Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hà Nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2016

Tìm Hiều Về Chữ Viết Của Dân Tộc Việt Nam Qua Các Thời Đại

Lời người viết: “Vào những năm gần đây ở nước ta nở rộ lên thông tin: một nhà giáo về hưu là ông Đỗ Văn Xuyền năm nay 79 tuổi, hiện sống tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ là người đã tìm ra và giải mã được chữ Việt cổ sau hơn năm mươi năm dày công nghiên cứu!
(Chữ Việt cổ)
Thế nhưng, về “chữ Việt cổ” do ông Đỗ văn Xuyền tìm ra và giải mã này, hiện nay các nhà khảo cổ và sử học vẫn còn tồn nghi, cho rằng thực chất loại chữ viết này chỉ là một trong tám dạng chữ viết của người dân tộc Thái (còn gọi là Thổ hay Tày) sống ở miền Tây Bắc nước ta. Lối chữ này được cải biên từ chữ Phạn, có nguồn gốc xuất xứ từ Ấn Độ.

Theo sự tồn nghi này, các nhà khảo cổ và sử học cũng cho rằng: ông Xuyền và một số người khác đã nhầm lẫn giữa chữ Việt cổ với chữ viết của người dân tộc Thái! Sở dĩ có sự nhầm lẫn như vậy là do họ đã suy luận dựa vào sách “Thanh Hóa quan phong” do một viên quan tri châu tên là Vương Duy Trinh biên soạn vào năm Thành Thái thứ 3 (1903) có chép lại một khúc ca tiếng Châu bằng chữ “Châu” (châu là đơn vị hành chánh ở miền núi, tương đương với huyện ở đồng bằng thời Pháp thuộc) được chú âm và dịch sang tiếng Việt bằng chữ Nôm kèm theo danh sách 35 “Man mẫu tự” (nghĩa là bảng chữ cái của người Man) cũng được chú âm bằng chữ Nôm”.

Tiếng Việt là tiếng nói (ngôn ngữ) của người Việt Nam và là quốc ngữ của nước Việt Nam chúng ta. Lịch sử Việt Nam ghi nhận, đã có ba loại chữ viết (văn tự) được dùng để ghi chép tiếng Việt là chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. 

Chữ Hán và chữ Nôm là văn tự ngữ tố, mỗi chữ biểu thị một âm tiết tiếng Việt. Chữ Quốc ngữ là văn tự toàn âm tố, lấy âm tố (hay âm tiết) làm đơn vị. 

Tuy nhiên, theo sự nhận định từ xưa đến nay của các nhà nghiên cứu về lịch sử cũng như khảo cổ học cả trong và ngoài nước, có một thứ chữ khác, khác biệt hẳn với loại chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ với tên gọi là chữ Việt cổ.


Chữ Việt cổ là loại chữ gì và nó xuất hiện từ bao giờ?

Theo bộ Sử ký đầu tiên của nước ta là “Đại Việt Sử ký Toàn thư” của sử gia Lê Văn Hưu đời nhà Trần, sau này được sử gia Ngô Sĩ Liên đời Hậu Lê biên soạn lại, cho đến cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim và các bộ sách Lịch sử Việt Nam của nhiều tác giả Viện Sử học thời hiện đại thì nước ta đã được thành lập từ trước thời Hồng Bàng với vị vua đầu tiên là Kinh Dương Vương vào năm Nhâm Tuất (2879) trước Công nguyên (TCN), tính đến nay (2016) là 4995 năm. Ngay từ lúc bấy giờ, người Việt thời Thượng cổ của chúng ta đã có chữ viết (văn tự) riêng biệt. Lối chữ viết này, có tên là “chữ Khoa Đẩu” (khoa đẩu có nghĩa là con nòng nọc). Chữ Khoa Đẩu này còn có tên là “Hỏa Tự” vì hình dáng của nó phảng phất như những con nòng nọc và từng chữ bốc lên như ngọn lửa. Cổ sử Trung Quốc còn ghi chép lại chuyện vua Đế Nghiêu nhận sản vật từ sứ giả Việt Thường (tức Văn Lang), trong đó có hai chiếc mai rùa trên có khắc chữ Khoa Đẩu do vua Hùng Quốc Vương gởi tặng vào năm 2435 TCN. Những tài liệu và các bằng chứng lịch sử còn lại cho thấy người Việt vẫn còn sử dụng chữ Khoa Đẩu đến thế kỷ XVII trong tôn phủ của chúa Trịnh: trong cuộc họp của Viện Cơ mật do Bằng công Nguyễn Hữu Chỉnh chủ trì, các quan chức cao cấp thời đó đã đề nghị dùng lại chữ Khoa Đẩu như chữ viết chính thức của người Việt, nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh đã phản bác!

Nhưng tại sao ngày nay chữ Khoa Đẩu (tức chữ Việt cổ) lại bị thất truyền? 

Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào năm 42 sau Công nguyên (SCN), nước ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ trong suốt gần một ngàn năm. Sử sách còn ghi rõ các thái thú: Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp đã thực hiện chính sách đồng hóa bằng nhiều cách, trong đó bắt dân ta phải học chữ Hán và tiếng Hán của họ. Chữ Hán được sử dụng ngày càng rộng rãi, có ảnh hưởng rất lớn đối với nền văn hóa của nước ta.

Từ sau chiến thắng quân Nam Hán của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng năm 938, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa Việt Nam.

Tuy nhiên, cho dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, hoặc trực tiếp diễn đạt đủ hết ý nghĩa của tiếng Việt. Sự bất tương đồng này thể hiện ở chỗ: chẳng hạn như trong tiếng Việt là “trời xanh” thì phải viết là”thiên thanh”, “người” phải viết là “nhân”… Rồi do chữ Hán không có chữ “mọc” của tiếng Việt nên chữ “mọc” phải viết thành chữ “nhân mục”… Hơn nữa, một người, muốn đọc thông viết thạo chữ Hán thì phải bỏ ra một quá trình thời gian những mười năm. 

Chữ Nôm ra đời từ trên cơ sở của chữ Hán. Nói cách khác, khi ta muốn viết và diễn giải chữ Nôm, cũng phải trải qua ngần ấy năm để học chữ Hán. Nhưng do chữ Hán có sự bất tương đồng khi diễn giải từ tiếng Việt sang chữ Hán, nên chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không thể đáp ứng nổi! 
Chữ Nôm là loại văn tự được hình thành trên các cơ sở đường nét thành tố, phương thức cấu tạo của chữ Hán, tức là dùng chữ Hán để ghi chép tiếng Việt. Chẳng hạn, để diễn tả tiếng Việt là “trời”, thay vì phải viết chữ “thiên” bằng chữ Hán, thì trong chữ Nôm viết chữ “thiên và chữ “thượng”.

Quá trình hình thành và phát triển của chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn:

- Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn “đồng hóa chữ Hán”, tức là dùng chữ Hán để phiên âm tiếng Việt, chẳng hạn như tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ, chim muông, đồ vật…xuất hiện lẻ tẻ trong các văn bản chữ Hán. Những chữ Nôm đầu tiên này xuất hiện vào những thế kỷ đầu SCN, và đặc biệt rõ nét nhất vào thế kỷ VI.

- Giai đoạn sau, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo những nguyên tắc nhất định, mục đích ghi chép ngày một chính xác hơn tiếng Việt. Chữ Nôm dần dần phát triển theo thời gian từ thời Lý (thế kỷ XI) sang đời Trần (thế kỷ XIV) thì hệ thống mới thực sự hoàn chỉnh, mà điển hình là bài “Văn tế cá sấu” của Nguyễn Thuyên (tức Hàn Thuyên).

Đến thế kỷ XVIII, XIX, chữ Nôm đã phát triển tới đỉnh cao, lấn át cả địa vị chữ Hán. Dưới thời vua Quang Trung, có tác phẩm Hịch Tây Sơn, hay trong khoa thi Hương năm 1789 đã có bài thi làm bằng chữ Nôm. Riêng Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du thời Nguyễn là minh chứng hùng hồn cho sự phát triển ở đỉnh cao của chữ Nôm!

Nhìn chung, chữ Hán và chữ Nôm tuy có sự khác biệt về lịch sử và hoàn cảnh ra đời, nhưng mục đích sử dụng và mỗi thứ chữ đều có bản sắc riêng về văn hóa.

Việc chế tác chữ Quốc ngữ là một công trình tập thể của nhiều giáo sĩ dòng Tên (Jésus) người Âu châu. Trong công việc này, có sự hợp tác tích cực và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, nhất là các thầy giảng Việt Nam giúp việc cho các giáo sĩ này! Giáo sĩ Alexandre De Rhodes (A Lịch Sơn Đắc Lộ) là người đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc ngữ. Ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn cuốn từ điển Việt-Bồ Đào Nha-La Tinh, mà trong đó, có phần về ngữ pháp tiếng Việt, nó diễn giảng vắn tắt về tiếng An Nam (tức tiếng Việt) và tiếng Đàng Ngoài (tiếng Việt nói theo giọng của người miền Bắc). Ngoài việc biên soạn cuốn từ điển này, A.D.Rhodes còn soạn quyển “Phép giảng tám ngày”. Cuốn sách này có thể được xem là tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ. Tuy nhiên, phải đến 121 năm sau (1772), sau khi một cuốn từ điển khác cũng mang tên là “Từ điển Việt-Bồ-La” của Giám mục Pigneau De Béhaine (Bá Đa Lộc) ra đời với những cải cách quan trọng thì chữ Quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống chữ Quốc ngữ hiện nay. 

Tiếng Việt hiện nay có sáu thanh điệu, gồm: không dấu, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và tương đối khó phát âm đối với những người mà tiếng Việt không phải là tiếng mẹ đẻ.

Tóm lại, ngày nay, do việc sử dụng ký tự chữ La Tinh (a,b,c…) có nhiều lợi thế, thời gian học rất ngắn: chỉ cần ráp các mẫu ký tự a,b,c… lại, là có thể đọc được chữ, thể hiện trực tiếp tiếng Việt nên chữ Quốc ngữ rất tiện dụng và hữu ích, hơn cả các thứ chữ mà người Việt Nam chúng ta đã sử dụng từ trước đến nay như chữ Khoa Đẩu, chữ Hán, chữ Nôm.

Hà Nguyên
(19/3/2016)

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016

Chiều Gió

Chiều cuối năm. Trong thời khắc giao mùa chộn rộn này, hầu như mọi người, ai ai cũng vội vội vàng vàng, cố gắng giải quyết cho xong việc ngoài phố, rồi trở về một nơi nào đó được xem như là tổ ấm của mình, chuẫn bị mọi thứ để đón chào mùa xuân mới! Như chỉ trong một đoạn đường nhỏ hẹp, đã có rất nhiều dấu chân đi qua, rầm rập những bước chân đời qua lại bộn bề. Thông qua hình ảnh những bàn chân, người ta có thể thấy được niềm hạnh phúc của người giàu có đan xen với nỗi bất hạnh của những kẻ nghèo! Có những đôi chân nhỏ nhắn nuột nà mang hài đỏ cài hoa lóng lánh, có những bàn chân to đùng với đôi hia bóng loáng, có những bàn chân cong queo tàn tật kèm theo nạng gỗ, lại có cả những bàn chân trần dính đầy bùn đất cáu bẩn …


Dọc theo lề con lộ nằm cặp theo mé sông Cái là chợ hoa Tết với đủ các loài hoa muôn hồng nghìn tía đang khoe sắc hương. Nào là cúc đại đóa với màu vàng kiêu sa, nào là hoa hồng tượng trưng cho tình yêu có các màu đỏ, vàng, trắng, phớt hồng…, nào là tulip, nào là dạ yến thảo, rồi cẩm chướng, thược dược, cẩm tú cầu… Xen kẻ trong muôn hoa rực rỡ hương xuân kia là bóng dáng những nông dân vận áo quần lam lũ, chủ nhân của các gánh hàng hoa. Còn những khách mua hay ngắm hoa đi rảo rảo loanh quanh các hàng hoa để tìm món hàng mình ưng ý. Tiếng huyên náo, tiếng cò kè ngã giá bớt một thêm hai, tiếng xe cộ chạy ngang qua … mọi thứ như khuấy động những giây phút hấp hối buổi chiều cuối cùng của năm cũ.

Duy chỉ có một người đàn ông vừa mới bước qua khỏi tuổi trung niên với dáng vẻ, phục sức sang trọng là chẳng có vẻ gì gấp gáp cả! Dường như ông ta đến từ một nơi nào đó rất xa xôi và đã ngồi trên chiếc ghế đá cạnh bờ sông Cái này rất lâu, mặt hướng về phía dòng sông. Thỉnh thoảng, ông ta đảo mắt nhìn lơ đãng mọi thứ chung quanh.

Không biết bao nhiêu năm rồi, cứ vào buổi chiều cuối cùng của năm, ông đều đến đây để kiếm tìm một kỷ niệm, hay nói đúng hơn là một người. Đó là một người con gái tuổi chớm đôi mươi -lẽ ra phải nói là một người đàn bà vì đã trải qua mấy mươi năm rồi-, người yêu đầu đời của ông, người đã biến mất khỏi cuộc đời ông suốt ba mươi mấy năm nay mà chẳng hề để lại dấu vết gì! Ngày xưa, ông đã yêu nàng xiết bao! Và năm nào cũng vậy, hình bóng của người con gái ấy cũng chỉ như bóng chim tăm cá, mọi tin tức về nàng tựa như những vũ điệu trong bóng mờ.

Khi ánh tà dương tắt lịm phía chân trời, báo hiệu ngày đã lụi tàn, ông thở dài và đứng dậy, có vẻ như đang sắp sửa rời khỏi chỗ ngồi. Lại một lần nữa nàng vẫn không đến với ông!
Bỗng nhiên, ông ta giật mình như bị điện giật khi ánh mắt chạm vào một người đàn ông trông có vẻ quê mùa đang ôm mấy cành mai đứng lẫn trong đám người lố nhố phía đàng xa.

“Trời ơi!”. Ông ta thảng thốt kêu lên thành tiếng và bước những bước đi dài hơi xiêu vẹo về phía người đàn ông kia. Đôi khi ông ta loạng choạng suýt ngã vì bị đám đông xô đẩy, nhưng cuối cùng ông cũng đã đối diện người mà ông cần tìm gặp!
- Đã gần bốn mươi năm rồi, phải không anh Tư? Sau những giây phút im lặng vì xúc cảm ngập tràn, cuối cùng người đàn ông có dáng vẻ sang trọng mở lời trước.
- Ông… anh Thụy! Thật bất ngờ quá! Người đàn ông được gọi là “anh Tư” đáp lại:

Thế là họ cùng ôm chặt lấy nhau. Rồi bỏ mặc dòng người đang hối hả ngược xuôi giữa dòng đời rực rỡ hương sắc mùa xuân kia, họ cùng nhau trở về quá khứ, thuở tóc họ hãy còn xanh, thuở dấu chân chim của thời gian chưa hằn lên đuôi mắt họ! 
***

Chẳng biết tự bao giờ, người ta xây một cái cầu tàu de ra ngoài ngả ba sông, nơi con sông Cổ Chiên tiếp giáp với sông nhánh Long Hồ. Ngày đó, cái ponton này từng là bến tàu khách, lúc nào cũng nườm nượp người đi kẻ đến.

Trong dãy Bungalow nằm sát nách với ponton là vũ trường “Kim Sơn”. Đây chính là cái thiên đường giả tạo, nơi những quý ông thừa tiền, thừa tình nhưng vẫn cứ muốn đến chơi cho thỏa thích vì không biết ngày mai sẽ ra sao; hoặc các quý cô hay quý bà nạ dòng muốn tới đó để bẹo hình bẹo dạng. Tấp nập ra vào nơi đây là các cô gái áo quần lòe loẹt, phấn son diêm dúa. Họ đeo thẹo sát cánh những người lắm tiền nhiều của no cơm rửng mỡ. Đêm đêm họ vẫn cứ ôm ghì siết lấy nhau dưới ánh đèn màu nhấp nháy của cái thiên đường giả tạo này!

Thụy là nhân viên tạp vụ của vũ trường Kim Sơn. Công việc chính của anh mỗi đêm là quét dọn hai dãy nhà vệ sinh - cả nam lẫn nữ -. Với công việc này, thoạt đầu, khi chưa quen việc, Thụy thường bị triệu chứng ọi mửa mỗi khi nhìn thấy các thứ ô uế. Nhưng dần dà, anh lại thích nghi với nó; bởi vì, những đồng tiền “boa” hậu hĩnh của các quý bà, quý ông đã làm cho Thụy quên đi cái cảm giác khó chịu khi ngửi mùi xú uế!

Phía sau vũ trường là dãy ban công nhìn thẳng xuống ponton. Bên kia sông là cù lao An Bình thuộc dãy cù lao Minh thấp thoáng sau những rặng thủy liễu mọc chi chít kéo dài cho đến tận khúc ngoặt của mũi Đầu Ống Vố. Ngày ấy, phía bên kia sông hãy còn hoang sơ lắm! Những lúc rảnh rang vào giữa khuya, Thụy thường ra đứng ngoài ban công thả tầm mắt nhìn bao quát chung quanh. Từ lâu, anh đã có thói quen đêm đêm nhìn xuống vực nước xoáy, chỗ tiếp giáp của ngã ba sông. Rồi lần lượt anh nhìn vào từng chi tiết các sự việc, chẳng hạn trên sông đang có bao nhiêu con thuyền quay mũi về đâu, con nước đang ròng hay đang lớn, có bao nhiêu giề lục bình xanh rờn trôi theo dòng nước … Cũng có đôi khi vào những đêm trăng sáng, Thụy hướng mắt nhìn lên bầu trời chi chít sao, tâm hồn như ngất ngây trước sự huyền diệu của vũ trụ. Nhưng cũng có đôi khi anh chỉ lơ đãng thả cái nhìn mơ hồ trên tổng thể.

Một đêm, không gian quen thuộc của Thụy bị chiếm hữu bởi Dạ Hương, một ca sĩ trẻ của vũ trường. Dõi theo ánh nhìn của Dạ Hương, anh thấy nàng thường xuyên chú ý nhìn rất lâu về phía vùng tối đen của dãy cù lao Minh. Sau nhiều đêm như thế, có lần Thụy đã bạo dạn tiến đến gần Dạ Hương, bày tỏ thắc mắc của mình. Lần đó, Dạ Hương đã nhìn chằm chằm thật lâu vào Thụy, sau đó chỉ nói gọn một câu: ”Có bạn ở nơi ấy!”

Ở Kim Sơn, Dạ Hương không phải là ca sĩ ngôi sao. Đêm đêm, nàng thường hát nhạc tiền chiến của Đoàn Chuẩn-Từ Linh hay những bản tình ca của Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn. Thế nhưng, giọng hát ủ ê, nhan sắc cũng dễ nhìn cộng với mái tóc dài liêu trai của nàng cũng đã khiến cho không ít người khác phái phải trồng cây si! Tuy nhiên, điều đáng nói nhất là phẩm hạnh của nàng. Khác với phần lớn ca sĩ khác là có cuộc sống thác loạn, tính tình Dạ Hương rất đoan trang, mẫu mực. (Đôi khi, Thụy có cảm tưởng rằng trong đầu nàng đang ẩn chứa nhiều điều bí ẩn!) 

Sau lần đó, có vẻ như Dạ Hương bắt đầu chú ý đến Thụy. Mỗi lần ra vào nhà vệ sinh, gần như bao giờ nàng cũng ban phát cho Thụy một cái liếc mắt hoặc một nụ cười mỉm. (Điều này khiến cho Thụy cảm thấy ấm lòng, cái ấm lòng của một người bình thường đang làm một nghề tầm thường, hèn mọn). Thỉnh thoảng, mỗi khi tình cờ gặp Thụy trên ban công, Dạ Hương nói với anh đôi ba câu vớ vẩn về thời tiết ngày hôm đó hoặc chuyện vật giá đang leo thang vùn vụt. Mặc dù ngày nào Thụy cũng gặp nàng, thế nhưng những gì anh biết về nàng rất mơ hồ, lập lờ. Vì thế, anh luôn ao ước mình có thể chia sẻ với nàng một chút gì đó! Và hầu như bao giờ nàng cũng tìm cách khước từ mọi câu hỏi của anh, hoặc đẩy nó sang câu chuyện khác!

Thái độ, cử chỉ của Dạ Hương đã khiến cho trái tim một thanh niên chất phác, làm một công việc tầm thường và hèn mọn như Thụy luôn dao động! (Ôi, phải chăng là sự dao động của một Quasimodo trước một Esméranda ma nữ?). Là một chàng trai có tâm hồn nhạy cảm, nên sau những tín hiệu nhỏ nhặt ấy, Thụy định thu mình và dừng lại. Thế nhưng, việc từ bỏ một con người mình chưa hiểu thấu đáo phải chăng là điều hết sức khó khăn? Dần dà, hình bóng của Dạ Hương, người con gái mang cái tên của hương đêm luôn ngự trị trong trái tim của Thụy. Anh đã yêu nàng tự lúc nào không biết…

***


Mùa đông năm ấy, ở vũ trường Kim Sơn hình như không khí càng lúc càng trở nên cuồng loạn hơn. Người ta lao vào cuộc chơi hệt như những con thiêu thân. 

Riêng về phần hai người, hình như Dạ Hương đã bắt đầu nhận biết được tình yêu đơn phương của Thụy. Phần Thụy, anh luôn dành cho nàng trọn vẹn cảm giác biết ơn, lòng ngưỡng vọng và cả những rung cảm đầu tiên. Nàng vẫn như hiện diện ở mọi ngõ ngách trong tâm hồn anh.

Một hôm, chính Dạ Hương đã đề nghị rủ Thụy đến căn gác trọ của nàng ở một xóm lao động bên Thiềng Đức. Hôm đó, tự tay nàng đã nấu cơm mời anh ăn, một bữa cơm thật đạm bạc với món bầu luộc chấm với cá lóc kho tộ, tuy đơn sơ nhưng đối với Thụy là từ trước đến giờ anh chưa được ăn bữa cơm nào ngon hơn thế!
“Dạ Hương muốn gặp Thụy ngay đêm nay, sau giờ làm”. Đó là lời nhắn của Dạ Hương. Đêm đó, khi Thụy đến, Dạ Hương đã chuẫn bị sẵn hai cây đèn cầy, một ốp nhang, một dĩa trái cây và một lít rượu Sơn Đông. Tất cả được đặt trên một cái ghế đẩu chông chênh, trên đó có sẵn một khung hình nhỏ của một người phụ nữ và một người đàn ông tuổi độ trung niên. Dạ Hương bảo với Thụy đó là di ảnh của cha mẹ nàng! Dưới ánh sáng tù mù của hai ngọn bạch lạp, cả hai cùng ngồi đối ẩm. Phần Thụy, đêm đó anh cũng đã cho nàng biết cuộc đời anh cũng bạc phước chẳng khác chi nàng: lớn lên mà chẳng hề biết ai là người sinh thành ra mình, phải lăn lóc hết gia đình này sang gia đình khác với đủ thứ cay đắng mùi đời! Cũng đêm đó, Dạ Hương đã tự nguyện trao thân cho Thụy. Lần đầu tiên trong cuộc đời, Thụy mới biết thế nào là ái ân; và thật diệu kỳ thay, đó lại là xác thân của một trinh nữ!

Thế nhưng, sau cái đêm hai người đưa nhau lên tận đỉnh Vu Sơn ấy, Dạ Hương lại biểu hiện những thái độ kỳ lạ! Mỗi lần gặp Thụy, nàng trở lại bản tính lãnh đạm cố hữu. Thoạt đầu, tâm hồn Thụy chưa nhận biết điều đó! Qua những chuỗi sự kiện biểu hiện, Thụy bắt đầu mơ hồ cảm nhận: phải chăng đêm ấy chẳng qua chỉ là sự cuốn hút nhất thời của bản năng có hai thuộc tính trái ngược nhau? Liệu sự yêu thương của anh đối với nàng có được thấu hiểu, đồng vọng hay chăng? Phải chăng, chai rượu Sơn Đông kia không là rượu giao bôi, nên khi nhắp vào, men yêu của nó không thể tơ vương và tình yêu chỉ là dấu chân gió chạy?
***

“Khi trở dậy ở một kiếp sống khác, mình sẽ là ai?” Anh đã tự hỏi như thế, khi tỉnh thức với những cơn đau đến tột cùng của thể xác. Từng sự kiện như những thước phim quay chậm lúc ký ức Thụy vừa hồi phục. Anh bật chồm dậy khi chợt nhớ đến Dạ Hương, và cũng chính vừa lúc nhận biết một bên chân của anh đã lìa xa khỏi thân thể của mình cùng với vô số vết thương chi chít trên cơ thể!

… Vào đêm trừ tịch ấy, Thụy còn nhớ rõ, trước khi quay đi, Dạ Hương đã nhìn thật sâu vào mắt của Thụy và nói khẻ: “Khuya nay mình sẽ gặp lại!” Lẽ ra đêm ấy là ngày Thụy được nghỉ phép, nhưng cuối cùng phải làm tăng ca đột xuất.

Không hiểu vì lý do gì mà lửa bùng cháy ở khắp mọi nơi. Có rất nhiều, rất nhiều tiếng gào thét của những người bị thương. Trong cơn hoảng loạn, Thụy đã chạy băng băng xuống cầu thang, nhưng không cố thoát ra khỏi vùng nguy hiểm mà lại đi tìm Dạ Hương. Anh đang cố gắng tìm kiếm nàng trong làn khói mịt mù, giữa hàng đống người ngập ngụa máu. Rồi cuối cùng là cả một khúc tường đổ sập xuống người Thụy…

Một thời gian dài sau đó, Thụy rơi vào một trạng thái thật kỳ hoặc mà từ trước đến giờ chưa có tiền lệ xảy ra: anh có cảm giác như đang bềnh bồng giữa những làn sương mù. Tri giác như không còn hiện hữu, mọi thứ diễn ra trước mắt anh theo một chiều hướng mất nét, nhòa lẫn và ngưng đọng. Hình như linh hồn anh đang từ từ nhích dần xa thể xác…

Thoạt đầu, linh giác anh cảm thấy lo sợ khi nghĩ đến cái chết. Nhưng dần dần, anh lại thấy vô cảm trước nó; bởi vì, anh chợt nhận ra cái chết không còn gắn với nỗi âu lo, mà trở thành cánh cửa để giải thoát khỏi khổ đau thực tại. Anh nhích dần, nhích dần, cố dứt bỏ từng mẩu ký ức về cuộc sống để chọn cuộc ra đi thanh thản nhất, không hân hoan mà cũng chẳng muộn phiền. 

Thụy đã trải qua nhiều ngày, nhiều đêm như thế, cho đến khi tai anh không còn văng vẳng những tiếng kèn cất lên, vừa như một tụng ca vừa như một khúc ca bi thiết, não nùng theo tiếng thở dài của các linh hồn phiêu dạt. Đó cũng chính là lúc ý thức của anh trở về với thể xác. Duy có một điều thật kỳ lạ là trong quãng thời gian ấy, hình bóng của Dạ Hương không hề hiện hữu. Nàng đã mất hút trong vùng mắt trông tìm của anh. Kỳ lạ thật! (Lúc đó, đầu óc anh như vẫn còn mụ mẫm sau cơn mê, không nghĩ đến một điều tồi tệ nào đó đã xảy đến cho nàng, mà chỉ nghĩ rằng nàng đã bỏ rơi anh). 

“Dạ Hương, em ở đâu?”. Đáp lại lời anh chỉ là tiếng đồng vọng của những đêm đen, những ngày cô quạnh. Tại sao nàng lại bỏ mặc anh trong giờ phút lâm tử này, để anh phải chống chọi với sự sống và cái chết đan xen lẫn nhau? Nàng muốn chơi trò cút bắt với anh chăng? Anh sẽ phải chờ đợi nàng cho đến khi trăng tàn, nguyệt tận hay cho đến bao giờ?

Dạ Hương là nguồn gốc của mọi cơn đau lẫn niềm hạnh phúc vẹn toàn nhất của anh! Vì thế, khi trở lại với cuộc đời, ngày nào anh cũng tìm, cũng kiếm nàng trong vô vọng! Thế nhưng, hình bóng nàng luôn là một ẩn số, mọi tin tức về nàng đều rất mơ hồ, lập lờ! Việc tìm kiếm nàng, mọi thứ dường như chưa bao giờ bắt đầu, cho nên anh không thể tìm được điểm kết thúc cho nó. 

Một tháng, hai tháng, ba tháng, rồi nhiều tháng trôi qua kể từ ngày Dạ Hương biến mất. Đôi lúc, Thụy cảm thấy cay đắng khi nghĩ rằng nàng đã làm cho anh bị tổn thương quá đỗi! Cũng có đôi lúc anh nghĩ rằng thà anh chết đi, thà rằng anh không còn trên cõi đời này thì sẽ dễ chịu hơn là còn sống, sống với những nỗi khắc khoải, muộn phiền vì nàng. Tại sao nàng không hiểu rằng, dẫu giữa anh và nàng chưa từng có lời ước hẹn ba sinh hương lửa, nhưng đã từng có với nhau một đêm ngà ngọc và đã từng đến với nhau một lần tận cùng bóng lần bóng trập trùng!

Những ngày sau đó, dẫu rằng Dạ Hương quan trọng đối với Thụy như thế nào, anh cũng đã tìm mọi cách để quên nàng. Thế nhưng, sự phai lãng đi, chỉ là một cách chữa lành của thời gian hay là sự đè nén của hàng trăm nỗi đau khác! Để khi được gợi nhắc lại, mọi ký ức dù chôn sâu thế nào cũng sẽ được tái sinh, mọi cơn đau dù nhòa phai thế nào vẫn sẽ lại âm ỉ. Khi mọi cảm giác trở thành hiện thực thì thời gian sẽ mất đi khả năng đong đếm của nó! Nhưng dù sao đi nữa, bây giờ nàng đã trở thành ảo ảnh. Dẫu rằng nàng đối với anh tựa như hơi thở thì anh cũng sẽ phải thức dậy để sống cuộc đời thực của mình…
***
Ông Tư chính là bạn thân của ông Thụy và Dạ Hương, cùng làm chung ở vũ trường Kim Sơn ngày xưa. Sau khi vũ trường bị cháy rụi, nhân viên ở đó tan tác bèo nước phân ly. Mãi đến bây giờ họ mới tình cờ gặp lại nhau!

Qua câu chuyện, ông Tư cũng đã xác tín với ông Thụy một điều quan trọng:
-Ngày xưa, Dạ Hương và tôi cùng ở chung trong tổ công tác thành. Nàng đã bị chết cháy và mất xác dưới đám gạch vụn đổ nát! Và trước đó, có lẽ do có sự linh cảm gì đó nên nàng có nhờ tôi trao lại cho anh quyển nhật ký của nàng.
-Thế quyển nhật ký ấy bây giờ ở đâu? Cô ấy đã viết những gì? Ông Thụy nêu ra câu hỏi với ông Tư sau một lúc chết lặng cả hồn.
-Tôi hiện còn cất giữ! Ông Tư trả lời.
-Anh đã đọc qua rồi phải không?
-Tôi chưa hề xem qua nhật ký của cô ấy vì tôi sợ điều đó sẽ làm tổn hại đến vong linh của nàng, nhưng tôi khẳng định một điều là cô ấy rất yêu anh!
-Nàng đã nói với anh điều đó lúc còn hiện hữu ư?
-Phải. Cô ấy đã nhiều lần khẳng định với tôi như thế!
-Tại sao cô ấy tâm sự với anh?
-Bởi vì cô ấy biết…chính tôi cũng yêu cô ấy như anh!… Anh biết không, ngày ấy, mỗi lần nghe nàng tâm sự, tôi đều ghen tức với anh! Bấy lâu nay, tôi thường vái van vong linh của nàng cho có ngày nào đó, chúng ta sẽ gặp nhau, để tôi trao lại cho anh kỷ vật của nàng!

Đôi bạn, sau gần bốn mươi năm chia cách, giờ đây tóc đã điểm sương…

Hà Nguyên

Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2016

Chuyện Nhỏ Ở Xóm Cồn


Tác Giả Hà Nguyên - Có tác phẩm do Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại bình chọn" Truyên ngắn hay được đọc nhiều nhất Năm 2015


Vừa qua, Hà Nguyên, một cây bút nữ hiện ngụ tại Phường 1, Thành phố Vĩnh Long, là cộng tác viên thường xuyên của báo Vĩnh Long và một số báo ở đồng bằng sông Cửu Long đã được cộng đồng người Việt hải ngoại bình chọn tác phẩm “Chuyện nhỏ ở xóm Cồn” của chị là truyện ngắn viết bằng Việt ngữ được đọc nhiều nhất năm 2015.

Truyện ngắn “Chuyện nhỏ ở xóm Cồn” được đăng lần đầu tiên trên báo Vĩnh Long. Sau đó, qua đường truyền của Vĩnh Long Online, truyện ngắn này được cộng đồng người Việt ở các nước Nga, Mỹ, Đức, Hungary, Canada, Pháp, Tây Ban Nha, Australia… truyền tải và phổ biến.

“Chuyện nhỏ ở xóm Cồn” kể về sinh hoạt của những người bần cùng, đa phần sống bằng nghề hạ bạc trên một cù lao nhỏ nằm trên dòng Tiền giang ở giai đoạn những năm 50 của thế kỷ trước. Một ngày nọ, có một gánh hát thuật sơn đông gồm một anh chàng cổ quái nhưng đa tài cùng với hai đồ đệ là con chó cò và con khỉ nhỏ đến diễn trò và bán thuốc sơn đông. Từ đó, cuộc sống êm đềm của những người bần cùng trên cù lao này dần dà trở nên thay đổi…

Ngoài truyện ngắn trên, Hà Nguyên còn sáng tác một số truyện ngắn, tạp văn, khảo cứu… và ở lĩnh vực nào, chị cũng thành công. Có được thành quả như thế, có lẽ nhờ vào vốn sống ngồn ngộn của chị! Từ một cuộc sống trưởng giả, cuộc đời chị đã từng trải qua nhiều thăng trầm, đắng cay, bất hạnh… Trong quá khứ, chị từng làm rất nhiều nghề: phóng viên, chủ cơ sở kinh doanh, dạy kèm ngoại ngữ, phân loại rác cầu tiêu cho một cơ sở tái chế giấy, bán vé số dạo, dọn dẹp nhà vệ sinh trong vũ trường… Thời gian bán vé số dạo và làm tạp vụ trong vũ trường, chị quen biết và kết thân với những người sống ở tận đáy xã hội, những người nghèo khổ buôn gánh bán bưng, thậm chí cả dân giang hồ tứ chiếng. Quãng thời gian này, đêm nào chị cũng lê la khắp cùng khu vực chợ Vĩnh Long, từng ăn “cơm ma”, “hủ tiếu ma”, uống cà phê “phố đêm”… những nơi mà có thể những người sống cả đời ở thành phố Vĩnh Long chưa chắc biết! Và thành quả thứ hai ngoài vốn sống của Hà Nguyên là chị có học qua một số ngoại ngữ như Anh, Pháp, Đức, Nga, Hán, Pãli. Chị cũng đã từng học qua Đại học Phật giáo tại Học viện Phật giáo Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, học khoa Thần học bên Thiên chúa giáo tại Fatima Vĩnh Long.

Hiện tại, chị đang là giáo viên dạy Năng khiếu tại Trung tâm Hoạt động Thanh Thiếu niên tỉnh Vĩnh Long.

Tín Đức


Chuyện Nhỏ Ở Xóm Cồn  



Xóm là cù lao nhỏ nằm trên sông Tiền, xung quanh bao bọc toàn bần chen lẫn với ô rô, cóc kèn mọc lô nhô. Cả xóm gói gọn ước chừng vài mươi nóc gia, đa phần là dân tứ xứ nghèo khổ tụ về đây lập nghiệp. Họ sống chủ yếu nhờ vào ruộng rẫy, hạ bạc. Bần cùng hơn thì đi mò cua, bắt hến lây lất sống qua ngày.

Trên xóm cồn, mọi sinh hoạt mua bán, giao tiếp hàng ngày của mọi người đều tập trung vào cái chợ chồm hổm nằm ngay đầu cồn, trước trụ sở ấp. Mỗi ngày, chợ chỉ họp từ tờ mờ sáng cho đến giữa giờ tỵ. Kề sát bên trụ sở ấp là cái tiệm nước của gia đình ông trưởng ấp. Ông này gốc là thương binh nặng, được phục viên rồi trôi nổi về xứ này sinh sống. “Sống lâu lên lão làng”, cộng với bản tính ngay thẳng, cương trực nên ông được dân xóm cồn kính nể, tín nhiệm bầu làm trưởng ấp kiêm luôn an ninh ấp. 
Tiệm nước của gia đình ông bán đủ thứ hầm bà lằng: nào là cà phê, hủ tíu, nào là chạp phô có luôn cả la ve, ba xị đế… Đối với dân xóm cồn này, căn nhà lá tuềnh toàng vừa là tiệm nước, vừa là nhà của ông trưởng ấp là cái hội trường tổng hợp. Nó vừa là nơi trao đổi, mua bán duy nhất của cả xóm, vưa là nơi tụ hội vui chơi của mọi người sau một ngày lao động. Mọi thông tin đầu làng, cuối xóm đều được xuất phát từ nơi này! 
Thuở đó, xóm cồn nghèo nàn và hiu quạnh lắm. Nó giống như một ốc đảo bởi tứ bế toàn là sông nước. Nhịp sống lại buồn tênh, xa rời mọi tiện nghi của đời sống văn minh. Trên đất xóm cồn, phù sa đang còn trong quá trình bồi lắng nên nhiều nơi hãy còn sình sụp, hoang sơ. Phương tiện đi lại trong xóm phải nhờ vào cầu khỉ và xuồng ghe. Do tứ bề toàn sông nước như thế, nên dân xóm cồn hầu như cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài.

Một buổi sáng nọ, khi mặt trời mọc cao chưa quá ba sào, có một người đàn ông lạ mặt tuổi độ trung niên bơi chiếc xuồng ba lá bể mũi đến cắm sào nơi mé sông chợ. Trông bộ dạng anh ta thật cổ quái: tóc tai bờm xờm, mặt mày đen đúa nhọn hoắt như cái lưỡi cày, tướng tá cao lêu nghêu như chim sếu. Anh ta bước lên bờ, tiến về phía trụ sở ấp rồi đến trình giấy tờ gì đó với ông trưởng ấp. Sau khi mọi thứ thủ tục đã xong, anh ta chọn khoảnh đất trống ở cuối chợ và lần lượt dọn đồ ở dưới xuồng lên. Cuối cùng, anh ta dắt lên con chó cò và con khỉ nhỏ. Thì ra, anh ta là dân sơn đông mãi võ! 
Khi một số người hiếu kỳ tụ tập khá đông tạo thành vòng tròn quanh gánh hát thụât sơn đông, anh chàng cổ quái nọ bắt đầu diễn trò. Lúc này, anh ta đã mặc phục trang để diễn trò là bộ đồ hiệp sĩ châu Au thời Trung cổ. Đầu tiên, anh ta hú lên một tràng dài lanh lảnh nghe muốn rởn tóc gáy, đoạn, rút từ trong người ra một cây thiết bảng sơn nhiều màu sắc rực rỡ rồi bắt đầu múa may quay cuồng. Hệt như một con vượn, anh ta vứa hú vừa vừa xoay vòng vòng như con bông vụ, người quặt quẹo ngã qua ngã lại mềm nhũn tợ như hình nộm bằng cao su rồi thoắt nhiên anh ta vụt đứng phắt dậy bằng một chân. Anh ta lại thọt hai tay xuống đất theo kiểu trồng chuối ngược làm những cú lộn ngược liên hoàn, rồi uốn cong người lại dịu quặt thật gọn gàng. 
Bây giờ, hầu như tất thảy mọi người trong khu chợ đều tập trung hết về đây, chẳng còn thiết tha gì đến việc mua bán nữa! Trong khi đó, anh chàng sơn đông bắt đầu đi quanh vòng tròn, tự giới thiệu về mình một cách trịnh trọng: 
Kính thưa bà con cô bác, gánh hát thuật của chúng tôi gồm ba diễn viên, hôm nay xin hân hạnh được phục vụ ra mắt cùng bà con - anh ta đã đánh đồng xem hai con thú như người ta -.Thay mặt cho gánh hát, tôi xin tự giới thiệu: tôi là nghệ sĩ Trương Chi, còn đây là hai đồ đệ yêu quý của tôi là tráng sĩ Bạch Cẩu và Mai Tiểu thư. Xin bà con cô bác vỗ một tràng pháo tay để cổ vũ tinh thần cho gánh hát của chúng tôi! 
Chàng Trương Chi vừa dứt tiếng, lập tức khán giả xóm cồn vỗ tay đôm đốp vang dội. Đã lâu lắm rồi dân xóm cồn mới có được ngày vui như thế này! Chàng nghệ sĩ Trương Chi búng tay nghe cái tách, tráng sĩ Bạch Cẩu diện quần bò, áo da nãy giờ đứng sau lưng anh ta bắt đầu phóng ra giơ cao hai chân trước quơ qua quơ lại để chào khán giả, vừa chào vừa sủa gâu gâu. Tiếp theo, cô nàng Mai Tiểu thư trông thật điệu đàng với cái áo đầm màu đỏ, đầu đội chiéc nón rộng vành, tay lăm le cây súng lục bằng mủ trông hệt như cao bồi Mỹ chính hiệu phóng mình nhảy phóc ngồi chễm chệ trên lưng Bạch Cẩu. Chàng Trương Chi giơ hai tay làm loa, miệng liên tục hét những tiếng “bằng bằng, chéo chéo” giả tiếng súng nổ. Họ đang diễn trò cao bồi bắn súng. Càng lúc Trương Chi càng gào to, Mai Tiểu thư càng vung tay giả bộ như bắn càng nhiều hơn. Còn tráng sĩ Bạch Cẩu thì chạy vòng quanh vòng tròn đám đông, có lúc giả bộ lồng lên giống như một con ngựa bất kham. 
Tiếp đến, con Mai Tiểu thư vụt nhảy xuống lưng con Bạch Cẩu. Nó rút từ bên hông ra một cây kiếm gỗ rồi nhảy đến khiêu chiến với chàng Trương Chi. Hai bên quần thảo hổn loạn đả đời một hồi, tiếng khua của kiếm cộng với tiếng lục lạc nơi cổ chó tạo ra một thứ âm thanh dị hụ kỳ đang. 
Màn cao bồi bắn súng này quá` hấp dẫn, làm cho cả đám đông hiếu kỳ cười nghiêng ngửa, riêng thằng Út Chọt là con trai út ông trưởng ấp khoái chí quá nhảy tưng tưng làm tuột cả quần xà lỏn lòi hẳn cái “của quý” nhỏ xíu ra ngoài! Rồi xen kẻ giữa những màn xiếc là phần giới thiệu của Trương Chi với giọng điệu hết sức hóm hỉnh các bài thuốc gia truyền, nào là cao đơn hườn tán, dầu cù là hiệu Mác su, trật đả hoàn, bạc hà thuỷ, thuốc dán con rít… 
Diễn xong phần xiếc, Trương Chi lại chuyển sang phần ảo thuật. Anh ta lôi từ trong cái rương bằng cây ra các thứ đạo cụ rồi lần lượt trình diễn. Tiết mục đầu tiên là màn nuốt gươm. Anh ta giơ cao cây gươm lên cho mọi người thấy rõ nó làm bằng kim loại, đoạn từ từ ấn sâu vô miệng một cách tài tình làm cho khán giả hồi hộp muốn thót tim. Rồi đến các tiết mục khác như nuốt lửa, thay đổi số của các lá bài, đập bể bong bóng lại hoá thành bông hồng… 
Và cứ thế, hết màn xiếc nọ đến màn ảo thuật kia đã được thầy trò của anh chàng Trương Chi kia thi thố cho mãi đến khi mặt trời đứng bóng mới tan 
Thế rồi, ngày lại ngày qua, cứ sáng sáng là cái gánh hát thuật sơn đông đã có mặt ở đầu chợ với vô số các tiết mục xiếc và ảo thuật. Rồi không biết tự bao giờ, mặc nhiên dân xóm cồn xem bọn người mới đến nhập cư này cũng là thành viên của xóm; và tất nhiên, cứ mỗi khi gia đình nào trong xóm cồn có đám tiệc hay lễ lộc gì thì cũng không thể không có mặt thầy trò Trương Chi đến góp phần chen lấn.


Nơi cắm sào để qua đêm của thầy trò Trương Chi ở chỗ cái doi đất nằm thoi loi ngoài đầu khe luông, cách nhà cô Út Thỉ chưa đầy trăm tầm đất. Giống y hệt như nhân vật Trương Chi trong cổ tích: tương phản với bộ dạng xấu xí bên ngoài, chàng Trương Chi hiện đại này cũgn có giọng hát mê hồn cộng với tài đàn tân lẫn cổ nhạc và thổi sáo. Những đêm khuya thanh vắng, hoà quỵên theo tiếng gió vi vu là tiếng sáo dìu dặt của những bài: Con thuyền không bến, Lòng mẹ, Giọt mưa thu, Đêm đông… hay có khi anh độc tấu tân nhạc hoặc nhạc cổ truyền. Có đêm, thính giả xóm cồn còn được thưởng thức cả giọng hát hết sức truyền cảm của anh ta nữa! Về sau này, trong xóm cồn có ông Mười Khoe là người hay đọc nhật trình, một hôm tình cờ khám phá ra thân thế của Trương Chi. Thì ra trước đây anh ta là một nghệ sĩ nổi tiếng tài danh ở thành phố, vì chán ngán nhân tình thế thái nên mới lưu lạc tới xóm cồn khỉ ho cò gáy này! 
… Út Thỉ là cô gái vừa có nhan sắc rất mặn mà vừa lại rất giỏi giang. Năm nay, cô đã ngoài ba mươi mà vẫn còn phòng không chiếc bóng. Nghe đâu do ngày còn trẻ, vì phải phụng dưỡng báo hiếu cha mẹ già, cô đã từ chối nhiều đám nên nay phải chịu cảnh lỡ thời. Hôm gánh hát thuật sơn đông của thầy trò Trương Chi mới về xóm cồn, cô cũng có mặt ở đó. Do ngẫu nhiên, chiếc xuồng bễ mũi của bọn họ lại đậu ngay ranh đất của cô. Và vì thế, sinh hoạt thường nhật của thầy trò chàng Trương Chi kia cô đều nắm hết! Đêm đêm, một thân một mình thui thủi trong căn nhà lá nhỏ, cô nằm lắng nghe Trương Chi trổ tài đàn ca hát xướng mà có cảm tình rất nhiều với chàng nghệ sĩ tài hoa kia. Cô thuộc lòng từng lời ca, từng tiếng đàn, tiếng sáo của Trương Chi. Cô thương lắm mối tình trái ngang của nàng tiểu thư khuê các Chúc Anh Đài với chàng thư sinh nghèo Lương Sơn Bá, cũng như rất thích tấm lòng cao cả của sơn nữ Phà Ca: 
“Đói lòng ăn nửa trái trâm, 
Uống lưng bát nước đi tầm người thương 
Người thương ở tận non xanh 
Bậu về quê bậu biết mô mà tìm” 
Đêm nay, khi con trăng thượng tuần vừa mới mọc, Trương Chi đã đem cây đàn lục huyền ra ngồi trước mũi xuồng. Hai đồ đệ thân yêu của anh ta là con chó cò đang nằm lim dim ở kề bên, còn con khỉ nhỏ nhảy nhót trên be xuồng. Bản vọng cổ anh ta cất giọng đầu tiên là lời vĩnh biệt của con trai phò mã Võ Tánh với vị hôn thê là con gái yêu của quan bố chánh Gia Định thành Bạch Xuân Nguyên: 
“Trời ơi, bởi sa cơ giữa chiến trường thọ tiễn, nên Võ Đông Sơ đành chia tay vĩnh viển Bạch Thu Hà. Bạn tình ơi đừng hoài công mòn mõi đợi chờ. Hãy gọi tên anh trong những chiều thu lạnh, khi cánh nhạn bay về giữa chốn trời xa…” 
Vừa dứt bản vọng cổ, Trương Chi lại so dây, khảy tiếp bản Phụng hoàng. Những tiếng “hò, líu, xê, xừ, xang, xê, hò, xê, xư, lịu…” là tiếng con chim phụng trống kiếm tìm con chim phượng mái, cũng chính tiếng lòng của chàng Tư Mã Tương Như thố lộ với gái goá Trác Văn Quân khiến cho lòng Út Thỉ xúc cảm bồi hồi khi cám cảnh đến thân phận mình! Cô nằm trăn trở hoài trên bộ vạt tre, cơ thể rạo rực, hai bầu vú như căng cứng lên và đôi má nóng bừng bừng. Bất chợt, cô vụt đứng lên khỏi chõng, đẩy tấm liếp cửa đi về hướng đầu đất, giống như nàng Mị Nương xưa đang đêm trốn khỏi lầu son gác tía để lần theo dấu chân người thổi sáo. 
Thế rồi, bèo nước gặp nhau… 
Một đêm nọ, có người tình cờ bắt gặp bóng một người đàn ông có vóc vạc giống y chang như chàng Trương Chi thời nay lặng lẽ đi vào nhà Út Thỉ… 
… Thằng Mịch làm nghề chài lưới, là người có nhiều hành vi táo tợn nhất ở xóm cồn. Hình như xứ sở nó ở tận Kinh cùng, Ngang trâu gì đó, do nghèo khổ quá nên mới lạc loài tới xứ này. Nó không có đến một cục đất để chọi chim, nên nơi cắm dùi của nó là cái tum lá gác vắt vẻo trên nhánh chảng ba của mấy cây bần ngoài bãi bồi, cách nhà cô Út Thỉ cỡ chừng một giăng cây. Nó thầm yêu, trộm nhớ Út thỉ đã từ lâu, mặc dầu ít tuổi hơn cô. Chiều chiều từ trên cái tum lá, nó dõi mắt nhìn miết về hướng nhà của cô Út rồi thả hồn mộng mơ. Nó mơ nhiều lắm, mơ có ngày được sở hữu cho riêng nó cái hình bóng thon thả yêu kiều kia. Nhưng không biết do cô Út quá nghiêm trang hay vì lý do nào khác nữa nên mãi đến tận bây giờ nó vẫn chưa dám tỏ bày! 
Biết Út Thỉ có tình cảm với Trương Chi, thằng Mịch rất căm ghét anh ta. Nó đi khắp đầu trên xóm dưới thậm thọt bêu rếu mối tình của anh ta với cô Út, làm bộ giả giọng rao hàng hay nhái lại những trò xiếc hoặc ảo thuật. Thế nhưng, cho dù thằng Mịch có giở trò trước mặt hay khuất mắt gì đi nữa, anh chàng Trương Chi này chẳng hề tỏ thái độ chi cả, một phần có lẽ do lành tính, phần do chửng chạc! Đối với Út Thỉ, nó cũng không từ. Có lần tình cờ gặp cô giữa đường, thằng Mịch buông lời lẽ trêu chọc hết sức khả ố: 
“Kim sắt chích thịt thì đau 
Kim thịt chích thịt mê nhau suốt đời” 
Nhưng cô Út vẫn dửng dưng! 

Tức tối, nó ghét lây đến cả hai con thú. Số là lâu nay, cứ chiều chiều là con chó cò cõng trên lưng con khỉ giống y chang như hình ảnh một kỵ mã ngồi trên lưng ngựa “đi tiệm” mua đồ cho sư phụ chúng. Xen giữa tiếng lục lạc trên cổ con chó khua leng keng là tiếng kêu “khẹc khẹc” của con khỉ. Tức cười nhất là cảnh qua cầu khỉ, trong khi con chó dò dẫm từng bước thì con khỉ nằm rạp xuống lưng con chó, hai tay ôm cứng ngắc vô cần cổ, mắt nhắm lại khít rịt vì sợ! Hình ảnh này cũng là một trong những niềm vui của xóm cồn. Riết rồi thành như thông lệ, chiều nào cũng vậy, hễ đến khi mặt trời vừa tắt nắng, người dân xóm cồn đã ra ngồi trước cửa nhà ngóng cổ chờ hai con thú khôn ngoan đó chạy ngang qua. Đến tiệm nước của ông trưởng ấp,con khỉ nhảy phóc xuống khỏi lưng con chó, phóng thẳng tới trước mặt rồi đứng yên chờ cho ông trưởng ấp mở cái túi nhỏ đeo trên cổ nó -chỉ riêng một mình ông ta mới mới mở được cái túi này mà thôi- xem miếng giấy Trương Chi ghi những món cần dùng; đồng thời, cũng lấy tiền và để trở lại các thứ cần dùng. 
Một hôm, chờ cho hai con thú trên đường đi tiệm về đến quãng vắng, thằng Mịch núp trước sẵn trong lùm đợi khi bọn chúng chạy ngang qua liền quất gậy túi bụi vào chúng. Con khỉ hoảng loạn quá, phóng tuốt lên cây bần, còn con chó sau trận đòn đau điếng, nó trả miếng lại thằng Mịch bằng mấy cái táp vô ống quyển. Thấy con chó chạy dông về chỗ xuồng cắm sào mà không có con khỉ, Trương Chi liền bổ đi tìm mới hay cớ sự. Phải dỗ dành thiệt lâu, con khỉ mới dám tuột xuống khỏi ngọn cây bần nằm run rẩy trong vòng tay của Trương Chi. 
Sau khi chuỵên này xảy ra dân xóm cồn ai cũng căm giận thằng Mịch. Riêng ông trưởng ấp có nói riêng với nó: 
-Mịch à, từ đây trở đi bây không được làm xằng như vầy nữa! Tao cấm tiệt đó nghe không? Nếu như bây còn tái phạm, tao sẽ tống khứ ra biệt khỏi xóm cồn này! 
Thằng Mịch ngoài mặt làm thinh nhưng trong bụng chất chứa đầy thù hận. Nó rắp tâm đợi dịp trả thù…

Đêm khuya tĩnh lặng. Vạn vật xóm cồn đang chìm trong giấc ngủ, chỉ trừ có hai người. Ngoài doi đất, Trương Chi và Út Thỉ đang ngồi trước hai nắm mộ nhỏ vừa mới đắp nghi ngút khói nhang. Trong khi Út Thỉ khóc thút thít, Trương Chi ngồi chết lặng như cái xác không hồn. Tai họa xảy ra khi hồi chiều này, thừa lúc Trương Chi lên nhà Út Thỉ, thằng Mịch đã lén lặn tới xuồng bỏ thuốc độc vào đồ ăn của hai con thú. 
Không biết đến bao lâu, Trương Chi mới bắt mở miệng. Anh ta bắt đầu nói, mỗi lời anh ta thốt ra, tựa như muối xát, kim châm: 
- Trời ơi, sao người ta không giết tôi chết đi mà lại nỡ hãm hại hai con thú vô tội kia! Chúng nào có tội tình chi đâu mà phải chết một cách oan ức, tức tưởi như vầy. Tôi đã cùng đường rồi mà ông trời còn bắt tội tôi nữa hay sao! 
Anh ta càng nói, Út Thỉ càng thút thít nhiều thêm. Từ khi chán cảnh thói đời đen bạc, anh ta bầu bạn với hai con vật có nghĩa đó, mặc dù chúng chỉ là thú vật. Bọn chúng còn là phương tiện để anh ta sinh sống bấy lâu nay! 
Đã gần tàn canh ba, sương đêm làm ướt đẫm tóc của cà hai người. Út Thỉ năn nỉ hết mà không được nên cô đành phải vào nhà một mình. 
… Sáng hôm ấy, xóm cồn buồn hiu hắt vì chàng nghệ sĩ tài hoa kia đã nhổ sào ra đi tự lúc nào không ai hay biết. Người ta cũng không hề thấy bóng dáng của thằng Mịch ở trên chảng ba mấy cây bần ngoài bãi bồi như từ trước tới giờ. Út Thỉ mặt mày chao vao ngồi ủ rũ trong góc tiệm nước. Ông trưởng ấp thì đi tới đi lui chắc lưỡi than vắn thở dài hoài: 
- Người mang niềm vui, kẻ mang tai họa tới đều đi mất tiêu hết rồi! Ông trời ơi, sao ông sao nỡ đang tâm độc địa với dân xóm cồn này quá! 
Một cơn gió bấc thoảng qua làm ai nấy rùng mình. Ngoài bãi bồi có mấy trái bần vừa lìa khỏi cành, rơi lõm tõm xuống con sông Tiền đục ngừ phù sa đang cuồn cuộn chảy. 
Xóm cồn dần trở nên hiu quạnh thêm…

Hà Nguyên

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

Tư Tưởng Của Triết Học Phật Giáo


Đạo Phật có phải là một tôn giáo hay không? Đó là một câu hỏi chưa ai có lời giải đáp cụ thể khi đạo Phật ngày nay được xem là một trong những tôn giáo lớn nhất thế giới; và đã đóng vai trò vô cùng quan trọng cũng như chịu sự ảnh hưởng trong bối cảnh lịch sử và văn hóa của truyền thống tôn giáo và triết học Đông phương.

Do nhà hiền triết Shakyamuni (Thích Ca Mâu Ni) 566-480 trước Công nguyên sáng lập. Từ khởi nguyên, Phật Giáo là một tôn giáo chủ trương không có Thượng Đế, không có một linh hồn bất tử, không có giáo điều, không có ai ngự trị trong cái gọi là định mệnh của mỗi con người, cũng như không có một nguyên động lực nào làm chủ dòng vận hành của đời sống, ngoại trừ nguyên lý Duyên khởi. Trong quan điểm của đạo Phật, không ai khác hơn là con người cá thể, con người chính nó phải chịu trách nhiệm về những hậu quả tất yếu của tư duy và hành động của chính mình!

Trên căn bản này, cái gọi là “tôn giáo” đối với Phật Giáo thật ra chỉ là một lớp áo tín ngưỡng được sáng tác bởi người đời sau, dựa trên căn bản của niềm tin về luân hồi, nhân quả, nghiệp báo…; cũng như sự bất khả tri về những vấn đề vượt ngoài tầm nhận thức của con người! Song yếu tính tôn giáo của đạo Phật được biểu hiện chính là ở chỗ sự tôn thờ, lòng thành tín và cầu nguyện của tín đồ đối với đức Phật, những lời dạy cùng với những đồ đệ thánh thiện của Ngài, nhằm xây dựng niềm phúc lạc vững bền cho tự thân và tha nhân.

Phật Giáo không phải là một tôn giáo nếu như người ta cho rằng tôn giáo là một sự tuân phục một cách mù quáng vào một giáo điều mà không cần xem xét lại sự chân xác của giáo điều đó! Nhưng nếu người ta xét đến ngữ nguyên của từ “tôn giáo” có ý nghĩa là “cầu nối”, thì Phật Giáo có liên quan đến những nguyên lý siêu hình cao nhất! Phật Giáo cũng không loại bỏ niềm tin, nếu như ta hiểu niềm tin như là một sự tin mộ sâu xa và không gì lay chuyển được sự nảy sinh từ sự khám phá ra chân lý nội tại. Và sau cùng, Phật Giáo cũng không phải là một giáo điều, bởi vì khi còn tại thế, đức Phật đã luôn luôn nói rằng mọi người cần phải xem xét lại lời dạy của Ngài, phải tư duy về nó và không bao giờ chấp nhận nó do lòng kính trọng Ngài!

Đạo Phật là đạo giác ngộ. Nếu như Đạo được định nghĩa là con đường và Phật là giác ngộ, thì đạo Phật là con đường đưa đến giác ngộ. Do đó, tư tưởng triết lý của Phật Giáo không gì khác hơn là kinh nghiệm chứng ngộ, một loại kinh nghiệm không ai có thể trao truyền cho ai, mà mỗi người phải tự mình thể hiện. Nói cách khác, thay vì người ta phải dùng đức tin, hoặc là bất khả tri, hoặc là vào một ngôi vị Thượng Đế để đổi lấy tư tưởng của một tôn giáo nào đó, thì đạo Phật đã chủ trương dùng trí tuệ, sự nỗ lực và kinh nghiệm cá nhân (hay kinh nghiệm chứng ngộ) để đạt đến mục tiêu: ánh sáng của sự giác ngộ!

Hà Nguyên
12/6/2013

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

Tìm Hiểu Về Vệ Đà Giáo Và Bà La Môn Giáo


*Tổng hợp từ các tài liệu bằng nguyên bản tiếng Anh

Vệ Đà giáo và Bà La Môn giáo (hay Ấn Độ giáo) là hai tôn giáo có nguồn gốc xuất xứ từ Ấn Độ.

SƠ LƯỢC VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ ĐẤT NƯỚC ẤN ĐỘ


Lịch sử Ấn Độ bắt đầu với thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn, một nền văn minh phát triển hưng thịnh tại phần Tây Bắc tiểu lục địa Ấn Độ từ năm 3300 đến 1700 trước Công nguyên (TCN). Nền văn minh thời đại đồ đá này được nối tiếp bởi thời đại đồ sắt thuộc thời kỳ Vệ Đà, thời kỳ đã chứng kiến sự nở rộ của các vương quốc lớn được biết đến với cái tên Mahajanapadas. Giữa hai giai đoạn này, vào thế kỷ thứ VI TCN, Mahavira và Thích Ca Mâu Ni ra đời.

Tiểu lục địa Ấn Độ được thống nhất dưới vương triều Maurya trong suốt hai thế kỷ III và IV TCN. Sau đó, nó lại tan vỡ và rất nhiều phần bị thống trị bởi vô số những vương quốc thời Trung cổ trong hơn mười thế kỷ tiếp theo. Những phần ở phía Bắc được tái hợp một lần nữa vào thế kỷ thứ IV sau Công nguyên (SCN) và duy trì được sự thống nhất này trong hai thế kỷ, dưới thời của vương triều Gupta. Đây được coi là thời kỳ hoàng kim của Ấn Độ. Trong suốt thời kỳ này và vài thế kỷ sau đó, Ấn Độ bị thống trị bởi các vương triều Chalukya, Chola, Pallva và Pandya và trải qua giai đoạn vàng son của mỗi thời kỳ. Cũng trong thời điểm này, đạo Hindu và đạo Phật đã lan tỏa tới rất nhiều vùng tại Đông Nam Á. 

Hồi giáo du nhập vào Ấn Độ đầu thế kỷ thứ VIII SCN cùng với sự xâm lược Baluchistan và Sindh của Muhammad Bin Qasim. Những cuộc xâm lấn của đạo Hồi từ Trung Á giữa thế kỷ X và XV SCN, dẫn đến việc phần lớn miền Bắc Ấn Độ chịu sự thống trị của vương quốc Hồi giáo Delhi giai đoạn đầu và sau đó là đế quốc Mogôn. Sự thống trị của đế quốc Mogôn, đế chế đã mở ra giai đoạn của thời kỳ thăng hoa và phát triển mạnh về nghệ thuật cũng như kiến trúc, đã bao phủ phần lớn phía Bắc của tiểu lục địa Ấn Độ. Tuy nhiên, một vài quốc gia độc lập, như đế quốc Maratha và đế quốc Vijayanagara cũng đã phát triển hưng thịnh trong cùng giai đoạn này tại phía Tây và Bắc Ấn Độ.
Đến giai đoạn giữa thế kỷ XVIII và hơn một thế kỷ sau đó, Ấn Độ dần dần bị Công ty Đông Ấn Anh Quốc (British East India Company) thôn tính. Nỗi bất mãn dưới sự cai trị của công ty này, đã dẫn đến cuộc nổi loạn Ấn Độ năm 1857. Sau đó, Ấn Dộ được điều hành trực tiếp bởi Hoàng gia Anh Quốc (British Crown) cũng như chứng kiến thời kỳ phát triển mạnh mẽ về cơ sở vật chất cùng với sự suy thoái về kinh tế.

Trong suốt nửa đầu thế kỷ XX, cuộc đấu tranh giành độc lập được khởi xướng bởi đảng Quốc Đại -mà người đứng đầu là Gandhi- và sau đó được kết hợp với đảng Liên đoàn Hồi Giáo. Tiểu lục địa giành được độc lập từ Vương quốc Anh vào năm 1947, nhưng lại bị chia cắt thành ba quốc gia: Ấn Độ, Pakistan và Tích Lan (nay là Sri Lanca). Vùng phía Đông của Pakistan sau đó trở thành quốc qia Bangladesh vào năm 1971.

VỆ ĐÀ GIÁO

Vệ Đà hay Phệ Đà (Vẽda) có nghĩa là thông hiểu. Đây là tôn giáo tối cổ của Ấn Độ, là cỗi gốc của Bà La Môn giáo và là suối nguồn của nền văn minh Ấn Độ.
Vệ Đà giáo chủ trương thờ Đa thần, gồm thờ cúng thiên nhiên, có nhiều tín ngưỡng, có nghi lễ, bùa chú. Được hình thành từ các truyền thuyết của thổ dân da đen bản địa Dravidian phối hợp với các tín ngưỡng của các dân tộc từ phía Tây Bắc đến xâm lăng, nhất là tộc da trắng Aryan tràn vào miền Bắc Ấn Độ (khoảng 1550 TCN).

Kinh Vệ Đà được viết bằng tiếng Bắc Phạn (Sancrit), ngôn ngữ của người Aryan. Sau này, cũng được viết lại bằng tiếng Nam Phạn (Pãli).Trong kinh, có những bản thánh ca để ca tụng các vị thần, như thần lửa, thần núi, thần sông… Phần lớn ca tụng những vẻ đẹp huy hoàng, tưng bừng và mầu nhiệm của cuộc sống trong vũ trụ. Ngoài ra, còn có những lời cầu nguyện, nghi thức tế tự và các câu phù chú bí mật. Bộ kinh gồm bốn tạng:
1- Rig Vẽda: có nghĩa là thi tụng cái biết. Hình thành vào thế kỷ thứ XX TCN, gồm 10 cuốn, tập hợp các bài ca ngợi thần linh, gồm 1028 bài.
2- Sama Vẽda: có nghĩa là ca vịnh thần chú. Hình thành vào thế kỷ thứ X TCN, dùng để hát xướng khi cúng tế, gồm 1549 bài.
3- Yayur Vẽda: có nghĩa là nghi thức tế tự cầu đảo. Gồm các bài cầu nguyện trong nghi thức tế lễ.
4- Atharva Vẽda: triển khai ý nghĩa của ba bộ kinh trên và sưu tập các chú thuật không quan hệ đến việc cúng tế. Hình thành vào thế kỳ thứ X TCN, tổng cộng 20 cuốn. Tuy chủ yếu ghi chép các phép thuật và bùa chú, nhưng có xen vào đó các bài khoa học làm mầm móng cho Thiên văn học và Y học sau này.

Giáo lý cơ bản của Vệ Đà giáo cho rằng: con người thường xuyên có mối quan hệ với thần linh và có sự hòa đồng với vũ trụ. Vì thế, chỉ có cúng tế, cầu đảo, con người mới người mới được thần linh ủng hộ trong mọi công việc. Song hành với các buổi cầu nguyện là những cuộc hiến tế lớn. Những đồ hiến tế như: thịt, bơ, sữa, rượu… được dâng lên thần linh bằng cách đốt trên giàn hỏa.
Việc cúng tế thần linh rất quan trọng, nên dần dần đội ngũ các thầy cúng tế cũng trở nên quan trọng, có uy tín và quyền lực nhất trong xã hội Ấn Độ, hình thành đẳng cấp Bà La Môn sau này.
Qua trình tự thời gian, tư tưởng thờ Đa thần của Vệ Đà giáo đã biến đổi thành Nhất thần, rồi từ Nhất thần sang lĩnh vực Triết học ngang qua ba thời đại: Vệ Đà Thiên Thư (Vẽda), Phạm Thiên Thư (Brahmana) và Áo Nghĩa Thư (Upanishad), hình thành một tôn giáo khác là đạo Bà La Môn.

BÀ LA MÔN GIÁO (hay ẤN ĐỘ GIÁO)


-Bà La Môn (Brãhmana) là danh từ chỉ một đẳng cấp, một hạng người tại Ấn Độ. Thuộc về đẳng cấp Bà La Môn là các tu sĩ, triết gia, học giả và các vị lãnh đạo tôn giáo. Dân chúng Ấn Độ rất coi trọng đẳng cấp này.
-Bà La Môn giáo (Brahmanism) cũng gọi là Ấn giáo hay Ấn Độ giáo (Hinduism) là đạo bản địa của người Ấn (Hindus), bắt nguồn từ Vệ Đà giáo. Hình thành ở Ấn Độ khoảng năm 1500 TCN hoặc sớm hơn nữa. Không xác định ai là giáo chủ hay người khai sáng đạo. Bậc chân sư hướng dẫn tâm linh cho tín đồ được gọi là Guru. Hiện nay, đạo Bà La Môn có khoảng hơn 1 tỷ tín đồ.
Do được hình thành trên cơ sở của Vệ Đà giáo, nên đạo Bà La Môn đưa ra những kinh sách giải thích và bình luận các bộ kinh Vệ Đà như : kinh Bramana (Phạm Thiên Thư), Upanishad (Áo Nghĩa Thư), Bhagavad Gita (Chí Tôn Ca), giải thích về Maya (Thế giới Ảo ảnh) và về Niết Bàn (Nippana).
Đạo Bà La Môn thờ đa thần (Polytheism). Trời hay Thượng Đế của tôn giáo này là một Trimuti (tam vị nhất thể) gồm ba ngôi: đấng Brahma là thần Sáng tạo, đấng tối cao tối linh, là linh hồn của vũ trụ, đấng Civa (hay Shiva) là thần Tranh đấu và đấng Vishnu (hay Christna) là thần Bảo tồn. Ngoài ra, tôn giáo này còn thờ các thần khác như: thần Sấm Indra, thần Mặt trời Surya, thần lửa Agni, thần gió Vayu, thần Không trung Varuna.

THEO QUAN ĐIỂM BÀ LA MÔN, TRÊN ĐỊA HẠT XÃ HỘI, dân chúng Ấn Độ được chia thành năm giai cấp. Ai sanh ra trong giai cấp nào thì phải ở mãi trong giai cấp đó suốt đời.
-Hàng Tăng lữ thuộc giai cấp Bà La Môn (Brahman). Giai cấp này được sanh ra từ miệng của đấng Phạm Thiên (Brahma), nên họ được quyền giữ địa vị tối cao trong xã hội, độc quyền cúng tế Thượng đế và các thần linh.
-Vua chúa, quý tộc, trưởng giả,công hầu khanh tướng thuộc giai cấp Sát Đế Lỵ (Kshastriya). Họ được sanh ra từ vai của đấng Phạm Thiên, nắm quyền cai trị và thưởng phạt dân chúng.
-Thương buôn và các trại chủ giàu có thuộc giai cấp thứ ba là Phệ Xá (Vaisya). Được sanh ra từ hông của đấng Phạm Thiên. Họ nắm kinh tế, chuyên môn làm ăn với các tầng lớp dân chúng trong xã hội.
-Nông dân, công nhân bần cùng thuộc giai cấp Thủ Đà La (Sũdra). Được sanh ra từ chân của đấng Phạm Thiên.
-Loại người cùng khổ Chiên Đà La (Pariah) là giai cấp thấp kém nhất trong xã hội Ấn Độ, gồm những người làm các nghề hèn hạ như: ở đợ, làm mướn, chèo ghe, giết súc vật… Họ bị coi như sống ngoài lề xã hội loài người và bị các giai cấp trên đối xử như thú vật, vô cùng khổ nhục, tối tăm.

HỆ TƯ TƯỞNG GỒM CÓ:


1-Về Vũ trụ quan: thực tại tuyệt đối sinh thành và bảo tồn vũ trụ, vạn vật được gọi là Brahman, có thể xem như tương đồng với khái niệm Đạo của Trung Hoa hay Logos của Hy Lạp cổ đại.
2-Về Nhân sinh quan: con người dù bị ràng buộc trong vòng vô minh (có nghĩa là ngu dốt) và huyễn ảo nhưng lại có khả năng thoát khỏi chúng.
3-Đời người có bốn mục đích:
-Dharma: hoàn thành các nghĩa vụ luân lý, luật pháp và tôn giáo.
-Artha: mưu sinh và thành đạt trong xã hội.
-Kama: thỏa mãn các ham muốn nhưng biết tiết chế và điều độ.
-Moksa: giải thoát khỏi vòng luân hồi bằng cách giải trừ hết các Nghiệp (Karma) vì khi chết mà vẫn còn nghiệp thì phải chịu tái sinh vào kiếp sau ở thế gian, tức là Luân hồi (Samsara).
4-Đời người phải trải qua bốn giai đoạn:
-Brahmacharga: học tập.
-Grhastha: lập gia đình, tạo sự nghiệp.
-Vanaprastha: hướng về tâm linh.
-Sanrgasu: thoát ly xã hội để tu hành.
5-Luân lý: con người chịu ba trọng ân: ơn trời, ơn thầy, ơn tổ tiên. Phải tu tập theo ba con đường: karmamarga (phụng sự), jnanamarga (trí tuệ hay minh triết), bhaktimarga (sùng kính trời).
6-Giữ mười giới răn:
-Ahimsa: không giết chóc.
-Satya: không nói dối.
-Asteya: không trộm cắp.
-Brahmacharya: không buông thả theo ham muốn.
-Aparigraha: không tham lam.
-Saucha: phải sạch sẽ, tinh khiết.
-Santosha: biết bằng lòng.
-Tapas: kỷ luật với bản thân.
-Svadhyaya: phải học tập.
-Ishvara pranidhana: vâng phục mệnh trời.
7-Nghi lễ: có năm thánh lễ chính. Tín đồ hành lễ tại nhà riêng và trong đền thờ.
-Mahashivarati: giữa tháng 2
-Holi: trong mùa Xuân
-Ramnavami: cuối tháng 3
-Dusserah: đầu tháng 11
-Diwali: giữa tháng 11.
8-Giáo luật:
Giới tăng lữ Bà La Môn được chia làm ba bậc: Sơ khởi, Trung và Thượng.
-Sơ khởi là những vị sư cúng lễ thường, và những vị phục sư nơi đền chùa. Họ tụng niệm ba bộ kinh Vệ Đà đầu, gồm: Reg Vẽda, Yayur Vẽda, Sama Vẽda. Họ hành lễ, chứng lễ các cuộc cúng tế, nên thường trực tiếp với dân chúng.
-Bậc Trung là những vị sư bói toán, tiên tri, thỉnh quỷ thần. Thỉnh thoảng, họ làm vài phép linh cho dân chúng. Họ đọc và giảng giải bộ kinh Vẽda thứ tư là Atharva Vẽda. Bộ kinh thứ tư này có nội dung cao hơn ba bộ kinh trước và có những câu thần chú.
-Bậc Thượng là bậc cao hơn hết, gồm các vị sư không còn trực tiếp với dân chúng. Họ chuyên nghiên cứu các lực vô hình trong vũ trụ.

Vào thời kỳ đầu, với trình độ nhận thức con người còn thấp kém, tư tưởng triết học Bà La Môn giáo chủ yếu dựa vào hình thức tế tự, mang tính chất đa thần. Họ tin tưởng rằng: nhờ những nghi thức tế lễ mà người ta có thể thông cảm với thần linh, được thần linh che chở và giúp đỡ cho giải thoát.Tới khi nhận thức ngày càng cao, con người bắt đầu ý thức về sự tồn tại của mình. Họ suy gẫm về cuộc đời, số phận và đi tìm lẽ sống cho con người. Theo trình tự thời gian, tư tưởng Vệ Đà đã đạt tới quan niệm một đấng Thượng Đế hữu ngã sáng tạo vũ trụ và một bản thể tuyệt đối vô ngã làm cội nguồn chung cho vũ trụ. Tuy nhiên, trên đại thể, kinh Vệ Đà vẫn thiên trọng về quan niệm một đấng Thượng đế hữu ngã hơn!

Thời Vệ Đà Thiên Thư, người ta sùng bái cúng tế để cầu xin sự trợ giúp của các thần linh, hình thức phần chính thuộc về Đa Thần giáo. Sang thời kỳ Phạm Thiên Thư, tín đồ chán việc tế lễ và thờ tự nhiều thần, nên tuyển lọc lại vài vị thần quan trọng để phụng thờ. Sau đó, chỉ thờ một vị thần là đấng Phạm Thiên (Brahma), vị thần tối cao toàn năng, siêu việt, sáng tạo ra vạn vật vũ trụ. Thế là đối tượng tín ngưỡng của đa phần dân Ấn Độ chuyện từ Đa Thần giáo sang Nhất Thần giáo. Qua đến thời kỳ Áo Nghĩa Thư, không chỉ giới hạn trong nghi thức tế tự mà bao gồm môn triết học cao siêu.

Áo Nghĩa Thư là những bộ kinh luận được các giáo sĩ Bà La Môn trước tác nhằm khai triển nền giáo lý Vệ Đà trên phương diện triết học. Trong khi các bộ kinh Vệ Đà chú trọng về nghi thức thờ phụng thì Áo Nghĩa Thư muốn tìm hiểu thêm về tự ngã và tự thể của con người và mối liên hệ của chúng với bản thể tuyệt đối của vũ trụ vạn vật. Nội dung căn bản của Áo Nghĩa Thư cho rằng: con người cũng như mọi chúng sinh đều có một tự thể bất sinh, bất diệt, thường tịch và vô trụ như bản thể tuyệt đối, thường được gọi là Atman hay Tiểu ngã (có nghĩa là một linh hồn bất diệt). Khi tự ngã của con người hay của chúng sinh chưa hòa nhập với bản thể tuyệt đối (Brahman -tức là đấng Phạm Thiên hay Đại ngã-), thì tự ngã của con người vẫn còn phải luân hồi trong vòng sinh tử. Họ chủ trương “Brahma-Atman đồng nhất” và con người giải thoát là con người hòa đồng vào bản thể của vũ trụ. Tiểu Ngã hòa đồng với Đại Ngã vô biên trong một trạng thái hằng hữu vĩnh cửu.

Tóm lại, nói đến Ấn Độ là nói đến một nền văn hóa với nhiều truyền thống tôn giáo. Nơi đây, có nhiều triết thuyết ra đời với nhiều hệ tư tưởng khác nhau. Tuy nhiên, các học thuyết sau này đều dựa vào tư tưởng triết học Upanishad (hay nói cách khác là hệ tư tưởng Vệ Đà và Bà La Môn), vì từ rất sớm, hệ tư tưởng triết học này đã chiếm một vị thế cực kỳ trọng yếu trong mọi khái niệm và xã hội của con người cổ đại cho đến hiện nay.

Hà Nguyên
(29/4/2015)

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015

Người Đàn Bà Nhặt Lá


      Đã quá nửa đêm, trời mưa rả rích dai dẳng, bà Sáu vẫn còn lang thang dọc theo hè phố vắng tanh cùng với xấp vé số ế trên tay. Ròng rã từ đầu hôm đến giờ, bà chỉ mới bán vỏn vẹn chừng mươi, mười lăm tờ vé số, cho dù đã rảo qua không biết mấy vòng khu phố chợ. Bà rầu đến nẫu ruột, than thầm trong bụng:” Buôn bán ế ẩm kiểu này, ngày mai còn nguyên cả xấp làm sao tranh nổi với đám con nít đông ken hay những người trẻ tuổi nhanh tay lẹ mắt hơn mình !”

Dù đôi chân đã mõi nhừ cộng với cổ họng khô đắng vì rao mời, bà Sáu vẫn cố gắng đánh vòng trở lại một lần nữa về phía đầu chợ, nơi quán cháo trắng của cô Mai với hy vọng sẽ gặp được vị khách sộp nào đó đi ăn cháo khuya, để nếu may mắn trúng mối, bà sẽ bán được nhiều! Đã có nhiều bận, bà Sáu vô mánh đậm nhờ đám công tử con nhà giàu từ trong hộp đêm dưới Bungalow ra,hào phóng mua mão hết cả cọc vé số của bà. Thế nhưng, khi đến nơi, bà hết sức thất vọng vì quán vắng teo, chỉ có mấy tay trong băng vác mướn mình trần trùng trục đang cùng với cánh xe ôm vừa ngồi nhậu lai rai, vừa chờ khách hoặc đón các mối hàng khuya!

      Đang đứng co ro sát hàng ba của khu bách hóa mới, bà Sáu mừng quýnh khi bóng dáng chiếc xe du lịch đời mới đổ xịch trước quán cháo. Một đám choai choai nam có, nữ có nhảy ào ra khỏi xe cười nói huyên thuyên, làm huyên náo cả khu phố đêm đang tĩnh lặng. ( Có thể bọn họ vừa tàn một cuộc chơi, nhưng cũng có khi đây chỉ là thời khắc khởi điểm trước khi bọn họ “over night”(qua đêm) ở một xó xỉnh nào đó trong cái thành phố Vĩnh Long nhỏ bé này!

      Sau khi đợi cho bọn họ yên vị, bà Sáu tiến lại gần rồi móc vé số ra mời. Bà ta chìa từng cùi vé ra theo hình nan quạt, cốt cho họ thấy rõ những con số đẹp, gồm cả số gánh, số bầy …. Thế nhưng, đám nam thanh nữ tú này vẫn nói cười vang rân, chẳng hề lưu tâm hay đếm xỉa gì đến tiếng chào mời hết sức tha thiết của bà!
      Không bán thêm được tờ vé số nào, bà Sáu chán chường nhìn mông lung vào làn mưa bụi, lòng phân vân nửa muốn về nhà nghỉ, nửa muốn ở nán lại để kiếm khách. Nhưng khi liên tưởng đến viễn cảnh khổ ải của ngày mai, bà quyết định băng xuyên qua khu vực Ủy Ban tỉnh để đến quán “Bảy nàng Tiên” ở đường Trưng Nữ Vương, quán nhậu nổi tiếng nhờ đóng cửa muộn nhất thành phố. Rồi bà lại thất vọng thêm lần nữa khi thấy trong quán chỉ có duy nhất một bàn khách với hai người đàn ông, một còn trẻ, một cỡ trung niên đang ngồi đối ẩm. Vô số vỏ chai bia nằm lăn lóc dưới gầm bàn. 
Với tính cách “hú họa, cầu may” của đa phần dân bán vé số, bà Sáu bước vào quán sau khi đã cởi ra cái nón lá và chiếc áo tơi mưa ướt đẫm. 
- Mời ông và em mua giúp dùm vài tờ vé số. Bà Sáu cất giọng rụt rè.
      Hai người khách khuya có vẻ đã say lướt khướt, hầu như không chú ý đến sự hiện diện của bà. Còn bà Sáu đã quá dày dạn với nghề vé số nên vẫn kiên nhẫn đứng chờ.
Chờ mãi một lúc mà vẫn không thấy có sự phản hồi, bà Sáu quay lưng lại định bước ra nhưng bất ngờ ngã ịch ra sàn nhà do vướng phải vỏ chai bia. Nghe tiếng động, cả hai người khách đều giật mình ngoái cổ nhìn. 

      Bỗng nhiên, người đàn ông trung niên sững người, nhìn bà trân trối! Hai khoé môi ông ta run run, hệt như ông ta muốn nói điều gì đó mà chẳng thể thốt ra lời. Phần bà Sáu, người từng lăn lộn với nghề vé số không biết bao nhiêu năm lại như mở cờ trong bụng vì biết rằng nếu như người khách nào chú ý tới mình, ắt hẳn họ sẽ mua vé số dùm bà!
- Nhờ ông mua ủng hộ dùm vài tờ. Trời mưa dầm dề hoài bán ế quá! Bà Sáu cất tiếng rao mời sau khi vừa đứng dậy.
      Người khách trung niên nọ vẫn dán mắt nhìn chằm chằm như thôi miên vào bà Sáu, Điều đó, khiến cho thanh niên ngồi chung bàn với ông ta phải ngạc nhiên. Anh ta lên tiếng:
- Có chuyện gì thế, chú Ba?
Nghe tiếng gọi, người đàn ông trung niên được gọi là “chú Ba” như người vừa xuất ra khỏi trạng thái lên đồng. Cơn say chếnh choáng như đã tan biến đâu mất. Ông ta vội đứng lên, tay kéo ghế mời bà Sáu:
- Bà… à chị có thể ngồi xuống cho tôi hỏi thăm một chút được không?
- Dạ được, nếu ông cho phép …
      Nảy giờ, bà Sáu cũng rất ngạc nhiên về thái độ của người đàn ông nọ. Bà cố lục lọi trong ký ức nhỏ nhoi rối mù như mớ bòng bong của mình để dò tìm xem giữa bà và người đàn ông sang trọng này có mối quan hệ dây mơ rễ má nào hay không, nhưng cuối cùng thì đành phải chịu thua!
- Chị muốn dùng món nào? Người đàn ông trung niên hỏi một cách ân cần.
- Dạ cám ơn ông, tôi không đói. Bà Sáu trả lời.
- Cho một phần beefsteak và một coke. Người đàn ông trung niên nọ lệnh cho chủ quán dọn thức ăn cho bà Sáu.

      Đến lúc này, bà Sáu không còn e ngại hay khách sáo gì nữa, bởi vì bà nghĩ rằng ngừơi đàn ông kia cũng giống như một số người có lòng hảo tâm khác đãi bà một bữa ăn chỉ vì lòng thương hại mà thôi! Rồi trong lúc bà Sáu đang ăn ngấu nghiến, người đàn ông trung niên quan sát kỹ bà. Ý thức của ông nhận thức rõ rằng, đây chỉ là một người đàn bà hoàn toàn xa lạ, thậm chí chỉ là người mà ông mới gặp lần đầu tiên trong đời! Thế nhưng, tận thẳm sâu trong vô thức của ông lại hiển hiện ra hình bóng của một thiếu nữ có nét mặt hao hao giống như bà. Người thiếu nữ ấy đã che dù trời nắng, đội mưa rơi, đã hy sinh thời thanh xuân hoa mộng của mình cho dù nhan sắc đã từng làm điên đảo nhiều người -mà trong đó có cả viên thiếu tá Quận trưởng- để thay thế mẹ cha đưa ông vượt qua những cơn bão giông của cuộc đời …
- Chị còn tất cả bao nhiêu vé?
- Dạ đúng 134 vé. Bà Sáu trả lời sau khi đã nhẫm tính sẵn trong đầu.
- Tôi sẽ mua hết cho chị. Mà này, mỗi ngày chị lời được khoảng bao nhiêu ?
- Cỡ hai chục ngàn.
- Thế chị có muốn mỗi ngày kiếm được gấp mười lần số tiền đó hay không?

      Bà Sáu chỉ cười cười chứ không trả lời vì nghĩ rằng ông khách nói đùa với mình. Đến nỗi khi nhìn thấy nét mặt nghiêm trang cùng với giọng nói ấm áp như toát ra vẻ gì thật gần gũi, bà vẫn chưa tin là ông ta nói thật!
- Tôi chỉ ở lại thành phố này vỏn vẹn chỉ bốn hôm thôi! Trong bốn hôm ngắn ngủi này, tôi sẽ làm một số việc và sẽ có cần đến một số người. Chị là một trong số người mà tôi chọn.
- Nhưng việc đó … Bà Sáu dừng lại ở giữa câu nói của mình.
- Tôi hiểu … tôi hiểu ý chị muốn nói gì! Thật ra việc này rất đơn giản và không có gì phạm pháp cả, chị hãy yên tâm. Cụ thể là mỗi ngày chị nhặt cho tôi một bao lá vàng và chị sẽ làm liên tục như vậy trong ba hôm. Ngày cuối cùng chị sẽ làm việc khác. Công việc này dễ dàng hơn việc bán vé số rất nhiều, phải không?
- Nhưng ông cần lá để làm gì. Ông không đùa dai với tôi đấy chứ? Bà Sáu thắc mắc.
- Chị không cần phải quan tâm đến chuyện đó, chỉ cần biết là tôi đang nói chuyện tử tế với chị, muốn tạo điều kiện để giúp cho chị. Tiền thù lao mỗi ngày là hai trăm ngàn. Chị đồng ý chứ?
- Hai trăm ngàn ư? Bà Sáu hỏi lại lần nữa vì sợ mình nghe nhầm.
- Vâng, đúng hai trăm ngàn cho mỗi ngày. Vị chi là bốn ngày tất cả. Những điều tôi nói tự nãy giờ đều là thật cả. Bà chị hãy yên tâm. Sở dĩ tôi giúp chị vì chị có nét mặt rất giống chị ruột của tôi, giờ đã vĩnh viễn rời xa cuộc đời…

       Nói đến đây, giọng nói của ông như chùng xuống. Ông ta quay mặt ra ngoài đường nhìn mông lung vào màn đêm mịt mùng .
- Tình cờ gặp chị, tôi rất có cảm tình. Thôi đã khuya quá rồi, chị về nhà nghỉ để mai có sức đi nhặt lá. Đây là tiền vé số lúc nãy và hai trăm ngàn tiền tạm ứng cho công việc sắp tới của chị. Chị đừng ngại chi cả, nếu như chị không muốn làm việc đó thì kể như số tiền tạm ứng này tôi biếu không cho chị. Tên của tôi là Kiên, ba Kiên, hiện ở khách sạn “Đồi Sao”, phòng số 13. Chiều mai, tôi sẽ chờ chị ở đó! Tạm biệt …
      …. Phố khuya vắng lặng. Con “tám trăm” của vị khách từ trên trời rơi xuống kia cứ lởn vởn nhảy múa trong đầu của bà Sáu làm bà cứ ngỡ mình như vừa trải qua một giấc chiêm bao tuyệt đẹp!
***
      Sáng nay, trên vỉa hè đại lộ thênh thang với hai hàng cây rợp bóng xuất hiện một người đàn bà vác chiếc bao cà ròn trên vai rảo bước chầm chậm đi tới đi lui. Đôi lúc, bà ta dừng lại ngóng từng cơn gió rồi mải miết đuổi theo nhặt từng chiếc lá vàng .
Đám xe ôm đậu ở vỉa hè thấy lạ nên chú ý nhìn. Trong đám, có kẻ vọt miệng triết lý bâng quơ:
- Trời ạ! Giữa thời buổi kinh tế thị trường mà còn có người đuổi theo lá thu rơi lượm về vô bao làm kỷ vật. Chắc con mẹ này là bạn chí cốt của nhà thơ điên Bàng Giúi quá, nên mới ngỡ lá là tiền rồi! Rồi gã nhại thơ thi sĩ Kiên Giang ngâm nga:
“ Tiền không là lá bà ơi,
Tiền là giấy bạc do người in ra…”
Giọng một người khác cay độc chêm vào:
- Con mẻ có biệt danh là “Sáu cô đơn” bán vé số dạo chứ ai. Hàng ngày hay đi qua đi lại chỗ này. Mẹ nó, già ngắt rồi mà vẫn còn đi bán vé số hoài, nhiều khi nửa đêm còn thấy đi cà bơi, cà bơi ngoài đường. Chắc khổ sở quá riết nên hoá khùng rồi chớ gì!
Nghe vậy, ông lão bán nước sâm gần đó bất nhẫn lớn tiếng:
- Tụi bây đừng có tọc mạch chuyện của người ta mà hãy lo cho cái bổn mạng của mình kìa. Thời buổi bây giờ ai cũng có xế nổ cả, xe ôm chúng mầy ế ẩm riết rồi có ngày cũng phát điên, đâm đầu hết vô xe tải rối sắp hàng làm ngừơi cõi trên ráo trọi hết bây giờ. Mồ tổ cha nó, đời sao dị hụ kỳ đang quá chừng hè!
      Sau khi bị ông lão bán nước sâm mắng át, những tiếng thị phi bỗng dưng im bặt …

       … Nắng chiều trượt những vệt dài trên khoảng sân rộng trước khách sạn “Đồi Sao”. Thấp thoáng trong ánh sáng nhợt nhạt đang dần dần tắt lịm của hoàng hôn là bóng dáng của một người đàn bà vai quảy bao tải lá từ ngoài cổng đi vào. Ông Kiên đã chờ sẵn từ trước, tỏ vẻ rất vui khi gặp lại bà Sáu.
…Bà Sáu ra về đã lâu, ông Kiên vẫn còn ngồi ở chỗ cũ. Ông cảm thấy quặn thắt cả ruột gan khi chợt nhớ đến hình ảnh người ruột thịt thân yêu duy nhất của mình. Ngày xưa, mỗi lần về quận lỵ thăm nhà, thấy vắng chị, ông liền vội vã đạp xe đi tìm đón chị về. Hình ảnh người chị dầu dãi một nắng hai sương chắt chiu từng đồng bạc lẻ – những tờ tiền được gấp lại rất nhỏ rồi cuộn tròn, cuộn tròn … in hằn những dấu vết gẫy góc quăn queo được gởi từ quê nhà lên Sài Gòn giúp cho ông trang trải tiền ăn học. Từng tờ, từng tờ giấy bạc mỏng dính được gói kỹ trong mấy lớp nhật trình để trong chiếc bịch nylon nhỏ xíu do một người đồng hương đi buôn chuyến chuyển đến, mà mỗi lần mở ra, ông thấy như hiển hiện mùi mồ hôi và những giọt nước mắt của chị mình! – cùng với những tháng năm khốn khó mãi mãi là dấu ấn ông không thể nào quên ! Hình ảnh ấy cho mãi đến bây giờ ông vẫn còn đa mang, đến nỗi mỗi lần thấy ai đó xòe ra những tờ tiền bị gấp nếp chồng chéo, ông vẫn cứ giật mình thon thót! Đã mấy mươi năm rồi mà như mới xảy đến hôm qua… Bóng dáng thanh thoát của chị ông với mái tóc thề thoang thoảng mùi hương trinh nữ thoắt ẩn, thoắt hiện ở đâu đó qua hình bóng khác trên một con đường, một bến sông hay một địa danh nào thật lạ xa … Những hình ảnh ấy tràn đầy sự dữ dội của khung trời bão tố, nó cuộn lên từng áng mây buồn, nó nhuốm chàm lên từng đoạn đời ông đã trải qua và cứ mỗi lần như thế, ông nghe như nặng trĩu trong tim! Không gian như co rút thắt đau, như một cú đập, một vết cắt nghiệt ngã. Nó làm tắt lịm những cơn vui đời của ông …
***
      Buổi sáng ngày thứ tư, ngày cuối cùng của hợp đồng kỳ lạ, bà Sáu đến khách sạn “Đồi Sao” rất sớm. Ông Kiên lại có mặt ở đó trước cả bà và có vẻ rất bận rộn. Có mấy chiếc xe lớn nhỏ đủ loại cùng với rất nhiều người đang khiêng vác các thứ máy móc, dụng cụ mà hầu như bà chỉ mới trông thấy lần đầu.
      Hình như ông Kiên là nhân vật quan trọng nhất trong nhóm. (Bà Sáu nghĩ vậy khi thấy ông liên tục ra lệnh cho người khác). Ông thân thiện vỗ vai bà Sáu, rồi đẩy bà lên một chiếc xe Ford đã có sẵn người ngồi. Họ mỉm cười với bà và bà cũng gật đầu đáp trả. Bà Sáu xem chừng họ có vẻ quen thuộc, cố vắt óc nhớ mãi nhưng vẫn không ra. Hình như bà đã gặp họ ở đâu đó, nhiều lần nữa thì phải! Trông họ giông giống một vài diễn viên nào đó trên mấy tờ lịch quảng cáo hàng năm…

      Đoàn xe càng lúc càng tiến dần về phía ngoại ô xa. Hai bên vệ đường trùng trùng những dãy đồi cỏ biếc. Sau cùng, chúng dừng lại bên cánh rừng thưa cạnh con suối nhỏ chảy róc rách với những tảng đá lớn phủ đầy rêu xanh. Khung cảnh ở đây trông rất hoang sơ. Ở đó, người ta đã dựng sẵn một cái đài cao chừng dăm bảy mét bên trảng cỏ, trên có một cái sàn gỗ nối liền với cầu thang có tay vịn.
…. Ông Kiên đưa bà Sáu đến bên cái đài cao, trên ấy xếp sẵn mấy bao lá – thành quả ba ngày lao động ròng rả của bà -. Đoạn, ông ta dặn dò bà một cách cẩn trọng:
- Bây giờ là công việc phải làm hôm nay của chị: hãy bước lên cái sàn gỗ kia rồi ngồi xuống chiếc ghế đã có sẵn và chờ hiệu lệnh của tôi. Khi nào tôi nói “lá rơi’, chị sẽ liên tục dùng hai tay hốt lá rồi rãi tung lên trời. Nhớ nhé!

