Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2020

Ngày Mai Ai Hay - Nhạc Sĩ Lê Tín Hương - Diễm Liên


Sáng Tác: Lê Tín Hương
Ca Sĩ: Diễm Liên
Thực Hiện: Đặng Hùng



Oan Nghiệt



Ai gây ly biệt lúc chung vui
Giây phút chia xa luống ngậm ngùi
Sóng nước hoa trôi nào có khác
Theo dòng định mệnh trói buông xuôi

Vùi trong giá lạnh biết về đâu
Mỗi bước bơ vơ đếm bước sầu
Nhỏ bé tình tôi bao thắm thiết
Tiếc vòng tay trọn chẳng dài lâu


Kim Phượng

Thú Vui Tuổi Già



Vui thú điền viên thật tuyệt vời 
Quên đi năm tháng hững hờ trôi 
Sáng ra cuốc đất rèn thân thể 
Chiều đến tưới rau luyện tính người 
Thế sự thăng trầm như sóng dạt 
Nhân tình biến đổi tợ mây trôi 
Mặc ai hám lợi mua danh hão 
Ta vẫn thản nhiên hưởng phước đời 

Lâm Hoài Vũ
04/08/2020
* Hình hai trái bầu đầu mùa hè năm nay 2020 , cây nhà lá vườn.

Nhớ Vợ


(Ảnh-Phan Lục)

Nhớ Vợ

Bây giờ anh sống cô đơn,
Từ tinh sương đến hoàng hôn một mình.
Ví chăng có kiếp ba sinh,
Hẹn em gặp lại kết tình kiếp sau!
Chia ly này quá đớn đau,
Âm dương cách trở, xa nhau đôi đường!
Một mình nhớ nhớ thương thương,
Lòng đau như cắt vô phương nhạt nhòa!
Nhớ em, bước vô bước ra,
Đêm nằm khó ngủ, xót xa vô cùng!
Nhớ em, suy nghĩ mông lung
Về những kỷ niệm cùng chung trong đời.
Vắng em, hạnh phúc nửa vời,
Vắng em mới thấy cuộc đời như không!
Nhớ em, nước mắt lưng tròng.
Ôi thôi, số kiếp chẳng mong nỗi gì!

Phan Lục
***
Cảm Tác:

Nhớ nhau

Nhớ nhau khi đã không còn
Âm dương cách trở hết tròn giấc mơ
Nhớ nhau thuở ấy mùa xưa
Em bán âu dược anh chưa vô vòm
Xẩy đàn tan nghé nước non
Em đi gánh gạo dắt con thăm chồng
Đôi ta nước mắt lưng tròng
Nắm tay thôi lại những mong họp đàn
Xa quê đôi Giáp mơ màng
Nay Dương Trần với Suối Vàng nhớ nhau
Đời người vẫn mãi biển dâu
Chờ anh em nhé kiếp sau chúng mình
Duyên xưa hương lửa ba sinh
Gặp nhau ta lại xây tình thắm hơn

Locphuc

Định Nghĩa "Ly Tao", Nỗi Trăn Trở


"Không gì giỏi bằng hay bàn, không gì yên bằng hay nhẫn (thản nhiên), không gì hơn người bằng có đức, không gì sướng thân bằng làm lành".
Hoàng Thạch Công
***
Khuất Nguyên làm quan cho Vua Hoài Vương nước Sở, bị sàm báng mà bị phóng khí. Mặt mũi tiều tụy, hình dung khô héo, Khuất Nguyên vừa đi vừa hát ở bên bờ đầm. Có ông lão đánh cá trông thấy hỏi: 
- Ông có phải là Tam Lư Đại Phu đó không? Sao mà đến nỗi khốn khổ như vậy? 

Khuất Nguyên nói: 
- Cả đời đục, một mình ta trong; cả đời say, một mình ta tỉnh, bởi vậy ta mới bị phóng khí (*) 

Ông lão đánh cá nói: 
- Thánh nhân không câu nệ việc gì, lại hay tùy thời. Có phải đời đục cả, sao ông không khuấy thêm bùn, vỗ thêm sóng, cho đục theo một thể? Loài người say cả, sao ông không biết ăn cả men, húp cả bã cho say theo một thể? Việc gì mà phải phòng xa, nghĩ sâu cho đến nỗi phải bị phóng khí? 

Khuất Nguyên nói: 
-Tôi nghe: Mới gội đầu tất phải chải mũ; mới tắm tất phải thay áo; có đâu lại chịu đem cái thân trong sạch mà để cho vật dơ bẩn dính vào mình được? Thà nhảy xuống sông Tương, vùi xác vào bụng cá, chớ sao đang trắng lôm lốp lại chịu phải vấy phải bụi dơ. 

Ông lão đánh cá nghe nói tủm tỉm cười, quay chèo bơi đi, và hát:

Sông Tương nước chảy trong veo 
Thì ta đem giặt cái lèo mũ ta 
Sông Tương nước đục chảy ra 
Thì ta lội xuống để mà rửa chân. 

Hát xong rồi đi thẳng, không nói câu nào. 
(Theo Cổ Học Tinh Hoa)
---
Chỉ vì bá quan ganh ghét, Sở Hoài Vương ruồng bỏ, Khuất Nguyên chán nản đến cùng cực, mà trầm mình xuống sông tự vẫn. Trước khi chết, ông để lại cho đời sau một tuyệt tác, một áng thi, một lời tự tình nói lên sự uất nghẹn tột cùng của người quân tử.

Còn với chúng ta thì sao? Chỉ hai chữ "Ly Tao" cũng khiến bao người canh cánh về nghĩa của chúng, Vậy Ly Tao nghĩa là gì?

Từ ý kiến của các Nhà Thơ cộng tác và Độc giả của Trang Nhà, đã nói lên sự khúc mắc của chữ Ly Tao này.

1- Quan Điểm Thứ Nhất

Quan điểm này cho rằng Ly Tao có nghĩa là buồn chia ly. 
Điển hình là trang Wikipedia (https://vi.wikipedia.org/wiki/Ly_tao) có đoạn giải thích Ly Tao như sau:

"Về ý nghĩa của cái tên "Ly tao" có nhiều cách giải thích khác nhau. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê trong cuốn Cổ Văn Trung Quốc đã giải thích ý nghĩa của "Ly tao" là "buồn ly biệt".[1] Chữ "ly" (離) có nghĩa thường gặp là "chia lìa" nhưng cũng có nghĩa khác đó là "gặp" hay "mắc vào". Chữ "tao" (騷) có nghĩa "buồn rầu", "lo lắng". Cách giải thích chữ "ly" với nghĩa là "chia lìa" được Tư Mã Thiên (trong Sử ký, Khuất Nguyên Giả Sinh liệt truyện), Vương Dật (trong Sở từ chương cú) sử dụng. Tuy nhiên trong lời tựa cho "Ly tao" của mình, Ban Cố đã chú giải ý nghĩa của cái tên này là "gặp nỗi buồn".[C 1][2]

2- Quan Điểm Thứ Nhì

Quan điểm này cho rằng Ly Tao chỉ là Ly Tao, là tên một tác phẩm của Khuất Nguyên, ông viết khi bị mọi người trong triều kỳ thị, đuổi xua và ruồng bỏ. Ly Tao là một Danh Từ Riêng, chứ không hề có nghĩa nào khác. Chính vì thế, trong các Tự Điển Việt, hay Việt Hán, khi định nghĩa chữ "ly tao" đại khái giải thích đây là tên một bài Vận Văn trường thiên của Khuất Nguyên...



- Thế sao trang Wikipedia nêu ý kiến nghĩa là "Buồn Ly Biệt" đồng thời có đưa ra dẫn chứng như trên? 

- Những điều Trang này dẫn chứng Ly Tao có nghĩa "Buồn Ly Biệt" trong sách "Cổ Văn Trung Quốc" của Nguyễn Hiến Lê không hề có. Tương tự trong quyển Sử Ký Của Tư Mã Thiên cũng không hề giải nghĩa chữ "Ly Tao" này. Hình bên dưới được chụp từ 2 quyển sách trên để chứng minh điều của Wikipedia chỉ thêm thắt vào mà thôi.(**)

Đây là ảnh chụp trang 100 của quyển "Cổ Văn Trung Quốc", đoạn nói về Khuất Nguyên và Ly Tao.

Đây là ảnh chụp trang 509 của Quyển "Sử Ký Tư Mã Thiên", mục "Khuất Nguyên Liệt Truyện" .

Trích đoạn nói về Ly tao của trang 509 bên trên.

3- Kết Luận

Từ những ảnh chụp trong các sách "Cổ Văn Trung Quốc" và "Sử Ký Của Tư Mã Thiên", đã chứng minh những giải thích của Wikipedia không có. 

Ảnh chụp các Tự điển cũng cho thấy nghĩa Ly Tao chỉ có một nghĩa duy nhất, đó là tên một bài thơ của Khuất Nguyên. 

Từ đó dẫn đến kết luận "Ly Tao" là danh từ riêng. Và cũng chính vì Ly Tao là danh từ riêng, nên không thể tách ra từng chữ để giải nghĩa, như cách giải nghĩa các Từ Kép khác. 

Ngoài ra, dựa vào nội dung bài thơ "Ly Tao", chúng ta có thể coi Ly Tao có ý nghĩa là nỗi thống khổ của người thất chí.

Huỳnh Hữu Đức
------
(*) Theo Sử Ký Của Tư Mã Thiên, không có từ "phóng khí" này mà là "ruồng bỏ".
(**) Từ đoạn định nghĩa Ly Tao trong bài viết của Wikipedia.org, đưa đến một nhận thức, những bài đăng trên các trang mạng xã hội, chúng ta cần phải đối chiếu lại, mới có thể tìm ra lời giải hợp lý hoặc chính xác hơn.

Lạc Sầu...



Bài  Xướng:

Lạc Sầu...


Nắng đãi nhân gian, gội thắm màu
Cỏ hoa khoe nở mắt vui sao…
Sóc leo thoăn thoắt, hồn nhiên giễu
Chim hót, du dương rộn rã chào
Gió tựa gắng gieo niềm hứng thú
Cảnh tuồng cố góp điểm thanh tao…
Lạ không, lòng cứ buồn… man mác …
Hoang hỏi ta hồn đắm lạc đâu?

Cao Bồi Già
02-08-2020
***
Các Bài Họa:

Hạnh Phúc

( Họa 4 vận)

Sau mưa, vạn vật lại tươi màu
Đêm đến, bầu trời lấp lánh sao
Ngọn gió lao xao, hoa lá cợt
Giọt sương lóng lánh, cỏ cây chào
Điệu hò thắm thiết tình vương vấn
Ánh mắt nồng nàn phút xuyến xao
Đời vẫn miên man niềm hạnh phúc
Còn tìm lẽ sống ở nơi đâu?

Sông Thu

***
Xuân Thắm


Xuân đến trăm hoa rực rỡ màu
Anh đào hồng nhạt mỏng manh sao
Búp xinh Tulip vươn thân rướn
Nụ chúm hoàng mai nhoẻn miệng chào
Iris giang tay mời Khuất sĩ (*)
Mẫu đơn vươn cánh đón Ly Tao
Tử đằng e ấp cười trong nắng
Vũ trụ hòa vui bất kể đâu

(*) Khuất sĩ: Khuất nguyên, người nước Sở thời Chiến quốc. Khuất Nguyên sáng tác bài thơ Ly Tao buồn thê thảm nổi tiếng trong văn sử. Ở đây mùa xuân hoa cỏ đón tác giả và tác phẩm về vui xuân cho tan đi nỗi buồn muôn thuở.

Thúy M
***
Quê Nhà


Bình minh gió mát nắng lên màu,
Trăng lặn sương tàn nhạt ánh sao.
Gà qué cầm canh đua tiếng gáy,
Chim muông dời tổ hót lời chào.
Đò ngang qua lại đưa bao chuyến,
Thuyền dọc đi về đón mấy tao.
Tỉnh giấc lang thang ngoài lối cỏ,
Quê nhà nhớ quá khó tìm đâu.

Mỹ Ngọc
Aug. 3/2020.
***
Ngoạn Cảnh Ngày Hè

Hè đây*hoa lá thắm tươi mầu
Bướm lượn ong chao thoải mái sao!
Suối chảy bổng trầm hoà nhịp tấu
Gió rung dìu đặt góp lời chào
An bình lạc cảnh chi tìm nữa ?
Hạnh phúc thần tiên chả kiếm đâu!
Bất chợt...tơ vương sầu bến cũ
Chiều nao,lệ thấm...khúc ly tao

(*ở đây,xứ lạnh nên Hè mới như Xuân!)

Thanh Hoà
***
Đò Đêm

Đò đêm, sương khói nước cùng màu
Vũ trụ tinh cầu lấp lánh sao.
Lạch bạch mạn thuyền con sóng vỗ
Đong đưa ngọn trúc ánh trăng chào.
Ngà ngà buông lái làm vài chén
Cảm khái dừng thuyền buộc mấy tao.
Eo óc tiếng gà thôn xóm vẳng
Giật mình chẳng biết ở nơi đâu?

MaiLoc
***
Trách Hạ...

Tháng 8...thu còn ở tận đâu

Mà như hoa thắm chợt phai màu
Thềm sau...phượng vĩ vừa rơi rụng
Ngõ trước...tường vi đã cúi chào
Mới đó...xuyến xao ngày hội ngộ
Chừ đây...ngơ ngẩn khúc ly tao
Nắng vàng chưa đủ hồng đôi má
Hạ vội tạ từ...chẳng tiếc sao?

Thy Lệ Trang
***
Sướng Được Đâu?

Sáng rực bình minh lộng sắc màu
Khuya trời lấp lánh đẹp muôn sao
Ong vờn ngõ hạ lời ru đón
Bướm lượn vườn xuân cánh vẫy chào
Nhạc phối thanh âm niềm hạnh ngộ
Thơ hòa nghĩa khí khúc ly tao
Nước non còn lắm người dân khổ
Ích kỷ riêng mình sướng được đâu!

Lý Đức Quỳnh
4/8/2020
***
Mực Biến Màu

Hai vía ba hồn trốn mãi đâu
Yêu đời từ thủa thích mày tao
Rồi khi trường lớp ưa vâng dạ
Đến dạo nghiệp duyên hám hỏi chào
Nhìn nụ hoa khai lòng thắm mãi
Nghe lời yểng nói dạ tươi sao
Lật thuyền trong rãnh rồi mang sẹo
Cây bút thân quen mực biến màu

Trần Như Tùng

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2020

Lời Tình Buồn - Hoàng Thanh Tâm - Thanh Hà


Sáng Tác: Hoàng Thanh Tâm
Ca Sĩ: Thanh Hà
Thực Hiện: Đặng Hùng


Chiêm Ngưỡng Thiên Nhiên



Nàng hiện ra giữa cảnh rừng thanh vắng,
Những cây cành, minh họa dáng thanh xuân
Căp mắt đăm chiêu, tư lự xuất thần
Vành môi gợi nét trầm ngâm u mặc

Mây ngọc ngà, phô mỹ miều hương sắc
Đàn chim trời về tô điểm dung nhan
Có phải chăng Ngọc Nữ xuống trần gian?
Hay Tiên Nương từ Thiên Thai xuất hiện?

Cả vũ trụ bỗng lung linh xao xuyến,
Vẻ tuyệt vời kiều diễm, đẹp như mơ!
Cõi hoang vu bừng sức sống tình cờ,
Phối hợp diệu huyền, trời mây cây lá.

Nàng xuống trần, như kỳ duyên, phép lạ,
Một thoáng mong manh, diện mạo con người
Dáng thần tiên lồng lộng giữa khung trời,
Sự mầu nhiệm hiển linh miền hoang dã.

Bất chợt thấy Nàng, bàng hoàng khó tả,
Kẻ phàm nhân, lòng đắm đuối mê say.
Trước “Thiên Nhiên Ngẫu Cảnh”, hồn ngất ngây,
Tôi kính cẩn viết bài Thơ Chiêm Ngưỡng!

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia

Kỷ Nhân Hồi



Hoang lạnh trải sương vào thung lũng
Lối mòn theo dốc mịt mờ leo
Khoác áo giang hồ trên vai mỏi
Nhìn mây viễn xứ nhớ quê nghèo.

Có phải ta vừa mơ hạnh phúc
khi nhìn hoa dại nở trong mưa
Chợt nhớ nhà ai vàng hiên cúc
Hỏi thầm cố quận đã Thu chưa?

Một gánh tang thương đời phiêu bạt
Tuổi thơ bỏ lại phía sau lưng
Hoa niên cũng lắm phen trôi dạt
Tóc trắng đường mây, bước vô chừng.

Ký ức hành hương về dĩ vãng
Theo trang nhật ký thả ngược dòng
Níu lại thời gian, dù khoảnh khắc
để thoáng hương xưa quyện hoài mong.

Không phải sa trường sao "Túy Ngọa"?!
Đong giọt sầu trong chén đầy, vơi

Ly khách quặn lòng mơ quê cũ
Viễn phương, hồn mộng "Kỷ Nhân Hồi"

Huy Văn

Thu Phố Ca Kỳ 15 秋浦歌其十五 - 李白 – Lý Bạch



Nguyên tác:                      Phiên âm:

秋浦歌其十五 - 李白      Thu Phố Ca Kỳ 15 – Lý Bạch


白髮三千丈                     Bạch phát tam thiên trượng
缘愁似个長                     Duyên sầu tự cá trường
不知明鏡裏                     Bất tri minh kính lý
何處得秋霜                     Hà xứ đắc thu sương.


Dịch thơ
Bài Ca Phố Thu* kỳ 15

Tóc bạc ba ngàn trượng
Sầu chia ly tít mù
Chẳng dè gương sáng đó
Đã tráng được sương thu?

Con Cò
***

Mộc bản của Ngự Định Toàn Đường Thi bắt đầu câu 2 với chữ duyên緣 giống như mộc bản trong Phân Loại Bổ Chú LTB Tập 分类补注李太白集 của Tiêu Sĩ Bân 萧士斌 đời Nguyên. Chữ cá个 và chữ lý裏dị dạng khác bản hiện hành.
Văn bản với câu Ly sầu tự cá trường 離愁似箇長 thường thấy ở các trang web Trung Hoa Đài Loan.

Ghi chú:

Trượng: đơn vị đo bề dài thời nhà Đường, dài khoảng 2.5 mét.
Câu Bạch phát tam thiên trượng sau này cũng được Đường Ngạn Khiêm 唐彥謙 xử dụng trong bài Tự Vịnh自詠. 
Tóc bạc mọc dài vì sầu muộn trường kỳ do duyên kiếp. Khi nhìn vào gương sáng, tóc trắng tợ như sương mùa thu.

Dịch Nghĩa: Thu Phố Ca

Bạch phát tam thiên trượng 
Tóc bạc mọc dài đến ba ngàn trượng,
Duyên sầu tự cá trường 
Sầu dài dằng dẵng vì duyên nghiệp.
Bất tri minh kính lý 
Không biết ở trong gương sáng,
Hà xứ đắc thu sương. 
Sao sương thu ở đâu lại vào được.

Dịch Thơ: Thu Phố Ca

Tóc bạc ba ngàn trượng
Ly biệt dài nhớ thương
Cái gì trong kính sáng
Vì đâu giống thu sương.

Translation:

My white hair is growing three thousand feet,
My sorrow of staying away from home is as long.
I don't know what is inside this bright mirror,
From where it obtains the white hair like autumn frost..

Phí Minh Tâm

Người Yêu...Thơ



Bài Xướng:

Người Yêu...Thơ

Thi nhân thường luỵ tình thơ
Là duyên là nợ sợi tơ kéo dài
Hồn thơ trót vướng, trót say
Gỡ hoài cũng nghiện đêm ngày như điên

Ghi hoài tình tứ nhiều phen
Thơ ơi trao mãi nên duyên tinh thần
Thơ mời cũng lắm thi nhân
Không thơ lắm phú muôn phần dịu hay

Vần thơ là thú duyên đây
Tỏ tình cùng giấy lòng ngây miên trường
Mấy câu nguệch ngoạc tình thương
Vui buồn theo khói chút vương bên bờ

Câu trao lời thả duyên thơ
Vần ghi nét điệu nguồn mơ thanh màu
Hoạ thơ chiều, sớm xướng trao
Cho lòng trắng cả non cao đâu ngờ

Những câu đào mộng liễu mơ
Rồi ta thay đổi ý thơ thành vần.
''Cá buồn cá vượt biển đăng
Em buồn em biết than rằng cùng ai''.(*)

(*)Ca Dao
Đặng Xuân Linh
***
Bài Họa: 

Yêu Ai Qua Câu Lục Bát?

Trò chơi chữ nghĩa nên thơ
Đọc xuôi, đọc ngược, nhả tơ thêm dài!...
Ca dao giai điệu mê say
Đường thi, lục bát, lưu đày hóa điên!...

Bảy mươi, tám chục đòi phen
Thất ngôn, bát cú, nợ duyên, xuất thần
Noi theo mặc khách tao nhân
Đệ huynh, tỷ muội góp phần họa hay!

May duyên gặp gở nơi đây
Cảm thông đồng điệu, ngất ngây can trường
Tha hương tri kỷ nhớ thương
Vui câu xướng họa còn vương đôi bờ!

Đường thi học hỏi luật thơ
Năm mươi sáu chữ mộng mơ muôn màu
Êm đềm em xướng gởi trao
Nhẹ nhàng anh họa, thanh tao bất ngờ

Vui câu đào lý ước mơ
Xuôi tai, nhạc điệu ý thơ nối vần
Thi đàn gặp hội hoa đăng
Bên em chia sẻ hỏi rằng ...yêu ai?

Mai Xuân Thanh
Ngày 04/08/2020
***
Các Bài Cảm Tác:

Bạn Thơ 

Từng đêm sống với nàng thơ
Mãi hoài chìm đắm tình tơ vương dài
Lời than lời thở như say
Mân mê bút mực từng ngày dịu điên

Lệ thơ nhoà giấy đôi phen
Nhờ hoà Phật pháp xuyên chen định thần
Có khi thơ hoá lòng nhân
Chén trà dựa nguyệt ẩm vần ý hay

Vui buồn trao gởi là đây
Đôi câu xướng họa dại ngây giấc trường
Cùng vầng trăng tỏa yêu thương
Thoảng mùi Dạ Lý ngát hương dâng bờ

Hay từng chiều nắng lụa tơ
Mắt say làn khói ngẩn ngơ bạc màu
Hồn nghe rung cảm dâng trào
Theo mây lãng đãng trời cao tím mờ

Tràn nghiên khỏa bút dệt mơ
Lâng lâng máu thắm câu thơ nên vần
Thơ như bóng dáng thiên thần
Thu đông xuân hạ bám ngần ấy thôi 

Minh Thuý
Tháng 8/2/2020
***
Nửa Đời Thơ Thẩn

Nửa đời thơ thẩn với thơ
Cùng câu xướng họa kéo tơ thêm dài
Bao đêm thức trắng mê say
Cùng nghiên với bút mỗi ngày....giống điên

Tình thơ thêu dệt mấy phen
Thơ cùng hoà nhịp ý duyên thêm thần
Thơ là người bạn cố nhân
Kết tình thân ái góp phần nào hay!

Buồn vui bày tỏ nơi đây
Sẻ chia tâm sự ngất ngây đêm trường
Xa nhau vẫn nhớ vẫn thương
Nhớ trang thơ cũ vấn vương đôi bờ

Trải bao trang blog cùng thơ
Chinh y xếp lại cho mơ thêm màu
Nghe lòng rung cảm đổi trao
Mượn mây vay gió trăng sao đang chờ

Bao lần hồn cũng mộng mơ
Một ngày nối kết ý thơ thành vần
Như thuyền vượt bến sông Ngân
Để tìm gặp lại cố nhân...thuở nào!

songquang
20200805

Chuyện Vĩnh Long - Nhát Ma

( Cây Còng - Ảnh của Huỳnh Hữu Đức)

Xóm tôi tên gọi là xóm Vườn Còng, vì lúc đó cây Còng rất nhiều bây giờ vẫn còn vài cây bên hông Ủy ban Tỉnh, dân Vĩnh Long chắc ai cũng biết và trong hẻm này có trường tiểu hoc tư thục Huỳnh Văn, của bác giáo Cẩn nổi tiếng một thời.

Ngày xưa, xóm này mặc dù ở ngay tai trung tâm tỉnh lỵ, nhưng trước năm 1960 còn ít người, dân cư thưa thớt, đám con nít chúng tôi cũng quậy phá cũng đủ trò, sân trường Huỳnh Văn là nơi tụ tập bọn trẻ chúng tôi nào là đánh u, đánh trỏng, leo trèo, và cả đá banh nữa. Hôm nào không ra chơi được thì thấy trong người khó chịu, thậm chí khi bệnh cũng ráng mò ra nhìn các bạn chơi cho đỡ thèm, đỡ nhớ. Nó trở thành thói quen như người ta ăn cơm vậy, nên mỗi chiều khi đi học về mà không ra sân chơi là không được, chơi đến tối mịch mới chịu về nhà.

Đám nhỏ chúng tôi tự phân chia thành 2 nhóm, để tham gia các trò chơi đối kháng, nhất là đá banh, trong sự phân chia đội nhóm này không có tính “giai cấp” là vì đám con nhà nghèo, nhà giàu và con nhà quan đều chơi chung với nhau. Duy chỉ có đám con Quản Bền là hơi khó chịu vì chúng thưởng ỷ lại là con nhà quan, nên thường tách ra chơi riêng, bởi vậy chúng tôi cũng không ưa chúng lắm.

Riêng tôi cũng ức lòng về thái độ của chúng và nghĩ trong bụng là sẽ có ngày cho chúng một trận. Nhược điểm của chúng là rất sợ ma, mà mở miệng ra thì nói chuyện ta đây. Trong xóm có thằng Lắm chơi thân với tôi vì cũng như tôi con nhà nghèo, vốn không ưa gì đám nhà quan đó, hai thằng đều có chung ý nghĩ là sẽ cho chúng một trận để bỏ thói kêu căng.

Theo dõi tụi nó thì thấy tối nào chúng cũng tụ tập ở nhà sau mà chơi trò đánh bài, cười nói, cãi vã ầm ĩ. Cái nhà sau này có một cửa sổ thông ra con hẻm nhỏ vắng, ban đêm tối trời không người qua lại.Tôi bèn nghĩ ra một cách hù tụi nó một trân chơi cho bỏ ghét, rồi bàn với thằng Lâm trưa nay nó phải làm lành với tụi nó để có dịp qua nhà đó chơi, thì lấy sợi dây dài cột vào góc mùng ngay cửa sổ, rồi bỏ đầu dây kia ra ngoài, nhiệm vụ của thằng Lâm chỉ như vậy thôi, còn chuyện thực hiện ra sao thì tôi lo, tối nay sẽ cho tụi nó biết tay bọn mình, xem chúng có còn nói phét không sợ ma nữa hay không.

Cứ tưởng thằng Lắm không thực hiện kế hoạch của mình nên tôi cũng quên, đến hai ba hôm sau, lúc tối tôi đang học bài thi  Trung Học Đệ Nhất Cấp, bỗng nghe chúng cãi vã um xùm tôi mới sực nhớ việc này, bèn xếp tập lại, nhẹ nhàng đi ra sau hẻm, đi tiểu và kiểm tra xem có sợi dây như dự tính không, tiểu xong tôi đi vòng ra sau nhà chúng, trong đêm tối tôi lấy tay rà vào vách nhà phía dưới của sổ thì thấy sợi dây mà thằng Lắm đã buộc từ bao giờ. Bên trong không khí đang sôi động, cuộc cãi vã lớn tiếng đang ầm ỉ, tôi nắm sợi dây giựt giựt mấy cái rồi ngưng, mới đầu đang ồn ào chúng nó đều im lặng để lắng nghe xem cái gì đây, biết là tụi nó trúng kế minh nên tôi giựt thêm vài cái nữa, trong nhà tụi nó đang hỏi nhau, thằng nầy hỏi thằng kia ai làm cái mùng rung rinh vậy? không thằng nào cả mà, chúng đang ngồi yên nhìn lẫn nhau thì thấy cái mùng tự nó rung chớ không đứa nào làm cả, lần thứ ba tôi giựt dây lia lịa chúng hoảng hồn đồng thanh phá cửa chạy túa ra ngoài, đứa chạy đầu này đứa chạy đầu kia khắp xóm, vừa chạy vừa la: ma, ma …như giặc tới!!! làm náo động cả xóm.

Mọi người ai cũng thức giấc mở của ra xem chuyện gì mà con nhà ông Quản la dậy xóm. Lúc đó có người cũng tin là có ma thật bởi tụi nó kể lại sự việc là cái mùng tự nhiên rung rinh mà không ai làm cả, chúng khẳng định là chỉ có ma giựt cái mùng chúng mà thôi. Nên chúng sợ quá bỏ chạy ra ngoài cầu cứu. Cả xóm xao động một lúc sau mọi người ai vào nhà nấy, có người đi báo cho ông Quản đang ăn nhậu chạy về với thái độ hống hách ông lấy súng ra dọa:” Nếu có ma tao bắn chết mẹ nó.” Rồi bảo tụi nhỏ lên nhà trên ngủ, để ổng ngủ nhà sau nầy xem con ma nào bắt được ổng không?

Thú thật lúc đó với thái độ của ổng, làm tôi với thằng Lâm rất sợ vì cái trò này chỉ có hai thằng biết, tưởng sự việc xảy ra nhỏ thôi ai dè tui nó la dậy xóm làng là lớn chuyện rồi. Tuy trong bụng hả dạ vì đã cho chúng một trận như dự tính,nhưng lại rất sợ, ổng mà biết được hai thằng chỉ có nước chết!

Sau này nghĩ lại mình cũng dở, tại sao lúc đó không cắt sợi dây đi cho rồi vì đó là bằng chứng không phải do ma mà là con người, mà người chơi trò này chỉ có tôi thôi vì nhà tôi ở kề bên nhà tụi nó, con nít đêm tối không đứa nào dám ra con hẻm nhỏ này đâu, dùng phép loại trừ ổng cũng biết là tôi thôi.

Sự việc ổng không bỏ qua mà qua nhà tôi méc, tôi chối tội, má tôi cũng rầy la sơ sơ, nhưng ổng cũng không tha, vào trường thưa với thầy giám thị, tôi chịu tội với thầy là vì chúng ỷ con nhà quan làm phách tôi chọc chúng chơi cho bỏ ghét, đơn giản vậy thôi. Cuối cùng thầy xử tôi cấm túc một buổi sáng Chủ Nhật ở trường, cho vừa lòng ông Quản.

Chuyện này có thật 100%, mà tuổi thơ tôi đã trải qua với những kỷ niệm vui buồn khó quên ở quê mỉnh.

(Tên nhân vật đã được thay đổi)
Nguyễn Thế Bình

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2020

Chốn Xưa -Thơ: Hồng Thúy - Lâm Kim Cương - Ngọc Mỹ


Thơ: Hồng Thúy 
Nhac: Lâm Kim Cương 
Ca sĩ: Ngọc Mỹ 
Hòa âm: Đỗ Hải 
Video: Dĩ Vãng Buồn

Mênh Mông Chiều Nhớ



Mơ về phương xa ấy
Nhắn gió theo làn mây
Màu sương lam phủ kín
Hiu hắt cơn buồn lây

Từng giọt mưa hiên vắng
Rơi rớt rơi triền miên
Thoáng đâu đây lời hát
Ca khúc ca sầu miên.

Xa mờ xa mây tím
Xây bến bờ yêu thương
Trong dặm trường nhung nhớ
Ai khóc ai sầu vương?

Chiều rồi tan bóng xế
Mưa bước chân em về
Da diết tim lạnh giá
Nghe nảo nề cơn mê .

Vi vu lời của gió
Anh hãy quay về đi
Xuân thì em đã khép
Tiếng yêu đầu phân ly .

Ngọc Quyên

Giận Hờn



Đừng giận hờn nhau lúc xế chiều,
Ngàn lần xin lỗi nhé em yêu.
Thời gian vùn vụt ngoài song cửa,
Tuổi hạc mong manh tựa cánh diều!
Gió lạnh trăng khuya hình ảo não,
Đèn lu nến lụn bóng liêu xiêu.
Chung vui gắn bó thêm bền chặt,
Hạnh phúc chúng mình há bấy nhiêu?!!!

July 15th 2020
Hồ Công Tâm

Lâm Giang Tiên - Dương Thận (1488-1559)


Lâm Giang Tiên

Cổn cổn Trường Giang đông thệ thủy
Lãng hoa đào tận anh hùng
Thị phi thành bại chuyển đầu không
Thanh sơn y cựu tại
Kỷ độ tịch dương hồng
Bạch phát ngư tiều giang chử thượng
Quán khan thu nguyệt xuân phong
Nhất hồ trọc tửu hỷ tương phùng
Cổ kim đa thiểu sự
Ðô phó tiếu đàm trung

Dương Thận (1488-1559)
Lâm Giang Tiên - Ca Từ Dẫn Nhập Bộ Tam Quốc Chí

Dịch Nghĩa:

Cuồn cuộn Trường giang về biển cả
Sóng hoa dìm hết anh hùng
Chính, tà, thành, bại thoắt như không
Non xanh xưa vẫn đó
Mấy độ nắng chiều hồng
Ðôi bạn ngư tiều đầu bến nước
Trăng thanh gió mát rong chơi
Tương phùng hồ rượu nhạt đầy vơi
Cổ kim thiên hạ sự
Khề khà chuyện vui thôi

Dịch Thơ:
Nhân Gian Như Mộng

Cuồn cuộn sông dài về biển cả
Sóng hoa vùi cuốn hết anh hùng
Thị phi thành bại trôi theo nước
Núi cũ bao chiều bóng tịch dương

Ðôi bạn ngư tiều đầu đã bạc
Gió trăng sông nước thả mây trôi
Gặp nhau tôi bác một hồ rượu
Phó mặc chê khen những chuyện đời


Phạm Khắc Trí

Hoàng Mai



Mai vẫn là Mai của chốn xưa
Buồn theo đất mẹ trải bao mùa
Ta nay lang bạt ngoài sương gió
Mai đã dập vùi giữa nắng mưa
Khiến kẻ xa quê mà nhớ nước
Thương thời hẹn sớm lại chờ trưa
Mai ơi, kỷ niệm khung trời cũ
Rồi cũng như từng bọt sóng đưa.....

Nguyễn Kinh Bắc

Mưa Hạ - Chung Tình



Bài Xướng:
Mưa Hạ

Năm tháng qua rồi vẫn mãi trông
Mỗi lần mưa hạ xót xa lòng
Đã từng thắm thiết vui âu yếm
Sao nỡ quên đi để lấy chồng.

Mưa hạ làm rơi rụng cánh hồng
Phượng buồn lả tả rớt ven sông
Sao ta cứ giữ tình yêu cũ
Nhung nhớ tràn dâng ngập cả lòng

Em đã quên rồi ta vẫn đây
Mỗi năm mưa hạ phủ giăng đầy
Nhìn mây xám nhớ tình nhân phụ
Quấn quýt bao mùa lại đổi thay

Quên Đi
***
Họa:
Chung Tình

Anh mãi chờ em, mãi ngóng trông
Bao nhiêu nhung nhớ nát tan lòng
Bao nhiêu ước vọng dù ngang trái
Tình gởi vào thư vẫn chất chồng.

Những chiều buông xuống nắng pha hồng
Từng cánh lục bình trôi cuối sông
Mỹ Thuận anh chờ phà ghé bến
Tìm em lòng bỗng sắt se lòng.

Anh biết lạc em từ chốn đây
Dòng sông Mỹ Thuận nước dâng đầy
Xa bờ bến ấy đời ngăn cách
Tình vẫn chung tình há dễ thay.

Nguyễn Thành Tài
3-8-2020

Bài Thơ Cuối Cùng



Thân tặng những ai là tri kỷNợ đời tôi biết trả lại ai
Góp hết đau thương xuống tuyền đài
Bất hạnh dập dồn luôn đưa đẩy
Tất cả chỉ còn: mỗi tôi sai

Kiếp trước kiếp này trả xong chưa?
Hay vẫn tồn dư chút nợ thừa
Tôi sống nhưng lòng tôi đã chết
Oan trái dập dồn bởi gió mưa

Van Trời 2 chữ được bình an
Ai là tri kỷ lúc cơ hàn?
Xin thắp cho tôi cây nến nhỏ
Sáng lên để nhớ phút huy hoàng

Tôi của ngày xưa đã chết rồi
Bây giờ héo úa lục bình trôi
Chỉ mong được ngày hơi thở tắt
Còn nở nụ cười trên đôi môi

Đất Cần, 28/7/2020
Hồ Nguyễn
***
Vững Vàng Thêm Chút Nữa
(xin phép tiểu muội Chim Cánh Cụt, giáo sư thi sĩ
Hồ Nguyễn cho huynh mượn ý để thơ cho vui.
Kim Tây Bự)

Có hiểu nhau mới là tri kỷ
Vòng đời kỳ bí trả cho ai
Cõi ta bà cuộc sống trang đài
Đừng tưởng khó khăn là bất hạnh
Quan niệm này muội đúng là sai.

Nợ tiền kiếp muội trả xong chưa ?
Đừng trách hóa công bởi nợ thừa
Cố gắng nhìn đời qua song cửa
Như làn gió thoảng với cơn mưa.

Ơn chúa ban cho được vạn an
Gia đình lắm lúc chịu cơ hàn
Tợ như mưa lạnh chiều tối đến
Ngày mai nắng ấm sẽ huy hoàng.

Bĩ cực qua mau… sắp hết rồi
Bình minh vàng óng lững lờ trôi
Vững vàng muội nhé thêm chút nữa
Để nụ cười tươi nở khóe môi….

Dương hồng Thủy
29/07/2020

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2020

Mừng Kỷ Niệm 60 Năm Hạnh Phúc Anh Chị Cửu Viên&Hồng Thủy


Sáng Tác: Ai Lên Xứ Hoa Đào
Nhạc Sĩ: Hoàng Nguyên

(Cựu Giáo Sư Tống Phước Hiệp , Vĩnh Long trước 1975)
Ca Sĩ: Hà Thanh
Thực Hiện: Kim Oanh

Kỷ Niệm 54 Năm Hôn Nhân Hạnh Phúc ( Năm 2014) - Mừng Kỷ Niệm 60 Năm Ngày Cưới Anh Chị Hồng Thủy Cửu Viên


Thơ: Ngọc Hạnh
Thơ Tranh: Kim Oanh


Bài Họa:
Mừng Kỷ Niệm 60 Năm Ngày Cưới Anh Chị Hồng Thủy Cửu Viên

(Kính hoạ bài thơ chị Ngọc Hạnh tặng anh chị Hồng Thuỷ Cửu Viên)

Sáu mươi năm sống mặn mà
Tình chung 
Viên Thủy thăng hoa ngọt nồng
Sớm hôm hợp ý chung lòng
Giúp người, mến bạn, ước mong điều lành
Cuộc đời mãi rạng ánh minh
Thắm tươi vun quén khối tình trắng trong
Còn gì hơn nữa mà mong
Nước non xưa đã một lòng liệt trinh
Chúc anh chị mãi an bình
Bốn mươi năm nữa ngọt tình phu thê


Phương Hoa 
30th 2020
***

Kỷ niệm 54 Năm Hôn Nhân Hạnh Phúc

Hoan hỷ kính chúc anh Viên và em Hồng Thủy 60 năm phận đẹp duyên ưa và sẽ vẫn còn đẹp trên hơn 40 năm nữa. Cám ơn hai bài thơ thật hay của hai thi sỹ Ngọc Hạnh và Phương Hoa làm tặng anh chị Viên, Hồng Thủy. Những lời khen quả thật đúng là đức tính và đặc điểm của đôi uyên ương Viên – Hồng Thủy hoàn hảo này.
Hoan hô, hoan hô hai anh chị.

Minh Nguyệt. 
***
Dạ em xin mạn phép mượn lời chúc cuả tất cả những ai đã dự đám cưới cuả anh chị Cửu Viên – Hồng Thủy 60 năm trước để gởi đến anh chị lần nữa và “Trăm Năm Hạnh Phúc”.
Thương,

Việt-Chỉnh

***
Happy 60TH Anniversary
Anh Chị Cửu Viên & Hồng Thủy
We Wish you all the best.
We always love you....

From Hai Em
Chúc Anh & Jeffrey
***
Hai em xin chúc mừng kỷ niệm 60 năm kỷ niệm ngày cưới của anh Cửu Viên và chị Hồng Thuỷ.
Hai em rất ngưỡng mộ và kính phục anh chị, một cặp đôi đẹp , uy tín và có nhiều hoạt động xã hội vô vị lợi trong vùng Hoa Thịnh Đốn. 
Em kính chúc anh chị tiếp tục hạnh phúc, mạnh khỏe và an vui trong những ngày tiếp đến.

Phạm Quang Hiệp& Cung Thị Lan
***
Xin được kính chúc anh Viên và chị Hồng Thuỷ một Kỷ Niệm 60 Năm Ngày Cưới thật tuyệt vời: vui vẻ, khỏe mạnh, hạnh phúc và an lạc bên các con, các cháu!
Tụi này chỉ mơ ước được như Anh Chị là sung sướng lắm rồi!
40 năm nữa “thừa thắng xông lên”, Anh Chị nhé!



Xin chúc mừng 60th Anniversary anh chị Cửu Viên & Hồng Thủy!
Xin chúc anh chị thêm 40 năm tình đẹp, mặn nồng và hạnh phúc như ngày đầu mới cưới nhau.
Cũng xin cám ơn chị Ngọc Hạnh, Phương Hoa và Minh Thúy những bài thơ xướng/họa hay tuyệt vời.

Phạm Phan Lang
***
Chúc mừng kỷ niệm 60 ngày thành hôn của Niên Trưởng HQ Bùi Cửu Viên & Hiền Tỷ Hồng Thuỷ quý mến
Cầu chúc anh chị và bửu quyến vạn sự an lành, may mắn, thành đạt

Thân mến
Thảo Thuận
***

Congratulations for your Diamond 60th Anniversary!
Có mấy câu thơ con cóc thân tặng “cặp vợ chồng sắt son Viên-Thủy:
60 năm ấy biết bao là tình
60 năm dâu bể vẫn bên nhau
Nghĩa tình gắn bó thật tuyệt vời
Chúc mừng Viên-Thủy  sắt son hoài!

8/1/2020
Lê Tống Mộng Hoa
 ***

Thân chúc:Tương Kính Như Tân.
VIÊN mãn trăm năm tình phu phụ.
THỦY chung trọn kiếp nghĩa phu thê.

CT/Lão Mã Sơn
***
Xin chia vui và chúc mừng kỷ niệm 60 năm hôn lễ anh chị Bùi Cửu Viên & Hồng Thuỷ ,mong anh chị và gia đình vui sống hạnh phúc ít nhất 40 năm nữa
Là niên phó Hội cựu học sinh Bưởi /Chu Văn An đệ mạn phép qua mặt ông anh dám lấy vợ trước ông anh 5 năm mới kỷ niệm 65 năm cách đây 3 tháng trước
Tôi còn được bạn Phạm văn Tuấn phong là Hội trưởng Hội Tình Bắc Duyên Nam

Hoàng Song Liêm

***
Thân gửi anh chị
Cửu Viên & Hồng Thủy
Nhận được tin Phó Niên Trưởng cho biết là anh chị kỷ niệm đã được 60 năm ngày cưới.
Xin chúc mừng anh chị và xin chúc anh chị Trăm Năm Hạnh Phúc!
Kính thư

L&,L
***
Ngọc An Kính chúc mừng anh chị Bùi Cửu Viên – Hồng Thủy những năm dài còn lại vẫn nồng nàn hạnh phúc như thuở xuân xanh …
Dẫu tóc phai màu tim vẫn xanh …..thành thật chúc mừng anh chị.

Nguyễn Phan Ngọc An
***
Chúc Mừng Anh Chị Bùi Cửu Viên – Hồng Thủy
Tình Yêu- Hạnh Phúc- Cuộc Đời
Sáu mươi năm đẹp tuyệt vời bên nhau

Phan Khâm-Phi Hồng

***
Anh Viên và Hồng Thủy quý mến,
Vẫn biết anh Viên và Hồng Thủy lúc nào cũng đề huề hạnh phúc nhưng cũng xin chúc thêm vì… hạnh phúc giống như tiền bạc, không bao giờ thừa cả.
Thân chúc anh Viên và Hồng Thủy luôn luôn khỏe mạnh, hạnh phúc.

Lê Thị Nhị
***
Thưa anh Viên và chị Hồng Thủy quý mến,
Tuy ít có dịp, nhưng mỗi lần được gặp, Cường luôn thấy anh chị vui tươi và tràn đầy sức sống như đôi uyên ương ! Tình yêu của anh chị như rượu ngọt, càng giữ lâu càng
thêm nồng nàn…chai rượu nào cũng có giá, nhưng mối tình Viên - Hồng Thủy quả là vô giá !
Xin chúc anh chị sức khỏe và an lành.

Ngọc Cường và Bích Điệp
***
Chúc mừng hạnh phúc tuyệt vời, trường cửu của anh chị Cửu Viên & Hồng Thủy 

Tu Nguyen
***
Tất cả những lời chúc tụng hay đẹp nhất của Diễn Đàn Văn Bút đều được gửi tới cho “60 năm tình nghĩa ” của Hồng Thủy&Cửu Viên, thật sự làm cho ai nấy đều cảm động. Đó là thành quả của tấm lòng thành nhân ái Hồng Thủy trong hoạt động xã hội văn học.
Bravo tình sâu nghĩa nặng ! Bravo Hồng Thủy- Cửu Viên!

Trần Thị Diệu Tâm & Phạm Kế Viêm / Paris
***
Em xin chúc mừng anh Bùi Cửu Viên và Chị Hông Thủy quý mến một Anniversary  đẹp tuyệt vời, đã đẹp suốt
60 năm nay và còn đẹp mãi mãi.

Mỹ Hoàn
***
Vì có nhiều vị ưu ái gửi thơ chúc mừng cả cho tôi, nên xin phép ” mùa rìu qua mắt thợ” viết mấy câu thô thiển để tạ lòng ưu ái của quý vị nhưng không cho bà xã biết vì nàng thích kiểm duyệt lắm.
***
Thương chúc anh chị Cửu Viên & Hồng Thủy sức khỏe. hạnh phúc, thương yêu, gắn bó bên nhau mãi mãi, ngày nào cũng vui tươi như ngày cưới dù rằng đã qua 60 năm.
Thương Quý,

TDung
Tạ ơn

Cám ơn các thi sĩ nhà ta
Nhả ngọc phun châu ý đậm đà
Xin được ghi tên văn học sử
Nữ nam thi bá quá tài hoa

Bùi Cửu Viên& Hồng Thủy

Hình Bóng Chưa Quên



Tôi họa hình em trên từng cây số
Đường đi chập chùng dẫn lối non xa
Mây trắng lửng lơ soi mình đỏm dáng
Gương xanh màu biển dạt dào tình ca

Khu rừng âm u tạo thành bí hiểm
Đồi cát nương dâu vương bóng chiều tà
Tôi đã mê em từ ngày xanh tóc
Và còn say mềm đầu trắng tuyết pha

Giậu tre bờ trúc hồ thu quê mẹ
Võng đưa kẽo kẹt cu gáy sau nhà
Con mực đầu hè thiu thiu giấc bướm
Tiếng sáo diều ngân trong gió thiết tha

Tôi họa hình em vẫn trong tâm tưởng
Ấp ủ bên trời từ độ quê xa
Nửa đời đứt gánh hạt châu lã chã
Em ở xa vời có thấu tình ta

Locphuc

Quay Về Tuổi Thơ



Mong em tóc mãi còn xanh
Cùng anh dạo phố nắng hanh chiều hè
Kề bên ta lại lắng nghe
Đôi tim nhịp đập cuộn xe mối tình
Cùng em từ giả phồn vinh
Lên bờ suối vắng soi hình đôi ta
Bên nhau say đắm sa đà
Vòng ôm siết chặt môi cà liền môi
Cùng nhau bỏ phố lên đồi
Thu gom kỷ niệm của thời tuổi thơ
Thình lình em ngã dã vờ
Đau lòng anh cõng sang bờ bên kia
Cùng em ngồi ngắm trăng khuya
Hằng nga chú cuội khó lìa vành trăng
Đôi ta trời đã định phần
Còn Hằng,còn Cuội,còn rằm như xưa.

Hà Quế Linh
Houston jul 27-20

Giấu Nhớ Thương



Xướng:

Giấu Nhớ Thương

Nắng rơi từng giọt ngất ngây
Cho tôi nhặt nhớ giấu ngày vào em
Giấu chiều gặp gỡ êm đềm
Tóc em bối rối dài thêm thẹn thùng

Ánh trăng vàng óng mênh mông
Cho tôi giấu nhớ vào dòng sông trôi
Chờ em gió lửng lơ trời
Tình căng buồm nhớ ra khơi. nồng nàn

Líu lo chim hót hân hoan
Cho tôi giấu nhớ vào hàng cây xanh
Tóc dài em xõa mỏng manh
Cột tình với nắng thủy tinh rạng ngời

Với bàn tay, với nụ cười
Với ngày hạ phượng đỏ môi tươi hồng
Tiếng ve náo nức ngóng trông
Người về hoa bướm thả lòng tương tư

Tình xa đã mỏi bóng thu
Lá vàng chờ đợi che dù tình qua
Về không em, bước thướt tha?
Đôi tà áo lượn vào nà nõn thương

Trầm Vân
***
Họa:


Dòng Tâm Tư


Mãi nhìn vóc dáng thơ ngây
Cho anh lạc lối đêm ngày nhớ em
Điệu ru ý nhạc êm đềm
Vườn hoa tháp cánh càng thêm lùng thùng

Em đi nhúng nhảy bờ mông
Lục bình tím ngắt xuôi dòng êm trôi
Mây bay soãi cánh chim trời
Nụ hôn ngọt mật trùng khơi nồng nàn

Ôm em theo khúc nhạc hoan
Vòng tay âu yếm dưới hàng dừa xanh
Nắng chiều tỏ nhạt từng manh
Lung linh màu nắng thủy tinh sáng ngời

Vườn hồng hoa giỡn gió cười
Khuôn trăng rạng rỡ nét môi son hồng
Nhìn về quê cũ ngóng trông
Giấc hồ phiêu lãng cõi lòng suy tư

Heo may nhắc nhở trời Thu
Tình xưa thắm thiết cho dù ngày qua
Dáng em kiều mị thướt tha
Trò chơi cút bắt rượt nà luyến thương.

Toronto 23/7/2020
Nguyên Trần

Thú Vui Đọc Sách Trong Thời Gian Hưu Nghỉ


Vài lời phi lộ

Vài tuần lễ trước với khá nhiều ngạc nhiên khi nhận được một Email của một người bạn, kèm theo một Email xưa cũ mà tôi đã gửi cho cô ta cùng với một số người bạn khác. Trong email, tôi kể cho nhóm bạn về sinh hoạt cũng như những hình thức tìm vui của tôi trong thời gian hưu trí. Đó là một email khá dài, gần như một bài tuỳ bút mà tôi thường viết cho một số tạp chí trong nhiều năm qua. Email được viết dưới dạng một bức thư tâm sự, không gò bó quá nhiều với văn chương, câu cú nhưng vẫn có tí chút mầu mè văn nghệ làm cho người đọc sảng khoái, cười vui.

Đơn giản chỉ có thế, lá thư luộm thuộm đó được gửi đi cho bạn bè đã khoảng một năm trước, tưởng rằng nó cũng như hàng ngàn emails vớ vẩn khác gửi cho bạn bè đọc qua rồi quên lãng. Nhưng khi nhận được email của cô bạn kèm theo email của mình, cô ta cho biết rất thích thú với lá thư và đã chuyển cho một số bạn bè khác cùng đọc, vài người cũng mang cảm giác vui vui và nói cô bạn viết thư cho tôi, đề nghị tôi dành thời gian viết thành một bài văn đúng nghĩa để họ phổ biến trên các mạng cho nhiều người đọc cho vui.

Thành thật, khi nhận được đề nghị đó tôi có chút suy tư vì đó chỉ là những lời kể lể vụn vặt về những cái khoái thích trong thời gian nghỉ hưu của mình mà thôi, chẳng có gì đặc biệt. Nhưng khi đọc lại lá thư của chính mình, kéo tôi trở về với những kỷ niệm của những năm tháng vừa qua, thời gian hưu nghỉ của mình....kích thích tôi ngồi vào bàn máy để gò nắn văn chương, ngôn từ và cảm xúc để viết ra bài tuỳ bút này. Hy vọng qúi bạn tìm thấy tí gì đó có chút riêng tư và chủ quan của một ông già 7 bó rưỡi tuổi đời nhưng vẫn còn thích thú với văn chương, viết lách.

Vào truyện

Có lẽ tôi cũng như phần rất lớn những người già khác, sau những năm tháng lăn lộn kiếm sống tại một quốc gia kỹ nghệ, khi đến tuổi hồi hưu phải “ giã từ vũ khí“, không ít hay nhiều, mọi người bị rơi vào những khoảng trống khi hồi hưu. Đang lúc hàng ngày phải thức khuya dậy sớm, chạy đua với thời gian và công việc tại sở làm, nhưng khi nhận được tờ giấy nghỉ hưu thì tất cả thói quen bị thay đổỉ. Buổi sáng uể oải thức dậy, lề mề với bữa điểm tâm rồi đi ra, đi vào chờ cho đến bữa cơm trưa, cơm tối. Thời gian như bị kéo dài trong mệt mỏi, nhiều khi còn bị tác động tâm lý làm thay đổi tánh tình sinh ra cáu gắt với vợ con, nhất là với ai ít bạn bè, thân nhân hay cá tính khép kín không muốn giao thiệp. Để tránh tình trạng không vui đó mỗi người phải tự tìm cho riêng mình một phương cách nghỉ hưu hoà hợp với điều kiện, hoàn cảnh của chính mình. Dĩ nhiên mỗi người có một phương cách khác nhau tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố liên quan đến sức khoẻ, tài chánh cũng như sự yên vui, hạnh phúc của gia đình, của con cháu và cả bản chất của cá nhân. 

Một người say mê cờ bạc, rươu chè, thích đàm đúm bạn bè thâu đêm suốt sáng với đỏ đen, ăn nhậu... thì sự hồi hưu của họ trở lên phiền phức, đôi khi còn bận rộn, khổ não hơn lúc còn làm việc. Khi đó sự hưu nghỉ không có ý nghĩa gì của vui ca, đôi khi còn là chốn hoả ngục cho chính họ và gia đình nữa. Chính vì vậy, có người thong dong trong hạnh phúc, nhàn nhã tìm vui với gia đình, con cháu. Có người khốn khổ vì những tật ách, thói xấu... cuộc ngơi nghỉ của họ toàn là lời than, tiếng khóc. Sự khác biệt đó rất thường xẩy ra trong xã hội, nó không hoàn toàn vì lý do vật chất mà phần rất lớn do chính cá nhân họ tạo ra cho chính họ mà thôi. Đó chính là cái nghệ thuật sống của từng cá nhân dựa trên tính toán và khôn ngoan của mỗi người vậy.

Cá nhân tôi đã bước vào thời gian hưu nghỉ khoảng hơn mười năm nay. Với cái nhìn khá trung thực về thực tế, về cuộc đời, về những gì mình có, mình không có trong mức độ tương đối nên cuộc hưu nghỉ của tôi có thể nói là không có gì đáng gọi là lo lắng, buồn khổ. Rất dể dàng, tôi cố gắng thu nhỏ, giản đơn cuộc sống, tránh tối đa những ham muốn liên quan đến tiền bạc, công danh...thoải mái chấp nhận những gì mình có, dù ít hay nhiều. Chẳng mong đợi những cái mà tự mình cảm thấy nó xa vời, không dễ với mình để không phải vướng vào ảo vọng. Tôi cũng chẳng đưa mắt nhìn người khác thành công, hạnh phúc, vinh hiển hơn mình mà mang cảm giác thua thiệt tủi thân. Với tôi, nhân gian vốn dĩ đã tiềm tàng những hạt mầm của bất công, chính những hạt mầm đó tạo ra những khác biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác mà người ta gọi là số phận. Chính sự khác biệt đó xã hội loài người mới có động lực để tranh dành, phấn đấu vươn lên, đó cũng là kích thích cho xã hội tiến triển. Nhưng tôi không tham gia vào vòng xoáy đó bởi vì hiểu rõ mình đang trong thời kỳ ngơi nghỉ, đang trên đoạn cuối của tuồi tác, sức khoẻ và cả tài năng... chuẩn bị cho một lần vĩnh biệt nhân gian. Hãy dành bầu máu nóng và tham vọng cho thế hệ trẻ tiếp theo còn mình nên vui vẻ bước vào thời khắc của những âm vang từ bản hoà âm của tuổi già nua. 

Đúng như vậy, thời còn trẻ, tôi cũng như rất nhiều thanh niên khác, mang trong mình sức mạnh Hercules mà tưởng rằng đôi tay lực lưỡng đủ sức lay đổ cả bầu trời, làm cho ước mơ của mình vẫy cánh phượng hoàng mà cười vui với ngang trái, gió mưa. Nghêng ngang coi thường số phận, nhìn nỗi khó khăn như những thử thách phải có trên đường đời kẻ trượng phu.

Đố kỵ xá chi con tạo
Nợ tang bồng quyết trả cho xong
.............
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong
Chí những toan xẻ núi lấp sông
Làm nên đáng phi thường đâu đấy tỏ! 
(NCT)

Chính nhờ cái “chí khí lập thân, cao ngạo“ của tuổi thanh xuân đó, mà đã bao lần bụng đói mờ con mắt, túi quần không một xu dính túi... nhưng tôi vẫn mỉm cười, hoan ca khi nhìn thấy bạn bè quần áo sang trọng, thức ăn thừa mứa. Chẳng lấy đó buồn mà còn cao ngạo ngâm nga:

Đã hẳn rằng ai nhục ai vinh 
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ. 
NCT)

Lòng luôn tin tưởng một ngày nào đó sẽ vươn lên trong nụ cười vang của kẻ dám vượt gió bão để thành danh:

Rồng mây khi gặp hội xe duyên 
Đem quách cả sở tồn làm sở dụng 
Trong lang miếu ra tài lương đống
Ngoài biên thuỳ rạch mũi can tương. 

(NCT) 

Nhưng với thời gian tuổi đời khôn lớn dần dần, kèm theo những bài học thực tế đến từ xã hội, nếm được ít nhiều mùi vị đắng cay. Trí não mở rộng dần dần nhờ kiến thức học hỏi từ sách báo hay những lần gục ngã đường đời, đã giúp tôi nhìn đời với cái nhìn đằm thắm, êm nhẹ, khiêm nhường hơn. Nhờ đó khi bước vào thời gian hưu nghỉ tôi hoàn toàn không có khoái cảm với những dạng giải trí có hướng đi tiêu cực mà tạo khốn khổ cho chính bản thân và cả cho vợ con. Đúng như vậy, tôi có khá nhiều dạng giải trí, tìm vui trong thanh thản và cũng có phần nào nên thơ, lãng mạn hơn. Có thể là: Đọc sách; Xem phim; Nghe nhạc; Lang thang dưới dạng du lịch bụi; Làm vườn, trồng hoa; Viết lách dìm mình trong văn chương ... Tất cả là những thú vui trong sáng không bị kéo theo những hệ luỵ, khổ đau cho vợ con và cũng chẳng nhiều tốn kém. 

Khi vườn sau, khi ao trước, khi điếu thuốc, khi miếng trầu
Khi trà chuyên năm bẩy chén, khi Kiều lẩy một đôi câu.
(NK)

Khuôn khổ bài viết không cho tôi kể lể ra tất cả những dạng giải trí tìm vui trong tuổi hưu nghỉ của mình vì quá luộm thuộm, biết đâu lại vướng víu đến những chuyện riêng tư tạo ra kịch cỡm, khó thương cho người đọc. Chính vì vậy, tôi sẽ dành thời gian và cả sự khoái cảm riêng biệt cho từng dạng thức tìm vui của mình để viết ra những đoản văn kể lể tâm tình của mình cho từng tiêu đề dưới dạng thức những bài tuỳ bút. Dĩ nhiên, tôi sẽ dựa vào khả năng văn chương, chữ nghĩa của mình, nhấn vào đó những cảm xúc và suy tưởng cố gắng tạo ra tí chút mùi vị lãng mạng để làm cho bài viết nhẹ nhàng văn thơ hơn với ước ao cung ứng được tí chút khoái cảm cho bạn bè, cho đọc giả. Được như vậy coi như là một lối tìm vui rất thực tế trong những tháng năm còn sót lại của một kiếp người. Đó cũng không phải là tôi đang bước vào một thú vui viết lách ư ? 

Thú vui đọc sách


Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh không mấy thuận tiện về vật chất nhưng tôi đã đến với thú vui đọc sách khá tốt. Nhất là khi bước lên cấp trung học, tôi đã đậu vào Chu văn An, ngôi trường chuẩn của Sàigon. Tại đó với chương trình học rất qui mô và tập thể giáo sư rất bài bản, nhờ đó tôi đã có một nền giáo dục rất tốt, tạo cho tôi thích thú với sách báo. Có thể nói thú vui đó của tôi được chuyển biến, thăng tiến rất sát với chương trình học và phong trào thị hiếu văn chương trong xã hội. Đúng như vậy sách vở, văn chương đã thấm vào cảm xúc và giải trí của tôi như một thú vui không thể thiếu được. Nó cung ứng cho tôi những khoảng khắc suy tư, trầm mặc khi đọc được một tác phẩm hay. Nó từng dẫn tôi vào đê mê như nghe và cảm được âm thanh trong những vần thơ tình lãng mạn:

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?

Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô? 
( TL) 

Có thể nói, vì thú vui đọc sách, tôi đã đọc phần rất lớn các tác phẩm Việt Nam dưới dạng văn xuôi (truyện ngắn, truyện dài...) hay văn vần ( thơ, phú... ) của văn học Việt Nam cũng như dịch thuật từ văn chương ngoại quốc. Trong khuôn khổ bài tuỳ bút này, tôi chỉ nêu ra một vài tác phẩm điển hình văn xuôi cũng như văn vần của vài tác giả Việt nam hay ngoại quốc đã được dịch ra tiếng Việt mà tôi đã đọc với niềm khoái cảm, đê mê. Rất có thể cảm quan của tôi về một tác phẩm có những khác biệt với nhiều người, ngay cả với những người làm việc trong lãnh vực phê bình về văn chương. Đó cũng là lẽ rất tự nhiên bởi vì tiêu chí của

bài viết này không phải là bài phê bình một tác phẩm mà là một bài viết về sự cảm nhận của tôi với một hay nhiều yếu tố nào đó trong tác phẩm. Chẳng hạn, tôi nói đến hình hài, tài năng, cá tính của nhân vật hay khuynh hướng triết lý trong một tác phẩm với cảm xúc của riêng tôi. Nó chẳng liên quan gì đến đúng hay sai theo hướng văn chương, nghệ thuật, miễn là làm sao cho người đọc thích thú như tôi, thế là đạt trong cứu cánh của tôi vậy. 

Có lẽ một cuốn sách đã làm tôi suy ngẫm, ảnh hưởng rất nhiều trong lối sống của tôi sau này, đó là cuốn “Câu truyện của dòng sông “ nguyên tác: “ Siddhartha “ của nhà văn người Đức Hermann Hesse. Nếu không lầm tôi đã đọc cuốn sách đó lần đầu vào khoảng năm lớp đệ tam (1962), lúc tuổi đời còn quá trẻ, ý thức về cuộc sống còn non nớt, lúc đó tôi đang bị kéo vào vòng xoay của việc kiếm tiền phụ giúp gia đình. Tác phẩm chỉ cho tôi cảm giác thoáng qua rất mơ hồ về sự phi lý của cuộc đời mà thôi. Nhưng khi bước lên đại học, tốt nghiệp xong, đi làm, phải kèn cựa với nhân gian cũng như chứng kiến biết bao nhiêu dữ kiện xẩy ra chung quanh và cả trong cuộc sống của chính mình. Tôi đọc lại cuốn truyện lần thứ hai và nhiều lần sau nữa. Tác phẩm đã làm cho tôi suy nghĩ sâu xa hơn, nhìn đời trong ánh mắt thâm thuý hơn, nó đã thay đổi rất nhiều quan niệm sống của tôi sau này. 

Cuốn truyện cho tôi nhận thức đời một người đi quá mau, tất cả cực nhọc, buồn vui, sang hèn, thành công hay thất bại...đều là ảo ảnh. Chỉ với vài chục trang giấy anh chàng Siddhartha một qúi tử trẻ tuổi trong một gia đình vương giả đã biến thành một ông lão già nua với bao nhiêu biến đổi kinh hoàng trong cuộc đời. Siddhartha, một tín hữu Bà la Môn ước ao tìm chân lý của cuộc sống, anh ta đã rời xa gia đình, du nhập vào nhóm Sa Môn theo lối tu khổ hạnh nhưng sau một thời gian ngắn anh ta rời bỏ đoàn Sa Môn vì nhận thấy lối tu này không phải là con đường mà anh ta muốn tìm kiếm. Rồi cơ duyên trên đường tìm chân lý Siddhata gặp được đức Phật. Từ ngài anh ta đã tìm thấy sự tuyệt vời của giáo lý, siêu hạng của thực hành trong con đường tìm chân lý, nơi đó người ta đạt đến sự giác ngộ trong vô ngã. Nhưng Siddhartha vẫn từ giã Đức Phật, vị thầy mà anh kính ngưỡng để ra đi mong tìm một hướng khác cho con đường tìm chân lý của chính mình. 

Siddhartha tiếp tục sống kiếp lang thang với một ý chí, lòng tin kiên cường cho hướng tu hành tìm chân lý, dựa trên 3 khả năng mà anh ta luôn luôn tự hào. Đó là BIẾT SUY NGHĨ; BIẾT CHỞ ĐỢI và BIẾT NHỊN ĐÓI! Cuối cùng anh ta gặp được Kamala một kỳ nữ nổi danh sắc tài và thế lực trong xã hội thượng lưu trong một địa phương. Với 3 khả năng đó anh ta đã chinh phục được trái tim của Kamala, loại bỏ được tất cả những người đàn ông si tình khác trong giới danh gia, quí tộc rồi vươn lên vị trí tối thượng trong mọi lãnh vực từ thương mai, ăn chơi, cờ bạc..v..v.. Nhưng cuối cùng Siddhartha nhận ra mình đã sai lầm tệ hại, con người và cảm xúc của mình đã rơi vào mức tận cùng của sa đoạ. Chính lúc đó anh ta tỉnh giấc, quyết định phủi bỏ tất cả những phù phiếm, sa hoa và cả Kamala người anh ta yêu thương để trở về với lang thang, vô định. Siddhartha lúc này hoàn tòan không phải là Siddhartha một tín đồ Bà La Môn thông minh, kiên cường ôm tham vọng ngày xưa, lúc rời xa gia đình đi tìm chân lý nữa. Siddharta là một gã đi hoang, vô định và bạc nhạc với ý chí chán chường vì thất bại. 

Trên bước đường lang thang, Siddharta trở lại giòng sông nơi mà ngày xưa anh ta đã có lần đi qua, lần tái ngộ này Siddharta trong con người chán nản cùng cực mang ý tưởng tự tử. Chính lúc đó Siddhata đã nghe thấy tiếng “OM“ nhiệm mầu vang lên từ dòng sông đã giúp anh ta đã tỉnh thức. Cuối cùng anh ta gặp lại người lái đò Vasudeva, quyết định ở lại, sống và làm việc với ông ta bên dòng sông. Từ dòng sông Siddharta đã cảm nhận được muôn điều đẹp đẽ, đáng yêu của cuộc sống. Với dòng sông êm ả Siddharta không còn mang ý niệm của thời gian, không quá khứ mà chỉ có hiện tại, và những lời chỉ dậy của Vasudeva, Siddharta đã hoà nhập con người mình vào dòng sông, nghe được những lời thì thầm của nó trong tâm thế của một người có tâm hồn rộng mở, phủi bỏ đa mê, không cầu mong, không phán xét, không thành kiến... Đó chính là những yếu quyết giúp Siddharta đạt đến mức bình lặng tuyệt đối của tâm hồn thanh thản và thể xác trống rỗng vô lo của một Siddharta GIÁC NGỘ.

Thật nhẹ nhàng, gió thổi chiếc lá rơi
Êm mặt sóng luân hồi sông chỉ một
Trái tim mở ôm những điều vô giá
Gạt bụi trần bao giối trá, trái ngang
Buông tất cả để tâm ngời vô tận
Hướng mặt trời thở tiếng giận thương yêu
(Thanh Trang)

Đúng như vậy, tác phẩm đã thay đổi con người tôi rất nhiều. Tôi sống đơn giản hơn, không quá màng đến tham vọng luôn luôn tìm cách giản dị hoá cuộc sống nhất là khi bước vào thời gian hưu nghỉ. Đôi khi trong giao tế nếu có tí chút thua thiệt hay không được như mình mong muốn thì cũng xí xoá, làm hoà cho khỏi bực mình. Nếu không được những gì mình tính toán thì im lặng tìm cách tránh xa hay cố gắng không nhìn, không nhớ, không tiếc rẻ, không bực mình, đớn đau. Tôi luôn luôn tự nói, hạnh phúc sẽ đến khi người ta biết yên phận và vui sống. Đó cũng là một bài học rất rất quan trọng mà tôi học được từ tác phẩm này, làm cho cuộc sống của tôi bình thản hơn và cũng là một trong nhiều nguyên do đã cho tôi thời gian nghỉ hưu tương đối khá tốt vậy. 

***
Thú vui đọc sách của tôi cũng dẫn tôi vào một khoái cảm khác trong những tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung. Có thể nói tôi đã đọc tất cả và nhiều lần những tác phẩm của ông. Tôi đã thu nhận được những khoái cảm tột cùng vì cốt truyện phức tạp nhưng hấp dẫn từ những sắc thái rất khác nhau nhưng rất độc đáo của từng nhân vật chính trong hầu hết các tác phẩm. Một tên nguỵ quân tử Nhạc Bất Quần làm điên đảo giang hồ với phong thái anh hùng của một chính nhân quân tử, nhưng lại là một kẻ bại hoại, tiểu nhân. Một lũ điên điên khùng khùng Đào Cốc Lục Tiên có những hành động và suy nghĩ làm cho người đọc cười vui trong tức giận. Một Kiều Phong võ công tuyệt đỉnh nhưng lại có một kết quả đau thương chỉ vì là giòng giống Khiết Đan ...v..v.. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ nêu ra một vài nhân vật trong hàng nhiều chục, họ có cá tính rất độc đáo trong những tác phẩm của Kim Dung đã làm tôi thích thú.

Trong “Tiếu Ngạo Giang Hồ“, Lệnh Hồ Xung một tên lãng tử, bản chất anh hùng, ngay thẳng, phóng túng trong giao tiếp, không phân biệt chính tà. Gặp duyên may mà thụ học được võ công tái thế nhưng lại vướng vào tánh ham mê rượu mà tạo ra biết bao nhiêu rắc rối. Nhưng cũng chính nhờ khả năng uống và biết về rượu, hắn đã làm cho bất cứ ai (người đọc) có tí chút kiến thức về rượu cũng phải mê mẩn với những lần uống rượu của hắn. Đặc biệt trong lần đối thoại với Tổ Thiên Thu về 16 hũ “thượng phẩm cống tửu“. Tổ thiên Thu đã cho hắn biết muốn đạt đến mức thuần mỹ phi thường của từng loại cống tửu đó phải có những chén uống rượu khác nhau cho mỗi loại rượu. Có như vậy mới làm cho rượu nổi mầu sắc, tăng hương vị làm cho người uống tỏ lộ được sắc thái oai phong của người anh hùng khi uống rượu. Chẳng hạn, trong văn chương, sách sử có viết rượu Bồ đào phải có chén ngọc dạ quang mới làm cho rượu thêm sắc hồng. Khi uống, cái ngon thơm và sắc hồng của rượu sẽ kích thích kẻ anh hùng gia tăng cao ngạo mà xông pha chiến trận, chấn át quân thù:

Bồ Đào Mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tì bà mã thượng thôi
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chính chiến kỷ nhân hồi 
( Lương Châu Từ, Vương Hàn.)

Dịch rằng: 

Rượu ngon kèo chén lưu ly
Uống thì trên ngựa, tiếng tì dục sôi 
Say sưa ngã ngựa chiến trường
Xưa nay chính chiến mấy ai trở về 
( Không biết dịch giả ) 

Trong tác phẩm này không chỉ nói đến một Lệnh Hồ say khướt mà còn đem đến cho tôi cảm giác đê mê với mối tình trong sáng, lý tưởng, thanh cao, trái tim đầy nhân hậu của ni cô Nghi Lâm của phái võ Hằng Sơn dành cho Lệnh Hồ Xung. Có lẽ Nghi Lâm là một nhân vật nửa tục, nửa tiên làm cho bất cứ ai dù khó tính thế nào khi đọc truyện của Kim Dung cũng phải ngẩn ngơ vì sắc đẹp thuần khiết và tình yêu mê say nhưng quảng đại của cô ta. Cá nhân tôi khi đọc lại truyện “Tiếu Ngạo Giang Hồ “ đã kéo trí nhớ tôi về với tác phẩm “ Hồn Bướm Mơ Tiên “ của Khái Hưng. Một mối tình cao thượng, trong sạch, dưới bóng từ bi giữa chú tiểu Lan ( ni cô giả trai ) và Ngọc ( cháu của sư cụ chùa Long Giáng, ngôi chùa ở Trung du Bắc Việt ). Cuộc tình yêu này cũng đã làm người cho người đọc, trong đó có tôi phải mê mẩn theo từng trang sách.

Một trong những kỹ thuật viết truyện kiếm hiệp thành công nhất của Kim Dung là ông biết khéo léo lồng vào trong tác phẩm của mình những nhân vật có những đặc điểm vượt trội nhân gian, làm cho người đọc si mê. Thiên Long Bát Bộ với Vương Bạch Yến, một mỹ nhân có nhan sắc thanh cao, bản chất thuần khiết với trí thông minh tuyệt vời... nhưng nét đẹp của Bạch Yến hình như luôn luôn phủ trùm sắc thái sầu muộn. Một nhà phê bình văn học khi đọc tác phẩm này của Kim Dung đã mô tả vẻ buồn và đẹp của Vương Ngọc Yến như sau: 

“ Hình bóng của cô ta lung linh mờ ảo như có làn khói vương toả chung quanh, làm cho cô ta như không phải là người trần vậy.“ 

Cũng có lẽ vì vậy mà Đoàn Dự đã mê si đắm đuối, gọi Vương Bạch Yến là “ Thần tiên tỷ tỷ “. Riêng cá nhân tôi khi đọc những trang sách viết về Vương Bạch Yến đã cho tôi biết bao nhiêu ước vọng mà tưởng tượng về một nhan sắc trầm lặng có ánh mắt thoáng buồn như những vần thơ của Nguyên Sa:

Có phải tên người là âm thanh vô vọng
Nên mắt buồn le lói thoáng bơ vơ?
..............
Người về đâu giữa đàn khuya diù dặt 
Hơi thở thiên thần trong tóc tẩm hương xưa 
Người đi về trời nắng hay mưa
Sao để sương gió trầm tư thêu thùa má ướt. 

Đúng như vậy, sắc đẹp Vương cô nương trong mê si của tôi là một nàng tiên tên gọi nhan sắc:

Da em trắng anh chẳng cần ánh sáng
Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân
Trên cuộc đời sẽ chẳng có giai nhân
Vì anh gọi tên em là nhan sắc. 
(NS)

Một nhan sắc khác trong Thần Điêu Đại Hiệp cũng làm tôi ngây ngất si mê, đó là Tiểu Long Nữ, với tôi, đây là một nhan sắc ma mị, luôn luôn xuất hiện trong truyện với y phục mầu trắng, cá tính lạnh lùng, ít nói, tâm hồn thuần khiết đơn giản, võ công tuyêt vời. Một nhan sắc làm người ta mê mẩn trong e dè, sợ sệt. Có lẽ vì người đẹp sống và luyện công, tập võ trong cổ mộ quá lâu mà ra chăng? Chính nét đẹp ma mị trong khung cảnh mông lung, lạnh lẽo của cổ mộ đã làm tôi mê say và dẫn dắt trí tưởng tượng của tôi trong thời gian hưu nghỉ để viết ra một số truyện Liễu trai chí dị vậy. Tôi đã lồng ghép sắc đẹp mê hồn của Tiểu Long Nữ vào những bóng hình ma quái, liễu trai trong cốt truyện của tôi trong những cuộc hội ngô, giao hoan của một anh chàng thư sinh hay một công tử nào đó với những người đẹp hồ ly, ma quái . Tôi tự hỏi có phải tôi muốn nhấn mơ mộng của mình vào cốt truyện vì bị vướng vào sắc đẹp mê hồn của Tiểu Long Nữ hay từ một bóng dáng nào đó đã chôn sâu trong ký ức của tôi trong tuổi thanh xuân? 

Em là con gái nhà trời
Còn anh con cái của người thường dân 
..........................
Cưới em một tấm tình si
Đò không chở thí lấy gì sang sông?
Tình em anh khắc trong lòng
Bụi hồng thương lấy má hồng thương nhau!
(Nguyễn Bính)

Thú vui “Đọc sách “ của tôi khi còn sống, học hành và làm việc tại Viêt Nam cũng như hiện nay trong cái tuổi về hưu vẫn là một trong những dạng tiêu khiển thích thú nhất. Với sự phát triển của kỹ nghệ truyển thông hiện nay. Muốn tìm một cuốn sách nguyên thuỷ do tác giả Việt Nam viết cũng như các bản dịch từ các tác phẩm ngoại quốc xuất bản mới đây hay hàng nhiều chục năm về trước, không còn là một điều quá khó khăn nữa. Đó chính là một điều may mắn cho tôi khi muốn tìm lại cái khoái cảm của một tác phẩm nào mà mình đã đọc ngày xưa cũng như đang nổi danh của thời hiện tại. Tôi xin nêu lên một vài tác phẩm cũng như tác giả điển hình của thời kỳ cận đại và thời kỳ hiện đại của nền văn học Việt Nam trong hai hình thức văn chương, đó là văn xuôi và văn vần. 

***
Văn Xuôi. 

Có thể nói tôi đã đọc rất nhiều truyện ngắn, truyện dài, hồi ký, ký sự ..v..v..viết thời đất nước chưa chia đôi mà người ta thường gọi là các tác phẩm của các văn nghệ sĩ thời tiền chiến như Tản Đà; Phạm Quỳnh; Trần Trọng Kim, nhóm Tự Lực Văn Đoàn với Nhất Linh, Khánh Hưng, Thế Lữ ..v..v... dĩ nhiên rất nhiều tác giả mới sau này tại miền VNCH như Duyên Anh; Dương Nhiễm Mậu; Duyên Anh; Phạm Công Thiện; ..v..v.. Phần trên tôi đã tỏ bầy, bài viết này không mang sắc thái của một bài phê bình một tác phẩm về văn chương mà chỉ là bài viết rất chủ quan của tôi về một góc cạnh nào đó của tác phẩm mà thôi. 

Với tiêu đề đó tôi muốn dẫn bạn đọc vào niềm suy tư của tôi khi đọc vài ba tác phẩm của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Tác phẩm đầu tiên mang cho tôi thích thú đó là “ Tiêu Sơn Tráng Sĩ “ cuốn tiểu thuyết dài nhất ( trên 400 trang ), công phu nhất của Khái Hưng. Đây là một câu truyện lịch sử có chút hơi hướng tiểu thuyết kiếm hiệp xẩy ra thời Nguyễn sơ triều vua Cảnh Thịnh (1797). Tất cả tên và hoạt động của các nhân vật trong truyện đều có thật, vài người vẫn có tên trong lịch sử và văn chương của Việt Nam. Đứng trên khía cạnh của một tiểu thuyết võ thuật thì “Tiêu Sơn Tráng Sĩ“ không thể so sánh được với những truyện kiếm hiệp giả tưởng khác trên thị trường. Nhưng Tiêu Sơn Tráng Sĩ vẫn mang cho người đọc (trong đó có tôi) rất nhiều khoái cảm vì nó là một câu truyện có thật trong lịch sử. Trong đó nhân vật chính là Phạm Thái một nhân vật tài ba, ngang tàng, có chí hướng của một anh hùng muốn xoay đổi thời cuộc. Ông còn là một nhà nghệ sĩ tài năng đầy đủ phẩm chất, tâm hồn lãng mạn và những tác phẩm văn chương của ông đã có một vị trí lịch sử văn học VN. Ngoài ra, một hiện tượng khác rất độc đáo làm cho nhiều người thương mến Phạm Thái, ông đích thực là một nam nhi có ý chí nhưng cũng là một Phạm Thái đa tình, chung thuỷ, khao khát yêu đương, dám vì tình yêu mà rời xa lý tưởng cách mạng trở về với một kẻ si tình làm thơ, uống rượu bên mộ người yêu Trương Quỳnh Như.

Đúng như vậy, Khi nghe tin Trương Quỳnh Như, người yêu, cũng là người tình trong đối hoạ văn chương tự tử vì bị mẹ ép gả cho người khác. Phạm Thái đã rời bỏ nghĩa quân trở về với kiếp sống lang thang với thơ phú và rượu. Ông đã làm một bài văn tế rất thảm thiết khóc Trương Quỳnh Như:

Thương hại thay! Hoa có một cành, tuyết có một quãng, nguyệt có một vầng, mây có một đoá.
Thân là thân hiếm hoi chừng ấy, nỡ nào lấy đôi mươi năm, làm một kiếp, mà ngơm ngớm chốn non Bồng nước Nhược, chút gì không đoái đến cõi phù sinh!
………………….
Ta hăm hở chí trai hồ thỉ, bởi đợi thời nên nấn ná nhân duyên: mình long đong thân gái liễu bồ, vì giận phận hoá ngang tàng tính mạng.

Cho đến nỗi hoa rơi lá rụng, ngọc nát châu chìm; chua xót cũng vì đâu?

Nay qua nấm cỏ xanh, tưởng người phận bạc, sùi sụt hai hàng tình lệ, giãi bày một bức khốc văn, đốt xuống tuyền đài, tỏ cùng nương tử! 
( Văn tế Trương Quỳnh Như)

Phạm Thái để lại nhiều tác phẩm có giá trị trong văn học Việt Nam như: Chiến tụng Tây hồ phú (tỏ lòng căm phận với Tây Sơn và thương tiếc nhà Lê); Sơ kính tân trang (Chuyện mới về Lược và Gương; dùng thơ kể lại cuộc tình yêu lãng mạn, trắc trở,đắng cay của chính mình ); Văn tế Trương Quỳnh Như và 10 bài thơ hoạ với Trương Quỳnh Như. Phạm Thái đã có một câu nói đã được ghi sâu vào chữ nghĩa yêu đương được người đời thích thú, tôn vinh: 

“Chí lớn trong thiên hạ không đựng đầy đôi mắt mỹ nhân! “

Một tác phẩm khác của Khái Hưng cũng làm tôi say mê khi đọc, đó là “Hồn Bướm Mơ Tiên“ tôi đã viết về tác phẩm này ở phần trên. Đây cũng là một mối tình lãng mạn, trong sáng pha đậm lý tưởng trong yêu đương. Có lẽ nếu ai mê thích Khái Hưng sẽ nhận thấy văn phong của ông rất mềm mỏng, nhẹ nhàng dù trong cốt truyện của ông luôn luôn mang theo chủ đề chung của nhóm, nhưng ông luôn luôn dùng nhân vật trong truyện hay hình ảnh trong truyện biện luận cho chủ đề một cách nhẹ nhàng, không quá kích thích, hay quyết liệt dữ dằn như nhiều hội viên khác. Tiêu chí của nhóm Tự Lực Văn Đoàn là kêu gọi giới trẻ bỏ cũ theo mới, phần lớn tác phẩm của nhóm đều đưa vào cốt truyện những cuộc xung đột giữ cũ và mới; nêu ra những cái xấu xa, ích kỷ, giả đạo đức, khinh thường, chèn ép, coi thường phụ nữ ..v..v.. của cái cũ và họ hô hào, kích thích, xúi dục giới trẻ quyết liệt, không lưỡng lự đoạn tuyệt cái cũ để theo cái mới:

Anh đi đường anh, tôi đường tôi
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi
Đã quyết không mong xum họp mãi
Bận lòng chi nữa lúc chia phôi. 
(Thế Lữ)

Nhưng Mai và Lộc trong Nửa Chừng Xuân cũng như tất cả các nhân vật khác trong tác phẩm của Khái Hưng luôn luôn dùng lời lẽ êm ái, nhẹ nhàng, chịu đựng thua thiệt để thuyết phục người đối đầu. Còn Nhất Linh với Loan và Dũng trong Đoạn Tuyệt dù cùng một ý hướng theo mới, bỏ cũ, nhưng cương quyết, sẵn sàng gạt bỏ với những lời phản kháng quyết liệt, không khoan nhượng đối phương. Ngay trong lãnh vực diễn đạt tình yêu trong những tác phẩm của Nhất Linh và Khái Hưng cũng có sự khác nhau rất rõ ràng. Nhất Linh tạo ra những nhân vật cứng mạnh tình cảm và giải quyết theo trí khôn có phần nào ích kỷ. Còn Khai Hưng tình yêu được biểu lộ trong sáng và quảng đại, kết cuộc thường trong lý trí và hy sinh, đó là hình ảnh của chú tiểu Lan và Ngọc (Hồn bướm mơ tiên ); Mai và Lộc ( Nửa chừng xuân) hay Thức và Lạc ( Anh phải sống)..v..v.. 

Một tác phẩm khác cũng làm tôi nhớ mãi, tôi đã đọc cuốn sách nho nhỏ này trong tâm trạng thẫn thờ khi tuổi mới lớn, chớm bước lên đại học. Đó là một tác phẩm được viết dưới dạng thư nhật ký của một đứa bé gái, nội trú trong một trường Nhà Trắng cho mẹ. Vì còn quá bé nhỏ ngây thơ nên cô bé không biết gì về nghề nghiệp của mẹ mình, một cô gái điếm nghèo khổ và bệnh tật. Cuối cùng người mẹ đã chết vì lao phổi, lúc đến nhìn xác mẹ tại bệnh viện cô bé mới biết và hiểu về nghề nghiệp của mẹ. Nhưng cô gái vẫn kính nhớ mẹ và viết trong lá thư cuối cùng cho mẹ: 

“Má vẫn là mẹ hiền từ và đáng kính của con. Má vẫn là tấm gương chói sáng dẫn dắt con đi, con sẽ nhớ lòng hy sinh và tận tụy của má vì con, con sẽ nhớ mãi những lời dạy bảo hiền từ của má. Hình ảnh của má vẫn mãi mãi là hình ảnh thân yêu nhất của lòng con. Má chết đi rồi nhưng không bao giờ con quên má. Những ngày ở bên má là những ngày êm đẹp nhất của đời con.“

Có lẽ phải kể thêm một cuốn sách khác mà tôi đã đọc nó với rất rất nhiều say mê bởi vì từ tác phẩm này tôi đã có tí chút căn bản, hiểu biết về một vài nhà văn, nhà thơ và triết gia trên thế giới. Đó là cuốn “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học “ của Phạm Công Thiện một thiên tài trong triết học, một hiện tượng dị thường trong ngôn ngữ của Nam Việt Nam thời bấy giờ. Ông viết cuốn sách này lúc mới ở tuổi 19, khi cho ra mắt đã làm rúng động giới trí thức, văn chương tại miền Nam Việt Nam. Có thể nói khi tác phẩm này xuất hiện, giới trí thức trong văn chương, triết học đã đọc và im lặng. Nếu có một vài bài phê bình thì cũng chỉ đưa ra những lời khen tặng, cảm phục tài năng xuất chúng của tác giả mà thôi. Rất hiếm nếu không muốn nói là không có một bài báo nào chê bai tác giả và nội dung của tác phẩm. Có lẽ khi đọc qua tác phẩm ai ai cũng nhận thấy ông có những tư tưởng, suy nghĩ về triết học cũng như những nhận xét về tác phẩm và tác giả trong làng triết học thế giới một cách rất độc đáo và rất chính xác. Nếu có một ai cho rằng suy tư của ông không chính xác hay không hợp với quan niệm của mình thì cũng không thể có đủ rộng kiến thức như ông ta để phản kháng lại nhận xét, phê bình của ông được. Có vài người cho ông là một người điên khùng trong triết lý, nhưng không người nào đủ trình độ nêu ra được những cái khùng điên, nhưng rất hợp lý của ông được. Hãy đọc một đoạn văn Phạm Công Thịện viết về Charles Chaplin: 

“ Cả tuổi trẻ của Charles Chaplin là những chuỗi ngày đau đớn tủi nhục, đã từng sống trong đói rét, đã làm lụng cực nhọc ngay từ lúc chưa đầy mười tuổi và chứng kiến biết bao nhiêu nỗi khổ khi Charles Chaplin còn ngây thơ và 5 tuổi đã bị mẹ bỏ ở viện mồ côi, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm .... Nhưng Charles Chaplin đã không sợ sống, chẳng những thế ông đã sống trọn vẹn và bi tráng nhất. Từ những nỗi khổ đau của chính mình, ông ta đã bước vào nghề“ làm hề “ để tạo niềm vui gây ra tiếng cười ở mọi nơi, mọi phương trời, Charlot đã đi vài lịch sử và nghệ thuật......... Đã chiến thắng được sự đau khổ vô hạn của đời mình và làm cho cuộc đời mình trở thành một bản đàn bất tuyệt, đã sáng tạo ra niềm vui vô hạn cho nhân loại. Suốt đời, Charles Chaplin vẫn hăng hái, say sưa: Ca ngợi tình thương giữa con người với con người ; Chống đối chiến tranh ; Chống đối chính trị ;Chống đối đời sống kỹ nghệ, máy móc....“

Đúng như vậy Phạm Công Thiện đã khoác cho C. Chaplin một vĩ nhân của nhân loại về triết lý bi hài. Chính vì triết lý đó mà người ta khi coi những cuốn phim của Charles Chaplin đều cười vang thích thú nhưng sau một lúc thích thú hoan ca chợt thấy mắt mình nhoà lệ và nụ cười trên môi cũng tự nhiên biến mất thay vào đó là im lặng suy tư! Từ tác phẩm của Phạm Công Thiện tôi đã hiểu rất thâm thuý về Nụ cười và Nước mắt, Thất bại và Thành công, Cay đắng và Ngọt bùi trong những phim của Charles Chaplin. Cũng vậy tôi đã hiểu được âm thanh tình yêu say đắm trong những vần thơ của Apollinaire, và tôi cũng đã bao lần bị nhấn chìm vào triết lý bi đát trong truyện giã từ vũ khí (A farewell to arms) của Ernest Hemingway..v..v.. Tôi không lầm khi biết và tin Phạm Công Thiện là một thần đồng lúc trẻ thơ, là một triết gia đầy sáng tạo khi trưởng thành.

***
Văn vần.

Danh tự “văn vần “ có ý chỉ những bản văn hay tác phẩm được viết trong khuôn thước của một dạng văn chương dựa trên các yếu tố ngắn gọn, xúc tích kết hợp với nhau trong một luật lệ nào đó để tạo ra tiết tấu cho bản văn làm cho người đọc thích thú. Đại khái trong tiêu chí này, văn vần có thể là:

Tập truyện bằng thơ ( Kim Vân Kiều; Gia Huấn Ca...) 
Những bài thơ thông thường.( Lục bát, Song thất, tự do...)
Phú ( Phú lưu thuỷ , Phú Đường Luật )
Văn tế, lối văn tỏ lòng thương kính hay tài đức, công lao của người đã khuất.(chẳng hạn như: Phạm Thái tế Trương Quỳnh Như; Văn tế chiến sĩ trận vong ...)
Hịch ( Hịch tướng sĩ của Trần hưng Đạo...) 

Có thể nói văn vần được tôi thích và thường đọc nhất, có lẽ vì nó là những bài không dài, có thể đọc ở bất cứ nơi đâu, ngay cả trên xe bus. Không riêng gì trong thời gian hưu nghỉ mà ngay từ thời còn trẻ vào những lúc chờ đợi tại văn phònghành chánh hay ngồi quán cóc... thả hồn lang thang, tìm khoái cảm vào vài ba câu thơ hay đoạn phú không phải là cái thú vui rất đẹp trong văn chương hay sao? Tôi có một thói quen cố hữu, lúc đi ngủ tôi thường dỗ giấc ngủ bằng những bài bài viết ngắn từ những tạp chí văn chương luôn luôn có sẵn tại chiếc bàn nhỏ bên cạnh đầu giường. Đôi khi thói quen đó lại dìm tôi vào những mộng mơ để tìm cảm hứng cho một chủ đề nào đó như môt thú tìm vui với viết lách văn chương vậy.

Chẳng hạn, ngồi một mình trong thanh vắng, ban đêm hoài tưởng đến những lần khốn khổ đói ăn thủa ấu thơ của mình mà ngâm nga vài câu Phú như một nụ cười vui.

Mất vệc toan giở nghề cơ tắc (1), tủi con nhà mà hổ mặt anh em.
Túng đường mong quyết chí cùng tư (2) e phép nước chưa nên gan sừng sỏ 
Cùng con cháu, thủa nói năng truyện cũ, thường ngâm câu “lạc đạo vong bần“ (3)
Gặp anh vem khi bàn bạc sự đời, lại đọc chữ “vi nhân bất phú “ (4)
Tất do thiên (5) âu phận ấy là thường.
Hữu kỳ đức (6) ắt trời kia chẳng phụ .
Hàn nho phong vị phú (NCT)
: trộm cắp
: làm bậy
: vui với đạo nghĩa mà quên nghèo khổ 
: làm điều nhân thì không ai giầu.
: tất cả đều do trời
: có đức độ thì trời không phụ 

Hay những lần lang thang, du lịch bụi, khi màn đêm rơi xuống tại một nơi xa xăm trong nỗi cô quạnh của một kẻ xa nhà. Ngước nhìn bầu trời, tự cảm với cái thú giang hồ của mình tạo ra, mà làm vài câu Phú, giải sầu cho nỗi buồn cô đơn:

Kiếp giang hồ, ngủ bờ ngủ bụi
Được một chỗ ngả lưng qua đêm trong gió bão tung hoành, vui mà nhận
Mong ước gì mà mơ tưởng nệm êm, chăn ấm cho tuổi già thêm nhiều rắc rối !
Phận lang thang, bụng đói như cào, muốn mờ con mắt 
Có miếng ăn, rau muống, đọt khoai... đắp đủ qua ngày, đã là quá đủ
Đừng nghĩ cao sang mà mơ tưởng sơn hào hải vị cho khổ tấm thân già !

Đúng như vậy, thời còn đi làm cũng như hiện nay khi hưu nghỉ, dù bận rộn đến đâu tôi vẫn dìm mình vào cái thú ngâm nga thơ, phú, coi như một niềm vui không thể thiếu trong cuộc sống của mình. Cũng trong cuộc viễn du khi ngoái nhìn về vợ con mà buông tiếng thở dài, ngâm nga vài câu thơ của Thôi Hiệu:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sử nhân sầu. 

Dịch rằng:

Hoàng hôn về đó quê đâu tá?
Khói sóng trên sông não dạ người. 
(Ngô Tất Tố)

Trong một bài viết nào đó, tôi đã ví cuộc đời của mỗi người như một bản hoà âm, có rất nhiều đoản khúc. Mỗi đoản khúc có những âm vang khác nhau cuả từng loại nhạc khí hoà trộn nhau để diễn tả niềm vui cũng như nỗi buồn của đời một con người. Nó có thể là những âm vang của tiếng trống thúc quân ngoài trận tuyến làm người nghe như muốn đứng dậy kiên cường tiến tới. Nó cũng có thể là một đoản khúc với những tiếng kèm trompet dồn dập với hăng say, yêu đời, nhưng có thể là tiếng sáo êm nhẹ, du dương đượm mầu tê tái vì chán nản già nua hay thất bại chán chường... Tất cả những đoản khúc đó xen kẽ hay hoà quyện vào nhau tạo ra những điểm nhấn trong cuộc đời, làm cho những ai có chút suy tư sẽ thấy cuộc sinh nhai là một hí trường buồn vui lẫn lộn.

***
Chinh phụ ngâm. 

Suốt mấy tháng nay, căn bệnh Corona tung hoành nên mọi dự tính rong chơi, du lịch của tôi đều bị khép lại. Chôn chân trong nhà, chẳng muốn đi đâu, phần vì sợ bệnh hoạn làm khổ mình, phiền nhiễu vợ con. Phần khác vì nhìn thấy cái không khí vắng vẻ tiêu điều của xã hội chung quanh nên tìm vui mà giở lại tác phẩm “Chinh phụ ngâm“ cố dìm mình vào những vần thơ hào hùng của kẻ Chinh Phu nơi chiến địa. Nhưng cũng có lúc buồn bã, cảm thông với nỗi cô đơn, lo lắng hay giận dỗi chồng của người Chinh Phụ 

Thủa trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
.................

Nửa đêm truyền hịch, định ngày xuất quân
Nước thanh bình ba trăm năm cũ
Áo nhung trao quan vũ từ đây 

Đọc vài câu mở đầu của tác phẩm, trí nhớ kéo tôi về với quá khứ ngày còn lăn lộn kiếm sống tại quê nhà hay giúp tôi hoài tưởng lại những năm tháng kinh hòang của bom đạn trong cuộc chiến tranh vừa qua, mà chính mình đã ít nhiều tham dự vào! Ngạo nghễ thay và cũng đáng phục thay cho những ai đã có được tâm trạng hăm hở trong cuộc chiến đó với máu chẩy thành sông, xương chất thành núi. Riêng cá nhân tôi, thì ngược lại! dấu tích của cuộc chiến mãi mãi là những tập ký ức buồn, đáng quên. Tôi còn nhớ, một ngày vào khoảng cuối năm 1971 tôi khăn gói trình diện tại Quân Vụ Trấn, Sảigon trong tâm trạng nhiều buồn tẻ, lo âu vì biết mình thực sự bước vào cuộc chiến tranh mà tôi (có lẽ nhiều người khác cũng vậy) không bao giờ mong muốn dấn thân vào. Đúng như vậy, tôi chẳng có chút hào khí nào của kẻ lên đường mong thi thố đao cung như anh chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt trong tác phẩm ( dù tôi vẫn phải xếp bút nghiên, theo việc đao cung !) :

Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo nghiệp đao cung
.................
Chí trai dậm nghìn da ngựa 
Gieo Thái sơn như tựa hồng mao
Giã nhà, đeo bức chiến bào 
Thét voi cầu vị ào ào gió thu 

Ngày đi nhập cuộc của tôi hôm đó im lặng và tẻ nhạt lắm! Tôi lủi thủi một mình tìm một góc trong trang trại ngồi nhìn thế nhân. Hôm đó, một mình xách vài bộ quần áo đi trình diện, chẳng có người tình, người vợ hay cha mẹ, anh em, bạn bè khóc lóc tiễn đưa như bao nhiêu người khác. Trong cái hoàn cảnh cô đơn, buồn chán đó làm sao mà tôi còn dành được tâm tư và thị giác để dõi theo những hình ảnh vui buồn của phong cảnh bên đường lúc lên xe GMC rời xa Saigon như cảnh ra đi của người chinh phu trong tác phẩm:

Ngòi đầu cầu nứơc trong như lọc
Đường bên cầu, cỏ mọc còn non
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn 
Bộ khôn bằng ngựa, thuỷ khôn bằng thuyền
Nước trong chẩy, lòng phiền chẳng rửa
Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
Nhủ rồi tay lại cầm tay
Bước đi một bước, giây giây lại dừng

Dù tôi đã học tác phẩm này trong ban trung học đệ nhất cấp, nhưng thực sự tôi hiểu và cảm khoái nó khi bước lên đại học, nhất là khoảng một năm trời trong quân ngũ. Trong những ngày đi bãi hay trong những đêm gác tuyến tôi vẫn mang theo vài ba cuốn tạp chí trong đó không bao giờ thiếu “ Chinh Phụ Ngâm“, vì đọc tác phẩm này trong cái hoàn cảnh đó mới thực sự đạt được cái khoái cảm tột cùng của cái thú thưởng thức văn chương. 

Nhưng dù kiên định thế nào trong việc hồ khởi thúc dục người chồng lên đường để xứng đáng dòng hào kiệt. Nhưng làm sao không có những lúc nhớ thương, lo lắng cho chồng nơi chiến địa xa xăm, và cũng làm sao tránh khỏi đôi lần buồn bã, cô đơn mà không có tí chút ân hận vì đã để chồng ra đi vào chốn binh đao ?

Lúc ngoảnh lại, ngắm mầu dương liễu
Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong!

Tâm trạng hối tiếc này của người chinh phụ cũng đúng như người vợ trong bài Khuê Oán của Vương Xương Linh, cũng ân hận, buồn rầu trong cô đơn, hối hận vì đã xui chồng đi kiếm công danh :

Khuê trung thiều phụ bất tri sầu
Xuân nhật ngưng trang thượng thúy lâu
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
Hối giao phu tế mịch công hầu 

Dịch rằng: 

Trẻ trung nàng biết đâu sầu
Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm trăng
Chợt trông vẻ liễu bên đường
Phong hầu nghĩ dại xui chàng kiếm chi! 
(Khuyết danh dịch giả)

Nhưng thế nào thì chuyện cũng đã xẩy ra, người chinh phụ biết chồng minh phải ra đi cho trọn thân thế kẻ nam nhi, nhưng đau xót nhìn theo:

Hà Lương chia rẽ đường này
Bên đường trông lá cờ bay ngùi ngùi
..............
Quân đưa chàng ruổi lên đường
Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?
................
Dấu chàng theo lớp mây đưa
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà !

Rồi thời gian qua đi, người chinh phụ đã sống chờ đợi ngày về của chồng trong nhung nhớ, trong nguyện cầu, trong cảm thông những gian khổ, hiểm nguy nhưng vẫn có lúc than trách, nghi ngờ người chinh phu. Nàng tự hỏi chàng có nhớ thương mình hay có thông hiểu cho sự mài dũa của thời gian? Nếu ngày về của chàng quá lâu, thì thiếp làm sao giữ được vẻ mỹ miều, xuân sắc ngày xưa, mà đã thành một bà già đầu tóc bạc phơ 

Chẳng hay muôn dặm ruổi giong
Lòng chàng có cũng như lòng thiếp không 
Lòng chàng ví cũng bằng như thế 
Lòng thiếp nào dám nghĩ gần xa
...................
Lạnh lùng thay bấy nhiêu thu
Gió mây hiu hắt trên mầu tường vôi
Một năm một nhạt, mầu son phấn
Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi
.................
Thoi đưa ngày tháng ruổi mau
Người đời thấm thoát qua mầu xuân xanh
..................
Kìa Văn Quân mỹ miều thủa trước
E đến khi đầu bạc mà thương!.

Nhưng cũng chỉ là giận giỗi thường tình trong yêu đương xa cách mà thôi, tình yêu là thế, thời nào cũng vậy. Hờn dỗi, trách mắng khi xa nhau nhưng tình thương, lo lắng mong ước cho chàng thì vẫn có:

Đành muôn kiếp chữ tình là vậy
Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau
Thiếp xin chàng chớ bạc đầu
Thiếp gìn giữ mãi lấy mầu trẻ trung 
Xin làm bóng theo cùng chàng vậy 
Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên
Chàng nương vừng nguyệt phỉ nguyền
Mọi bề trung hiếu thiếp xin vẹn toàn.

Cuối cùng rồi người chinh phu cũng xong nhiệm vụ trở về để cuộc tương phùng thành thực tế. Người chinh phụ sẽ giúp chàng xếp gọn nhung y, giở lại những xấp khăn còn thấm ướt nước mắt mà nàng đã khóc vì nhớ chàng lúc xa nhau. Đọc lại cho chàng nghe những lá thư sầu muộn khi xa nhau, rồi cũng vì chàng mà thiếp sẽ trang điểm cho nhan sắc mãi mãi đẹp, nét trẻ trung, diễm kiều mà ngay xa xưa chàng từng say mê:

Xin vì chàng xếp bào cởi giáp
Xin vì chàng dũ lớp phong sương
Vì chàng tay chúc chén vàng
Vì chàng điểm phần đeo hương não nùng 
Mở khăn lệ, chàng trông từng tấm
Đọc thơ sầu, chàng thấm từng câu.

Đó là một tác phẩm văn vần tuyêt vời, đã cho tôi rất nhiều khoái cảm khi phải học nó trong ban trung học, khi ra đời và nhất là khi vì thời thế mà tôi đã phải “ xếp bút nghiên theo việc đao cung“. Ngày nay, khi thời gian đã đẩy lùi tất cả vào xa xôi, dĩ vãng. Khi tất cả vui buồn, thành công, thất bại...đã dìm sâu vào quá khứ, chỉ còn lại là những hoài niệm đồng hành với thời gian ngơi nghỉ của một ông già đang chuẩn bị cho ngày về với đất đá, hư vô. Nhưng tác phẩm Chính phụ Ngâm vẫn làm tôi thích thú, ngâm vang hay là mồi châm lửa cho niềm hoài cảm của tôi khi muốn dìm mình trong văn chương, thơ phú. Tuyệt vời thay! Một tác phẩm Hán văn của Đặng Trần Côn đã được chấp cánh phượng hoàng lên bầu trời văn chương nhờ tài diễn nôm của nữ sĩ Đoàn thị Điểm, không chính xác lắm ru!

Kim Vân Kiều

Một tiểu thuyết văn vần khác cũng làm cho tôi bao lần ngẩn ngơ khi đọc, đó là Kim Vân Kiều của đại văn hào Nguyễn Du. Tôi thực sự bước vào khoái cảm của tác phẩm này khi theo chương trình học của lớp đệ nhị, ban trung học (lớp 11 hiện nay), nhưng thực tế tôi đã có tí chút kiến thức rất sơ sài về tác phẩm khi còn là học sinh tiểu học trong một trạng huống khá thích thú. Xin kể lể ra đây như để hoài nhớ về bà mẹ quê mùa, thất học nhưng tuyệt vời đáng kính và đạo đức của tôi. 

Mẹ tôi hoàn toàn không biết đọc, biết viết nhưng lại thuộc rất nhiều truyện Kiều, rất thích và tin vào bói Kiều. Mỗi khi gia đình có việc gì lo lắng, không yên, chẳng hạn như những lần thi cử của các con, mẹ tôi thường mang tập truyện Kiều nho nhỏ đã bạc mầu ra trước bàn thờ gia tiên, thắp hương khấn vái rồi trịnh trọng mở tập Kiều ra, đưa cho tôi đọc trang bên phải (trai tay trái, gái bên mặt) cho bà nghe ... với một chút đăm chiêu, lầm bầm nhắc lại vài câu Kiều mà tôi vừa đọc rồi chậm rãi đưa ra lời đoán cho vấn đề mà bà muốn biết!

Lúc còn là học sinh tiểu học, tôi cũng chỉ biết làm theo và cũng có phần tin tưởng vào sự linh thiêng của “lối bói“ rất văn chương nhưng cũng kỳ lạ đó. Khi lên cấp trung học, dù vẫn vui vẻ đọc mỗi khi mẹ yêu cầu nhưng tôi thường lắc đầu, mỉm cười coi như một việc tầm phào. Tuy nhiên, cũng rất kỳ lạ, bất cứ lần nào bà bói cho tôi trước khi đi thi đều chính xác một cách lạ lùng, lại càng làm cho bà tin tưởng hơn. Một lần mẹ bói cho tôi trong cuộc thi tú tài phần nhất, tôi đậu dễ dàng đúng như lời đoán của mẹ. Mẹ cho rằng tôi đậu là do Đại vương Từ Hải đã giúp đỡ, ngài đã mang may mắn trong cho tôi. Nghe mẹ nói, phủ nhận sự chăm chỉ và tài năng của mình, tôi tỏ vẻ không vui, nói vài câu bất kính với vị Đại Vương mà mẹ coi như thánh thần. Với ánh mắt nghiêm nghị mẹ nhìn tôi trách mắng:

- Con không được nói vậy với Đại Vương! Hãy nhớ là học tài thi phận, đừng ngông nghênh mà thất kính với ngài như vậy mà chết không tòan thây đó! 

Sau một lúc giải bầy, tranh cãi cuối cùng vì muốn cho mẹ vui tôi đã phải cầm tập truyện Kiều đến trước bàn thờ gia tiên, thành kính cúng vái và nói vài lời xin lỗi với Đại Vương Từ Hải. Không dừng tại đó, cũng với vẻ thành kính tôi chậm rãi đọc vài câu Kiều mô tả cảnh Từ Hải vì tin vào lời khuyên của Kiều ra hàng Hồ Tôn Hiến mà bị chết đứng: 

Đang khi bất ý chẳng ngờ
Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!
Tử sinh liều giữa trận tiền
Dạn dầy cho biết gan liền tướng quân 
Khí thiêng khi đã về thần
Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữ trời !

Đọc xong đoạn Kiều, tôi nhìn mẹ cười vui, thích thú! Mẹ nhìn tôi lắc đầu, im lặng buông tiếng thở dài vì biết rõ tính tình ngổ ngáo của thằng con trai đầu đàn rất thương mẹ nhưng cũng có khá nhiều tật ách! Thời gian trầm lặng trôi qua, tôi ra hải ngoại tu nghiệp rồi thời thế xoay vần, mẹ tôi đã vĩnh viễn ra đi trước khi tôi có điều kiện mang vợ con về thăm lại quê nhà trong nỗi buồn vắng mẹ. 

Đúng như vậy khi nói về văn chương của truyện Kiều, có lẽ khỏi cần bàn cãi cho tốn thời gian, giấy mực mà chỉ cần đọc lời phê bình của Phạm Quỳnh:“Truyện Kiều còn, nước ta còn. “đã quá đủ nói lên cái giá trị của tác phẩm rồi. Về nội dung của truyện Kiều mô tả cuộc đời phong trần, đắng cay cũng như sắc đẹp mê hồn và tài năng vô đối của Thuý Kiều đã là những tiêu điểm làm cho biết bao nhiều người Việt nam, từ bác nông dân tay lấm chân bùn đến văn gia cao quí trong xã hội cũng phải ngơ ngẩn mê say, thì làm sao tôi lại điên khùng, dám làm một kẻ ngoại lệ để chê bai truyện Kiều được? 

Thuý Kiều đã hiện ra trong tưởng tượng của tôi như một nhan sắc tuyệt vời, một tài năng xuất chúng trong thơ văn, âm nhạc, hội hoạ...không ai bì kịp. Thuý Kiều trong tâm tưởng của tôi là một nhan sắc mỹ lệ, một người đẹp toàn vẹn (mười phân vẹn mười) và chỉ có trong mơ. Tôi mê si Thuý Kiều như mê một thần tượng, đã bao lần tôi có cảm giác mình đúng nghĩa là một kẻ tình si! Trong bài viết này, tôi cố gắng chỉ đi vào một vài đoạn của tác phẩm nói về sắc đẹp và tài năng của Vương Thuý Kiều, nhan sắc trong mộng mị của đời tôi. 

Trong tác phẩm, Tố Như tiên sinh chỉ mô tả sơ sài về nhan sắc của Thuý Kiều, nhưng tiên sinh lại khéo léo diễn đạt nỗi đắng cay, tủi nhục của Kiều trong những cuộc tìm vui của khách mua hoa tại kỹ viện đã cho bất cứ ai khi đọc tác phẩm đều cảm nhận được vẻ đẹp chim sa cá lặn của Kiều. Trong đoạn mở đầu tác phẩm, Tố Như tiên sinh đã mô tả nét đẹp trong sáng, sang trọng của Thuý Vân rồi dùng kỹ thuật so sánh để diễn tả nét đẹp vượt trội của Thuý Kiều:

Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Một người, một vẻ mười phân vẹn mười
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường mầu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc, lại là phần hơn
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. 

Cho đến khoảng giữ tác phẩm, khi Thúc Sinh đến kỹ viện, đúng lúc Kiều đang tắm, đoạn này có chút dung tục nhưng tác giả cũng đã lột tả được vẻ đẹp ngẩn ngơ như tượng sáp của giai nhân:

Buồng the phải buổi thong dong
Thanh lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa
Rõ ràng trong ngọc trắng ngà 
Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên

Đem sắc đẹp thân xác ra so sánh với tài năng nội tại của Thuý Kiều, dù có chút khập khiễng nhưng Tố Như tiên sinh đã cho đọc giả nhìn rõ hơn cái tài năng tuyệt đỉnh của Kiều trong thơ văn, hội hoạ, âm nhạc, ca ngâm:

Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai
Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi hạ, đủ mùi ca ngâm
Cung, thương, lầu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương

Sau khi dự lễ tảo mộ, mặt trời đã chếch bóng, trên đường về Kiều gặp ngôi mộ của Đạm Tiên, một kỹ nữ, ca nhi tài sắc một thời nhưng gặp nỗi bất hạnh, khi chết, xác chỉ được vùi nông bên đường không người thân thiết nhang khói, trông nom. Xúc động cho nỗi bạc mệnh của Đạm Tiên, Kiều rút trâm cài vạch lên vỏ cây bên đường một bài thơ thương cảm cho người đã khuất, mới quen: 

Rút trâm cài sẵn trên đầu
Vạch da cây, vịnh bốn câu ba vần
Lại càng mê mẩn tâm thần
Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra.

Nỗi lòng cảm thương, lời cầu khấn của Kiều đã tác động linh hồn Đạm Tiên hiển hiện làm cho mọi người sợ hãi, Kiều mong được nhận Đạm Tiên là chị và nguồn thi hứng lại dâng trào mà vạch thêm vào gốc cây một bài cổ thi:

Hữu tình ta lại gặp ta
Chớ nề u hiển mới là chị em
Đã lòng hiển hiện cho xem
Tạ lòng, nàng lại nối thêm vài lời
Lòng thơ lai láng bồi hồi
Gốc cây, lại vạch một bài cổ thi.

Tài văn chương của kiều không chỉ có thế. Trên đường về, vô tình gặp được Kim Trọng, Kiều đã mê mẩn với vẻ qúi phái, trí thức của Kim Trọng và mang nỗi tình si vào tâm tưởng. Khi về nhà nhớ đến Kim Trọng, lúc thiu thiu ngủ dưới ánh trăng thì hồn Đạm Tiên hiện ra, cảm kích về chân tình của Kiều nơi hoang mộ, và cho biết là trong sổ đoạn trường có tên của Kiều! Đạm Tiên muốn thử tài văn chương của Kiều, cô ta đưa ra mười đề tài cho Kiều làm thơ. Chỉ với vài vẫy tay, Kiều đã víết ra đủ mười khúc ngâm, đã làm cho Đạm Tiên nức nở khen thầm:

Này mười bài mới, mới ra
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời
Kiều vâng lĩnh ý đề bài
Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm
Xem thơ nức nở khen thầm
Giá đành tú khẩu, cẩm tâm khác thường
Ví đem vào tập đoạn trường
Thi treo giải nhất, chi nhường cho ai?

Văn chương của Kiều tuyệt tài như thế, âm nhạc, hội hoạ của Kiều cũng thuộc hàng trác tuyệt, đúng là một nghệ sĩ tài danh. Thời gian qua mau, thấm thoát đã 3 mùa trăng kể từ lễ Tảo Mộ. Kim Trọng cũng mê say nhan sắc của Kiều và đã bao lần tìm đến nhà Thuý Kiều nhưng vẫn then đóng, cửa cài... chàng lấy cớ có nơi chốn để học mà thuê được một căn nhà trọ sát bên nhà Thuý Kiều, hàng ngày vẫn lang thang trong vườn mong được gặp lại giai nhân. 

Kiều thì cũng chẳng khá gì hơn, cũng buồn nhớ trông mong được gặp người trong mộng. Không biết vì ngẫu nhiên hay Kiều đã biết Kim Trọng đang cư ngụ tại nhà kế bên, một lần Kiều đi dạo trong vườn mà đánh rơi chiếc kim thoa, để rồi ngẫu nhiên Kim Trọng nhặt được mà có cớ gặp nhau, thân thiết sinh tình, khởi đầu cho câu truyện tình đầy gió bão yêu đương. 

Với tôi cái trò làm rớt kim thoa thủa xưa hay gió bay khăn quàng, khăn tay ... để lấy cớ gặp mặt tình si thì ngày nay có cô gái nào mà không thuộc nằm lòng thể thức! Cũng vậy thanh niên đang tuổi yêu đương, cái trò quên sách, quên đàn, quên mũ... lấy cớ để trở lại kiếm tìm người si mê thì cũng chẳng hiếm hoi gì, thời nào mà chẳng có! Không biết tạo dịp gặp nhau thì làm sao có được niềm vui tái ngộ:

Hôm xưa tôi đến nhà em
Ra về mới nhớ rằng quên cây đàn
Tình tang tính tính tình tang 
Đêm khuya thao thức mơ màng
Chờ mai tìm đến cô nàng ngây thơ
Tình tang tính tính tình tang 
(Nhạc PD)

Có lẽ kiểu quên trâm, quên sách, quên đàn... chỉ hữu dụng với những cô, những cậu Việt Nam mà thôi, với tụi Tây thì chẳng có gì phải rắc rối, vòng vo, mất thì giờ cho bực bội:
Tôi yêu em, và chỉ van em được nói yêu em. Em đừng đi ngay dù trên đường ngựa xe mắc cửi.

Cho tôi nói ngay, nếu không tôi sẽ phải đi tìm tôi như một thân ngựa cuồng điên chạy trên đường hàng hôn đuổi theo một bóng mặt trời đang khuất núi.

Tôi phải nói ngay, bởi vì tôi không thể giấu tình yêu như biển cả sau một cơn giông to bão lớn cất trên bờ cát những thây ma. Đợi đến ngày mai, tôi e sợ rằng đời sẽ bổ tôi làm phu lục lộ đi đo sự già nua của tâm hồn mình bằng mớ tóc bù tung, đôi mắt quầng thâm của những người yêu đi lấy chồng rồi sinh con đẻ cái.

Cho tôi nói ngay, tôi yêu em, không một tí đắn đo dò xét.
Đến ngày mai hơi thở cũng ẩm tanh mùi tội lỗi. Tôi sẽ phải gục đầu tưởng niệm hương thơm mùi sữa mẹ và chất mặn nồng của những giọt nước mắt đầu tiên.

Ánh sáng mờ hoen, tôi sẽ nhìn cuộc đời bằng đôi mắt tử thi
Và em ơi, cả tôi, cả cuộc đời, con đường đi và mớ tóc dài thơm sẽ biến thành ảo ảnh.
(NS) 

Lối thể hiện tình yêu của tây phương, nó thẳng băng như 2 con đường song song trong toán học, nó thực tế như 2 lần 2 luôn luôn là 4, không có chuyện cộng thêm hay trừ bỏ tí nào cả dù là một tí epsilon. Cá nhân tôi (thời con non trẻ) hình như cũng có chút e ngại với những người con gái thích diễn kịch làm duyên, nhưng lòng mình thì chẳng biết nó đúng hay sai. Với Thuý Kiều thì nhờ cái trâm đánh rơi (cũng chẳng biết nàng có diễn kịch hay không?) để gặp người yêu và rồi trong một ngày vào dịp gia đình đi vắng, Kiều đã chui hàng rào sang tận phòng trọ của Kim Trọng mà phô bầy kiến thức về hội hoạ, tài năng bay bướm thư pháp: 

Sinh rằng: “Phác hoạ vừa rồi“
“Phẩm đề xin một vài lời thêm hoa“
Tay Tiên gió táp mưa sa 
Khoảng trên dừng bút, thảo vào bốn câu.
Khen: “Tài nhả ngọc phun châu“
“Nàng Ban, ả Tạ cũng đâu thế vầy“
( Nàng Ban , Ả Tạ là những phụ nữ nổi danh hay chữ )

Tài hội hoạ, thư pháp của Thuý Kiều đã ở mức mê mẩn rồi, nhưng bước sang âm nhạc, có thể nói Kiều đã đạt đến mức ma mị, huyền thoại với những âm vang truyền đạt được tất cả cảm xúc của người tạo âm thanh, ẩn tình khúc mắc của nội dung tấu khúc:

Khúc đâu Hán Sở chiến trường
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau
Khúc đâu Tư Mã phượng cầu
Nghe ra như oán, như sầu phải chăng.
.................
Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như nước suối mới sa nửa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.

Tuyệt tài thay, một Thuý Kiều, thần tiên trong âm nhạc, siêu tuyệt trong gò nắn âm vang ... chỉ có kẻ không có tim để rung động, không có hồn để say mê, không có giác quan để thu nhận mà thưởng thức mới không nhìn, không cảm, không thẩn thờ trước tài năng tuyệt vời về âm nhạc của Kiều nương mà thôi. 

Tôi đã viết qua về 2 tác phẩm của “ truyện thơ“ . Chinh phụ ngâm và Vương Thuý Kiều mà tôi thích thú mê say, chắc đã quá dài cho “khuôn viên“ của một bài tuỳ bút. Tôi xin chuyển sang viết về dạng “văn vần“ khác. Đó là thơ, những bài thơ, những câu thơ theo lối cổ điển xa xưa hay ngôn tự tung bay phóng khoáng đương thời trong lồi thơ tự do. Mở đầu cho đoạn văn này, tôi đưa ra vài dòng lang thang của chính tôi trong cái khoái cảm của những vần thơ không phép tắc: 

Làm sao tôi có thể kể cho hết được những bài thơ tôi thích, tôi mê?

Những bài thơ nói về tình yêu trong tâm tưởng, được kết bằng những nụ hôn nồng cháy, bằng những giây phút đa mê, hoan lạc.

Những bài thơ toàn là những âm thanh trọn vẹn, không lạc lõng dư thừa. 

Đã đưa tôi vào mộng mị với những vần thơ của một kẻ lang thang trong những chuyến hải hành chất đầy rượu ngọt, thức ăn thừa mứa .... để cho tôi đi tìm tóc bay, em hát. Những vần thơ đã cho tôi bao nhiêu niềm vui cưỡi trên sóng biển dạt dào mà ngắm nhìn những trò đùa dỡn, vui chơi của những nàng mỹ nhân ngư trên biển cả dưới ánh mặt trời nóng ran như đổ lửa.

Tôi làm thơ? Không! Tôi không biết làm thơ và cũng không phải sinh ra để làm một anh chàng thi sĩ, làm thơ. Tôi hiện diện trong nhân gian chỉ để hiểu, để đọc những vần thơ và cũng để yêu, dám chết trong những bài thơ tình lãng mạn của những thi nhân mà tôi yêu thích. 

Đúng như vậy, tôi rất yêu thơ, tôi sẽ gò nắn trong khuôn khổ đoạn viết của bài tuỳ bút này mà tìm ra những âm vang, trong những bài thơ tôi thích cung ứng cho cái khoái cảm của riêng tôi và cũng cho cái tò mò muốn biết của đọc giả. Có lẽ Xuân Diệu là một trong những nhà thơ tôi rất thích, nhất là những bài thơ về tình yêu:

Ta muốn tắt nắng đi
Cho mầu đừng nhạt mất
Ta muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
.............
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn xiết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cỏ cây, và cỏ rạng
Cho chếch choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!
..................
Thư thì mỏng như suối đời mộng ảo
Tình thì buồn như tất cả chia ly
Giấy phong kỹ, mang thầm trong túi áo
Mấy trăm lần viết lại mới đưa đi.

Đúng như vậy, viết một bức thư, đưa một bức thư hay gặp để tỏ lộ tình yêu cho người mình yêu, hoàn toàn không dễ, Nguyên Sa cũng thế mà thôi:

Chân díu bước mà mắt nhìn vương vướng
Nàng đến gần, tôi chỉ dám... quay đi
Cả những giờ bên lớp học, trường thi
Tà áo khuất thì thầm: “ chưa phải lúc...“
............
Rồi trách móc: “Trời không gần cho tay với
Và cả nàng hư quá, sao mà kiêu...“
Nên đến trăm lần: “Nhất định mình chưa yêu!“
Hôm nay nữa ... Nhưng lòng mình sao lạ quá ...?

Thuỵ Sĩ là một quốc gia nhỏ nằm sát bờ đông bắc nước Pháp, khoảng thời gian mới sang Thuỵ Sĩ cũng như lúc các con còn trẻ, tôi rất thường sang Pháp chơi, rất nhiều lần tôi đến Paris lý do Paris có rất nhiều nơi chốn để viếng thăm và hệ thống metro rất tiện dụng. Paris đúng thực là một trung tâm văn hoá hạng nhất thế giới, có thể nói đi thăm tất cả các di tích lịch sử, văn hoá, phòng triển lãm, viện khảo cổ...của Paris, không phải là chuyện dễ dù là cư dân của Paris. Với tôi, bao lần sang Paris nhưng vẫn có cảm giác lạ lùng, chưa quen và vẫn muốn khám phá. 

Có lẽ nền giáo dục của VN, nhất là cho thế hệ của tôi có quá nhiều vướng víu với nền văn học Pháp mà Paris lại là một biểu tượng trung tâm của tò mò. Đúng như vậy, đến Pháp mà không biết Paris có lẽ là một thiếu sót không bình thường. Đến Paris mà không biết “Notre –Dame de Paris“ để hoài tưởng về câu truyện tình lãng mạng nhưng đầy nước mắt của anh chàng gù Quasimodo với cô gái Esmerald của Victo Hugo là một điều khó hiểu lạ kỳ! Đến Paris mà không dành một buổi để lang thang, đi bộ trong vườn Luxemboug để tưởng nhớ hay ngắm nhìn những dấu tích của các vĩ nhân trong văn chương, nghệ thuật của Pháp và nhân loại trong công viên như A. Dumas, Baudelaire, Balzac, Hemingway, Sartre, Simon de Beauvoir, Anatole France .... thì đúng là một cuộc du hành vô ý nghĩa.

Với tôi, mỗi khi đến Paris tôi lại nhớ đến thi sĩ Cung Trầm Tưởng với những bài thơ phải nói là bất tử, lãng mạn của ông. Dưới trời tuyết bay bay, phủ kín con tầu, trong không gian lạnh lẽo tiễn đưa người yêu... còn gì buồn hơn:

Lên xe tiễn em đi
Chưa bao giờ buồn thế
Trời mùa đông Paris
Suốt đời làm chia ly
...............
Ga Lyon đèn vàng
Tuyết rơi buồn mênh mang 
Cầm tay em muốn khóc
Nói chi cũng muộn màng
................
Hôn nhau phút này rồi
Chia tay nhau tức khắc! 
Khóc đi em, khóc đi em
Hỡi người yêu xóm học 
..............
Trời em có mơ sao
Mình anh đêm ở lại
Trời mùa Đông Paris
Chưa bao giờ buồn thế!

Cũng vậy, Paris buồn, Paris chia ly... với Nguyên Sa lại có một mùi vị khác trong nỗi buồn của một gã đàn ông từ giã người tình trong buổi chiều Paris lành lạnh:

Tôi sẽ hỏi trong những chiều giá buốt
Những chiều mưa mây trắng nặng trên vai
Người con gái mắt xanh mầu da trời
Trên áng mi dài có quanh co tuyết phủ ?
Rồi cả người, cả Paris nhìn tôi qua nụ cười nhắn nhủ 
Nụ cười mềm như ánh nắng của cuộc chia ly!

Bên cạnh những bài thơ viết về những khúc mắt, trắc trở, phiền nhiễu với tình yêu, vẫn có những bài thơ rất nổi tiếng theo một hướng khác, hướng của nhân gian, tình người, thiên nhiên và tạo hoá ..v..v.. 
Nếu ai sống, học hành và lớn lên với Saigon toàn là kỷ niệm, làm sao mà không thẩn thờ khi đọc những câu thơ: 

Nắng Sàigon anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
..........
Em không nói đã nghe lừng giai điệu
Em chưa nhìn mà đã rộng cả trời xanh
.........
Em chợt đến, chợt đi anh vẫn biết
Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu
.......
Em ở đau hỡi mùa thu tóc ngắn
Giữ hộ anh mầu áo lụa Hà Đông . 
(NS)

Và cũng thế:

Mình từng bên nhau dạo bước phố phường
Phố ồn ào cũng trở nên lặng lẽ
Anh nhìn phố rồi kề tai khe khẽ:
“Anh yêu Sàigon vì có bé biết không“ ? 
( HNT)

Rồi vì hoàn cảnh đẩy đưa, vì lòng mình mê si “ khanh tướng, công hầu “ mà phải rời xa đất nước để một ngày nào đó trở về nơi chốn ngày xưa, làm sao mà không buồn, không khóc khi nhớ đến mẹ cha:

Một buổi sáng mùa đông chớm lạnh
Về quê nhà con chạnh lòng đau
Tóc cha mây trắng một mầu
Nụ cười đôn hậu... mẹ đâu xa rồi! 
(ĐĐM )

Trong thời gian chiến tranh vừa qua, tôi đã bao lần chứng kiến những tang thương của bom đạn, những khổ đau của ngăn cách chia ly:

Tôi là anh lính chiến


Rời quê hương từ thủa máu khơi dòng
............
Tôi có người vợ trẻ đẹp như thơ
Tuổi đôi mươi cưới buổi dâng cờ
Má trắng mịn thơm thơm mùi lúa chín
Ai bước đi mà không từng bịn rịn
.............
Đêm hôm nay, tôi trở về lành lạnh
Sông sâu nhìn lấp lánh sao lưa thưa
(YT)

Khi trở về, làm sao mà không thẩn thờ, khi người thân không còn nữa, kéo mình trở về với thực tế và ký ức hiện ra với những cảnh tượng đau lòng mà hỏi vu vơ:

Mẹ tôi em có gặp đâu không?
Bao xác già nua ngập cánh đồng
Tôi có thằng con bé dại
Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông? 
(QD) 

Cuối cùng trong tâm trạng chán chường với phú qúi công danh mà thở dài:

Nào những ai
Kê vàng tỉnh mộng
Tóc bạc thương thân
Vèo trông là rụng đầy sân
Công danh phù thế có ngần ấy thôi 
(TĐ)

Đâu đó trong không gian, âm thanh của bản nhạc “Chiều mưa biên giới“ nhẹ nhàng vang lên, đem tưởng tượng của người nghe đến với hình ảnh cô đơn, buồn bã dưới trời mưa của người lính chiến bên đường biên giới hiển hiện về trong chán chường:

Chiều mưa biên giới anh đi về đâu? 
Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu?
............
Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay 
Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng 
.............
Lòng người con tơ vương khanh tướng
Thì đường trần mưa bay gió cuốn còn nhiều anh ơi!

Kết luận

Xin dùng vài câu thơ của Nguyễn Khuyến để đóng lại bài viết khá dài và luộm thuộm của tôi về cái thú vui đọc sách. Coi như một đoạn kết của một bài tuỳ bút đầy cá tính của một người thích lang thang, dù là lang thang trong văn chương, thơ phú:

Khi vườn sau, khi ao trước, khi điếu thuốc, khi miếng trầu
Khi trà chuyên năm bẩy chén, khi Kiều lẩy một đôi câu.

Cũng vậy, dù ở cái tuổi gần đất xa trời nhưng nếu vì một đưa đẩy ngẫu nhiên nào đó mà có được một lần tao ngộ với xuân nồng gió trăng, thì tôi cũng chẳng ngại gì mà chối từ cho mệt để mất tiếng của một kẻ hào hoa:

Kìa những ngừơi mái tuyết đã phau phau
Run rẩy kẻ tơ đào còn mảnh khảnh
............
Càng tài tử càng nhiều tình trái 
Cái sầu kia theo hình ấy mà ra 
Mua sầu lại kẻ hào hoa. 
( NCT)

Lưu An
(Zuerich, July 2020)