Thứ Năm, 15 tháng 6, 2017

Long Thành Cầm Giả Ca

Truyện Kiều theo tài liệu lưu trữ, đã được Nguyễn Du làm trong thời gian đi sứ. Nếu đúng như vậy thì câu chuyện trong bài thơ chữ Hán Long Thành Cầm Giả  Ca này có lẽ là một trong những nguồn hứng để Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều




Tiểu Dẫn của Nguyễn Du


龍城琴者。不知姓氏。聞其幼年從學撥阮琴於黎宮花嬪部中。西山兵起。舊樂死散。其人流落市廛。挾技以遨。屬散部。所彈皆御前供奉曲。非外人所聞。遂稱一時絕技。余少時。探兄抵京。旅宿鑑湖店。其傍西山諸臣大集女樂。名姬不下數十。其人獨以阮琴聲擅場。頗能歌。作俳諧語。一坐盡顚倒。數賞以大白。輒盡。纏頭無算。金帛委積滿地。余時匿身暗中。不甚明白。後見之兄處。短身闊臉。額凸面凹。不甚麗。肌白而體豐。善修飾。淡眉濃粉。衣以紅翠綃裳。綽綽然有餘韻。性善飲。喜浪謔。眼矐矐。眶中無一人。在兄家每飲輒盡醉。嘔吐狼藉。臥地上。同輩非之。不恤也。後數載。余從家南歸。不到龍城若十年矣。今春將奉命北使。道經龍城。諸公辱餞于宣撫衙。畢召在城女樂。少姬數十。並不識名面。迭起歌舞。繼聞琴聲清越。迥異時曲。心異之。視其人。顏瘦神枯。面黑。色如鬼。衣服並粗布。敗灰色。多白補。默坐席末。不言亦不笑。其狀殆不堪者。不復知爲誰何。惟於琴聲中似曾相識。側然于心。席散。質之樂人。即其人也。嗟乎。是人何至此耶。俯仰徘徊。不勝今昔之感。人生百年。榮辱哀樂其可量耶。別後。一路上。深有感焉。因歌以托興。

Long Thành Cầm giả, bất tri tính thị. Văn kì ấu niên tòng học bát Nguyễn cầm ư Lê cung Hoa tần bộ trung. Tây Sơn binh khởi, cựu nhạc tử tán, kì nhân lưu lạc thị triền, hiệp kĩ dĩ ngao, thuộc tản bộ. Sở đàn giai ngự tiền cung phụng khúc, phi ngoại nhân sở văn, toại xưng nhất thời tuyệt kĩ. Dư thiểu thời, thám huynh để kinh, lữ túc Giám hồ điếm. Kì bàng Tây Sơn chư thần đại tập nữ nhạc, danh cơ bất hạ sổ thập. Kì nhân độc dĩ Nguyễn cầm thanh thiện trường. Phả năng ca, tác bài hài ngữ, nhất tọa tận điên đảo. Sác thưởng dĩ đại bạch, Triếp tận, triền đầu vô toán, kim bạch ủy tích mãn địa. Dư thời nặc thân ám trung, bất thậm minh bạch. Hậu kiến chi huynh xứ, đoản thân khoát kiểm, ngạch đột diện ao, bất thậm lệ, cơ bạch nhi thể phong, thiện tu sức, đạm mi nùng phấn, ý dĩ hồng thúy tiêu thường, xước xước nhiên hữu dư vận. Tính thiện ẩm, hỉ lãng hước, nhãn hoắc hoắc, khuông trung vô nhất nhân. Tại huynh gia mỗi ẩm triếp tận túy, ẩu thổ lang tạ, ngọa địa thượng, đồng bối phi chi bất tuất dã. Hậu sổ tải, Dư tòng gia nam quy, bất đáo Long Thành nhược thập niên hĩ. Kim xuân tương phụng mệnh Bắc sứ, đạo kinh Long Thành. Chư công nhục tiễn vu Tuyên phủ nha, tất triệu tại thành nữ nhạc, thiếu cơ sổ thập, tịnh bất thức danh diện, điệt khởi ca vũ, kế văn cầm thanh thanh việt, quýnh dị thời khúc, tâm dị chi. Thị kì nhân, nhan sấu thần khô, diện hắc, sắc như quỷ, y phục tịnh thô bố, bại hôi sắc, đa bạch bổ, mặc tọa tịch mạt, bất ngôn diệc bất tiếu, kì trạng đãi bất kham giả, bất phục tri vi thùy hà. Duy vu cầm thanh trung tự tằng tương thức, trắc nhiên vu tâm. Tịch tán, chất chi nhạc nhân, tức kì nhân dã. Ta hồ! Thị nhân hà chí thử da! Phủ ngưỡng bồi hồi, bất thắng kim tích chi cảm. Nhân sinh bách niên, vinh nhục ai lạc, kì khả lượng da. Biệt hậu, nhất lộ thượng, thâm hữu cảm yên, nhân ca dĩ thác hứng. 

Người gảy đàn đất Long Thành không rõ họ tên là gì. Nghe nói thuở nhỏ, nàng học đàn "Nguyễn" (đàn nguyệt ca do Nguyễn Hàm, người đời Tấn ở Trung Quốc chế ra) trong đội nữ nhạc ở cung vua Lê. Quân Tây Sơn kéo ra, các đội nhạc cũ người chết, kẻ bỏ đi. Nàng lưu lạc ở các chợ ôm đàn hát rong. Những bài nàng gãy đều là những khúc cung phụng gãy cho vua nghe, người ngoài không hề được biết, cho nên tài nghệ của nàng nổi tiếng hay nhất một thời. 

Hồi còn trẻ (1792-1793?), tôi đến kinh đô thăm anh tôi (Nguyễn Nễ), ở trọ gần Giám hồ (hồ Gương). Cạnh đó các quan Tây Sơn mở cuộc hát lớn, con hát đẹp có đến vài chục người. Nàng nỗi tiếng nhờ ngón đàn Nguyễn. Nàng hát cũng hay và khéo nói khôi hài, mọi người say mê, đua nhau ban thưởng từng chén rượu lớn, nàng uống hết ngay, tiền thưởng nhiều vô kể, tiền và lụa chồng đầy mặt đất. Lúc ấy tôi nấp trong bóng tối, không thấy rõ lắm. Sau được gặp ở nhà anh tôi. Nàng người thấp, má bầu, trán giô, mặt gẫy, không đẹp lắm, nhưng nước da trắng trẻo, thân hình đẫy đà, khéo trang điểm, lông mày thanh, má đánh phấn, áo màu hồng, quần lụa cánh chả, có vẻ phong nhã. Nàng hay uống rượu, hay nói pha trò, con mắt long lanh, không coi ai ra gì. Khi ở nhà anh tôi mỗi lần uống rượu thì nàng uống say đến nỗi nôn bừa bãi, nằm lăn ra đất, các bạn có chê trách cũng không lấy làm điều. 

Sau đó vài năm, tôi rời nhà về Nam (Thái Bình), mấy năm liền không trở lại Long Thành. Mùa Xuân năm nay (1813) tôi lại phụng mệnh sang sứ Trung Quốc, đi qua Long Thành. Các bạn mở tiệc tiễn tôi ở dinh Tuyên phủ, có gọi tất cả vài chục nữ nhạc, tôi đều không biết mặt biết tên. Chị em thay nhau múa hát. Rồi nghe một khúc đàn Nguyễn trong trẻo nổi lên, khác hẳn những khúc thường nghe, tôi lấy làm lạ, nhìn người gảy đàn thì thấy một chị gầy gò, vẻ tiều tụy, sắc mặt đen sạm, xấu như quỷ, áo quần mặc toàn vải thô bạc thếch, vá nhiều mảnh trắng, ngồi im lặng ở cuối chiếu, chẳng hề nói cười, hình dáng thật khó coi. Tôi không biết nàng là ai, nhưng nghe tiếng đàn thì dường như đã quen biết, nên động lòng thương. Tiệc xong, hỏi thì chính là người trước kia đã gặp. 

Than ôi! Người ấy sao đến nỗi thế! Tôi bồi hồi, không yên, ngửng lên cúi xuống, ngậm ngùi cho cảnh xưa và nay. Người ta trong cõi trăm năm, những sự vinh nhục buồn vui thật không lường được. Sau khi từ biệt trên đường đi, cảm thương vô hạn nên làm bài ca sau, để ghi lại mối cảm hứng.



Người Gẩy Đàn Long Thành
  

Thời ấy đất Long Thành đã có
Nữ cầm nhi không rõ họ tên
Nghe nói thuở nhỏ học đàn
Trong đội cầm nữ nhạc đoàn nhà vua.
Tây-Sơn đánh, Trịnh thua, Lê mạt
Đoàn nhạc công tản mác khắp nơi
Người thì lìa bỏ cuộc đời
Kẻ đi hát dạo ngược xuôi khắp miền.
Sở trường khúc ‘ngự tiền cung phụng’
Gẩy vua nghe, quần chúng chẳng hề 
Tiếng đàn thánh thót đê mê
Được coi đệ nhất tài ba một thời.
Đến kinh thăm anh tôi thời trẻ
Tôi trọ ngay ở kế Giám hồ.
Tây sơn mở yến tiệc to
Nữ nhạc kể đến hai ba mươi người.
Ngón nguyệt cầm một thời nổi tiếng
Giọng hát hay, khéo chuyện khôi hài
Say mê, điên đảo mọi người,
Đua nhau rượu thưởng chén vơi chén đầy.
Ngân nguyên tặng tung bay tràn ngập
Chồng chất đầy mặt đất lụa tiền 
Lúc ấy tôi phận đàn em
Nấp trong tối, chẳng biết tiền bạc chi.
Nhà anh tôi, có khi được gặp
Sắc trung bình, dáng thấp, má bầu
Trán giô, mặt gẫy, tóc dài
Thân tròn, da trắng cũng màu xuân xanh.
Má son phấn, mày thanh khéo họa 
Quần mầu xanh áo lụa phấn (nhạt) hồng
Nét người có vẻ văn phong
Rượu nồng, mắt khéo long lanh, pha trò.
Có hơi men chẳng hề suy nghĩ
Mắt ngáo ngơ có vẻ khinh người
Ngay tại nhà của anh tôi
Rượu say, nôn mửa, đưỡn dài nằm lăn.
Bạn chê trách, chẳng rằng, thây kệ
Chẳng giận hờn kể lể xin van
Vài năm, tôi trở về Nam
Chẳng hề trở lại Long Thành, mười năm.
Xuân này phụng mệnh sang Trung Quốc,
Có dịp may ghé được Long Thành
Mở tiệc ở Tuyên-phủ dinh
Tiễn đưa đông đủ thân tình, quan nha.
Gọi thêm cả xướng ca nữ nhạc,
Dễ đến vài ba chục, một đoàn
Tôi không biết họ biết tên
Chị em nhảy múa sáo đàn liên miên.
Bỗng một khúc đàn lên trong vắt  
Khác hẳn khi đôi lúc thường nghe
Lạ lùng đảo mắt nhìn xa
Tôi thấy người gẩy, gầy gò, nhọ nhem.
Vẻ xấu xí, áo quần thô bạc     
Vá đụp chằng, lệch lạc khó coi
Ủ ê, cuối chiếu yên ngồi
Chẳng rằng, chẳng nói, chẳng cười, buồn thiu.
Tôi chẳng biết là ai chăng tá,
Nghe tiếng đàn dường đã quen quen,
Tự nhiên lòng thấy cảm thương
Tiệc xong, mới hỏi, là nàng trước kia.
Ôi! Người ấy sao ra nông nỗi!
Tôi đứng ngồi bổi hổi, không yên
Trăm năm một kiếp đảo điên
Sướng khổ, vinh nhục, triền miên sao  lường.
Rồi từ biệt lên đường đi sứ,
Vấn vương còn nức nở tâm can
Kiếp người sao lắm gian nan!
Dạt dào cảm hứng tôi làm bài ca.
 Nguyễn Bá Triệu lược dịch, thể thơ 7768

Long Thành Cầm Giả Ca
(Tiểu Dẫn)

Người gảy đàn họ tên không rõ
Nghe phong phanh hồi nhỏ, Long Thành,
Học đàn loại Nguyễn trứ danh
Trong đoàn nữ nhạc kinh thành vua Lê
Tây Sơn ra tứ bề tan tác
Đội nhạc xưa người thác, kẻ ly
Hát rong giữa chợ qua thì
Khúc đàn Cụng Phụng uy nghi tột cùng
Chỉ vua chúa mới mong được hưởng
Loại thứ dân vất vưởng nào hay
Loạn ly mọi việc đổi thay
Tài riêng nàng mới nổi ngay nhất thời!
Đến thăm anh từ hồi trai trẻ
Nơi kinh đô trọ kế Giám hồ
Tây Sơn quan tướng hát hò
Ca nhi dăm chục líu lo, rộn ràng
Nàng  nổi tiếng gảy đàn loại Nguyễn
Giọng hát hay kể chuyện khôi hài
Người người điên đảo mê say
Tranh nhau ban thưởng rượu đầy không ngơi
Tay nâng chén một hơi uống tất
Tiền thưởng nhiều, lụa chất đầy sân
Đứng xa không dám tới gần
Tôi trong bóng tối khôn phân dáng hình
Tại nhà anh vô tình gặp gỡ
Nàng thấp người, mũi nhỏ, má đầy
Trán giô, mặt gẫy, tóc dài
Nước da trắng trẻo, hình hài tốt tươi
Khéo điểm trang, phấn dồi mi nhạt
Áo lụa hồng , xanh ngát quần tơ
Phong lưu rượu uống, pha trò
Long lanh ánh mắt, mập mờ nửa con.
Mỗi lần uống tới luôn say ngất
Mửa tứ tung, nằm đất ngả nghiêng
Bạn bè chê trách chẳng phiền
Cốt sao thỏa chí đảo điên hoang đàng
Tôi sau đó xuôi Nam một nhẽ
Mười năm liền chẳng ghé Long thành
Xuân này phụng mệnh sứ trình
Ghé qua chốn cũ ân tình rủ rê
Dinh Tuyên phủ bạn bè tiệc chúc
Mời phường ca cỡ chục đào nương
Tuổi tên không biết tỏ tường
Luân phiên ca hát một phương tưng bừng
Khúc đàn Nguyễn bỗng dưng chợt nổi
Dạ ngẩn ngơ bối rối dị thường
Ca nhân đen đúa bi thương
Gầy gò áo đụp vải vuông vá chằng
Nơi chiếu cuối võ vàng câm lặng
Chẳng nói năng, hình dạng khó coi
Tôi nào biết đó là ai
Tiếng đàn quen thuộc dâng đầy xót xa
Hỏi ai đó? bạn ta mới kể
Người quen xưa thất thế. Than ôi!
Ngửng lên, cúi xuống bồi hồi
Xưa, nay thương hải nỗi tôi ngậm ngùi
Cuộc trăm năm buồn vui, vinh nhục
Luôn đổi thay tùy lúc khôn lường
Xót xa vô hạn lên đường
Bài ca ghi lại bi thương não lòng!!!
Lộc Bắc
Juin17