Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

July 4 - Lời Tri Ân Không Bao Giờ Muộn Màng - Lê Xuân Mỹ


Mỗi năm, khi tháng Bảy trở về, lòng tôi lại gợn lên những cảm xúc thật đặc biệt. Đó không hẳn là niềm vui rộn ràng của một ngày lễ hội, cũng không hoàn toàn là nỗi hoài niệm muộn phiền của tuổi già. Nó giống như một khoảng tĩnh lặng để nhìn lại chặng đường dài đã qua, từ quê hương Việt Nam yêu dấu đến mái nhà thứ hai trên đất nước Hoa Kỳ

Tôi sinh ra tại Huế, lớn lên giữa những năm tháng đất nước còn chia đôi. Tuổi học trò của tôi trải dài từ cố đô ra Đà Nẵng rồi vào Sài Gòn. Đó là quãng thời gian đẹp nhất của tuổi trẻ, mà hôm nay mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn như nghe thấy tiếng trống trường rộn rã, tiếng ve kêu trong vòm lá mùa hạ và cả những giấc mơ rất đỗi hồn nhiên của một thế hệ lớn lên dưới bầu trời Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi đặt chân đến Mỹ vào mùa đông năm 1998, khi đã cận kề tuổi năm mươi. Cái tuổi mà phần lớn mọi người đã an yên, ổn định cuộc sống, còn tôi lại bắt đầu một hành trình mới nơi xứ lạ quê người. Hành trang mang theo chẳng có gì nhiều ngoài gia đình nhỏ với người vợ hiền, ba đứa con thơ, vài chiếc va-li sờn cũ và những ký ức đau buồn của một thời đầy biến động.

Mỗi khi nhìn những lá cờ Mỹ tung bay trong ngày 4 tháng 7, lồng ngực tôi lại dâng lên nỗi nhớ da diết về những ngày Quốc Khánh của miền Nam thuở trước. Ngày ấy, tôi là một học sinh trường trung học Phan Châu Trinh ở Đà Nẵng. Ngày Quốc Khánh 1 tháng 11 luôn là một ngày hội lớn của thành phố. Những lá quốc kỳ vàng ba sọc đỏ tung bay dọc theo các con phố lớn. Buổi tối rực rỡ đèn màu, rộn ràng tiếng nhạc. Là những học trò tuổi mới lớn, chúng tôi đâu hiểu hết những biến động của thời cuộc. Điều duy nhất còn đọng lại trong ký ức là niềm kiêu hãnh rất tự nhiên khi nhìn lá cờ quê hương ngạo nghễ trong gió, và cảm giác bình yên vô giá của một thời hoa niên.

Nhiều năm sau, khi sống trên đất Mỹ và chứng kiến ngày Độc Lập của xứ sở này, tôi lại thấy thấp thoáng đâu đó những hình bóng cũ của quê nhà. Vẫn là những lá cờ được trân trọng treo trước mỗi hiên nhà. Vẫn là những gia đình quây quần bên bếp lửa ấm cúng ngày lễ. Vẫn là niềm tự hào bình dị, tôn nghiêm về đất nước mà họ đang sống. Có lẽ vì thế mà mỗi dịp July 4, trong tâm tưởng tôi luôn hiện lên hai hình ảnh song hành: Một nước Mỹ hôm nay với rừng cờ sao sọc trải dài trên các con phố, và một miền Nam năm nào với sắc cờ vàng ba sọc đỏ khắc sâu trong ký ức tuổi trẻ. Hai hình ảnh thuộc về hai nửa cuộc đời, hai quê hương khác nhau nhưng đều gặp nhau ở khát vọng về tự do, nhân phẩm và một tương lai tốt đẹp hơn.

Biến cố năm 1975 đã đảo lộn số phận của biết bao gia đình, và nhà tôi cũng không ngoại lệ. Cha tôi, một sĩ quan Cảnh Sát, bị đưa vào trại cải tạo. Chuyến lặn lội từ Sài Gòn ra tận Vĩnh Phú xa xôi để gặp cha lần đầu, trớ trêu thay, lại là lần duy nhất. Chuyến đi thăm nuôi cùng mẹ lần thứ hai bốn tháng sau đó đã trở thành cuộc tiễn biệt ngàn thu. Ba tôi ra đi khi mẹ con tôi còn đang đứng ở khu vực chờ ngoài lán trại. Chuyến đi dài vất vả hàng trăm cây số từ Nam ra Bắc trở thành một vết cắt rớm máu, một ký ức đớn đau tột cùng.

