Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

Tháng Tám và Em - Thơ HNTT - Nhạc Phạm Anh Dũng


Thơ: HNTT
Nhạc: Phạm Anh Dũng 
Ca Sĩ: Quang Minh

Lối Đá Rêu Phong




Quay về thăm lại xóm làng xưa
Lộc Yên xứ Quảng vẫn mong chờ
Rêu phong xanh mướt thời son trẻ
Vách đá còn nguyên vết khắc thơ

Lối cũ ngàn năm rợp bóng cây
Dẫn hồn phiêu bạt trở về đây
Hàng cau hun hút sâu cuối ngõ
Chờ nhau lấp ló mắt ai ngây

Mái cổ phong sương đọng mấy mùa
Là trạm nghỉ chân trước xa mờ
Non cao lũng thấp đường leo núi
Ôi những đoàn người ươm giấc mơ

Ngõ biếc còn ghi dấu chửa mòn
Cuối đời thăm lại nẻo cô thôn
Bâng khuâng mắt phượng còn thao thức
Hay đã lòa dần với hoàng hôn

Locphuc

Ngày Xưa Ơi!



Bài Xướng:
Ngày Xưa Ơi!

Tóc liễu em cài rực đỏ nơ
Trường tan có gã tựa anh khờ
Thư lồng ngỏ ý từng đêm mộng
Phượng ép trao lòng những buổi mơ
Lặng lẽ người mong vời mắt ruổi
Trầm ngâm kẻ đợi kiễng chân chờ
Chiều nay ghé lại đường xưa cũ
Bụi đã vương đầy tuổi ấu thơ...!

Nguyễn Gia Khanh
***
Bài Họa:

Tơ Lòng


Hoa cài mái tóc tím viền nơ
Lộng lẫy hương hoa khiến dại khờ
Nét ngọc kiêu sa lòng thổn thức
Môi hồng e ấp dạ hoài mơ
Rộn ràng luống mộng bao người đợi
Rạo rực tim yêu khối kẻ chờ
Khắc khoải tơ lòng say bến hẹn
Vương niềm dạ thảo mối tình thơ.

Liêu Đình Tự
***
Phượng Chưa Chín Hạ


Tóc đẹp nàng còn tha thướt nơ
Khiến cho lòng dạ nam sinh khờ
Cứ thầm tơ tưởng đêm đêm nhớ
Và lén trông chừng sáng sáng mơ
Chẳng rõ yêu chưa đôi má đỏ
Mà em chuốc khổ héo tim chờ?
Đôi lời muốn ngỏ ôi trời khó
Hạ cuối nên buồn suốt tuổi thơ.
.
19.6.20
Nhất Mai Thư Hoàng
***
Người Xưa Đâu!

Trót yêu cô bé tóc cài nơ
Xao xuyến ngày đêm kẻ dại khờ
Mắt biếc long lanh tình luyến ái
Má hồng duyên dáng dạ thầm mơ
Số phần trắc trở hai phương nhớ
Định mệnh trái ngang một kiếp chờ
Dâu bể tìm đâu năm tháng ấy
Thôi đành ôm mộng nhốt vào thơ.

Kim Oanh

Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ - Trương Nhược Hư (-711-)



Xuân Giang Hoa Nguyệt Dạ

Xuân giang triều thuỷ liên hải bình
Hải thượng minh nguyệt cộng triều sinh
Diễm diễm tùy ba thiên vạn lý
Hà xứ xuân giang vô nguyệt minh

Giang lưu uyển chuyển nhiễu phương điện
Nguyệt chiếu hoa lâm giai như tiển
Không lý lưu sương bất giác phi
Đinh thượng bạch sa khan bất kiến

Giang thiên nhất sắc vô tiêm trần
Hạo hạo không trung cô nguyệt luân
Giang bạn hà nhân sơ kiến nguyệt
Giang nguyệt hà niên sơ chiếu nhân

Nhân sinh đại đại vô cùng dĩ
Giang nguyệt niên niên vọng tương tự
Bất tri giang nguyệt đãi hà nhân
Đản kiến trường giang tống lưu thuỷ

Bạch vân nhất phiến khứ du du
Thanh phong phố thượng bất thăng sầu
Thuỳ gia kim dạ thiên chu tử
Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu

Khả liên lâu thượng nguyệt bồi hồi
Ưng chiếu ly nhân trang kính đài
Ngọc hộ liêm trung quyển bất khứ
Đảo y châm thượng phất hoàn lai

Thử thời tương vọng bất tương văn,
Nguyện trục nguyệt hoa lưu chiếu quân
Hồng nhạn trường phi quang bất độ
Ngư long tiềm dược thuỷ thành văn

Tạc dạ nhàn đàm mộng lạc hoa
Khả liên xuân bán bất hoàn gia
Giang thuỷ lưu xuân khứ dục tận
Giang đàm lạc nguyệt phục tây tà

Tà nguyệt trầm trầm tàng hải vụ
Kiệt Thạch Tiêu Tương vô hạn lộ
Bất tri thừa nguyệt kỷ nhân quy
Lạc nguyệt dao tình mãn giang thụ

Trương Nhược Hư (-711-)
***
Đêm Hoa Trăng Trên Sông Xuân


Mặt nước sông xuân ngang mặt biển
Trăng lên vào lúc thủy triều dâng
Tràn lan cùng khắp đầy trăng sáng
Lớp lớp sóng xuân nổi mấy tầng

Dòng nước lượn quanh vùng thảo dã
Thảm hoa trăng giãi tuyết ngàn pha
Sương trời bất động lung linh ngọc
Cát trắng nhạt nhòa bờ bãi xa

Trời nước tinh khôi không mảy bụi
Trăng cao vời vợi sáng trong ngần
Ai người trên bến thấy trăng trước
Vầng nguyệt năm nao chiếu xuống trần

Nhân sinh lớp lớp vô cùng tận
Trăng nước đời đời vẫn thế thôi
Không biết trăng lên người ngóng đợi
Sông dài trăng sáng một dòng xuôi

Mây bạc ngang trời trôi lãng đãng
Phong xanh bến đỗ rũ u sầu
Đêm nay ai đó trong thuyền nhỏ
Biết gửi về đâu nỗi nhớ nhau

Vằng vặc trăng thanh trên gác vắng
Đài gương ngỡ tưởng bóng người về
Cuốn rèm trăng vẫn đầy lầu ngọc
Chầy giặt đập hoài trăng chẳng đi

Cùng một vầng trăng sao cách ngăn
Ước như bóng nguyệt ở bên chàng
Cánh hồng không thể chở trăng được
Rồng nước quẫy quanh sóng gợn lan

Đêm qua nằm mộng thấy hoa rụng
Đã nửa tuổi xuân người chửa về
Sông nước xuân thì trôi sắp hết
Thương ai đầm quạnh bóng trăng thề

Mảnh trăng dần khuất trong sương biển
Sông núi cách ngăn trăng xẻ hai
Ngóng đợi người đi quay trở lại
Rừng cây gió lộng dọc sông dài

Phạm Khắc Trí

Hùng Ca Sử Việt 1: Nhuỵ Kiều Tướng Quân


"Tôi chỉ muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển đông , đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chớ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp cho người"

Một câu nói bộc lộ khí phách của bậc Anh Thư. Tuy chỉ xuất hiện trong lịch sử với khoảng thời gian rất ngắn. Nhưng Bà Triệu là một điểm son, một tấm gương sáng, là niềm kiêu hãnh của dân tộc nói chung và phụ nữ Việt nói riêng. Chúng ta cùng tìm đến với Bà Triệu qua những trang sử, sách.
Bà Triệu, Triệu Trịnh Nương hay Triệu Thị Trinh đều là tên các đời sau để gọi người nữ anh hùng dân tộc hồi thế kỷ thứ III. 

Theo dã sử, Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ (256), tại một vùng sơn thôn nay thuộc địa phận huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa. Mồ côi sớm, cô gái nông thôn sống với người anh Triệu Quốc Đạt, một hào mục khá giàu có.
Vợ Triệu Quốc Đạt bản tính ác nghiệt nên người em chồng không được đối xử tử tế. Cô gái lớn lên tại một vùng bìa rừng hẻo lánh, nên không có điều kiện học hành chu đáo, nhưng được đền bù bằng sự thông minh và sức lực thiên bẩm nên mới được 17, 18 tuổi đã nổi tiếng khắp vùng là có mưu lược và bản lãnh hơn người.
Do thế người thôn nữ chưa xuất đầu lộ diện mà đã có uy tín đáng kể tại địa phương.
Đến năm 20 tuổi, Triệu Thị Trinh lỡ tay đánh chết người chị dâu nên phải chạy trốn vào ở trong núi Nưa (nay thuộc xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn, Thanh Hoá), sống tự lập để khỏi lệ thuộc vào người anh nữa. 
Nhưng một phần nhờ ở sẵn có nhiều người mến phục và phần khác nhờ ở tình hình địa phương mà trong thời gian rất ngắn người thôn nữ bôn đào đã thu hút được cả ngàn trai tráng chạy theo mình vào rừng sâu, để nghiễm nhiên trở thành người điều khiển một lực lượng võ trang khả dĩ đương đầu với quân Đông Ngô và vùng vẫy ở địa phương ấy.
Ở đó cho đến nay vẫn còn lưu truyền nhiều truyền thuyết về thời kỳ bà chuẩn bị khởi nghĩa chống giặc Ngô.

Đó là chuyện Bà Triệu thu phục được con voi trắng một ngà, chuyện "Đá Biết Nói" rao truyền lời thần nhân mách bảo từ trên núi Quan Yên.

Có Bà Triệu tướng
Vâng lệnh trời ra
Trị voi một ngà
Dựng cờ mở nước
Lệnh truyền sau trước
Theo gót Bà Vương....

Mến mộ bà, nghĩa quân ngày đêm mài gươm luyện võ, chờ ngày nỗi dậy:

"Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu Tướng cỡi voi đánh cồng".

Thời đó, nước Tàu đang ở trong tình trạng bị chia cắt: nhà Hán đã mất ngôi vua và lãnh thổ Trung Hoa phân làm 3 phần không đều nhau, phần phía Bắc thuộc về họ Tào và gọi là Bắc Ngụy; người họ xa của vua nhà Hán chiếm được miền Ba Thục ở phía Tây; phía Đông do họ Tôn hùng cứ và trở thành nước Đông Ngô. 


Nước ta từ sau ngày Mã Viện tái chiếm, lại bị người Tàu đô hộ, khi Đông Ngô thay nhà Hán cai trị phần phía Đông Trung Hoa thì họ cũng gồm thu luôn lãnh thổ nước ta từ tay con cháu Thứ sử Sĩ Nhiếp.
Kể từ năm Bính Ngọ 226, nước ta trở thành một vùng thuộc địa của Đông Ngô, vua nước Ngô cải tên thành Giao Châu và phong Lữ Đại làm Thứ sử. Lữ Đại tiến đánh nốt quận Cửu Chân và đạt thắng lợi nên được vua Ngô gia phong làm Giao Châu Mục.
Nhưng những hành động tàn ác của đạo quân chinh phục đã khơi sâu căm thù trong lòng người dân quận Cửu Chân, sau đó chính sách hà khắc của bọn quan lại Tàu càng thúc đẩy dân Cửu Chân vùng lên chống lại. Đó là lý do đã khiến cho cả ngàn thanh niên vùng lân cận ồ ạt kéo vào rừng quy phục người lãnh đạo tương lai của cuộc khởi nghĩa sẽ bùng nổ 2 năm sau. 
Chí lớn của vị Nữ Anh Hùng quyết dựng cờ khởi nghĩa cứu nước, nhưng biết mình biết người, nên bà chưa động binh để có thêm thời gian chỉnh đốn nghĩa quân và chờ đợi thời cơ…Triệu Quốc Đại lúc đầu vốn chủ trương cầu an nên đã tìm khuyên em trở về với kiếp sống bình thường của một thôn nữ, lập gia đình. Nhưng Triệu Thị Trinh đã khẳng khái: 

"Tôi chỉ muốn cỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển đông , đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chớ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp cho người" 

Bị câu nói của em gái khích động, Triệu Quốc Đạt quyết cùng em chiêu mộ tướng sĩ dựng cờ khởi nghĩa.
Lúc bấy giờ bọn quan lại Đông Ngô cai trị ngày càng tàn ác, khiến dân chúng vô cùng khổ cực, oán than thấu trời. Vừa phẫn nộ vừa cho rằng thời cơ đã thuận lợi, Triệu Quốc Đạt đột ngột mang quân đánh dinh quận Cửu Chân.
Bị bất ngờ dồn vào thế không thể trì hoãn được nữa. Triệu Thị Trinh đành mang quân đi giúp anh. Triệu Quốc Đạt vẫn tự biết không bằng em, quân sĩ dưới cờ ông lại khâm phục người nữ tướng có tài lãnh đạo, mọi người liền nhất trí suy tôn Triệu Thị Trinh chỉ huy lực lượng khởi nghĩa.

Năm Mậu Thìn (248) nghĩa quân bắt đầu tấn công quân Ngô. Các thành ấp của quân Ngô đều bị đánh phá tan tành. Bọn quan cai trị kẻ bị giết, kẻ chạy trốn hết. Từ Cửu Chân, cuộc khởi nghĩa lan rộng nhanh chóng. Thứ Sử Châu Giao hoảng sợ bỏ chạy mất tích. Sử sách của nhà Ngô phải thú nhận:"Toàn thể Châu Giao chấn động".
Mỗi lần ra trận, Triệu Thị Trinh thường mặc áo giáp đồng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi dẫn quân xông trận, oai phong lẫm liệt. Quân Ngô kinh
hồn, bạt vía đã phải thốt lên:

Hoành qua đương hổ dị
Đối diện Bà Vương nan

Nghĩa là:
Vung giáo chống hổ dễ
Giáp mặt Bà Vua khó

Với tư cách đó, người thôn nữ mới ngoài 20 tuổi đã sớm chứng tỏ là không phụ công lòng tin của mọi người. Bà đánh đâu thắng đó, chỉ trong vòng một tháng trời là lực lượng khởi nghĩa tiêu diệt và đánh đuổi hết quân Tàu trên toàn bộ lãnh thổ quận Cửu Chân. 
Phần vì sợ phép dùng binh sấm sét, phần vì cảm phục độ lượng của người nữ tướng trẻ tuổi, bại binh Tàu đều gọi Bà là Lệ Hải Bà Vương. 
Nhưng Triệu Thị Trinh không hề nuôi mộng tranh bá đồ vương. Chỉ vì yêu nước và thương xót đồng bào mà người thôn nữ phải đánh đổi nông tầm, lưỡi hái lấy kiếm cung, phải dấn thân gái ra nơi chiến trận.

Khi cầm quân đánh giặc Tàu, bà luôn luôn tiến trước mọi người, lẫm liệt trên mình voi trắng, cờ vàng, mũ vàng, giáp vàng, toàn thân như chiếc nhụy vàng của đóa sen trắng khổng lồ. Chính hình ảnh như thế, nên Bà xưng là Nhụy Kiều Tướng Quân, ngụ ý không quên phận mình phận gái nhưng lại hạ quyết tâm làm nên sự nghiệp hào hùng của một vị tướng.
Hay tin có khởi nghĩa ở Cửu Chân và thứ sử Châu Giao mất tích, vua Ngô hốt hoảng phái ngay Lục Dận (anh em họ của danh tướng Đông Ngô là Lục Tốn) một tướng từng kinh qua trận mạc, lại rất quỷ quyệt sang làm thứ sử. Lục Dận đem 8.000 quântinh nhuệ sang đàn áp. Lục Dận vừa đánh vừa đem của cải chức tước ra dụ dỗ mua chuộc các thủ lĩnh người Việt. Một số kẻ dao động mắc mưu địch. Mặc dầu vậy, Triệu Thị Trinh vẫn kiên cường đánh nhau với giặc không nao núng. Sau 6 tháng chống chọi, vì có kẻ phản bội, nghĩa quân dần yếu thế, lực lượng ngày mỏng dần. Mộng đuổi xâm lăng của vị nữ anh hùng không thể thành hiện thực. Triệu Thị Trinh rút quân về xã Bồ Điền (về sau là làng Phú Điền, tổng Phú Điền, huyện Mỹ Hóa, tỉnh Thanh Hóa) rồi tự sát sau khi giải tán nghĩa quân để tránh sự hy sinh vô ích. 

Bấy giờ bà mới 23 tuổi. Dân địa phương lập đền thờ.
Về sau, vua Lý Nam Đế khen ngợi là người trung dũng, sai lập miếu thờ, phong là:"Bật Chính Anh Liệt Hùng Tài Trinh Nhất Phu Nhân".
Nay ở Phú Điền (Thanh Hóa) còn có đền thờ bà.
Tinh thần yêu nước và dũng khí của Bà Triệu vẫn mãi được truyền tụng cho dù đã gần 2000 năm:

- Cửu Chân trăm trận gan hơn sắt,
Lục Dận nhiều phen mắt đã vàng.

- "Trông bành voi, Ngô cũng lắc đầu, sợ uy Lệ Hải Bà Vương, những muốn bon chân về Bắc quốc;

Ngồi yên ngựa, khách đi hoài cổ, tưởng sự Lạc Hồng nữ tướng, có chăng thẹn mặt đấng nam nhi."
Khuyết Danh

- Một đầu voi chống chọi với quân thù, sau Trưng Vương rạng danh bà Lệ Hải;
Ba thước vú tử sinh cùng đất nước, cho Ngô Hoàng biết mặt gái Giao Châu.
Dương Bá Trạc

Triệu Nữ Vương
1
"Tôi chỉ muốn cỡi cơn gió mạnh" *
Thật oai nghi cân quắc hùng anh
Nêu chí khí giống dòng Tộc Việt
Nghìn năm sau sử mãi lưu danh 
Quên Đi
* Trích câu nói của Bà Triệu

2
Đạp sóng biển đông diệt cá kình **
Má hồng vì nước quyết hy sinh
Hiên ngang chống bạo tàn phương bắc
Hậu thế gương truyền "Triệu Thị Trinh"
Quên Đi
** Từ ý câu nói của Bà Triệu

Chú Thích:

- Sách Giao Chỉ chí chép:
Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu, vú dài ba thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận, huyện, thường mặc áo ngắn màu
vàng, chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần.
- Sách Những trang sử vẻ vang... giải thích:
Phụ nữ khổng lồ, vú dài… là huyền thoại về bà Mẹ-Đất (terre-Mère, Déesse-Mère). Sau hình tượng đó được khoát cho bất kỳ một phụ nữ hiệt kiệt nào (tr. 129).
- Các tác giả sách Lịch sử Việt Nam (tập I) cũng đều cho rằng:
Huyền thoại về một người phụ nữ có "vú dài ba thước" vốn rất phổ biến ở Phương Nam, từ Hợp Phố đến Cửu Chân. Như truyện "Tẩy thị phu nhân", "Tiểu quốc phu nhân" đều nói họ là những phụ nữ cao to và có vú dài đôi ba thước...Có thể, vì bà Triệu cũng là một người phụ nữ kiệt xuất, nên dân gian đã dùng hình tượng này khoác lên cho bà.


Bối Cảnh Lịch Sử

Mã Viện đánh được Trưng-vương đem đất Giao-chỉ về thuộc nhà Hán như cũ, rồi chỉnh-đốn binh-lương, đem quân đi đánh dẹp các nơi, đi đến đâu xây thành đắp lũy đến đấy và biến-cải mọi cách chính-trị trong các châu quận.
Từ đó chính-trị nhà Đông Hán càng ngày càng ngặt thêm, mà những quan-lại sang cai-trị Giao-chỉ thường có lắm người tàn-ác, tham-nhũng, bắt dân lên rừng xuống bể để tìm những châu-báu. Dân ở quận Hợp-phố cứ phải xuống bể mò ngọc trai khổ quá, đến đổi phải bỏ xứ mà đi. 
Triều-đình thì xa, quan-lại ra cai-trị thì tha hồ mà tung-hoành, tiếng oan-ức kêu không thấu vào đâu, cho nên thường hay có sự loạn-lạc, làm cho dân-gian phải nhiều sự khổ-sở.

Về cuối đời nhà Đông-Hán, giặc cướp nổi lên khắp cả bốn phương, triều-đình không có uy-quyền ra đến ngoài, thiên-hạ chỗ nào cũng có loạn. Đất Giao-chỉ bấy giờ nhờ có quan thái-thú là Sĩ Nhiếp 士燮cùng với anh em chia nhau giữ các quận huyện, cho nên mới được yên.
Tiên-tổ nhà ông Sĩ Nhiếp là người nước Lỗ 魯vì lúc Vương Mãng 王莽cướp ngôi nhà Hán, mới tránh
loạn sang ở đất Quảng-tín 廣信, quận Thương-ngô 蒼梧, đến đời ông thân-sinh ra Sĩ Nhiếp là sáu đời. Ông thân-sinh tên là Sĩ Tứ 士賜làm thái-thú quận Nhật-nam 日南, cho Sĩ Nhiếp về du-học ở đất Kinh-sư, đỗ hiếu-liêm được bổ Thượng-thư-lang, vì việc quan phải cách, rồi về chịu tang cha. Sau lại đỗ mẫu-tài được bổ sang làm Thái-thú ở quận Giao-chỉ.
Năm quí-mùi (203) là năm thứ 3 đời vua Hiến-đế 獻帝, quan Thứ-sử là Trương tân 張津cùng với quan Thái-thú Sĩ Nhiếp dâng sớ xin cải Giao-chỉ 交趾làm Giao-châu 交州. Vua nhà Hán thuận cho. Sau vì trong châu có lắm giặc-giã, Sĩ Nhiếp mới tâu xin vua nhà Hán cho mấy anh em làm Thái-thú quận Cửu-chân, quận Hợp-phố và quận Nam-hải. Sĩ Nhiếp giữđược đất Giao-châu khỏi loạn và vẫn giữ lệ triều cống như cũ, cho nên vua Hiến-đế lại phong cho chức An-viễn tướng quân 安 遠將軍Long-độ đình-hầu 龍度亭侯. Sĩ Nhiếp trị dân có phép tắc, và lại chăm sự dạy-bảo dân cho nên lòng người cảm-mộ công-đức, mới gọi tôn lên là Sĩ-vương. Nhà làm sử thường cho nước ta có văn-học là khởi đầu từ Sĩ Nhiếp.

Cái ý-kiến ấy có lẽ không phải. Vì rằng từ khi nhà Hán sang cai-trị đất Giao-chỉ đến đời Sĩ Nhiếp đã được hơn 300 năm, người Giao-chỉ đã có người học-hành thi đỗ hiếu-liêm, mậu-tài,sang làm quan bên Tàu như Lý Tiến , Lý Cầm… Vậy nói rằng đến ông Sĩ Nhiếp mới có nho-học thì chẳng sai lắm ru. Hoặc-giả ông ấy là một người có văn-học rồi trong khi làm quan, lo mở-mang sự học-hành, hay giúp-đỡ những kẻ có chữ-nghĩa, cho nên về sau mới được cái tiếng làm học tổ ở nước ta, tưởng như thế thì có thể hợp lẽ hơn.

Nhà Đông-Hán mất ngôi thì nước Tàu phân ra làm ba nước: Bắc-ngụy 北魏, Tây-thục 西蜀, Đông-ngô 東呉. Đất Giao-châu bấy giờ thuộc về Đông-ngô. 
Sĩ Nhiếp ở Giao-châu được 40 năm, tuy thiệt cóuy-quyền ở cõi Giao-châu, nhưng vẫn theo lệ triều cống nhà Hán, và đến khi nhà Hán mất thì lại triều cống nhà Ngô. Năm bính-ngọ (226) là năm Hoàng-vũ 黄 武thứ 5 nhà Ngô, Sĩ Nhiếp mất, con Sĩ Huy 士徽tự xưng làm Thái-thú. Ngô-chủ là Tôn Quyền 孫權bèn chia đất Giao-châu, từ Hợp-phố về bắc gọi là Quảng-châu 廣州, từ Hợp-phố về nam gọi là Giao-châu 交州.
Sai Lữ Đại 呂岱làm Quảng-châu thứ-sử, Đái Lương 戴良làm Giao-châu thứ sử, và sai Trần Thì 陳辰sang thay Sĩ Nhiếp làm thái-thú quận Giao-chỉ.

Bọn Đái Lương và Trần Thì sang đến Hợp-phố thì Sĩ Huy đem quân ra chống giữ. Thứ-sử Quảng-châu là Lữ Đại mới tiến quân sang đánh-dẹp, và cho người đến dụ Sĩ Huy ra hàng. Sĩ Huy đem 5 anh em ra hàng, Lữ Đại sai bắt Sĩ Huy đem chém đi, còn mấy anh em thì đem về Ngô-triều làm tội.
Ngô-chủ lại hợp Quảng-châu và Giao-châu lại làm một, và phong cho Lữ Đại làm Thứ-sử. Lữ Đại đem quân đi đánh quận Cửu-chân có công được phong làm Giao-châu-mục 交州牧.
Thuộc hạ của Sỹ Huy tiếp tục chống lại, khiến Lữ Đại mang quân vào Cửu Châu giết hại một lúc hàng vạn người.

Huỳnh Hữu Đức Biên Soạn

Là Lẽ Tự Nhiên



Đêm nghe tiếng ai ru hời
Như là tiếng vọng một đời tha nhân
Phong sương đau gót chân trần
Dẫm trên lá cỏ bao lần tìm nhau

Thời gian qua cửa thật mau
Tóc xanh nay đã ngã màu muối tiêu
Lá vàng phủ bước đường chiều
Gót chân phiêu bạt ít nhiều cũng chai

Ngoảnh trông một kiếp Trần Ai
Như trăng tròn khuyết đêm ngày xoay nhanh
Đời người tựa lá trên cành
Lá vàng sẽ rụng chồi xanh nảy mầm

Hữu Duyên xin đến bằng tâm
Một mai từ biệt vẫn thầm kính yêu
Sáng xong thì phải đến chiều
Kẻ đi Người đến là điều tất nhiên

Trúc Lan KTP 
08-20

Xuất Tái (Lương Châu Từ) - Vương Chi Oán


出塞  (凉州词)                      Xuất Tái (Lương Châu Từ)

黃河遠上白雲間            Hoàng hà viễn thướng bạch vân gian     
一片孤城萬仞山            Nhất phiến cô thành vạn nhận san     
羌笛何須怨折柳            Khương địch hà tu oán Chiết Liễu        
春風不度玉門關。        Xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan          
               王之渙                                       Vương Chi Oán                            


Dịch Nghĩa: Lại Đến Lương Châu

Xa xa sông Hoàng Hà như vươn lên đến tận khoảng không mây trắng
Trên núi cao muôn trượng có một mảnh thành cô độc
Tiếng sáo người Khương thổi chi khúc nhạc buồn Chiết Dương Liễu (*)
Gió xuân nào có thổi qua ải Ngọc Môn.

(*) Chú thích: Khúc Chiết Dương Liễu thời xưa, phổ cho sáo, gợi nỗi buồn người đi chinh chiến hoặc kẻ xa nhà
Dịch Thơ

1/
Xa tít Hoàng Hà nối tiếp mây
Núi cao còn lại mảnh thành nầy
Thổi chi khúc sáo buồn Dương Liễu
Ải Ngọc bao giờ xuân đến đây.

2/
          Hoàng Hà như chạm trời xanh
Núi cao muôn trượng mảnh thành đơn côi
        Chiết Dương khúc sáo chia phôi
     Ngọc Môn quan ải lâu rồi gió xuân.
                                      Quên Đi

Người Nghèo Mần Thơ



Câu nói nghe chói tai! Người nghèo biết mần thơ sao? Sao lại không? Ca dao cũng là thơ chứ! các cụ coi khinh thơ con cóc, thơ bình dân, thơ với… thẩn!!! 
Nhưng quả thật có những câu phát xuất từ quê nghèo nhưng… nhưng… các cụ nghe… thì… hết hồn! 
Những câu dung tục, thô tục thì… vẫn cứ là thơ! 

Có lẽ các cụ gọi những bài mình sáng tác là… thi. Ừ, thì Thi vẫn cứ là Thơ nhưng… cao cấp hơn (?) 
Ông Trương Tửu chả biết có thần phục mẫu quốc(?) không? Nhưng ông gọi Ca Dao là Kinh Thi Việt Nam!!! 
Cha mẹ ơi! Người nghèo nghe chữ Kinh… thì hết hồn rồi! Bởi Kinh chỉ dành cho Phật Gia, Đạo Sĩ, Nho Sĩ!!! 
Quốc Sĩ vô song là ngươi Hàn Tín! Ông Hàn Tín chuyên giết người được… khoác chữ Sĩ! Ông Doãn Quốc Sĩ không làm thơ cũng xưng Quốc Sĩ??? . Nhưng nòi chung, hình như có chữ SĨ thì người ta kính trọng! 
Dân nghèo chẳng bao giờ khoác trên vai chữ SĨ! 

Có những bài rõ ràng là của dân nghèo, rõ ràng là sáng tác từ quê… nhưng rất hay, rõ ràng là từ người có học  nhưng học lóm!!! 
Đặc biệt là con cò! Con cò thân thiết với dân quê Việt Nam lắm! Có ông sưu tầm những bài về con cò! Không biết mấy trăm bài, hay lắm! 

Con cò đậu cọc cầu ao 
Ăn sung sung chát ăn đào đào chua 
Chiều chiều ra đứng cổng chùa 
Trông lên Hà Nội thấy vua đúc tiền 
Ruộng tư điền không ai cầy cấy 
Liệu cô mình ở vậy được chăng 
Mười lăm cửa bể anh đã đóng đăng 
Cửa nào lắm cá anh quăng chài vào 
Anh quăng phải ngọn cái con sông đào 
Vừa sâu vừa chảy 
Anh bỏ anh đi 
Kén vợ đã bẩy năm nay 
Tình cờ anh gặp nàng đây 
Như cá gặp nước như mây gặp rồng 
Mây gặp rổng bát văn bát vũ 
Cá gặp nước con ngược con suôi 
Chồng Nam vợ Băc em ơi 
Sao em không kiếm một người như anh 
Chim vàng đậu đám cỏ xanh 
Kìa kìa chim phượng đỗ cành dâu da 
Ta thương người , người chẳng thương ta 
Cành kiêu kiêu bổng cành na na chìm 

Bài ca rất hay, nhiều tâm sự, có hồn thơ! Chả biết tâm sự hỗn độn như thế nào nhưng cứ là thơ, là ca 
Người nghèo cũng biết thả thơ ca vào nghề ươm tơ , nghề buôn chè Tầu: 

Cô kia thắt giải lưng xanh 
Có về Nam định với anh thì về 
Nam Định có bến đò chè 
Có tầu Ngô Khách có nghề ươm tơ 
Ươm tơ phải giữ mối tơ 
Một trăm mối đứt phải chờ mối anh 
Dân nghèo khoái nói về con chim , con cá , con … chó ! 
Sông dài cá lội biệt tăm 
Phải duyên chồng vợ , ngàn năm cũng chờ 

Con ngựa thì: Tuấn mã phi nước đại qua cửa quan lớn. Đúng lúc bà lớn đánh địt… Ngựa phi qua phi lại ba vòng mà lỗ đít bà lớn chưa khít (?) 

Con chó thì: 

Khi nằm với vợ thì phải đứng 
Quanh năm chẳng được chén chè Tầu .

A Ha! Thơ người nghèo nhiều sắc thái quá . Nhiều mầu sắc , nhiều tâm sự , nhiều tưởng tượng quá ta 
Người nghèo chỉ mua vui cho người giầu thôi… chẳng có tài vật gì để… trả ơn!!! 

Ơn này biết lấy gì mà trả 
Xin quỳ hai gối chống hai tay 

Nhất là những người diễn viên (chả biết giầu hay nghèo, dĩ nhiên người ta liệt vào hạng nghèo!) Những ứng khẩu của các ông này chẳng được kể là thơ. 

Vua chèo còn chẳng ra chi 
Quan chèo đi nữa khác chi thằng hề 

Cụ Nguyễn Khuyến đã mượn lời vợ người phường chèo. Còn tôi, tôi đã gặp một anh Kép có hồn thơ(!) 

Tôi là anh kép Minh Tơ 
Tôi đi quân dịch lơ mơ bên rừng 
Gặp cô bán rượu tôi ưng 
Tôi dắt vào rừng uống rượu với tôi 
Uống xong quên cả đất trời 
Miệng thơm mùi rượu hai người ngủ chung 
Giữa rừng căng một chiếc mùng 
Chiều xuân gió lộng đì đùng súng vang 

Chân Diện Mục 

Thứ Tư, 12 tháng 8, 2020

Mối Tình Xa Xưa -Thơ Nguyễn Thanh Bình - Nhạc Nguyễn Đức An - Hòa âm Quang Đạt


Thơ: Nguyễn Thanh Bình 
Nhạc: Nguyễn Đức An 
Hòa Âm: Quang Đạt 
Trình Bày: Duyên Quỳnh 
Thực Hiện: Cảnh Ngô

Áo Vàng



Về ngang bến cũ
Nhớ chuyện ngày xưa
Bên dòng sông nhỏ
Thảm cỏ trăng vàng
Bên khung cửa nhỏ
Bướm trắng hoa vàng
Chia tay vội vàng
Dư âm còn lại
Hoa vàng còn đó
Áo vàng nay đâu?

Sao Khuê

Bến Mơ



Em, nắng hạ tung tăng vờn trong gió
Đậu linh hồn trên cửa sổ chiêm bao
Đàn bướm trắng chập chờn qua giấc mộng
Mang tình yêu dừng lại bến mơ nào.

Lê Mỹ Hoàn