Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

Việt Nam Văn Học Sử Yếu - Dương Quảng Hàm.(Chương Thứ Nhất)

VIỆT NAM VĂN HỌC SỬ YẾU
THIÊN THỨ NHẤT
VĂN CHƯƠNG BÌNH DÂN



Chương thứ nhất
Văn chương truyền khẩu


Văn chương truyền khẩu – Như chương dẫn đầu đã nói, ở nước ta, trước khi có văn chương bác học, đã có một nền văn chương bình dân truyền khẩu. Văn chương truyền khẩu ấy là tục ngữ và ca dao. Vậy ta phải xét nền văn ấy trước. 
I. Tục ngữ 
Định nghĩa những chữ tục ngữ, ngạn ngữ, và phương ngôn. 
- tục ngữ (tục: thói quen có đã lâu đời ngữ: lời noí) là những câu nói gọn ghẽ và có ý nghĩa lưu hành tự đời xưa, rồi do cửa miệng người đời truyền đi. Tục ngữ còn gọi là ngạn ngữ ngữ , vì chữ ngạn nghiã là lời nói của người xưa truyền lại. 
Còn phương ngôn (phương; địa phương, vùng) là những câu tục ngữ chỉ thông dụng trong một vùng chứ không lưu hành khắp trong nước. 
Nguồn gốc của tục ngữ :- Xét về nguồn gốc, ta có thể chia tục ngữ ra làm hai loại: 

1) Những câu vốn là tục ngữ, tức là những câu nói thường, lúc ban đầu chắc cũng do một người phát ra trước tiên, rồi vì ý nó xác đáng, lời nó gọn ghẽ, người khác nghe đến nhớ ngay, sau cứ thế nhắc lại mà truyền tới bây giờ, đến nay ta không biết tác giả là ai nữa. Những câu về loại này chiếm phần nhiều nhất. 

2) Những câu vốn là thơ ca mà sau biến thành tục ngữ. Những câu nguyên ở trong một bài thơ hoặc một bài ca của một tác giả nào, nhưng vì ý đúng, lời hay, nên người ta truyền tụng đi mà làm thành một câu tục ngữ. 
Thí dụ: Câu tục ngữ “Thương người như thể thương thân” vốn là một câu trong tập Gia huấn ca của Nguyễn Trãi. 
Hình thức của tục ngữ: -xét về hình thức, tục ngữ có thể chia ra làm hai loại.

1) Những câu không vần, có ít. Những câu này có hai cách đặt: 
a) Hoặc đặt lấy đối: một câu chia làm hai đoạn đối nhau. 
Thí dụ: “Giơ cao đánh sẽ”- “No nên bụt, đói nên ma”.

b) Hoặc đặt không đối, chỉ cốt ý đúng lời gọn thôi. 
Thí dụ: “Mật ngọt chết ruồi”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

2) Những câu có vần, rất nhiều. 
Vần trong các câu tục ngữ thường là yêu vận (yêu:lưng) nghĩa là vần ở lưng chừng câu, thỉnh thoảng mới có cước vận (cước: chân) nghĩa là vần ở cuối câu. 
Thí dụ: “Ăn cây nào, rào cây ấy” , “Nói ngọt lọt đến xương”“Khôn cho người vái, dại cho người thương, dở dơ ương ương, tổ người ta ghét”. 

Ý nghĩa các câu tục ngữ - tục ngữ của nước ta rất nhiều mà mỗi câu mỗi ý. 
Tựu trung, ta cũng có thể chia làm mấy loại như sau: 
1) Những câu thuộc về luân lý. Những câu nầy: 
a) Hoặc dạy đạo làm người. 
Thí dụ: “tốt danh hơn lành áo” – “Giấy rách giữ lấy lề”, “Sống đục sao bằng thác trong”. 

b) Hoặc cho ta biết những lý sự đương nhiên. 
Thí dụ “Khôn sống, mống chết” , -“Mạnh được, yếu thua”. 
Hoặc dạy khôn dạy ngoan. 
Thí dụ “Ăn cổ đi trước, lội nước đi sau”, “gửi lời thì nói , gửi gói thì mở” – “Ăn no nằm ngũ, chờ bàu chủ mà lo”. 

Nền luân lý trong tục ngữ là một nền luân lý bình thường, tuy không có tính cách cao siêu nhưng cũng đủ khiến cho người ta thành một người lương thiện và không đến nỗi khờ dại để người khác khác lường gạt được. 

2) Những câu thuộc về tâm lý người đời. Những câu nầy là tả thế thái nhân tình, nhờ đó mà ta biết được tâm lý của người đời. 
Thí dụ “Của người bồ tát, của mình lạt buộc”, “Vén tay áo xô, đốt nhà táng giấy” ,”Yêu nên tốt, ghét nên xấu” , “Dao năng liếc thì sắc, người năng chào thì quen”. 

3) Những câu thuộc về phong tục, nhờ đó mà ta biết các tập tục, tín ngưỡng ở nước ta. 
Thí dụ: “Một miếng giữa làng, bằng một sàng xó bếp”, “Vô vọng bất thành quan” , “ Cao nấm ấm mồ”, “Sống về mồ mả, không sống về cả bát cơm.” 

4) Những câu thuộc về thường thức. Những câu nầy: 
a) Hoặc nói về thời tiết. 
Thí dụ: "Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”, “Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão”. 
b) Hoặc nói về việc canh nông. 
Thí dụ: “Trời nắng tốt dưa, trời mưa tốt lúa”. “Lúa giỗ, ngả mạ; vàng rạ thì mạ xuống đồng”. 
c) Hoặc nói về thổ sản. 
Thí dụ: Dưa La (1), cà Láng (2), nem Báng (3) , tương Bần (4), nước mắm Vạn Vân (5), cá rô Đầm Sét (6). 
d) Hoặc nói về lễ phép, thù ứng. 
Thí dụ: “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, “ăn miếng chả, trả miếng nem”, “Có đi có lại, mới toại lòng nhau” v.v.. 
(1) La: tức là tổng La nội, phủ Hoài đức, tỉnh Hà Đông. 
(2) Láng: tên nôm của làng Yên lãng, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà đông. 
(3) Báng có lẽ là làng Đình bảng, phủ Từ sơn, tỉnh Bắc ninh. 
(4) Bần : tên nôm của làng Yên nhân, phủ Mỹ hào, tỉnh Hưng yên 
(5) Vạn Vân (vạn: làng bọn thuyền chài), tức là tổng Vân hải huyện Hoành hồ, tỉnh Quảng yên. 
(6) Đầm sét: tên nôm của làng Diêm khê, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà đông. 

Những câu nầy là do những điều kinh nghiệm của cổ nhân đã chung đúc lại, nhờ đấy mà người dân vô học cũng có một cái tri thức thông thường để làm ăn và cư xử ở đời. 
Thành ngữ: Thành ngữ là những lời nói do nhiều tiếng ghép lại đã lập thành sẵn, ta có thể mượn để diễn đạt một ý tưởng của ta khi nói chuyện hoặc viết văn.

Trong những câu người ta thường gọi là tục ngữ, có rất nhiều câu chỉ là thành ngữ chứ không phải là tục ngữ thật. 
Thí dụ: “dốt đặc cán mai”, “Nói toạc móng heo”, “Miệng hùm nọc rắn”, “Tiền rừng bạc bể” . 
Sự khác nhau của tục ngữ và thành ngữ là ở chỗ nầy: một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo điều gì ,còn như thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màu mè.

Câu ví: Trong số các thành ngữ của ta, có rất nhiều câu dùng để so sánh hai sự vật với nhau, thứ nhất là một ý nghĩ ở trong trí với một vật, hoặc một cảnh tượng ở ngoài: những câu ấy tức là câu ví. Thí dụ: “đắng như bồ hòn”, “Trắng như trứng gà bóc”, “Lào nhào như cháo với cơm”, “Nhởn nhơ như con đĩ đánh bồng”, “Thẳng như ruột ngựa, “”Nói như đóng đanh vào cột”, “trông như trông mẹ về chợ." 

II. Ca dao 

Định nghĩa: Ca dao (ca: hát; dao: bài hát không có chương khúc) là những bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, thường tả tính tình phong tục của người bình dân. Bởi thế ca dao cũng gọi là phong dao (phong: phong tục) nữa. Ca dao cũng như tục ngữ, không biết tác giả là ai ; chắc lúc ban đầu cũng do một người vì có cảm xúc mà làm nên , rồi người sau nhớ lấy mà truyền tụng mãi đến bây giờ. 
Thể văn: - Ca dao viết theo mấy thể văn nầy: 
1) Thể lục bát chính thức (câu 6 câu 8 kế tiếp nhau, hoặc thể lục bát biến thức (thỉnh thoảng có xem những câu dài hơn 6 hoặc 8 chữ). Thí dụ: 
Thể lục bát chính thức: 

Tò vò mà nuôi con dện (nhện) 
Ngày sau nó lớn nó quến nhau đi 
Tò vò ngồi khóc tỉ ti: 
“Dện ơi! Dện hỡi ! Mầy đi đàng nào?” 

Thể lục bát biến thức: 

Công anh đắp nấm, trồng chanh 
Chẳng được ăn quả, vịn cành cho cam 
Xin đừng ra dạ bắc nam 
Nhất nhật bất kiến như tam thu hề 
Huống tam thu như bất kiến hề, 
Đường kia, nỗi nọ như chia mối sầu 
Chắc về đâu đã hẳn hơn đâu 
Cầu tre vững nhịp hơn cầu thượng gia. 
Bắc thang lên thử hỏi trăng già, 
Phải rằng phận gái hạt mưa sa giữa trời. 
May ra gặp được giếng khơi, 
Vừa trong vừa mát lại nơi thanh nhàn 
Chẳng may số phận gian nan. 
Lầm tham cũng chịu phàn nàn cùng ai. 
Đã yêu nhau, giá thú bất luận tài! 

2) Thể song thất lục bát chính thức hoặc biến thức. 
Thí dụ: 
Thể song thất chính thức: 
Bác mẹ già phơ phơ đầu bạc 
Con chàng còn trứng nước thơ ngây. 
Có hay chàng ở đâu đây 
Thiếp xin mượn cánh chắp bay theo chàng. 

Thể song thất biến thức: 
Tròng trành như nón không quai, 
Như thuyền không lái như ai không chồng 
Gái có chồng như gông đeo cổ, 
Gái không chồng như phản gỗ long đanh. 
Phản long đanh anh còn chữa được, 
Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi. 
Không chồng khốn lắm, chị em ơi! 

3) Thể nói lối: câu đặt thường bốn chữ, cứ chữ cuối câu trên vần với chữ thứ hai, hoặc chữ cuối câu dưới. 
Thí dụ: 
Lạy trời mưa xuống, 
Lấy nước tôi uống, 
Lấy ruộng tôi cày 
Lấy bát cơm đầy 
Lấy khúc cá to. 

4) Có khi một bài gồm hai hoặc ba thể trên. 
Thí dụ: 
Quả cau nho nhỏ 
Cái vỏ vân vân 
Nay anh học gần 
Mai anh học xa. 
Anh lấy em từ thuở mười ba, 
Đến năm mười tám thiếp đà năm con. 
Ra đường thiếp hãy còn son. 
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng. 

Cách kết cấu: 
a) Theo cách kết cấu (kết: tết lại; cấu: gày thành) nghĩa là cách sắp đặt các ý tứ cho thành một bài văn, thì ca dao chia làm ba thể: 
1/Thế phú: phú nghĩa là phô bày, mô tả; trong thể nầy, muốn nói về người nào, việc nào thì nói thẳng ngay về người ấy, việc ấy. 
Thí dụ: 
Ngang lưng thì thắt bao vàng, 
Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài 
Một tay thì cắp hỏa mai, 
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền 
Thùng thùng trống đánh ngũ liên, 
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa. 

Hoặc: 
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh 
Non xanh, nước biếc như tranh hoạ đồ 
Ai vô xứ Nghệ thì vô. 

2/ Thể tỉ: tỉ nghĩa là ví, so sánh; trong thể này, muốn nói gì, không nói thẳng ra, lại mượn một sự vật ở ngoài làm tỉ ngữ để người nghe ngẫm nghĩ mà hiểu lấy cái ý ngụ ở trong. 
Thí dụ: 
Bài “Tò vò mà nuôi con dện: đã dẫn ở trên. 
Hoặc: 
Bầu ơi ! thương lâý bí cùng, 
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. 

3/ Thể hứng: hứng là nổi lên, đây nói về tình của người ta nhân cảm xúc vì vật ngoài mà phát ra. Trong thể nầy, trước tả một vật gì làm câu khai mào, rồi mượn đấy mà tiếp tục xuống ý mình muốn nói. 
Thí dụ: Bài “quả cau nho nhỏ” đã dẫn ở trên. 
Hoặc: 
Trên trời có đám mây xanh, 
Ở giữa mây trắng ,chung quanh mây vàng. 
Ước gì anh lấy được nàng, 
Thời anh mua gạch Bát tràng về xây. 
Xây dọc, rồi lại xây ngang. 
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân. 

b) cũng có khi một bài kiêm nhiêù thể, như 

1/ Phú và tỉ. Thí dụ: 
Trong đầm gì đẹp bằng sen, 
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng. 
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh 
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. 
Bài này vừa tả hoa sen (phú), vừa ví người quân tử với hoa sen (tỉ) .

2/ Phú và hứng. Thí dụ; 
Qua cầu ngả nón trông cầu, 
Câù bao nhiêu dịp (nhịp), em sầu bấy nhiêu. 
Bài này vừa tả cái cầu (phú), vừa mượn cảnh cái cầu mà nói nỗi sầu của mình (hứng)

3/ Hứng và tỉ. Thí dụ; 
Dao vàng bỏ đẫy kim nhung, 
Biết rằng quân tử có dùng ta chăng? 
Trong bài này, có mượn cao dao vàng để nói đến tình mình (hứng), vừa ví mình như con dao vàng (tỉ).

4/ Phú, hứng và tỉ. Thí dụ: 
Sơn bình Kẻ Gốm không xa, 
Cách một cái quán ,với ba quãng đồng. 
Bên dưới có sông, 
Bên trên có chợ. 
Ta lấy mình làm vợ nên chăng? 
Tre già để gốc cho măng. 
Toàn bài là thể hứng: bốn câu đầu là thể phú; câu cuối là thể tỉ.

Ý nghĩa: Ca dao nước ta thật là phong phú và diễn tả đủ các tình ý trong lòng người và các trạng thái xã hội. Ta có thể chia làm mấy loại như sau: 
A) Các bài hát của trẻ con (đồng dao). Thí dụ bài “Thằng Bờm (xem phần thư hai, bài số 2) 
B) Các bài hát ru trẻ. Thí dụ: Bài “Bao giờ cho đến tháng ba ..” (Xem phần thứ hai, bài số 3) . 
Trong các bài về hai loại trên nầy, có nhiều bài xét toàn thiên không có ý nghĩa gì, chỉ là một mớ chữ sắp thành câu có vần và cũng khiến cho trẻ con thuộc được ít nhiêù danh từ về các vật thường dùng. 
Thí dụ: 
Ông giẳng ông giăng 
Xuống chơi với tôi 
Có bầu có bạn 
Có ván cơm xôi 
Có nồi cơm nếp 
Có nệp bánh chưng, 
Có lưng hũ rượu, 
Có chiếu bám đu, 
Thằng cu xí xoá, 
Bắt trai bỏ giỏ, 
Cái đỏ ẳm em, 
Đi xem đánh cá 
Có ra vo gạo, 
Có gào múc nước 
Có lược chải đâù 
Có trâu cày ruộng. 
Có muống thả ao, 
Ông sao trên trời. .. 

C) Các bài hát của con nhà nghề. Các người lao động, những lúc làm ăn vất vả, cất tiếng hát một vài câu thì dễ quên nỗi mệt nhọc và được vui vẻ mà làm ăn. Bởi thế, những người cày ruộng, cấy mạ, gặt lúa, hái dâu thường một đôi khi nghêu ngao những câu hát. Lại có nhiêù việc như chèo thuyền, đẩy xe, kéo gỗ, có nhiều người cùng làm với nhau cần phải mượn câu hát để lấy nhịp mà cùng làm cho đều tay. Vì vậy, nên có những bài hát của con nhà nghề. Thí dụ: 
1/ Bài hát của người thợ cấy: 
Người ta đi cấy lấy công, 
Tôi đây đi cấy còn trông nhiều bề. 
Trông trời, trông đất, trông mây, 
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm. 
Trông cho chân cứng đá mềm, 
Trời trong, biển lặng mới yên tấm lòng. 

2/ Bài hát của người chèo đò (Xem phần thứ hai, bài số 4) 
3/ Bài hát của người tiêù phu (Xem phần thứ hai, bài số 5), v.v. .. 

D) Các bài thuộc về luân lý. Thí dụ: Xem phần thứ hai, bài số 6,7,8. 
E) Các bài tả tâm lý người đời. Những bài này: 
1/ hoặc tả thế thái, nhân tình. Thí dụ: Xem phần thứ hai, bài số 9.10 . 
2/ Hoặc ta tư cách các hạng người. 
a) Bậc quân tử. Thí dụ bài : “Trong đầm gì đẹp bằng sen .. .” đã dẫn ở trên. 
b) Bậc anh hùng. Thí dụ: 
Làm trai cho đáng nên trai, 
Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan. 

c) Bậc nhân tản. Thí dụ: 
Nghêu ngao vui thú yên hà, 
Mai là bạn vũ, hạc là người quen. 

d) Người biết tự lập. Thí dụ: 
Làm trai có chí lập thân, 
Rồi ra gặp hội phong vân cũng vừa. 
Nên ra tay kiếm, tay cờ, 
Chẳng nên thì chớ, chẳng nhờ tay ai. 

e) Người khôn. Thí dụ: 
Người không đón trước rào sau, 
để cho người dại biết đâu mà dò. 

f) kẻ lười. Thí dụ: 
Chửa tối đã vội đi nằm, 
Em coi giấc ngủ đáng trăm quan tiền. 


g) người ăn chơi. Thí dụ: 
Ăn được ngủ được là tiên, 
Không ăn không ngủ là tiền vất đi. 

h) kẻ nói khoác. Thí dụ: 
Ở đâu mà chẳng biết ta, 
Ta con ông Sấm, cháu bà Thiên lôi. 
Xưa kia ta ở trên trời, 
Đứt dây rơi xuống làm người thế gian. v.v. 

F) các bài có tính cách xã hội. Những bài nầy: 
1/ Hoặc tả tình cảnh các hạng người trong xã hội, thứ nhất là người đàn bà và người nhà quê. Thí dụ: Xem Phần thứ hai, bài số 11,12. 

2/ hoặc ta các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, dị đoan của người bình dân nước ta. Thí dụ: 
Đàn ông quan tắt thì chầy, 
Đàn bà quan tắt nửa ngày nên quan. 
Mồng bốn cá đi ăn thề 
Mồng tám cá về, cá vượt vũ môn. 
Chẳng thiêng ai gọi là Thần, 
Lối ngang đường tắt, chẳng gần ai đi? 
Mồng năm, mười bốn, hăm ba (7) 
Đi chơi cũng thiệt nữa là đi buôn. 

G) Các bài dạy những điều thưởng thức. Những bài nầy nói về: 
1/ Canh nông. Thí dụ: xem phần thứ hai, số 13. 
2/ Sản vật. Thí dụ: 
Ai lên Đồng tỉnh, Huê cầu (8) 
Đồng tỉnh bán thuốc, Huê cầu nhuộm thâm. 
Dù ai đi chợ Thanh Lâm. (9) 
Mua anh một áo vải thâm hạt rền. 
-- 
(7) Ba ngày ấy, trong lịch Tàu gọi là “nguyệt kỵ” nghĩa là ngày phải kiêng trong một tháng. 
(8) Đồng tỉnh: tên một làng thuộc huyện Văn giang, tỉnh Bắc Ninh – Huê Cầu: tên cũ của làng Xuân cầu, cũng thuộc huyện ấy. 
(9) Thanh lâm: tên một làng thuộc huyện Lang tài, tỉnh Bắc Ninh. 
-- 
3/ Thiên văn. Thí dụ: 
Mồng một lưỡi trai (hoặc: không trăng) 
Mồng hai lá lúa (hoặc: không trăng ) 
Mồng ba câu liêm, 
mồng bốn lưỡi liềm, 
Mồng năm liềm giật, 
Mồng sáu thật trăng 
Mười rằm trang nâu, 
Mười sáu trăng treo, 
Mười bảy sẩy giường chiêú, 
Mười tám trăng lẹm, 
Mười chín dụn dịn, 
Hai mươi giấc tốt, 
Hăm mốt nửa đêm, 
Hăm hai bằng đầu 
Hăm ba bằng tai, 
Hăm bốn ở đâu (hoặc: bằng râu) 
Hăm nhăm ở đấy (hoặc: bằng cầm) 
Hăm sáu đã vày, 
Hăm bảy làm sao 
Hăm tám thể nào, 
Hăm chín thế ấy, 
Ba mươi không trăng. 
4/ Thời tiết. Thí dụ: 
Thâm đông, hồng tây, dựng may (10) 
Ai ơi, ở lại ba ngày hẳng đi. 

5/ Sông núi. Thí dụ: 
Đi bộ thì khiếp Ải Vân (11) 
Đi thuyền thì sợ sóng thần hang Dơi (12) 
-- 
(10) phương đông thì đen, phương tây thì đỏ, gió may bắt đầu thổi; ta cho đó là triệu chứng trời sắp mưa to gió lớn. 
(11) Ải vân: tức là đèo Hải Vân, ởchỗ giáp giới tỉnh Thừa Thiên và tỉnh Quảng Nam. 
(12) Sóng thần hang Dơi: Phía bắc chân núi Hải vân sát tới bể có Bức cốc (Hang Dơi) hoặc gọi là Tiên Châu (Bãi Chuối). Tương truyền khi xưa chỗ âý có sóng thần, thuyền đi qua đó, chìm đắm nhiêù lắm (Đại Nam nhất thống chí) 
-- 
6/ Tướng người. Thí dụ: 
Những người ti hí mắt lươn, 
Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người. 

H) Các bài hát phong tình, nghĩa là những bài tả những cuộc tình duyên của trai gái: từ lúc mới gặp nhau ngỏ lời nói ướm, đến khi thề nguyền gắn bó, dạm hỏi cưới xin, rồi những cảnh nhớ mong, chờ đợi, đoàn tụ, biệt ly, những nỗi trái duyên, bội ước, quá lứa, lỡ thì, ở trong ca dao đều tả cả. 
Phần nầy là phần giàu nhất trong ca dao mà cũng là phần có văn chương lý thú nhất. 
Thí dụ: Xem phần thứ hai bài số 15,16,17,18,19. 

LỜI CHÚ. Chính những bài hát phong tình này đã dùng làm tài liệu cho các cuộc hát trống quân và hát quan họ hoặc hát đúm (13) 
1/ Các bài hát liên lạc đến lịch sử. Có nhiều bài ca dao ám chỉ đến một việc trong lịch sử, hoặc nhân một việc trong lịch sử đã xảy ra mà làm nên. Thí dụ: 
Nhớ em anh cũng muốn vô, 
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang (14) 
Phá Tam giang ngày rày đã cạn, 
Truông nhà Hồ, Nội tán cấm nghiêm. 
(13) cuộc hát trống quân thường tổ chức ở các vùng nhà quê về dịp tết Trung thu, do các người đàn anh trong làng treo giải. Một người con trai và một người con gái ngồi đối diện nhau, vừa hát vừa gỏ vào một cái dây để lấy nhịp (dây này căng thẳng, trong khoảng hai cái cọc ở giữa buộc vào một tấm ván hoặc một cái thùng sắt tây chôn xuống đất để lấy tiếng vang). Hai bên đối đáp, mượn những câu hát có sẵn mà biến báo thay đổi cho hợp vớ itình ý mình: đến khi nào một bên không hát được nữa là thua, bên kia sẽ được lĩnh giải. - Tục hát quan họ thịnh hành ở vùng Bắc Ninh (các huyện Võ giàng, Tiên du, Yên phong) và Bắc Giang (huyện Việt yên) nhân các ngày hội chùa, trai gái mấy vùng ấy họp thành từng bọn (lúc đương cuộc, họ xưng hô với nhau là anh Hai, anh Ba, chị Hai, chị Ba, v.v. coi nhau như người cùng một họ, bởi thế mới gọi là hát quan họ), rồi bọn con trái hát lối đáp với bạn con gái khác ở trước sân chùa hoặc trên những đồi núi đồng ruộng gần chùa hoặc có khi mời nhau về nhà hát. 
(14) Truông nghĩa là rừng. Truông nhà Hồ tức là HỒ xá lâm ở huyện Vĩnh linh, tỉnh Quảng trị; vùng này xưa lắm giặc cướp, ai đi qua đấy cũng sợ. Phá nghĩa là lạch biển. Tam giang là ba con sông. Phá tam giang là cái lạch biển ở huyện Quảng Điên2 ,tỉnh Thừa Thiên, về phía tây nam có ba ngọn sông (Tả giang, Hữu giang, Trung giang) chảy vào . rồi đổ ra cửa bể Thuận an. Vùng ấy xưa nhiêù sóng lớn, thuyền bè qua đây rất sợ. Sau phá ấy cạn đi, nên tên chữ cũng gọi là Hạc hải (bể cạn). (Theo Đại Nam nhất thống chí) ----- 
Bài này ám chỉ ông Nguyễn khoa Đăng, làm Nội tán đời chúa Hiến tôn (191-1725), đã dẹp yên giặc cướp ở vùng Truông nhà Hồ. 
Câu đố. Trong số các bài ca dao, có nhiêù bài là những câu đố, hoặc tả một người, một vật gì để người nghe đoán ra hoặc đặt thành những câu hỏi liên tiếp đố nhau về nhiều việc. Thí dụ: 
Ngã lưng cho thế gian nhờ, 
Vừa êm, vừa ấm lại ngờ bất trung. 
Tức là cái phản. 
Bài hát đố: Xem phần thứ hai Bài số 20. 

Kết luận. 
Tóm lại mà nói, thì tục ngữ ca dao chiếm một địa vị quan trọng trong văn học giới nước ta, vì đó là một cái kho tài liệu để ta khảo cứu tính tình, phong tục, ngôn ngữ của người nước ta và là một mền văn rất phong phú trong đó có đủ cả các kỹ thuật về khua từ như (nói ví ý nầy ý kia; thí dụ: “cả vú lấp miệng em”. – “có bột mới gột nên hồ”; 
Phản ngữ nói trái lại ý mình muốn nói; thí dụ: Ở đời Kiệt , Trụ (15) sướng sao! Có rừng nem béo, có ao rượu đầy. Ở đời Nghiêu, Thuấn (16) khổ thay ! Giếng đào mà uống, ruộng cày mà ăn) điển tích (đặt những chữ có ám chỉ đến một việc xưa, một sự tích xưa; thí dụ :Ai về nhắn họ Hi, Hòa (17). Nhuận năm sao chẳng nhuận và trống canh) lông ngữ (bỡn chữ; thí dụ: Trăng bao nhiêu tuổi trăng già. Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non”, nhân hóa (làm cho các vật vô tri có tính cách như người; thí dụ “cơm tẻ, mẹ ruột” , “của đau con xót”, cụ thể hoá (làm cho các ý trừu tượng hóa thành vật có hình thể; thí dụ:”Miệng mật, lòng dao” “Nén bạc đâm toạc tờ giấy”. v.v. 

(15) Kiệt (1818-1783) , Trụ (1154-1122) là hai ông vua nước Tàu có tiếng là dâm bôn, tàn bạo. 
(16) Nghiêu (2357-2257), Thuấn (2255-2207) là hai bậc thánh quân ở bên Tàu. 
(17) Hi – Hòa : vua Nghêu sai hai họ này làm lịch, đặt ra tháng nhuận và định bốn mùa. 
Các tác phẩm để kê cứu 
1) Phạm Quynh, tục ngữ ca dao. 
2) Phan Khôi, Tục ngữ phong dao và địa vị của nó trong văn học. Tao đàn tạp chí. 
3) Hoàng Ngọc Phách. Xét tâm lý người thôn quê bằng những câu hát. 
4) Minh Trúc, Hát quan họ, Trung Bắc Tân văn . 
5) Nguyễn Văn Huyên, Chants alternés des garcons et des filles en Annam, Paris, Geuthner. 
6) G. Gordier, Essai sur la littérature annamite; La chanson, La Revue Indochinoise 1920, Hanoi. 
7) Phạm Quỳnh, Le paysan tonkinois à travers le parler populaire, Nam Phong tùng thơ, Đông kinh ấn quán, Hà nội. 

Dương Quảng Hàm
(Ktk sưu tập)