Những năm tháng sau đó là chuỗi ngày u tối. Gia đình chìm trong thiếu thốn, lo toan. Chúng tôi học cách chấp nhận nghịch cảnh, chắt chiu từng cơ hội để tồn tại. Nhưng tận sâu trong tâm khảm, tôi luôn đau đáu một tâm nguyện: con cái mình sau này phải có một tương lai rộng mở hơn. Tháng 12 năm 1998, sau bao năm tháng mỏi mòn chờ đợi, gia đình nhỏ của chúng tôi cuối cùng cũng đặt chân đến Mỹ theo diện đoàn tụ ODP.

Có lẽ vì vậy mà ngày 4 tháng 7 năm 1999 tại Tulsa, Oklahoma, Quốc Khánh đầu tiên trên đất Mỹ đã khắc sâu vào lòng tôi một dấu ấn không bao giờ phai nhạt. Sáng hôm đó bước ra cửa, đập vào mắt tôi là những lá cờ Mỹ tung bay ngập tràn khu phố. Trẻ em ríu rít chạy chơi trên thảm cỏ xanh, người lớn rộn ràng chuẩn bị những bữa tiệc nướng ngoài trời. Không gian toát lên vẻ thanh bình và an vui. Tối hôm ấy, lần đầu tiên trong đời, tôi đi xem pháo hoa mừng Độc Lập Hoa Kỳ. Khi những chùm sáng đầu tiên bừng nở, rực rỡ trên bầu trời đêm, dòng người xung quanh reo hò thích thú. Riêng tôi thì lặng người đi. Nước mắt chực trào. Không hiểu sao lúc ấy tôi nghĩ đến cha. Tôi nghĩ đến những năm tháng đày ải ông phải chịu đựng nơi trại cải tạo. Tôi nghĩ đến những người đã nằm xuống dưới lòng đất lạnh, đến hàng triệu đồng bào đã phải bỏ lại tất cả, vượt biển, vượt biên để đi tìm sự sống.

Đó cũng là khoảnh khắc đầu tiên tôi chạm tay vào ý nghĩa thực sự của hai chữ "Tự Do". Không phải qua sách vở lý thuyết hay những bài diễn văn đao to búa lớn, mà qua chính những lát cắt bình dị nhất của cuộc đời: Một đất nước nơi người dân tự hào về tổ quốc một cách tự nhiên; một xã hội nơi con người có quyền nói lên suy nghĩ, quyền tự quyết định vận mệnh và quyền hy vọng vào một ngày mai tươi sáng.

Hai mươi bảy năm đã vùn vụt trôi qua. Thời gian đủ dài để một người đàn ông trung niên ngày nào giờ đã thành một ông lão tóc bạc phơ. Đủ dài để những đứa con thơ ngày ấy trưởng thành, lập gia đình và sinh cho tôi những đứa cháu ngoan. Đủ dài để một người tị nạn tìm thấy quê hương thứ hai của cuộc đời mình. Tôi đã may mắn có cơ hội làm việc trong ngành công nghệ cao tại Thung lũng Silicon danh tiếng. Tôi đã nuôi dạy các con khôn lớn bằng mồ hôi và nước mắt, và tự hào chứng kiến chúng đứng vững trên đôi chân của mình. Giờ đây, các cháu nội, cháu ngoại của tôi đang lớn lên trên mảnh đất tự do này. Chúng được học tập dưới những mái trường chất lượng, được tự do sải cánh theo đuổi ước mơ, điều mà thế hệ của ông bà chúng ngày xưa có nằm mơ cũng không dám nghĩ tới. Mỗi lần nhìn các cháu tung tăng chạy nhảy dưới bóng cờ Mỹ trong ngày Quốc Khánh, tôi lại nhớ cha. Tôi thầm nghĩ, nếu ở trên cao ông nhìn xuống, chắc chắn ông sẽ mỉm cười mãn nguyện. Những điều mà thế hệ của ông từng hy sinh, từng mong mỏi cho con cháu, nay đã đơm hoa kết trái ngọt ngào.

July 4 năm nay mang đến cho tôi nhiều xúc động hơn trước. Có lẽ vì đây là năm đầu tiên tôi đón ngày lễ này khi không còn cả cha lẫn mẹ trên cõi đời. Cha đi từ những năm đầu mất nước, còn mẹ tôi cũng vừa tạ thế ở tuổi chín mươi sáu, sau một đời truân chuyên gánh gồng những biến động của lịch sử. Sự ra đi của mẹ như một hồi chuông nhắc nhở tôi về sự vô tình của thời gian. Mới ngày nào còn là một người con nương tựa bóng mẹ, nay tôi đã là ông nội, ông ngoại. Mới ngày nào còn bỡ ngỡ đặt chân đến Mỹ, nay tôi đã gắn bó với nơi này gần ba thập kỷ. Có một điều tôi luôn chiêm nghiệm mỗi khi ngày Độc Lập Hoa Kỳ đến. Suốt hai mươi bảy năm qua, tôi đã chứng kiến biết bao sự đổi thay. Xã hội xoay vần, công nghệ bứt phá, đất nước chuyển mình qua nhiều đời tổng thống với những thăng trầm chính trị khác nhau. Nhưng đối với tôi, những điều ấy chưa bao giờ là chính yếu. Tôi không phải là một nhà chính trị hay một học giả tiếng tăm. Tôi chỉ là một người viết bình thường, mượn cây bút để ghi lại những thước phim chân thực của đời mình. Điều tôi nhìn thấy và chạm vào trong gần ba mươi năm qua không phải là những cuộc tranh luận nảy lửa trên truyền hình, những chia rẽ đảng phái, mà là lòng tốt dung dị của những con người quanh tôi. Đó là người hàng xóm da màu đã giúp tôi dọn sạch mái nhà phủ đầy tuyết trắng. Đó là người bạn da trắng xa lạ đã dừng xe, đẩy hộ chiếc xe chết máy của tôi trên freeway nắng cháy. Đó là những chiếc bánh cookies nóng hỗi của người hàng xóm già ngày đầu tiên đến ở tại Broken Arrow, Tulsa. Đó là cơ hội học hành công bằng của các con tôi. Đó là những người đồng nghiệp tuyệt vời đã cùng tôi sẻ chia công việc suốt nhiều năm tại KLA-Tencor. Và đó là tất cả những người bạn Mỹ, bạn Việt đã trở thành một phần máu thịt trong cuộc sống của tôi.

Tôi hiểu, không có một quốc gia nào là hoàn hảo tuyệt đối. Vẫn còn những bất an, vẫn còn những điều không vừa ý, vẫn còn những dị biệt, bất công. Nhưng lòng biết ơn thì không cần sự hoàn hảo. Người ta biết ơn vì những giá trị nhân văn mà mình nhận được. Tôi biết ơn nước Mỹ vì đã mở rộng vòng tay bao dung đón nhận những người tị nạn như chúng tôi. Tôi biết ơn nơi này vì đã trao cho tôi cơ hội làm lại cuộc đời ở cái tuổi gần ngũ tuần. Tôi biết ơn vì các con tôi có tương lai, các cháu tôi được hít thở bầu không khí tự do. Và quan trọng hơn hết, tôi biết ơn nước Mỹ vì đã trả lại cho tôi phẩm giá và quyền được sống như một con người bình thường.

Tối nay, khi những chùm pháo hoa lại rực rỡ thắp sáng bầu trời California, tôi biết trái tim mình sẽ hướng về cha mẹ với niềm thương nhớ khôn nguôi. Tôi sẽ nhớ về mảnh đất quê hương Việt Nam nơi chôn nhau cắt rốn, nhớ về những năm tháng gian khó đã lùi xa vào quá khứ. Hai mươi bảy năm trước, tôi đứng dưới bầu trời Oklahoma, nhìn những chùm pháo hoa đầu tiên bằng đôi mắt ngơ ngác, âu lo của một kẻ mới đến. Hôm nay, tôi đứng dưới bầu trời California, ngắm nhìn những vệt sáng ấy với mái đầu đã bạc trắng thời gian, với tâm thế một người Mỹ gốc Việt. Năm tháng có thể lấy đi tuổi trẻ, nhưng có một điều mãi mãi vẹn nguyên trong lồng ngực này: lòng biết ơn sâu sắc đối với đất nước đã cưu mang gia đình tôi, cho chúng tôi cơ hội đứng dậy từ những đổ nát, mất mát của lịch sử để kiêu hãnh bước tiếp bằng niềm tin vào ngày mai.

Đối với tôi, ngày 4 tháng 7 không đơn thuần là ngày sinh nhật của nước Mỹ. Đó là ngày của ký ức, của sự tri ân và của niềm hy vọng. Niềm hy vọng mà gần ba mươi năm trước tôi mang theo trong chiếc va-li di cư, và đến hôm nay, khi nhìn lại hành trình đã qua, tôi biết mình đã đặt niềm tin đúng chỗ. Thời gian đã thay đổi rất nhiều điều, nhưng có một điều vẫn còn nguyên vẹn trong lòng tôi về đất nước này, một lời tri ân không bao giờ là muộn màng.

Lê Xuân Mỹ
San Jose 2026

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét