Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Cách Mạng Mỹ Và Cách Mạng Pháp - Nguyễn Tiến Cảnh


Nhân ngày quốc khánh Hoa Kỳ 4 tháng 7, kỷ niệm 250 năm ngày Hoa Kỳ lập quốc, thử bàn về những cuộc cách mạng Mỹ và Pháp xem có gì khác nhau không. Người ta nói cách mạng Hoa Kỳ mang lại Tự Do nhưng cách mạng Pháp đem lại Bạo Động. Tại sao?

George Washington và Lafayette tại Valley Forge, ảnh John Ward Dunsmore

Quận công Lafayette viết năm 1781 ngay sau chiến thắng Continental của quân đội tại Yorktown: “Nhân loại hiện đang phải lãnh chịu một vụ kiện. Sẽ không bao giờ có Tự Do nếu không có tỵ nạn – Liberty will never more be without an asylum.” Ông tin rằng ông đã từng chứng kiến một biến cố mà cả thế giới sau này sẽ bắt chước và mô phỏng theo: con người sẽ tự co cụm lại để tránh bạo chúa hành hạ vì họ luôn luôn ước mong như vậy.

Trong một thập niên ông Tây này đã bị buộc phải đi lưu đày ra khỏi quê hương mình, nơi mà nó đã xé nát tâm can ông và ngăn cách ông dưới cái danh nghĩa của chính những lý tưởng mà câu ví dụ đã giúp ông có được cảm hứng, để rồi ông có thể sống qua những năm tháng ấy ở một nhà tù tại nước Áo.

Kỷ niệm 250 năm độc lập của Hoa Kỳ là cơ hội để mừng cái tình bạn bè thân hữu lâu dài giữa người Pháp và người Mỹ. Nó cũng là cơ hội để nói đến một vấn nạn mà chúng ta không thấy trong những lễ hội kỷ niệm niệm chính thức này: Những cuộc cách mạng Pháp và Mỹ có thực sự là những biến cố có cùng một bản chất không cho dù xa cách nhau về thời gian và không gian địa chính trị?

Những người đã từng sống trong cả hai không gian và thời gian đó đều biết câu trả lời. Nhiều sĩ quan người Pháp mà vua Louis XVI đã gửi qua Đại Tây Dương/Atlantic để chiến đấu cùng với những quân thuộc địa nổi dậy đã cảm thấy mình đang đứng về phía bên kia của hàng rào giới tuyến ngăn cách khi mà cuộc cách mạng bùng nổ ngay chính nơi quê hương mình (1789-1799) – bị quật ngã, bỏ tù và hành quyết bởi một chế độ đã tự tuyên bố coi mình là con cháu giòng dõi hợp pháp và chính danh của nền tự do mà họ đã chiến đấu ở Hoa Kỳ.

CHÍNH TRỊ VÀ Ý THỨC HỆ

Sử gia Reynald Secher là một trong những học giả của Pháp thuộc phong trào phản cách mạng và là tác giả cuốn sách A French Genocide: The Vendée, đã nói: “Người ta thường sai lầm khi so sánh hai cuộc cách mạng. Cách mạng Hoa Kỳ có chủ đích giải phóng mình khỏi sự kìm kẹp bảo hộ của vua Anh – một thứ đô hộ buộc phải cam kết hoàn thành nhiệm vụ thuế má đất đai và tiền bạc. Về căn bản thì phe nổi dậy và những người làm cách mạng không đi vào căn tính của bản chất xã hội.”

Nước Pháp thì hoàn toàn khác -Secher quả quyết và diễn nghĩa: “Những cuộc cách mạng đã có những chương trình đặc biệt chủ trương hủy bỏ thần quyền và truyền thống cùng trật tự xã hội để thay thế bằng một thế giới mới, trật tự mới, bộ mặt mới với con người mới.”

Ngoài ra ông cho rằng cuộc cách mạng ở Hoa Kỳ thì bản tính là chính trị - nhằm phá vỡ cái triều thiên vương miện ở xa đã từng đạp lên quyền lợi của người dân - trong khi cách mạng Pháp lại hoàn toàn có tính ý thức hệ. Theo cái nhìn của Secher thì đó là kế hoạch biến đổi căn bản nhắm vào tất cả mọi sự vượt quá cả tầm kiểm soát trong đó có vấn đề niềm tin / đức tin của người dân bình thường.

“Hiến pháp dân sự dành cho hàng giáo sĩ, việc bách hại có hệ thống đối với các linh mục luôn luôn kháng cự, và việc cưỡng bức phi Kitô hóa toàn bộ các vùng và miền không chỉ là những hành vi vượt quá của phong trào này, Secher khẳng định, mà là hệ quả tất yếu của nó. Chiến dịch chống lại đức tin Công giáo ấy cũng dẫn đến việc xử tử công khai 16 nữ tu Camêlô ở Compiègne trong thời kỳ Khủng bố năm 1794, vì họ từ chối không chịu từ bỏ ơn gọi tu trì của mình.”

Vua Louis XVI đã tham gia cuộc chiến ở Hoa Kỳ vì những lý do mang tính chiến lược nhiều hơn là triết lý. Chiến tranh Bảy Năm (1756–1763) đã khiến nước Pháp mất đi một đế quốc thuộc địa đầu tiên của mình, và việc hỗ trợ lực lượng nổi dậy là một cách để trả đũa người Anh.

Nhưng những gì các sĩ quan được phái sang bên kia Đại Tây Dương mới được khám phá đã để lại nơi họ một ấn tượng sâu sắc khó quên. Họ bắt gặp một xã hội với con người khao khát tự do dân chủ nhưng không vì thế mà phá bỏ trật tự thế giới trong đó họ đang sống. Các nhà thờ vẫn hoạt động, và các thiết chế địa phương vẫn giữ nguyên được sức sống của mình, thậm chí còn đóng vai trò then chốt trong tiến trình giành độc lập. Chính cái trải nghiệm về một nền tự do có trật tự và bén rễ sâu xa ấy đã là những gì giúp họ có được để mang về quê hương họ. Và chính trong thời gian này, khi thời cơ đến, họ có thể nhận ra được sự đối kháng.

NHỮNG KHÁC BIỆT

Pháp quốc đã chính thức liên minh với người dân Hoa Kỳ nổi dậy vào năm 1778. Trong số những sĩ quan được bố trí cùng với những người Mỹ sau này đã trở thành những nhân vật biểu tượng là những người lãnh đạo quân đội chống lại Cách Mạng Pháp. “Trong thực tế” -Secher ghi nhận- “phần lớn các sĩ quan Hải Quân của Hoàng Gia Pháp đã chối bỏ cuộc cách mạng ở chính quê hương mình, đã đưa đến hàng loạt nhân vật từ chức và nhiều người bị đưa đi lưu đầy xa xứ.

Có lẽ một trong trong những hình ảnh rõ nét nhất về cái nghịch lý này là nhân vật Armand Tuffin de La Rouerie. Một nhà quí phái và là bạn thiết thân với Tướng George Washington, ông nổi bật và xuất sắc khi chiến đấu ở Hoa Kỳ, đã tạo thành một hình ảnh lừng danh là tay chỉ huy can trường đầy quả cảm.

“Là một dân biểu nghị sĩ và là con cháu thuộc giòng giống gia đình nổi tiếng, lại là một tay nổi loạn đã đứng lên chống lại chính cái thế giới của mình -thế giới của truyền thống- nhân danh tự do cá nhân và tập thể,” Sécher cắt nghĩa như vậy. “Quả là hợp lý khi ông đi theo quân nổi loạn Hoa Kỳ.”


Tuy nhiên khi vừa đặt chân lên quê hương nơi chôn rau cắt rốn, một lần nữa thực tế cay đắng lại đổ ập lên đầu ông.

“Ngay lập tức ông hiểu rằng cách mạng đang đi trên đường trái với luật tự nhiên - và chỉ có đấng có uy quyền duy nhất đầy đủ khả năng bảo đảm mọi sự và là vị phù trợ luật tự nhiên này mới là vua chính của một chế độ quân chủ thực sự.”

Ông đã tổ chức đội ngũ kháng chiến ở ngay trong tỉnh thành nơi ông sinh ra và thiết lập phong trào phản cách mạng mà sau này được biết có tên là Chouannerie.

Một cựu chiến binh khác của các chiến dịch tại Mỹ, François‑Athanase de Charette de la Contrie, về sau trở thành nhân vật biểu tượng nhất của cuộc phản cách mạng Vendée. Năm 1793, viên sĩ quan hải quân Pháp này được nông dân Vendée tìm đến, xin ông lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của họ chống lại một nền cộng hòa đang đóng cửa các nhà thờ của họ và bắt con trai họ đi lính. Đạo quân mà ông chỉ huy tự xưng là Đạo quân Công giáo và Hoàng gia.

“Ông không chiến đấu cho chế độ quân chủ vì hoài niệm,” -Sécher nhấn mạnh, “mà đối với ông, vì đó là thể chế phù hợp nhất để bảo vệ các luật lệ & quyền tự nhiên đã được thiết lập bởi Đức Kitô, Thánh Tôma Aquinô, và Tuyên ngôn quốc tế Nhân Quyền. Đây chính là một nghịch lý mà những người chiến đấu đương thời của ông đang cố công vật lộn để hiểu và nắm giữ được vấn đề.”

Theo Hòa ước La Jaunaye năm 1795, những điều khoản ông giành được cho người Vendée hoàn toàn rõ ràng không có gì là mờ ám: tự do thờ phượng và miễn trừ nghĩa vụ quân dịch – tức là bảo vệ các quyền lợi phong tục địa phương và các tự do cá nhân ngược lại cách mạng mà -theo kinh nghiệm của ông- nó đồng nghĩa với việc phi Kitô giáo hóa, tập trung quyền lực một cách độc đoán, và cưỡng bách quân dịch áp đặt lên nông thôn. Ông đã bị bắt và bị xử tử bởi chính quyền cộng hòa vào năm 1796.

