Thứ Năm, ngày 27 tháng 11 năm 2014

Thi Phẩm Da Diết - Thơ Thuơng Hà - Vân Khanh Diễn Ngâm


Thơ: Thuơng Hà 
Diễn Ngâm:Vân Khanh 

Giăng Tơ


Nhện giăng tơ để bắt mồi
Em giăng những sợi tơ đời bắt anh!
Gửi mây giữ hộ lòng thành
Phân đường phổ rộng để dành riêng em
Lời thơ thao thức hằng đêm
Nhớ người thục nữ bên thềm ngày qua
Thả hồn theo ánh dương xa
Trọn đời soi mãi vóc ngà thân thương
Năm dài ngày nắng đêm sương
Sợi tơ buộc lạt - lòng vương khôn rời!

Đắc Thu

Thơ Tranh: Phượng Tím


Thơ: Trầm Vân
Thơ Tranh: Kim Quang

Phượng Tím


Nơi anh ở chưa có trồng phượng tím
Đà Lạt em, phượng tím dịu nắng hè
Trên đồi Mộng Mơ, phượng tím chờ ai?
Khi ta đã không còn bên nhau nữa…

Chỉ anh biết em yêu màu hoa tím
Và chỉ anh biết em thường mong ước
Phượng đỏ kia sẽ hóa tím dịu buồn
Những hè về, phượng tím gợi nhớ thương…

Anh không có tâm hồn người nghệ sĩ
Anh sinh viên mê sách nhất giảng đường
Không hiểu em cô bạn học mộng mơ
Mắt u sầu, em buồn và khẽ nói:

Phượng tím nở là tuổi em mười chín
Phượng tím buồn cho sự học dở dang
Phượng tím hờn khi tình bạn sang trang
Phượng tím sầu cho tình mình hai ngả…

Hết khóa học, mỗi người đi mỗi hướng
Biết ai còn có nhớ đến ai chăng?
Hôm nay, đứng lặng trên đồi phượng tím
Lòng nhớ về em, cô bạn mộng mơ

Có những ước mơ muôn đời không thực
Nhưng mơ ước em hiện thực rồi đây
Để anh vẫn mãi là chàng mê sách
Biết ôm chùm phượng tím, nhớ người xưa…

Phượng Trắng
Winnipeg, hạ 2004

Thứ Ba, ngày 25 tháng 11 năm 2014

Môt Số Nhận Xét Về Phật Giáo Nam Tông Và Phật Giáo Bắc Tông



Trước đây, người ta thường cho rằng giáo lý Nguyên Thủy là giáo lý Tiểu Thừa không đưa đến quả vị tối hậu thành Phật, mà chỉ có giáo lý Đại Thừa mới là giáo lý chân chính của Phật giáo. Ngược lại, một số khác lại cho rằng giáo lý Nguyên Thủy mới chính truyền là của Phật, còn giáo lý Đại Thừa là ngoại đạo. Sự bất đồng quan điểm ấy đã làm băng giá mối quan hệ cả hai truyền thống đến hàng ngàn năm!
Ngày nay, với những phương tiện tiến bộ, quan điểm như thế về Tiểu Thừa và Đại Thừa đã không còn thích hợp! Phần lớn các nhà nghiên cứu Phật giáo đều chấp nhận một số tư tưởng Đại Thừa là những tư tưởng của Phật giáo Nguyên Thủy. Nếu chúng ta chịu khó so sánh bốn tập A Hàm của Trung Quốc với các tập Pàli Nikàya tương đương, chúng ta sẽ thấy có nhiều đoạn văn A Hàm lại nguyên thủy hơn các đoạn văn Pàli.
Thái độ của một số Phật tử Đại Thừa xem tư tưởng Tiểu Thừa là thiển cận, nhỏ hẹp, không đáng học hỏi, cũng như phủ nhận ba tạng Pàli, bốn bộ A Hàm và các Luật, Tạng không phải là những tinh hoa tốt đẹp và nguyên thủy nhất của lời Phật dạy, cũng là một thái độ nguy hiểm, nông nổi, nếu không phải là ngây thơ, phản tri thức!
Trong lịch sử Phật giáo, thời kỳ Phật giáo Nguyên Thủy cho đến thời kỳ Bộ Phái (sau Thích Ca Mâu Ni 400 năm) chưa có danh từ Đại Thừa hay Tiểu Thừa! Hai danh từ này xuất hiện đồng thời với kinh điển Đại Thừa khoảng thế kỷ I trước hoặc sau Công nguyên. Các danh xưng Tiểu Thừa và Đại Thừa chỉ là sự tranh chấp về đường lối hành đạo do lúc bấy giờ người ta quá chú trọng về lý luận và hình thức.
Vào năm 1950, Hội Phật tử Thân hữu Thế giới (World Fellowship Buddhists) đã họp tai Colombo (Tích Lan-Sri Lanka ngày nay-) đã nhất trí quyết nghị loại bỏ danh từ “Tiểu Thừa” khi nói đến Phật giáo Nam Tông. Từ đó đến nay, Phật giáo được phân thành hai truyền thống: truyền thống Nguyên Thủy (Phật giáo Nam Tông) và truyền thống Phát Triển (Phật giáo Bắc Tông). Từ ngữ “Nguyên Thủy” và “Phát Triển” khi sử dụng, đã nói lên tính xuyên suốt, giống như một cây đại thọ (tức giáo lý Phật giáo) mà với phần gốc rễ là Nguyên Thủy và phần thân cành là Phát Triển! Không một cây nào có thể gọi là cây khi không có gốc hay ngọn! Sự nhất quán trong hệ thống giáo lý phải được thiết lập và không ra ngoài hai hệ thống Nguyên Thủy và Phát Triển, bởi vì cả hai đều cần thiết phải bổ sung cho nhau! Nói cách khác, mọi tư tưởng của Phật giáo Phát Triển đều phải mang tính kế thừa giáo lý Nguyên Thủy; nếu không, giáo lý Phát Triển sẽ mất đi giá trị của nó!

Với nhận định trên, khi học tập và nghiên cứu, chúng ta cần phải thoát ra khỏi những tượng đài quá lớn của các học giả có một bề dày nghiên cứu, nhưng chưa có quá trình tu tập; cần phải có sự độc lập trong nhận thức để tránh tình trạng nô lệ kiến thức -bởi một con sư tử được làm bằng vàng thì râu hay đuôi, cũng đều có giá trị như nhau trong mắt của người thợ kim hoàn- và cũng bởi vì Phật giáo là một tôn giáo “khi tìm đến để nắm bắt chứ không phải để chiêm ngưỡng”!


(26/11/2014)
Hà Nguyên

Về Mùa Nước Nổi - (Quê Nghèo, Phạm Duy)


Nhạc Đệm: "Quê Nghèo"
Sáng Tác: Phạm Duy, 
Đàn bầu: Phạm Đức Thành
Hình ảnh & Thực hiện: Khúc Giang

Xướng Họa Ẩn Dật




Càn qua gió bụi nhuộm thêm sầu
Áo rách vẫn còn Khảm dạ châu
Ngược gió lỏi luồn mà chạy Cấn
Xa nơi Chấn động để ngồi câu
Nuôi thân gạo Tốn ngày hai bữa
Dưỡng khí thân Ly tháng một chầu

Khôn dại thường lên voi xuống chó
Tôi Đoài mạc kiếp được gì đâu ?


Cao Linh Tử

13/11/2014
***
Số Kiếp 


Càn quét địch quân, thấy thảm sầu,
Chẳng qua họ Khảm hạt minh châu.
Mang thai em bé nghe như Cấn,
Bung chửa làm sao Chấn lưới câu.
Nếu biết buông ra mà Tốn của,
Nào hay thất thủ bị Ly thân.
Khôn ngoan một chút đừng nghe họ,
Số kiếp tôi Đoài chạy được đâu!


Mai Xuân Thanh
Ngày 17 tháng 11 năm 2014

** *
Bát Tiên

Lộn xác ăn xin Thiết Quảy sầu (1)
Tiên Cô rực rỡ tựa minh châu
Hàn Tương truyền sấm khuyên ông chú (2)
Trương Quả tướng người giống lão câu
Lam Thái trẻ trung hay nhảy múa
Chung Ly quan lớn chán đi chầu
Hoàng thân Quốc Cữu không màng đến
Chó cắn Đồng Tân chẳng có đâu.(3)

Quên Đi

- (1) Lý Thiết Quảy xuất hồn đi gặp Lão Tử, căn dặn học trò quá 7 ngày mới được chôn. Nhưng vì mẹ bệnh nặng nên người học trò phải chôn sớm. Khi hồn Thiết Quảy về không thấy xác, đành phải nhập vào xác ăn mày bị chết đói.

- (2) Hàn Tương Tử khuyên chú là Hàn Dũ đi tu đạo. Nhưng Hàn Dũ chê mê tín. Hàn Tương mới tặng cho Hàn Vũ 2 câu thơ : 
Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại (Mây giăng Tần Lĩnh nhà nơi đâu) 
Tuyết ủng Vân Quan mã bất tiền ( Tuyết phủ Vân Quan ngựa không đi tới được) 
Hàn Dũ không hiểu. Sau đi nhậm chức ở Triều Châu đếm Lam Quan thì gặp cảnh y như 2 câu thơ trên. Bấy giờ mới hiểu ra. 

- (3) - Câu " Cẩu Yểu Lữ Đồng Tân" dựa vào câu chuyện của Cẩu Yểu và Lã Đồng Tân, ý nói không biết lòng người tốt, nghĩ xấu cho lòng tốt của người khác. Vì chữ Cẩu Yểu đồng âm với "cẩu giảo" (chó cắn) nên truyền tới truyền lui thành ra "Chó cắn Lữ Đồng Tân"

Thứ Hai, ngày 24 tháng 11 năm 2014

Chỉ Là Dường Như


Dường như giọt nhớ
Vô cớ buộc ràng
Lỡ làng ngày nọ
Đầy đọa tình này

Dường như giọt nắng
Chìm lắng môt thời
Dòng đời hoang vắng
Bạc trắng đường mơ

Dường như bóng tối
Đang trói cuộc tình
Bóng hình sương khói
Nhức nhối từng đêm

Dường như mưa đổ
Nhánh trổ trái sầu
Đậm mầu cây khổ
Làm tổ tương tư

Dường như lầm lỡ
Trăn trở trong lòng
Bềnh bồng nức nở
Nhắc nhở tim đau

Dường như mơ mộng
Rung động nơi nào
Ngọt ngào lắng đọng
Khát vọng chìm sâu

Dường như môi mắt
Hương sắc mặn mà
Đậm đà ngây ngất
Vừa mất hôm qua

Dường như hoa nở
Luôn ở bên người
Tiếng cười khờ dại
Ở lại bên ta

Đỗ Hữu Tài 
( Nov.17-2014 )


Dường Như


(Nối tiếp vần thơ 4 chữ của Đỗ Hữu Tài)

Dường như giọt nhớ vấn vương
Vô cớ buộc ràng sợi thương kết chuỗi
Lỡ làng ngày nọ ngậm ngùi
Đầy đọ tình này thui thủi năm canh

Dường như giọt nắng mong manh
Chìm lắng một thời tuổi xanh đánh mất
Dòng đời hoang vắng chồng chất
Bạc trắng đường mơ khuyết tật đôi tim

Dường như bóng tối im lìm
Đang trói cuộc tình chìm vào quên lãng
Bóng hình sương khói bãng lãng
Nhức nhối từng đêm lãng vãng quanh ta

Dường như mưa đổ lệ sa
Nhánh trổ trái sầu hóa đá thiên thu
Đậm màu cây khổ âm u
Làm tổ tương tư ngục tù chôn kín

Dường như lầm lỡ giết mình
Trăn trở trong lòng chỉ biết lặng thinh
Bềnh bồng nức nở khối tình
Nhắc nhở tim đau bóng hình ngự trị

Dường như mơ mộng lỡ thì
Rung động nơi nào khắc tỳ lưu vết
Đậm đà ngất ngây vụt hết
Vừa mất hôm qua lại chết hôm nay

Đường như hoa nở trắng bay
Luôn ở bên người đọa đày suốt kiếp
Tiếng cười khờ dại nối tiếp
Lại ở bên ta trùng điệp khổ đau

Kim Oanh
21/11/2014

Cũng Là Dường Như


( Cảm tác từ Chỉ Là Dường Như của Đỗ Hữu Tài)

Dường như sợi nhớ
Se thắt tim lòng
Chiều đông lạnh vắng
Nỗi buồn mênh mông

Dường như sợi nắng
Lặng lặng rơi rơi
Hoàng hôn rũ bóng
Mây gió lả lơi

Dường trong bóng tối
Che khuất nẻo đời
Đường mờ sương khói
Một bóng chơi vơi

Dường mùa lá đổ
Vườn trổ sầu đâu
Thu nhường đông đến
Gió chướng đêm sâu

Dường trên lối mộng
Xanh biếc trời mây
Mơ đời muôn sắc
Hồn nửa tỉnh say

Dường trong khóe mắt
Rưng giọt lệ buồn
Tàn canh tỉnh giấc
Tình vương vấn vương

Dường hoa tuyết nở
Phủ trắng đồi thông
Đồng thơ gió lộng
Buốt giá đêm đông!

Yên Dạ Thảo
21.11.2014

Đăng Cao

 " Đây là bài thơ bày tỏ cảm xúc lúc trèo lên cao vào ngày tết Trùng Cửu (mồng 9 tháng 9 âm lịch, còn gọi là tết Trùng Dương). Tào Phi trong bài “Cửu nhật dữ Chung Do thư” có viết: “Năm qua tháng lại, bỗng tới mồng 9 tháng 9. Chín là số dương (số nhiều), mà tháng và ngày cùng ứng thì tục lệ đón mừng là để hợp với sự trường cửu, cho nên bày tiệc hội”. Ở Trung Hoa tục lệ có từ cổ xưa là đến ngày lễ tết này thì trèo trên đồi cao và cắm cánh thù du lên đầu hoặc mình nhằm tránh nạn dịch ". 

 Cả bài thơ mang đến một nỗi buồn diệu vợi, sự chán nản ê chề toát lên trong từng lời thơ,gieo vào lòng người đọc cảm giác yếm thế khi tuổi già bóng xế. Chúng Ta cùng thưởng thức "Đăng Cao" của Đỗ Phủ

     
登高
風急天高猿嘯哀
渚清沙白鳥飛回
無邊落葉蕭蕭下
不盡長江滾滾來
萬里悲秋常作客
百年多病獨登臺
艱難苦恨繁霜鬢
潦倒新停濁酒杯

              Đăng cao

Phong cấp thiên cao viên khiếu ai
Chử thanh sa bạch điểu phi hồi
Vô biên lạc diệp tiêu tiêu hạ
Bất tận trường giang cổn cổn lai
Vạn lý bi thu thường tác khách
Bách niên đa bệnh độc đăng đài
Gian nan khổ hận phồn sương mấn
Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi



Dịch nghĩa: Lên cao


Gió thổi gấp trời cao,tiếng vượn kêu nghe thật buồn thảm
Bãi nước trong xanh, làn cát trắng,chim bay trở về
Không biết bao nhiêu lá rụng nghe xào xạc
Sông dài ngút ngàn nước cuồn cuộn chảy đi
Muôn dậm thu buồn khi thân cứ mãi nơi đất khách
Trăm năm tuổi hạc nhiều bệnh lại một mình lên đài cao
Hận vì khổ sở khó khăn nên mái tóc bạc màu sương gió
Ốm yếu chán nản đến rượu thường rượu đục cũng đành ngưng không uống

Dịch Thơ
:

Gió lộng trời cao vượn khóc than
Vũng trong cát trắng chim về đàn
Vô vàn lá úa lao xao rụng
Cuồn cuộn sông đi tận ngút ngàn
Muôn dặm thu buồn thân đất khách
Trèo cao trăm tuổi bệnh đa mang
Hận sầu tóc nhuốm màu sương bạc
Rượu đục đành ngưng  sức lực tàn

                                   Quên Đi
 


Thơ Tranh An Nhàn


Thơ: Quên Đi
Tranh Thơ: Hữu Đức