      Bà Sáu bắt đầu làm theo sự hướng dẫn của ông Kiên. Hiện giờ, bà đang ngồi ở trên cao, chờ đợi công việc tiến hành. Bà nghiêng người đảo mắt nhìn bao quát khoảng không gian chung quanh. Phía xa xa, rập rờn trong nắng mai, lẫn trong cỏ dại là những bông hoa cát đằng màu tim tím có hình cánh chuông đang lúng liếng nhảy múa theo tiếng rì rào của gió các khúc hoan ca. Từng đợt, từng đợt sắc màu rực rở lượn lờ theo các làn sóng hoa long lanh kia!
      Một khẩu lệnh vang lên, lan xa trong tịch liêu, rồi giữa trảng cỏ xanh biêng biếc xuất hiện hai bóng người, một nam, một nữ. (Đó chính là hai người trẻ tuổi cùng ngồi chung băng ghế với bà trên chuyến xe vừa rồi). Người con trai mặc áo chiến binh, vai khoác ba lô giắt đầy lá ngụy trang, còn người con gái tóc dài thướt tha, áo bà ba màu hoa cà, đẹp đến tím cả lòng người…
      Người con trai giơ tay lên vẫy gọi. Có tiếng còi tàu rúc lên thê thiết. Rồi tiếng chuông đổ, từng hồi chuông vọng về tận khuất nẽo xa xăm. Hình như là sương, sương vật vờ bay… Sương mù từ đâu không biết tụ về phủ mờ nhân ảnh hai người… Theo tầm tay với của người con trai, người thiếu nữ đang run rẫy cố níu lại và nép chặt vào người yêu. Rồi những nụ hôn nồng cháy rực lửa, hai hình bóng nhỏ bé giữa trảng cỏ kia như quấn chặt lấy nhau, hoà quyện lại thành một chủ thể bất khả phân ly…
- Lá rơi! Hiệu lệnh của ông Kiên vang lên.
      Bà Sáu chồm tới, chụp vội vàng từng nắm lá rồi rải tung lên. Từng chiếc lá bung xoè ra trong khoảng trời nhiều gió rồi lắt lay bay. Từng chiếc lá bay lả tả, lấp lánh trong nắng sớm, đồng loạt bừng lên, đồng loạt chìm xuống, rải muôn ngàn hạt vàng phủ trùm lên hai bóng người kia trong làn sương mờ mịt.
      Cuồn cuộn một dòng hồi ức tận trong huyệt mộ linh hồn tưởng chừng như đã mất hút theo dòng dỉ vãng chợt rùng rùng kéo về! Làn sóng hồi ức ấy trào dâng trong từng mạch máu của bà Sáu. Bà như phục sinh lại thời kỳ của tuổi đôi mươi. Bà vụt đứng dậy, hai tay chấp chới ra ngoài khoảng không vô tận.
      Trời ơi, kia kìa, ở phía dưới kia, giữa muôn trùng những cánh lá cuối thu, chính người ấy, người đàn ông đầu đời của bà mấy mươi năm về trước, của thuở tóc bà hãy còn xanh, của thuở họ đã từng nhắn gởi cho nhau câu ước hẹn “muối mặn, gừng cay”:
“ Tay bưng dĩa muối chấm gừng, 
Gừng cay, muối mặn xin đừng quên nhau … “

      Rất rõ ràng, hình bóng người đàn ông ấy đang hiển lộ. Ôi, nhưng sao ông lại buồn đến thế và hình như đang vẫy gọi bà! Bà rướn người tới cố đuổi theo ông … Bà như thấy lại một tình yêu hiến tế, thấy lại niềm hạnh phúc xa xưa của một thuở yêu người mà từ lâu đã vượt ra khỏi tầm tay. Một đoạn phim quá khứ ập về như những đợt sóng, lớp nọ chồng lấp lên lớp kia trùng trùng duyên khởi… Nhưng sao ông cứ lùi mãi, lùi mãi rồi mờ nhạt dần …
      Bà thét gào gọi tên ông, cố níu kéo lại cái hình ảnh quá đỗi thân yêu kia vừa vụt mất. Nỗi hụt hẫng dâng trào làm bà nấc nghẹn, không thốt nên lời! Bà bật khóc nức nở, khóc như chưa từng được khóc bao giờ … Những giọt nước mắt uất nghẹn, ràn rụa trên gương mặt người đàn bà mà cuộc đời đang đi dần về phía cuối hoàng hôn!
-Lá rơi! Lá rơi! Tiếng của ông Kiên vang lên như từ cõi xa nào vọng về.
      Bà Sáu như kẻ mộng du, điên cuồng hốt từng nắm lá vàng vung vãi. Từng nắm lá bỗng biến thành những đám lửa, rừng rực cuộn tròn trong gió lốc, rồi loạn cuồng đuổi bắt nhau làm bà hoa cả mắt. Đám lửa ấy thoắt vụt biến thành đám gai sắt nhọn, cuồng nộ tỏa ra xé toạc khoảng trời xanh thăm thẳm kia, rồi quay đầu lại ghim vào da thịt bà từng vết, từng dấu khằn đớn đau!
-Cắt!
      Mảng hồi ức hoang mê đột ngột chấm dứt bởi một khẩu lệnh khô khốc như tiếng sét, vang dội cả một vạt rừng. Bà Sáu như người bị đẩy xuống một dốc trượt không gượng nổi, ngã xuống rồi chạm tới đáy hiện thực phũ phàng - cái hiện thực hèn mọn nhỏ nhoi của loài cỏ dại vừa tỉnh thức sau giấc mộng hoa hồng!-

      …. Dưới chân câu thang, ông Kiên đã đứng chờ sẵn, dang tay ra cho bà Sáu vin vào cho khỏi ngã.
- Tốt lắm, chị làm rất đạt. – Ông Kiên cất tiếng ngợi khen bà Sáu và dúi vào tay bà một phong bì nhỏ -. Tôi là đạo diễn chính, thay mặt cho đoàn làm phim “Những mùa thu qua” xin chân thành cám ơn chị. Còn đây là số tiền thù lao còn lại cộng với món tiền nhỏ của tôi tặng chị, người có gương mặt giống tợ như người chị yêu quý đã khuất của tôi. Thôi tạm biệt chị nhé, không biết đến bao giờ ta mới gặp lại nhau …
      Bà Sáu ngẩng mặt lên, bất chợt bắt gặp tia nhìn ấm áp của ông Kiên. Bà cụp mắt lại rồi lặng lẽ đi về phía cuối con dốc, rời xa đoàn làm phim …
      Một cơn gió lốc tung thốc tháo đám bụi lá vàng phủ nhạt nhòa ảnh hình người đàn bà khốn khổ kia. Rồi, hình như có một chiếc lá rất nhỏ, nó không rơi xuống, cũng không vút bay lên được, cứ lắt lay mãi rồi mất hút trong gió loạn...

Hà Nguyên

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2015

Sơ Lược Về Hồi Giáo


Thế giới hiện nay có khoảng 2.700 tôn giáo lớn nhỏ. Trong đó, Hồi giáo là tôn giáo lớn thứ hai, sau Cơ Đốc giáo, với khoảng 1,8 tỉ người.

Danh từ “Hồi giáo” có xuất xứ từ dân tộc Hồi Hột, một nước láng giềng phương Bắc của Trung Quốc, kéo dài từ năm 616 đến 840 sau Công nguyên. Sử Trung Quốc gọi nước này là Tây Hạ hay Liêu Quốc. Lúc rộng lớn nhất, lãnh thổ của dân tộc này kéo dài từ Trung Á đến tận Mãn Châu. Dân tộc này đã từng giúp vua Đường Huyền Tông của nhà Đường dẹp loạn An Lộc Sơn. 

Hồi giáo có tên quốc tế là Islam (hay Ixlam) có ý nghĩa là “quy phục, vâng mệnh Thượng Đế”. Đây là tôn giáo thờ độc thần, có nghĩa là chỉ thờ duy nhất một Thượng Đế (hay Đức Chúa Trời) và được xếp thuộc nhóm Abraham (có nghĩa là nhóm có cùng nguồn gốc với Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo (gồm Chính Thống giáo, Thiên Chúa giáo và Tin Lành giáo). Theo đó, Thượng Đế hay Chúa Trời của tất cả các tôn giáo này đều là một. Riêng Hồi giáo gọi danh xưng Thượng Đế (hay Chúa Trời) là Ol-Loh (hay Allah).
Theo quan niệm của người Hồi giáo, đạo Hồi khởi sinh từ Adam, người do Thượng Đế tạo ra, chính là tín đồ Hồi giáo đầu tiên.

Trên phương diện khoa học nhân văn, Hồi giáo là tôn giáo ra đời vào thế kỷ thứ VII sau CN, dựa trên những nền tảng có sẵn của Do Thái giáo (Judaism) và Cơ Đốc giáo (Christianity). Muhammah (hay Mohammed) được xem là người được Thiên sứ Grabiel “khải thị” lời của Allah đến cho mọi người. 

Sự ra đời của đạo Hồi xuất phát bởi một loạt nguyên nhân về kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng. Nó gắn liền với những chuyển biến xã hội, từ chế độ công xã nguyên thủy sang chế độ xã hội có giai cấp.
Đặc điểm của giáo lý Hồi giáo là rất đơn giản, nhưng luật lệ và lễ nghi rất phức tạp và nghiêm khắc, thậm chí đến mức khắt khe. Nhiều khi nó còn vượt qua khỏi phạm vi tôn giáo để trở thành chuẫn mực pháp lý của xã hội.

Giáo lý cơ bản của Hồi giáo là kinh Qur an (tức Coran), có nghĩa là “tụng đọc”. Bộ kinh này có tổng cộng 30 quyển, nội dung bao gồm những tín ngưỡng cơ bản và chế độ tôn giáo của đạo Hồi, những chính sách về chủ trương xã hội, quy phạm luân lý đạo đức… Giáo lý gồm các điểm chính: Allah là đấng tối cao sinh ra trời đất, sinh ra muôn loài trong đó có con người. Con người bình đẳng trước Allah, nhưng số phận và tài năng đã tạo nên sự khác nhau giữa những con người. Số phận con người có tính định mệnh và do Allah thực hiện. Trong quan niệm Hồi giáo, không hề có sự phân biệt giữa tôn giáo và chính trị, không có gì khác biệt giữa thể xác và linh hồn. tất cả hòa hợp làm một nhất thể, và nhất thể ấy hoàn toàn quy phục dưới một Đấng Tối Cao Toàn Năng (tức Thượng Đế). Người Hồi giáo sống trong đời tức là sống trong đạo, ngay cái ăn, cái uống, cái nhấc tay nhấc chân, nhất cử nhất động không có gì là ra khỏi thiên đạo, bởi vì ngoài thiên đạo chỉ có tội lỗi và hư không. Nói cách khác, giáo lý Hồi giáo đồng thời cũng đóng vai trò của pháp luật và toàn bộ luật ấy được áp dụng cho tất cả giáo dân.

Người theo đạo Hồi, tiếng Ả Rập gọi là Muslim. Luật pháp của đạo Hồi (tức luật pháp của Thượng Đế) có tên là Sharia. Sharia quy định rất rõ 5 điều về bổn phận và trách nhiệm của mỗi giáo dân, được gọi là Ngũ Trụ Hồi (Five Fillars Of Islam). Ngũ Trụ Hồi gồm:
- Xưng tụng đức tin: một người được xem là giáo dân khi người ấy chịu xưng tụng câu: “Không có Chúa nào khác ngoài Allah và Mohammed là kẻ truyền tin của Người”.
- Cầu nguyện: 5 lần một ngày. Giáo dân có thể cầu nguyện ở bất cứ nơi đâu, nhưng buổi trưa ngày thứ sáu thì phải đến giáo đường, vì đó là lễ quan trọng.
- Bố thí: năng làm việc phúc đức.
- Nhịn ăn trong tháng Ramadan là tháng thứ 9 theo lịch Hồi giáo. Không ăn uống từ bình minh đến hoàng hôn mỗi ngày. Mục đích là để trai giới cho tâm hồn thanh tịnh mà tưởng niệm Thương Đế, và cũng để hiểu thấu nỗi khổ đau của kẻ nghèo.
- Hành hương về Mecca, quê hương của Thiên sứ Mohammed, ít nhất một lần trong đời.

Ngoài ra, người ta còn nhắc đến Jihad như là trụ cột thứ 6 của Hồi giáo. Jihad không phải là “thánh chiến” như người ta vẫn hiểu một cách sai lệch, mà có nghĩa là “đấu tranh vì lẻ phải”. Cuộc đấu tranh ấy có thể diễn ra bên ngoài xã hội hay trong chính nội tâm của một cá nhân. Jihad bao hàm nghĩa thánh chiến, vì một khi đã đấu tranh thì có thể dẫn tới chiến tranh, nhưng thánh chiến không đồng nghĩa với Jihad!

Xuất phát từ nguyên nhân do cái chết của Mohammed không để lại di thư, nên Hồi giáo đã phân rẽ thành hai hệ phái: Sunnites và Shiites. Và khi lan truyền khắp nơi, đạo Hồi đã không còn giữ được sự chính thống, thay vào đó có những dị biệt để trở thành đạo Bahai, đạo Shiksm và đạo Huyền Hồi (Sufism).

Hà Nguyên