian nào đó. Tiêu chuẩn đúng sai do đa số quyết định “What is right or wrong being determined by the will of the majority” (John Locke, Treatises on Civil Government – 1679). Ý kiến của đa số hay là ý chí chung có thể được tham khảo qua nhiều phương thức hoặc do phong tục tập quán lấy ý kiến chung ở chốn đình trung, hoặc do biểu quyết, hay trưng cầu dân ý qua lá phiếu.

(3) Ít sợ sệt vì hiểu được vấn đề, không lo ngại và chấp nhận dấn thân mà không e dè sợ sệt, hùng tâm dũng chí. Nho giáo giúp con người trưởng thành về trí tuệ bằng kiến thức xuyên thế hệ (transgenerational), kinh nghiệm cổ nhân lưu lại qua sử sách.

Với ba đặc điểm ít lo âu, tránh lầm lẫn, ít sợ sệt; người khôn ngoan thường nhận xét sự việc một cách khách quan, theo lẽ phải hơn là thiên kiến. Để đạt đến tính cách khách quan, sự nhận xét phải có tính cách vô ý, vô tất, vô cố và vô ngã:

(1) Vô ý: không khư khư theo ý riêng của mình mà phải chấp nhận bàn bạc để tìm ra lẽ phải và làm theo lẽ phải để tạo sự đồng thuận trước khi thi hành công tác. “Discussion is the anvil upon which the spark of the truth is struck”. Tiếp xúc cá nhân, chia sẻ và đối thoại là phương thức để tìm ra lẽ phải.

(2) Vô tất: Đừng vội quyết đoán là công việc làm được hay không làm được mà phải tạo cơ hội để thực hiện mới biết dễ hay khó. Không nên chủ quan bác bỏ ý kiến của người khác theo nhãn quan thiển cận của mình mà phải biết chấp nhận thử thách.

(3) Vô cố: Không nên cố chấp, nệ cổ mà phải biết chấp nhận sáng kiến.

(4) Vô ngã: Cái tôi là đáng ghét (le moi est haissable) đừng vì quyền lợi cá nhân hay phe phái mà sinh ra mù quáng, nhìn bạn thành thù, nhìn thù thành bạn, lộng chân thành giả, lộng giả thành chân.

Bốn phương cách xét định công việc nêu trên giúp chúng ta đạt được sự chánh ý trong vấn đề suy luận và phát biểu nhằm giảm sự xung khắc về tư tưởng và hành động. Dụng đích của sự học không những để gia tăng sự hiểu biết mà còn giúp phát triển các đức tính khác như Đức Khổng Tử đã giáng cho Tử Lộ sáu điều tai hại của sự thất học:

(1) Người ham điều nhân mà không học thì bị cái hại là ngu muội.
(2) Người ham đức trí mà không học bị cái hại là phóng đãng.
(3) Người trọng chữ tín mà không học thì có hại là dễ bị lừa gạt.
(4) Người thích sự ngay thẳng mà không học thì hóa ra nóng nảy.
(5) Người dũng cảm mà không học thì hoá ra phản loạn.
(6) Người cương quyết mà không học thì hóa ra cường bạo.

Giáo dục không chỉ là học từ chương trích cú để lãnh được mảnh bằng theo sách vở mà phải biết suy luận, áp dụng kiến thức vào những hoàn cảnh khác nhau vì mỗi hoàn cảnh đòi hỏi một phương cách riêng để giải quyết vấn đề. Do đó ”tri và hành phải hợp nhất”. Học mà không biết đem sự hiểu biết áp dụng vào đời sống thì kiến thức đó hoàn toàn vô dụng, cho nên Luận Ngữ có câu:

“Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ”.

Học mà đem ra áp dụng được thì chẳng phải vui lắm sao! Tham gia chiến trận khi quôc gia lâm nguy, thực hiện các công tác sinh hoạt xã hội, chính trị, văn hoá, kinh tế, y tế, giáo dục khi thái bình, đều là những cơ hội học hỏi chứ không phải chỉ đến nhà trường mới gọi là học.

Theo thầy Tử Lộ thì “Cai trị nhân dân, cúng tế thần đất đai, mùa màng, thì cũng là học, hà tất phải đọc sách rồi mới gọi là học”. Quan niệm này rất hữu lý và tiến bộ vì ngoài lối học sách vở, còn phương pháp huấn luyện OJT (On the job training) ngày nay rất thịnh hành tại các nước tân tiến.

Muốn học hỏi trước tiên phải:

(1) Khiêm nhường và phục thiện Những người kiêu căng, chỉ biết nói và không biết nghe thì không học hỏi gì được. Khiêm nhường tức là hỏi người dưới không lấy làm thẹn “Bất sỉ hạ vấn”.

(2) Có thiện chí tìm hiểu hỏi han. Đức Khổng Tử nói: “Người nào không hỏi phải làm sao? phải làm sao? thì ta cũng chẳng có cách nào chỉ bảo cho được. Kẻ nào không hăng hái muốn hiểu thì ta không thể giúp cho hiểu được, kẻ nào không tỏ ý kiến thì ta không thể giúp cho phát biểu ý kiến được. Ta vén lên cho một góc mà chẳng tự tìm được ba góc kia thì ta không giảng cho thêm nữa”.

Thế thì giáo huấn cũng còn tùy người, tùy tánh nết, tùy trí tuệ, tư cách của mỗi nguời, cũng như may áo, tùy kích thước của mỗi người." Cưỡng bách giáo dục tại một số quốc gia tân tiến thường đến lớp 9 (đệ tứ) hoặc lớp 12 (đệ nhất) phần học còn lại là do thiện chí muốn tiếp tục sự học. Phương pháp giáo huấn tùy người có từ trên 2000 năm về trước, ngày nay nhiều đại học đang áp dụng các chương trình giáo dục “University without wall” và các chương trình “Non-traditional” tức là cá nhân hóa chương trình cho phù hợp với sở trường thực dụng của mỗi cá nhân.
Con nguời được thọ tạo như những viên ngọc quý. Nhưng ngọc bất trác thì bất thành khí, hay như những cây gỗ qúy, nhưng nếu không biết trau dồi học hỏi thì gỗ quý sẽ biến thành gỗ mục, mà “Gỗ mục thì không chạm khắc gì được, cũng như vách bằng đất bùn thì không tô vẽ gì lên được”.

Phương pháp học hỏi hữu hiệu là vận dụng tri giác (thu nhận kiến thức qua giác quan – perception) mà nghe và thấy là hai giác năng quan trọng nhất giúp con người thu nhận ngoại giới. Do đó, cổ nhân khuyên là “Nên nghe cho nhiều, điều gì còn nghi ngờ thì để đó, tìm hiểu thêm. Điều gì biết rõ ràng, chắc chắn thì nên nói, nhưng nên nói một cách ôn tồn.” và “Nên thấy cho nhiều, những gì chưa được rõ thì để đó đừng làm, còn những gì biết rõ thì cũng phải làm một cách cẩn thận như vậy sẽ ít phải ăn năn”.

Trong thiên hạ thường có 4 hạng người:

(1) Không ai dạy mà biết được đạo lý là hạng ưu tú – Sinh nhi tri chi giả, thượng dã – Đó là hạng người thông minh vốn sẵn tính trời, là hạng ưu việt.
(2) Học rồi mới biết là hạng trung – Học nhi tri chi giả, thứ dã – gồm đa số khoa bảng, chuyên viên.
(3) Dốt mà chịu học là bậc thấp – Khốn nhi học chi, hữu kỳ thứ dã – là những thành phần hiếu học để thăng tiến.
(4) Dốt mà không chịu học là hạng cuối cùng của xã hội – Khốn nhi bất học, dân tư vĩ hạ hỉ – Hạng thứ tư nầy đa số bất cần đời, sinh lộn kiếp. “Cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem con tạo xoay vần đến đâu?”

Tại Hoa Kỳ người ta cũng thường đề cập đến ba hạng chuyên viên:

(1)-Hạng chuyên viên ưu tú thường nêu ra sáng kiến, phát minh. “Professionals with great minds talk about ideas”
(2)- Hạng chuyên viên trung bình thường bàn về những chuyện đang xảy ra “Professionals with average minds talk about current events”; và
(3)- Hạng chuyên viên thường hay bàn chuyện người khác.” Professionals with small minds talk about people”.

Dù thuộc loại chuyên viên nào chăng nữa, trong một ngày mình nên xét ba điều:

(1) Mình giúp ai việc gì, có giúp hết lòng không?
(2) Mình giao du với bạn bè có giữ được chữ tín không?
(3) Mình có học hỏi thêm điều gì mới mẻ trong ngày không?

“Mỗi ngày biết thêm điều mình chưa biết, mỗi tháng không quên những điều mình đã biết như vậy là biết học rồi đó”. Nhưng cũng nên biết rằng: ”Biết học không bằng ham học và ham học không bằng vui mà học”. “Nếu mình yêu thích công việc mình làm, thi xem như cả đời không làm gì hết “!

Diễn trình giáo dục là diễn trình thu nhận kiến thức, tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo. Tuy vậy, đó chỉ mới là giai đoạn đầu hay nói khác đi là giai đoạn “cách vật chí tri”, hiểu biết sự việc ngoại giới mà chứng chỉ, bằng cấp là biểu tượng cho giai đoạn này. Nếu đến giai đoạn này rồi tự thỏa mãn và ngưng học hỏi, tu thân, thì chỉ là hiểu biết vòng ngoài, nghĩa là mới thu nhận được kiến thức ngoại giới nhưng chưa đạt đến trình độ “Thành tâm, chánh ý, tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ”.

Kiến thức thu nhận được ở nhà trường từ tiểu học đến đại học chỉ là kiến thức căn bản ai cũng có thể học được miễn có thì giờ và phương tiện để trở thành chuyên viên. Đó là sự thực, vì nhìn vào xã hội chúng ta thấy sinh đồ càng ngày càng đông và trường học càng ngày càng nhiều.

Học để hiểu biết và hiểu biết hơn về một ngành chuyên môn để trở thành “chuyên viên” (professional) là điều tốt, nhưng nếu chỉ để “mong an nhàn, sống lâu giàu bền’, còn việc nước việc cộng đồng, xã hội, aí hữu, không thèm nghĩ đến thì chưa đạt đến trình độ “Trí thức”.
Để đào luyện (formation) trí thức, triết lý giáo dục nhân bản của nền Quốc Học không ngưng lại ở mức độ thu nhận kiến thức chỉ để trở thành chuyên viên mà còn tiến đến chủ đích làm cho con người trở nên cao thượng hơn:

“Thương vị đức, hạ vị dân”.

Phối hợp đạo lý làm người và kiến thức để giúp đời, là dấu chỉ của người trí thức, của kẻ sĩ. Cụ Nguyễn Công Trứ đã từng quan niệm:

Từ trái: ( đứng) Mai, Mễ, Cai, Thời, Huy, Hưng, 
(ngồi) Cẩm, Thống
“The Untouchables” Đại hội 60 năm gặp lại, San Jose, USA”

“Kinh luân khởi tâm thượng,
Binh giáp tàng hung trung.
Vũ trụ chi giai ngô phận sự.
Nam nhi đáo thử thị hào hùng”.

Khi quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Kẻ sĩ không phải là hạng người ngồi khoanh tay khi sơn hà nguy biến!
Phải chăng Quốc Học là trường xây dựng nền tảng cho nền Việt học, phối trí giữa kiến thức và tâm đạo. Kiến thức có thể diễn tả qua tư tưởng, kỹ thuật, phương trình, công thức… còn tâm đạo được thể hiện qua tinh thần đạo đức, lương tâm chức nghiệp của quý Thầy, quý Cô.
“Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành”. Với lương tâm chính trực, tận tụy của quý Thầy, quý Cô, học sinh đương nhiên vì mến Thầy, thương Cô mà học không phải vì Thầy la, Cô mắng.

Một khi xuất thân từ Quốc Học, học sinh đều thành danh phụng sự xã hội với tinh thần Nhân, Trí, Dũng: Phối hợp được lòng nhân ái, tâm đạo, kiến thức và nghị lực, quả cảm để xây dựng cộng đồng xã hội, quốc gia dân tộc.

Dù tha hương, sống nơi góc bể chân trời, nhưng đến ngày kỷ niệm Quốc học năm thứ 130 (1896- 2026) chúng ta vẫn hướng về mái trường thân thương nơi con sông xưa thành phố cũ, ngâm khúc hoan ca:

“Trường xưa lưu mãi bóng hình.
Trăm năm Quốc Học hiển vinh muôn đời.

Trấn Xuân Thời
QH 1958-1961

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

Trạng Nguyên Mạc Đỉnh Chi (1280 - 1346)


Mạc Đỉnh Chi

Đời Trần có Mạc Đỉnh Chi
Vóc người nhỏ bé dị kỳ hơn ai
Xấu tướng mà có biệt tài
Nói năng hoạt bát biện bài càng hay
Mấy phen đi sứ cõi ngoài
Lưỡng Trạng nổi tiếng danh bay nước Tàu
Ngài còn liêm khiết thanh cao
Của tiền phi nghĩa khôn xao lòng vàng
Gương trong ngọc trắng huy hòang
Làu làu kinh sử vẻ vang giống nòi...
(Khuyết Danh)

Trên đây là bài thơ mà người viết học trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư từ hồi còn để chỏm. Do đó không nhớ tên tác giả. Tuy nhiên, qua nội dung bài thơ, tg rất mực ngợi ca ông Mạc Đỉnh Chi.
Và cũng chính bài thơ trên đã gợi cảm hứng cho người viết biên soạn Danh Nhân tiểu truyện này.

Tiểu sử: Mạc Đỉnh Chi ( M Đ C )Tự là Tiết Phu, người tỉnh Hải Dương, giòng dõi Mạc Hiển Tích đời Nhà Lý, mồ côi cha từ nhỏ, nhân dạng tuy xấu, nhưng cực kỳ thông minh. Ông theo học với Hoàng đệ Trần Ích Tắc, và đỗ Tiến sĩ năm 1304 đời vua Trần Anh Tông. Đỗ đầu khoa, nên gọi: Trạng Nguyên.

Nhưng nhà vua không trọng dụng do ngoại hình . Biết bụng vua, Ô. làm bài phú "Ngọc Tỉnh Liên" dâng lên vua. Nội dung ví mình như hoa Sen quí trong Giếng Ngọc. Nhà vua xem xong, cả đẹp, phong chức dần lên tới Tả Bộc Xạ (Thượng Thư), hai lần đi sứ sang Nhà Nguyên, và ứng đối rất tài tình.
Ông đã cùng vua Nguyên xướng hoạ thơ văn rất tương đắc, được vua Nguyên chính tay chấp bút phong tặng"Lưỡng quốc Trạng Nguyên".

Mạc Đỉnh Chi người cương trực, thanh liêm, hết lòng vì dân vì nước. Ông làm quan qua ba đời vua: Anh Tôn, Minh Tôn, Hiến Tôn. Đời vua Trần Minh Tôn được phong Hành Khiển Nhập Nội (Thủ tướng)

Những giai thoại nói về MĐC:

1 - Ứng Đối: Khi vào bệ kiến vua Nguyên, nhà vua có câu đối:

NHẬT HỎA, VÂN YÊN BẠCH ĐÁN THIÊU TÀN NGỌC THỐ ( Mặt trời là lửa, mây là khói ban ngày đốt cháy vầng trăng )

Hiểu ý kiêu ngạo trịch thượng của vua Nguyên, để tỏ rõ khí phách của dân Việt, MĐC đối lại:
NGUYỆT CUNG, TINH ĐẠN HOÀNG HÔN XẠ LẠC KIM Ô ( Trăng là cung, sao là tên chiều tối bắn rơi mặt trời )
Rất là tuyệt, nói theo Kim Dung rất là độc chiêu, ăn miếng trả miếng, vua Nguyên nghe qua hậm hực nhưng cũng rất kiêng dè..!!

Cũng qua câu đối của MĐC, người Tàu " Mao Tôn Cương" rằng: theo ý câu đối, về sau cháu Ô. ắt có người làm việc thoán đoạt. Và đã ứng vào Mạc đăng Dung cháu 7 đời, đã soán ngôi nhà Hậu Lê (Lê Lợi....) đồng thời truy tôn Ô. MĐC là KIẾN THUỶ KHÂM NINH VĂN HOÀNG ĐẾ. Hiện nay nơi quê hương Lũng Động, Chí Linh, Hải Dương có đền thờ Ô. MĐC rất trọng thể..!!

2 - Văn Tế Công Chúa Nguyên

Thời gian đi Sứ ở Yên Kinh ( Bắc Kinh ), có một công chúa nhà Nguyên chết, Mạc Đĩnh Chi được cử đọc văn tế. Để thử tài Sứ Thần nước Nam, quan Lễ Bộ trao cho Ông tờ giấy chỉ có 4 chữ " Nhất ". Bình tĩnh, tài trí MĐC ứng khẩu đọc:

Thanh thiên nhất đóa vân,
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Thượng uyển nhất chi hoa,
Dao trì nhất phiến nguyệt.
Y hi! Vân tán, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết !

Dịch nghĩa:

Một đám mây trên trời
Một bông tuyết trong bầu trời
Một nhành hoa trong vườn Thượng
Một mặt trăng trong ao tiên
Ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!

Ý rằng: trên trời có một đám mây, trong bầu trời có một bông tuyết, nơi Thượng uyển có một nhành hoa, trong ao tiên có một mặt trăng!
Nhưng than ôi! mây tan tác, tuyết tiêu tan, hoa tàn tạ, trăng mờ khuyết!
Đại ý là tiếc thương Công Chuá lá ngọc cành vàng đã mệnh chung, thương thay tiếc thay!!

3 - Liêm Chính: 

Vua nghe nói MĐC người rất liêm chính, ngay thẳng. Để thử lòng Ông, vua cho người đem vàng bỏ rơi trước nhà. MĐC lượm được vào chầu tâu với Vua. Vua bảo, nếu không có ai nhận, thì khanh hãy lấy mà chi dụng...

Hậu duệ ở Triều Tiên

Thời gian đi sứ Tàu, sứ thần nước Nam và Cao Ly giao tình rất trọng. Do hoàn cảnh của hai nước trước cường quốc Trung Hoa, với lại tài ba của M Đ C làm sứ thần Cao Ly rất mến mộ. Vị sứ đã mời MĐC sang Cao Ly chơi và gả cháu gái cho ông. Người thiếp này sinh được 1 nữ, và 1 nam, do đó có một dòng họ Mạc ở Cao Ly.

Câu chuyện dân gian: tương truyền, gia đình Mạc Đỉnh Chi ở gần bìa rừng. Nhà nghèo. Mẹ Ông thường vô rừng kíếm củi. Một hôm, Bà bị con vượn hiếp... Về, Bà kể lại với Cha Ông. Cha Ông bèn hoá trang phụ nữ, trong lưng lận theo cái mác thật bén nhọn, vào rừng. Ăn quen, con vượn xáp lại đè Cha Ông. Cha Ông luị cho nó một mác. Xong vất xác bên lùm cây.

Mấy hôm sau có dịp đi ngang, Cha Ông thấy chỗ vất xác con vượn, nay do mối đã đụn thành gò. Cha Ông cho đây là cuộc đất tốt, theo phong thủy. Bèn dặn Bà, khi nào ông ấy mất, hãy chôn ngay nơi gò mộ của con vượn. Bà y lời.
Nhờ cuộc đất kết, sau nầy, lớn lên, Mạc Đinh Chi thông minh xuất chúng, học hành thành đạt. và phát đạt gần tới tột đỉnh vinh quang...

Phần kết: Qua truyện Mạc Đỉnh Chi, người viết liên tưởng đến Án Anh đời Xuân Thu bên Tàu, tác giả chuyện cây quít trồng ở phía Bắc sông Hoài thì ngọt. Và ngược lại thì chua. Án Anh sống trước quan Trạng MĐC cả ngàn năm. Vóc dáng cũng nhỏ nhắn, nhưng cái đầu rất to, đối ứng bén nhạy, chính xác, tài cao đức trọng giúp vua Tề làm nên nghiệp Bá.
Vớ́i lòng ngưỡng vọng tiền nhân tài đức cao vợi như Thiên Cẩm sơn của Quan Trạng Mạc Đỉnh Chi, hậu sinh có bài thơ nhỏ để trân trọng người xưa:

Ông Mạc Đỉnh Chi
(1280 - 1346)

Biện thuyết tài tình Mạc Đỉnh Chi
Dáng người nhỏ bé thật là kỳ 
Tay buông lỏng thỏng trông như vượn
Lưng uốn lom khom ngó tợ qui
Đi sứ bao phen tiền hậu khoáng
Làm quan hai nước cổ lai hi
Văn chương uyên bác thông kinh sử
Liêm khiết trăng cao mấy kẻ bì..!!
                                    
Cảm Thán

Đọc Cổ Sử người xưa ngời lẫm liệt
Ngẫm lại mình chi xiết nỗi than ôi
Sông núi đó đang từng hồi... vong diệt
Mà anh hùng hào kiệt vẫn xa xôi...!!

Nguyễn Minh Thanh biên soạn - hiệu chỉnh
(GA 14 - 4 - 2026)

Tham khảo: trang web Mạc Đỉnh Chi
Danh Nhân Từ Điển cuả Nguyễn Huyền Anh
Thành Ngữ Điển Tích của Trịnh Vân Thanh
* Rất tiếc đã tìm nhiều nơi,nhưng không thấy tên cha, mẹ của quan Trạng Mạc Đỉnh Chi!!

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

Tiếng Bom Sa Diện Anh Hùng Phạm Hồng Thái


I- Lược sử: Phạm Hồng Thái (1896 - 1924), tên thật Phạm Thành Tích, có tên Phạm Đài, hiệu Nho - Tư; con Ông Phạm Thành Mỹ (hoạt động Phong Trào Cần Vương) và Bà Trần Thị; ngưới huyện Hưng Nguyên, Nghệ An. Về tên Hồng -Thái,con trai ông PHT là Phạm Minh Nguyệt cho là cha của ông đã lấy ý từ câu: " Nhân cố hữu tử, tử hoặc trọng ư Thái sơn, hoặc khinh ư Hồng mao " ( Là người ai cũng chết, có người coi cái chết nặng như núi Thái, có người xem nhẹ như lông chim Hồng ) trong Sử Ký Tư Mã Thiên.Ông Phạm Thành Tích,lấy 2 chữ " Hồng " và chữ " Thái " ghép lại, rồi tự đặt tên cho chính mình. Và tên ấy đã trở nên lẫm liệt, đồng thời cũng trường cữu với non sông Lạc Hồng.

Trong bài thơ Kết Miệt Tử của Lý Bạch có câu tương tự:

Yên Nam tráng sĩ Ngô Môn hào
Trúc trung trí duyên ngư ẩn đao
Cảm quân ân trọng hứa khinh mệnh
Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao
LÝ BẠCH

Gã Đan Vớ
Yên Nam tráng sĩ Ngô anh hào
Đàn trúc đầy chì, cá giấu dao
Liều chết báo đền ơn chúa nặng
Thái sơn gieo nhẹ tựa Hồng mao
LÊ NGUYỄN LƯU dịch

Và trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn cũng có câu:

Trượng phu thiên lý chí mã cách
Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao
Tiện từ khuê khổn tòng chinh chiến
Tây phong minh tiên xuất Vị kiều
ĐẶNG TRẦN CÔN

Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái sơn nhẹ tựa Hồng mao
Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị ào ào gió Thu
ĐOÀN THỊ ĐIẺM dịch

Phạm Hồng Thái: nhà cách mạng VN trong Phong Trào Đông Du và có chân trong Tâm Tâm Xã của cụ Phan Bội Châu.Chiều ngày 18 - 6 -1924,sau khi biết tin viên Toàn Quyền Đông Dương Martial Henri Merlin sẽ dự dạ tiệc ở khách sạn Victoria trên đảo Sa Diện ( Sha Mian ),Quảng Châu, PHT bèn giả dạng làm phóng viên vào được khách sạn và ném bom vào giữa bàn tiệc mông giết tên Merlin. Nhưng may cho hắn, hắn chỉ bị thương và chui trốn xuống gầm bàn. Một số thực khách người Pháp chết ngay tại chỗ, trong đó có tên Lãnh Sự Pháp Quảng Đông là Louis Cordeau. Lập tức, Anh hùng Phạm Hồng Thái bị bọn cảnh binh và mật thám bao vây truy bắt rất ngặt nghèo. Ông chạy đến dòng sông Châu Giang (Pearl River), cùng đường, bèn gieo mình xuống dòng nước đang chảy xiết tự vẫn, để khỏi rơi vào tay giặc. Lúc ấy mới 29 tuổi đời !! Ông để lại vợ trẻ tên Cao Thị Chắc và người con trai duy nhất là Phạm Minh Nguyệt (3 tuổi).Bà Cao Thị Chắc vẫn ở vậy thờ chồng,nuôi con cho đến ngày nhắm mắt !!

Bọn giặc rất tiểu tâm căm thù, khi vớt được thi hài Ông,chúng không cho chôn cất liền, mà để ruồi bâu kiến đậu đến mấy ngày!! Bị cư dân phản đối và nguyền rủa thậm tệ về việc vệ sinh, chúng mới cho nhà cằm quyền Trung Hoa mai táng tại chân đồi Bạch Vân. Đến tháng 3 năm 1925,cảm phục sự hy sinh cao cả của nhà cách mạng trẻ tuổi VN, tỉnh trưởng Quảng Châu là Hồ Hán Dân đã cho cải táng hài cốt anh hùng PHT vào khu Lăng Mộ công viên Hoàng Hoa Cương, trước sự tham dự kính cẩn của những nhà cách mạng Việt Nam. Khi ấy, đích thân cụ Phan Bội Châu đã viết bài "Văn Tế truy điệu liệt sĩ Phạm Hồng Thái!". Năm 1958 do việc mở rộng đường sá, phần mộ anh hùng PHT lại di dời một lần nữa cho đến hôm nay.

Tuy không giết được viên Toàn Quyền Đông Dương Merlin, nhưng Tiếng Bom Sa Diện của Phạm Hồng Thái đã làm cho bọn thực dân Pháp ở VN nao núng rúng động. Thứ nữa,Tiếng Bom Sa Diện còn gióng lên tiếng chuông nhằm thức tỉnh lòng yêu nước của mọi người dân VN và có ảnh hưởng sâu rộng cho công cuộc giành lại Độc Lập Tự Do cho Tổ Quốc VN mãi về sau...!!

Với lòng thành kính ngưỡng vọng anh hùng vị quốc vong thân, người biên soạn có 2 bài thơ tưởng niệm:

TIẾNG BOM SA DIỆN

Chấn động nhân tâm khắp cõi Đông
Tiếng Bom Sa Diện giặc run lòng
Merlin khiếp vía ôm thương tích
Louis tan hồn bị tử vong
Lẫm liệt tấm gương soi bất tận
Lung linh ngọn đuốc sáng vô song
Trăm năm ai chẳng ra thiên cổ
Linh khí hạo - nhiên mãi Phạm - Hồng..!!
NGUYỄN MINH THANH

Anh hùng PHẠM HỒNG THÁI

Đơn thân giết giặc giữa trùng trùng
Mong ước quốc thù sớm cáo chung
Sa Diện bom lòe kinh Pháp tặc
Châu Giang sóng cuộn lụy Nam hùng
Hoàng Hoa tàng cốt nằm heo hút
Thanh Sử phương danh tỏa lẫy lừng
Dân Việt tiếc thương hằng khấn nguyện
Non Bồng mây trắng ngự thung dung..!!
NGUYỄN MINH THANH

II - Vài nét về Hoàng Hoa Cương: là khu Lăng Mộ công viên của thành phố Quảng Châu, thành lập từ năm 1912, để làm nơi an giấc ngàn thu của những anh hùng liệt sĩ Trung Hoa đã hy sinh trong cuộc Cách Mạng Tân Hợi năm 1911 . Qua nhiều lần chỉnh trang, năm 1935 thì hoàn tất như đang thấy ngày nay. Trước công viên là Cổng Tam Quan rất hùng tráng do Tôn Trung Sơn đề 4 chữ Nho, đại tự " Hạo Khí Trường Tồn ". Qua khỏi Cổng Tam Quan, hết con đường lát đá dài 230m, đến Đài Tưởng Niệm với câu chữ Nho khắc trên Bia Tưởng Niệm theo chiều đứng " Thất Thập Nhị Liệt Sĩ chi mộ" ( thực tế có tới 85 mộ, chưa kể mộ PH ). Tiếp theo sau là Hậu Điện, trên nóc Hậu Điện có bức tường hình tháp với bậc thang 2 bên, trên vót đỉnh bậc cao nhất có tượng Nữ Thần Tự Do mô phỏng theo tượng N T T D của nước Mỹ.

Mộ anh hùng PHT nằm phía sau Hậu Điện một khoảng, có Mộ Bia cao lớn ghi " Mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái" bằng chữ quốc ngữ xếp làm 3 dòng ngang từ trên xuống: MỘ -- LIỆT SĨ -- PHẠM HỒNG THÁI. Phía dưới 3 dòng chữ quốc ngữ, theo chiều đứng của Mộ Bia có câu chữ Nho " Việt Nam Phạm Hồng Thái liệt sĩ chi mộ ". Dưới cùng,trên bệ có lư hương ( bát nhang ) để thắp hương tưởng niệm. Bên phải trước Mộ Bia, lại có một Bia Đá lớn bằng cánh cửa có khắc Bài Ký bằng chữ Nho: " Việt Nam Phạm Liệt Sĩ Chi Mộ Ký ".

III - Lời lạm bàn: Có người so sánh dũng sĩ Phạm Hồng Thái với tráng sĩ Kinh Kha nước Yên (Trung Hoa). Sự s/s này có đúng không? Thiển ý, là không đúng. Mà rất ư là khập khiễng, nếu không nói nói là xúc phạm vong linh người anh hùng họ Phạm!! Vì sao? Xin thưa: dù rằng cả hai đều can đảm phi thường,cả hai có cùng mục đích là trừ gian diệt bạo. Nhưng, động cơ của hai người có chỗ khác nhau. Kinh Kha từng làm tân khách nước Yên, nhận rất nhiều ân huệ từ thái tử Yên Đan. Cho nên, ngoài chí cả diệt bạo,Kinh Kha còn hy sinh vì món nợ ân tình cơm áo, rơi vào câu thơ của Lý Bạch:" Cảm quân ân trọng hứa khinh mệnh, Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao ".

Trong khi đó,Phạm Hồng Thái duy nhất chỉ vì lý tưởng Dân -Tộc, vì tương lai đại nghĩa Đồng - Bào, mà một đi không trở lại, và không hề vướng vít một chút mảy may nào món nợ áo cơm.Trong Di thư của PHT trước khi lên đường ám sát tên Merlin,Phạm Minh Nguyệt,con Ông, còn giữ có câu: " Hồng - Thái tôi vâng mệnh toàn thể hy sinh vì 40 triệu Đồng - Bào, chết không hề nuối tiếc, những mong kêu cứu trên toàn thế giới để cho Dân -Tộc Việt - Nam được tồn - tại trên trái đất nầy, thì Hồng - Thái tôi cũng yên lòng nơi chín suối ". Do đó,nếu như ta so đũa bằng đầu, vô hình chung xem nhẹ ý nghĩa cao cả của sự Hy sinh của tiền nhân chăng ?! Và,căn cứ vào Di Thư của người đã khuất, dựa theo câu thơ của Lý Bạch, ta có thể mô tả tinh thần PHT với lời thơ:" Cảm thương dân tộc hứa khinh mệnh, Thái sơn nhất trịch khinh Hồng mao ".Trân trọng.

Ngoài ra, Người xưa đã vậy, người nay thì sao?

Đốt nén tâm hương tưởng niệm Phạm Hồng Tháí, cùng bao nhiêu anh hùng liệt nữ... chợt nghĩ đến hiện trạng đất nước...Thì, ô hay, Nguyện Ước của những vị anh hùng dân tộc hầu như đang nghịch biến! Lãnh thổ:ải Nam Quan, thác Bản Giốc, núi Lão Qua..., Lãnh hải:vịnh Bắc Bộ, Hoàng Sa, Trường Sa... đã dần dần lọt vào tay giặc Bắc, do tập đoàn phản động " Rước voi giầy mả Tổ ". Họ đã, đang nhẫn tâm giầy xéo lên Nguyên Ước thiêng liêng của Tiền Nhân, giầy xéo lên Hồn Thiêng Sông Núi, giầy xéo lên chính đồng bào ruột thịt.Họ đã phản bội Lịch sử,đồng thời cũng nhẫn tâm phản bội ngay cả những đồng chí của họ đã hy sinh, bỏ mình trong công cuộc chiến đấu giữ nước với kẻ thù phương Bắc năm 1979 !! Họ đang say sưa trong chuyện bán nước buôn dân. Họ đang say men Mãi Quốc cầu vinh...!!!

Hỡi phường mãi quốc cầu vinh
Những thây ma thúi trương sình... chưa chôn
Một mai biển sóng dập dồn
Cuốn phăng cả xác lẫn xác hồn tiêu vong..!!

NGUYỄN MINH THANH biên soạn,
Viễn xứ, Đêm không ngủ: 3 - 3 - 11.
-----------------
Nguồn:
Thành - Ngữ Điển - Tích, GS TRỊNH - VÂN -THANH
Danh - Nhân Từ - Điển, của NGUYỄN - HUYỀN - ANH
Trang Web: Luongsonbac.com, Opera.com, Wikipedia.org, BBCVietnamese.com...


Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

Một Ánh Sáng Không Bao Giờ Tắt

Tưởng niệm Chí sĩ Phan Châu Trinh (1926 – 2026)

Mộ phần của Người tại Tân Bình, Sài Gòn
 (https://vi.wikipedia.org/wiki/Phan_Châu_Trinh)

Có những cái tên không chỉ để gọi mà là để thắp sáng. Có những cuộc đời không chỉ thuộc về một thời đại mà trở thành di sản của muôn đời. Với tôi, một người học trò cũ dưới mái trường mang tên Người, Phan Châu Trinh chính là một sự hiện diện như thế: một ánh sáng chưa bao giờ tắt trong tâm khảm người Việt.

Tôi lớn lên dưới bóng mát của ngôi trường mang tên Người tại Đà Nẵng. Suốt những năm tháng tuổi học sinh, mỗi sáng bước qua cổng, nhìn tượng hình Người sừng sững giữa sân trường, tôi luôn cảm nhận được một sự nhắc nhở thầm lặng. Nhưng phải đến khi rời xa mái trường ấy, đi qua những thăng trầm và bụi bặm của cuộc đời, tôi mới thực sự thấu hiểu vì sao ngọn lửa từ đầu thế kỷ XX ấy vẫn còn rực cháy đến hôm nay.

Phan Châu Trinh (1872-1926) không chọn con đường gươm đao hay súng đạn. Người chọn một con đường gian nan hơn: Khai minh. Giữa lúc dân tộc còn đang ngủ mê trong đêm dài nô lệ, Người dùng ngòi bút làm vũ khí, dùng trí tuệ làm đòn bẩy để thức tỉnh quốc dân. Người tin rằng độc lập chỉ vững bền khi dân tộc tự khai sáng, và tự do chỉ có nghĩa khi mỗi người dân hiểu rõ quyền làm người của chính mình.

Tư tưởng Duy Tân với cương lĩnh "Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" không chỉ là một cuộc cách mạng văn hóa mà là một bản thiết kế cho tương lai Việt Nam:

*Khai dân trí: Quyết liệt đoạn tuyệt với lối học từ chương, sáo rỗng. Người mở đường cho chữ Quốc ngữ, đưa kiến thức khoa học thực dụng vào đời sống. Người kêu gọi: "Đồng bào ta... ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật rất quý báu tặng cho đồng bào, là Chi Bằng Học" cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị của một chân lý thời đại.

* Chấn dân khí: Đập tan xiềng xích tư tưởng của chế độ chuyên chế phong kiến, thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường. Người muốn mỗi người dân phải là một công dân biết tự trọng, hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ đối với non sông.

* Hậu dân sinh: Đây chính là cái đích cuối cùng của lòng nhân ái. Mọi nỗ lực cải cách đều phải hướng về con người, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, bài trừ hủ tục, xây dựng một lối sống văn minh, tiến bộ.

Vào đầu thế kỷ XX, tư tưởng ấy là tiếng chuông thức tỉnh đại ngàn. Còn hôm nay, đó là kim chỉ nam cho sự phát triển. Qua từng dòng diễn thuyết của Người, tôi không thấy sự giận dữ mù quáng, mà thấy một niềm hy vọng lấp lánh, hy vọng vào một Việt Nam tự đứng vững trên đôi chân mình bằng tri thức và lòng tự trọng.

Tôi nhớ những buổi chiều tan học, đứng lặng yên dưới chân tượng đài, nhìn ánh nắng hoàng hôn rọi lên khuôn mặt kiên nghị của Người. Khoảnh khắc ấy, một học sinh bình thường như tôi chợt nhận ra một điều phi thường: Tri thức có thể thay đổi vận mệnh, và một cá nhân nhỏ bé có thể làm nên đại cuộc nếu mang trong mình một lý tưởng đủ lớn.

Giờ đây, dù đang sống xa quê hương, tôi vẫn mang theo "ánh sáng" ấy như một báu vật. Trong mỗi lựa chọn, mỗi ngã rẽ của cuộc đời, tôi vẫn thường tự vấn: "Nếu là Người, Người sẽ nghĩ gì? Người sẽ làm gì?". Câu hỏi ấy như chiếc la bàn tâm linh, giúp tôi giữ mình ngay thẳng giữa những biến động.

Tưởng niệm 100 năm ngày Người qua đời tại Sài Gòn (24-3-1926) không phải để đắm chìm trong tiếc nuối quá khứ mà để tiếp nối ngọn lửa cho tương lai. Nhân cuộc hội ngộ tháng Ba năm 2026 tại Orange County, California, tôi viết những dòng này như một nén tâm hương tri ân. Tri ân một người Thầy lớn đã sống và chết cho lý tưởng, nhưng vẫn sống mãi trong nhịp đập của những trái tim khao khát đổi mới.

Phan Châu Trinh không chỉ là một chí sĩ, Người là một biểu tượng của sự khai sáng. Ánh sáng ấy sẽ còn soi đường cho những thế hệ mai sau, những người trẻ đang học cách yêu nước bằng cả trí tuệ và trái tim nhân ái.

Trần Việt Long
San Jose, ngày 31-01-2026


Thứ Năm, 22 tháng 1, 2026

Gương Hùng Soi Sử Việt

 

Ngày vào xuân biển gào cơn phẫn nộ
Bạc đầu dâng thành lũy chống Hán gian
Chiến hạm vẫy vùng. Hải pháo rền vang
Đàn con Việt lại kiêu hùng Sát Thát!

Từng cơn sóng cuồng bừng bừng vỗ nhạc
Khí thế dân Nam lẫm liệt chiến trường!
Sống trọn Nghĩa Tình. Thác gửi quê hương
Vì tổ quốc, Biển cùng Người quyết chiến!

Từ ngàn xưa khi sơn hà nguy biến
Cha ông liều mình tiến bước xông pha
Nay hậu sinh có Thành Trí, Văn Thà
nêu chí cả của Con Hồng, Cháu Lạc!

Đã 52 năm san hô nghe biển hát
khúc liệt oanh truy điệu những anh linh
74 người con đã vì nước quên mình
thành trầm tích trong một ngày thủy táng!

Sóng vỗ bờ xa qua từng năm tháng
nghe như lời bi tráng của trùng dương
nhắc cháu con nhớ mãi chí quật cường
của người Lính Cộng Hòa trong hải chiến.

52 năm! Bằng “Tấm Lòng Của Biển" (*)
đảo san hô vang vọng bản hùng ca
Tận ngàn sau ...Hoàng Sa hỡi Hoàng Sa
mãi là tấm gương hùng soi Sử Việt!

Huy Văn

( Kính dâng hương linh Chiến Sĩ các cấp
đã hy sinh tại Hoàng Sa ngày 19-01-1974 )
(*) Tựa tuồng cải lương của soạn giả Hà Triều- Hoa Phượng

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2026

Một Thuở Sinh Viên


(Ảnh: Tác Giả)

Chào quý bạn,

Theo thông lệ hằng năm thì sau ngày Lễ Lao Động ở xứ Mỹ, học sinh các trường tại Portland và các vùng phụ cận khai trường trở lại. Thời gian trôi qua nhanh quá, mới đó ba tháng hè trôi qua nhanh chóng. Cô cháu nội Mya của tôi mới ngày nào còn bé tí tẹo trong vòng tay của bà nội, bây giờ lại là học sinh lớp 1 của trường tiểu học Montclair ở Beaverton. Nhìn cái cặp đi học của cháu đựng đầy dụng cụ học sinh theo sự đòi hỏi của nhà trường, người viết thấy tội nghiệp cho Mya quá vì ngày mai Mya phải vác cái cặp to tướng này vào trường trên đôi vai bé bỏng của cháu để bắt đầu một niên học mới.

Rồi đây Mya sẽ phải học hết chương trình tiểu học, chương trình trung học, chương trình đại học, rồi ra trường tranh đấu với đời để mưu sinh trong cuộc sống như người viết đã làm cách đây mấy chục năm về trước. Cái vòng lẩn quẩn đó lại tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những người già nằm xuống, những đứa trẻ lớn lên, bánh xe thời gian vẫn quay và con người vẫn phải lập đi lập lại những gì các thế hệ cha ông đã làm trong cái vòng sinh tử luân hồi của kiếp nhân sinh.

Người viết đã kể cho bạn nghe tâm tình của tuổi học trò tiểu học và học trò trung học của người học sinh vào thập niên 60 qua bài viết Lưu Bút Ngày Xanh (bài số 136 MCTN-ORTB 534 ngày 7-23-2012).

Năm năm tiểu học và bảy năm trung học của tôi có biết bao nhiêu là kỷ niệm đáng yêu đáng quý làm sao nói hết cho đủ được trong phạm vi một bài viết chỉ 3 trang đánh máy theo sự yêu cầu của ban biên tập Oregon Thời Báo. Thôi thì nhớ đến đâu thì tôi tâm tình đến đó mà thôi. Người viết đã nhận được nhiều lời khích lệ, cảm thông của những độc giả cùng thế hệ với tôi. Có nhiều vị đã gặp người viết và thú thật họ đã khóc khi người viết nhắc lại thể lệ thi cử và sinh hoạt của đời học sinh những ngày xưa cũ vì họ đã thấy hình ảnh của mình thấp thoáng trong đó. Họ và tôi đã có cùng những cảm nghĩ, những sinh hoạt, những kỷ niệm tuổi học trò giống như nhau nên vô tình tôi đã “động mối thương tâm” của họ khi tôi đã đưa họ quay về với dĩ vãng ngày xưa.

Cũng có một lần qua bài viết Cô Giáo xứ Mỹ, người viết đã tâm sự rằng tôi vẫn thích làm cô giáo hơn và đã không có duyên với bằng Cử nhân Khoa Học. Đôi khi “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” khi tôi được may mắn trúng tuyển vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh năm1964. Đây là trường đào tạo các cấp chỉ huy hành chánh phục vụ ở trung ương và ở địa phương. Khi đi học, sinh viên được hưởng học bổng với quy chế đặc biệt hơn hẵn sinh viên các đại học có thi tuyển khác như Đại học Sư Phạm, Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ, Nông Lâm Súc v..v…. Những người ôm mộng quan trường thường mơ ước được trúng tuyển vào HVQGHC vì đường công danh sẽ rộng mở sau khi tốt nghiệp với ngạch trật Đốc Sự Hành Chánh công chức hạng A. Đa số sinh viên là người miền Trung và miền Bắc của Miền Nam Việt Nam ngày xưa. Riêng người viết, một nữ sinh miền Nam, tính tình nghệ sĩ, yêu văn chương nghệ thuật, mộng tầm thường bé nhỏ, nhờ có phúc duyên nào đó lại được Phật Trời ban phúc cho được trúng tuyển vào trường này sau một cuộc thi tuyển thật là khó khăn. Đúng là ý trời đã định!

Trong phạm vi bài viết này người viết chỉ tâm tình một đôi điều cần thiết theo lời yêu cầu của một số thân hữu muốn biết về ngôi trường đặc biệt này để mở mang kiến thức mà thôi. Dĩ nhiên trong phạm vi giới hạn của một bài viết 3 trang giấy, làm sao người viết có thể nói hết được những điều mình muốn nói, mong sao quý bạn thông cảm cho tôi nhé. Xin đa tạ.

Trước hết xin mời bạn đọc qua đôi dòng về HVQGHC, bạn nhé.

ĐÔI DÒNG VỀ HỌC VIỆN QUỐC GIA HÀNH CHÁNH

( Ảnh: Sương Lam)

Học viện Quốc Gia Hành Chánh là một cơ sở giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa đặt trọng tâm vào việc đào tạo nhân viên hành chánh cao cấp cho chính phủ..

Đầu tiên, Trường Quốc Gia Hành Chánh được thành lập tại Đà Lạt do sắc luật của Quốc trưởng Bảo Đại ký ngày 7 tháng 4 năm 1952. Trường lúc đó thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục với học trình hai năm nhưng sau được chuyển giao cho Phủ Thủ tướng rồi Phủ Tổng thống. Đến năm 1955 sau khi về nước chấp chánh, Thủ tướng Ngô Đình Diệm vì nhận thấy vai trò quan trọng của cán bộ hành chánh trong công cuộc xây dựng quốc gia nên đã cho dời trụ sở của trường về Sàigòn và cải danh thành Học viện Quốc Gia Hành Chánh (QGHC), trụ sở đặt tạm tại số 4 đường Alexandre de Rhodes, sau này là trụ sở của Bộ Ngoại giao. Đến năm 1962, Học viện được chánh thức chuyển về trường sở mới to lớn và khang trang tại số 10 Trần Quốc Toản. Cơ sở vật chất gồm có giảng đường 500 chỗ ngồi, ký túc xá cho 114 sinh viên, thư viện lớn nhứt Việt Nam với 100.000 văn bản, nhà sinh hoạt, sân quần vợt, sân bóng chuyền, câu lạc bộ.

Mục đích của Học viện QGHC là nhằm đào tạo cán bộ cho guồng máy hành chánh của quốc gia qua 4 chương trình học gồm ban Cao học, ban Đốc sự, ban Tham sự, và ban Nặng lực Hành chánh.

Ban Cao học có học trình hai năm và Đốc sự có học trình ba năm rưởi nhằm đào tạo công chức hạng A cho các ngành hành chánh và chuyên môn như kinh tế, tài chánh, thuế vụ, xã hội, ngoại giao…

Môn học gồm những kiến thức như soạn thảo công văn, kế toán thương mại, tư tưởng và định chế chính trị, quản trị công quyền, quản trị nhân sự, luật hành chánh, luật thuế vụ… và cả huấn luyện quân sự.

Khi thi mản khóa ngoài các bài thi về các môn đã học, sinh viên còn phải nộp một Luận văn tốt nghiệp về một đề tài được giáo sư hướng dẫn chấp thuận.

Ban Tham sự với học trình hai năm nhằm đào tạo công chức hạng B.

Còn ban Năng lực Hành chánh là những lớp học buổi tối dành cho quân nhân và công chức để giúp họ cải tiến kỹ năng và kiến thức chuyên môn hành chánh để dự thi vào các ngạch hành chánh.

Ngoài ra, Học viện cũng là trung tâm phụ trách nghiên cứu hành chánh và tu nghiệp quốc gia. Về tu nghiệp Hoc viện phụ trách các chương trình tu huấn cho chánh phủ như chương trình phát triển chỉ huy cao cấp, chương trình quản trị hành chánh cao cấp dành cho các viên chức giữ các chức vụ cao tại các phủ bộ, và chương trình tu nghiệp cho cựu sinh viên QGHC đã tốt nghiệp quá 5 năm.

Muốn được nhận vào Học viện QGHC các ứng viên phải qua một kỳ thi nhập học khá gay go. Trong số hàng ngàn người dự tranh trên toàn quốc, mỗi năm Học viện chỉ nhận một số nhỏ hội đủ tiêu chuẩn, khoảng 50 người cho ban Cao học, và khoảng 100 người cho ban Đốc sự, và ban Tham sự.

Nhưng bù lại các sinh viên trúng tuyển được nhận một học bổng $2000.00 mỗi tháng cho sinh viên thường, còn sinh viên nguyên là công chức được tiếp tục lảnh lương cũ, ngoại trừ phụ cấp chức vụ.

Ngoài ra, từ năm 1960 trở đi với sự yểm trợ của Đại học Michigan State University (MSU), các sinh viên tốt nghiệp thủ khoa của các khoá Đốc sự hầu hết đã được cấp học bổng để du học lấy bằng Master tại Hoa kỳ, sau đó thủ khoa các khoá Cao học cũng được học bổng đi Mỹ học lấy bằng Ph.D. Đa số các cựu sinh viên có bằng Ph.D. và một số có bằng Master tại Mỹ đã trở về giảng dạy cho Học viện.

So với các trường đại học khác như các phân khoa thuộc Viện Đại học Saigòn, Viện Đại học Huế, Viện Đại học Đàlạt, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật Phú thọ, Trường Đại học Nông Lâm Súc, Học viện QGHC đã có một ban giảng huấn rất hùng hậu. Ngoài nhiều giáo sư cơ hữu có bằng Tiến sĩ tốt nghiệp trong nước và ngoại quốc, Học viện còn mời được nhiều chánh khách có tăm tiếng và nhiều viên chức hành chánh cao cấp trong chánh phủ giàu kinh nghiệm đến giảng dạy về các đề tài thuộc lãnh vực chuyên môn của họ.

Về phương diện học trình, với sự hỗ trợ của Institute of Public Administration (IPA) tại New York chương trình học tại Học viện cũng luôn được cải tiến để sinh viên tốt nghiệp có được những kiến thức hiện đại về các lãnh vực quản trị công quyền, quản trị nhân sự, về các lãnh vực kinh tế, tài chánh, thuế vụ, về lãnh vực quyết định hành chánh, cũng như các kiến thức về văn hoá và luật pháp quốc gia. Không giống như tại các trường đại học khác, sinh viên QGHC ngoài việc theo dõi các bài giảng tại lớp học có tánh cách lý thuyết, còn phải tham gia các buổi thuyết trình và hội thảo với các chánh khách và chuyên gia về các đề tài chuyên môn.

Ngoài ra, sinh viên còn đuợc đi thực tập 6 tháng tại các cơ quan công quyền ở địa phương và trung ương như một công chức thực sự. Và để chuẩn bị cho các viên chức tương lai biết sống hòa đồng với dân chúng, học trình cũng đòi hỏi các sinh viên phải tham gia vào các công tác xã hội hằng tuần do Học viện tổ chức. Ngoài ra, sau khi tốt nghiệp tại Học viện các nam sinh viên còn được gởi đi thụ huấn về quân sự tại trường sĩ quan Thủ đức trước khi đi nhận nhiệm sở.

Sau khi ra trường các sinh viên tốt nghiệp được bổ dụng đến nhiều cơ quan, các Bộ, Nha ở trung ương cho đến các ty, các sở ở địa phương và Phó tỉnh trưởng hoặc Phó quận trưởng.
Nhờ vào tất cả những ưu điểm về huấn luyện đó mà Học viện QGHC không những là một cơ sở giáo dục được trong nước biết tiếng mà cả các quốc gia vùng Đông Nam Á cũng thừa nhận Học viện như một trong nhiều trung tâm có uy tín về đào tạo nhân sự cho ngành quản trị công.

Với một quá trình hiện diện dài 23 năm, Học viện QGHC đã đào tạo được 2784 sinh viên gồm:

8 khóa Cao học với 323 sinh viên tốt nghiệp.
20 khóa Đốc sự với 1650 sinh viên tốt nghiệp.
5 khóa Tham sự với 622 sinh viên tốt nghiệp và
5 khóa Tham sự Đặc biệt dành cho đồng bào sắc tộc có 189 sinh viên tốt nghiệp.

Đó là chưa kể 527 sinh viên chưa kịp tốt nghiệp vào năm 1975 gồm:

161 sinh viên Cao học khóa 9 và khóa 10
316 sinh viên Đốc sự các khóa 20, 21 và 22
50 sinh viên Tham sự khóa Đặc biệt.

Với một số lượng tốt nghiệp khá đông đảo như vậy, các cựu sinh viện QGHC với một kiến thức chuyên môn dồi dào và một kiến thức căn bản về quân sự đã một thời như Nguyễn Công Trứ có nói:

“Trong lăng miếu ra tài lương đống,
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương ”.

Nhưng tiếc thay ngày lịch sử định mệnh 30 tháng 4 đã xảy đến làm ngôi trường QGHC phải bị đóng cửa và các cựu sinh viên QGHC phải tứ tán khắp bốn phương trời. Nhưng dù sống ở đâu, những ngày xưa thân ái dưới mái trường QGHC và giai đoạn dấn thân phục vụ cho quê hương xứ sở vẫn không phai nhòa trong tâm trí họ.

Để kết thúc, xin có 4 câu thơ:

Tài lương đống một thời ngang dọc
Mộng can tương bỗng chốc khói mây
Dù cho lưu lạc đó đây
Trường xưa vẫn mộng một ngày đoàn viên…
(Nguồn: Trích bài viết của Nguyễn Minh Triết- Xin cám ơn anh NMT)

Người viết hy vọng rằng những gì bạn muốn biết về trường QGHC đã được anh Nguyễn Minh Triết trình bày rõ ràng rồi. Người viết sẽ tâm tình tiếp với quý bạn trong những bài viết sau này để quý bạn hiểu rõ hơn niềm vui và nỗi buồn của những kẻ sĩ ngày xưa hìện đang lưu lạc nơi xứ người.

Sương Lam