Câu chuyện này hiện vẫn còn in hằn trong ký ức một số người. Tại Puy‑du‑Fou, công viên lịch sử nổi tiếng ở Vendée, nơi sử thi / huyền thoại về Charette đã được tái xuất hiện hằng năm trước hàng trăm ngàn du khách, Nicolas de Villiers – người mà cha ông là Philippe, là nhà sáng lập công viên, đã xem mình là hậu duệ của các chiến binh Vendée da Trắng – đã treo trong văn phòng một tờ chứng nhận rằng gia đình ông thuộc về ‘Những Người Con và là hậu duệ của Cuộc Cách mạng Mỹ.’ Điều nghịch lý này, xem ra có vẻ như chưa bao giờ cần được giải thích.

PHÁN QUYẾT CỦA BURKE

Không ai trong thời đại ấy đã thấu hiểu và nắm bắt được chiều sâu thần học và sự quan trọng chính trị của biến cố hơn Edmund Burke, một trong những trí tuệ sáng chói nhất của thế kỷ ông, ngay từ năm 1790. Một nhà tư tưởng, bình luận kiêm triết gia Ái Nhĩ Lan – một người đã hết lòng bênh vực các thuộc địa Mỹ trong Quốc hội Anh, dù ông không tán thành việc họ tách ra khỏi độc lập hoàn toàn – đã bàng hoàng trước những gì ông chứng kiến ở Pháp. Trong mắt ông, cuộc cách mạng ấy không chỉ là một biến động chính trị, mà là một sự đoạn tuyệt với ordo – trật tự luân lý và thiêng liêng vốn đã từng nâng đỡ nền văn minh Kitô giáo. Ông đã vô cùng thất vọng trước những gì ông chứng kiến ở Pháp, xem cuộc cách mạng như một cáo chung của tinh thần hiệp sĩ và sự suy tàn của nền vinh quang Châu Âu.

Ông viết trong tuyển tập những suy luận về Cách mạng ở Pháp / Reflections on the Revolution in France, rằng: “Những người làm cách mạng đang đặt tương lai của mình vào chỗ nguy hiểm vì họ đã không biết bảo vệ và gìn giữ những di sản thiêng liêng của tổ tiên họ, trái ngược với người Mỹ, theo ông họ đã hành sử một cách khôn ngoan và khiêm cung hơn. Burke đã phát biểu rất hùng hồn và dứt khoát bằng lời nói và việc làm mà nhiều nhân vật như La Rouerie và Charette đã thấu hiểu qua những kinh nghiệm thực tế sống giữa lòng dân tộc, rằng tự do không thể tồn tại nếu bị tách khỏi truyền thống đạo đức, khỏi luật tự nhiên, và khỏi trật tự luân lý mà Thiên Chúa đã khắc ghi vào tâm hồn con người.

“Các ông đã khởi đầu quá tệ hại” -ông viết, “bởi vì các ông khi bắt đầu đả tự khinh miệt mọi thứ thuộc về chính mình. Các ông mở thương cuộc mà không có tiền, đi buôn mà không có vốn.” Đối với Burke, tự do không phải phóng túng mà là một ân huệ đòi hỏi có kỷ luật nội tâm, tự do tách rời khỏi khuôn phép đạo đức đương nhiên sẽ suy yếu đi và bị hủy hoại: “Trong trật tự vĩnh cửu của vạn vật, người có tâm trí vô độ thì không tài nào có thể có tự do. Vì chính những đam mê của họ đã rèn luyện thành những xiềng xích trói chặt cổ họ.”

Đây là trực giác sâu sắc mang âm hưởng thánh Augustin: Con người chỉ thật sự tự do khi linh hồn được đặt trong một trật tự đúng, khi các đam mê biết quy phục lý trí, và lý trí được phục tùng Thiên Chúa. Và cũng là tinh thần của Aquinas: tự do không phải là khả năng làm bất cứ điều gì, mà là khả năng hướng về điều thiện.

KẾT

Những suy tư này, sau 250 năm, vẫn còn vang vọng như một lời cảnh tỉnh cho thời đại chúng ta.

Điều khác biệt giữa Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp, trên hết, là quan niệm về một loại tự do mà các xã hội Tây Phương hôm nay buộc phải chiêm nghiệm lại: rằng tự do không có cội rễ, không có di sản, và không có trật tự luân lý – không được bám rễ neo chặt vào luật tự nhiên và sự Thiện tối hậu – thì chỉ là khúc dạo đầu của bạo quyền và thảm khốc.”

Fleming Island, Florida
July 3, 2026
Nguyễn Tiến Cảnh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét