Còn đâu khoảng mươi ngày nữa là đã hết năm 2025. Vậy là thêm mươi ngày nữa là trọn 50 năm buổi tan trường không tính trước. Lần đó, cây điệp già ở một góc sân chưa kịp đơm hoa, tập vở còn đầy trang bỏ trống...
Và như vậy cũng là thêm mươi ngày nữa là đủ tròn 25 năm buổi tái ngộ của những người không hẹn ước, sau 25 năm mịt mù bóng chim tăm cá. Lần đó, ngay giữa xứ người chẳng chút ruột rà, y như một bầy chim vở tổ, dẫu bạt gió ở đâu đâu, dưng không rồi cũng tìm được lối quay về... Buổi đó có rất nhiều tiếng cười. Và không ít tiếng khóc. Thật ra, những giọt nước mắt lần đó chỉ là hoa trái của một mùa màng quá đổi nghịch thường. Niềm vui quá độ biến thành nỗi nghẹn ngào. Vâng, đời sống quả ư là kỳ hoặc. Người ta như những con rối quay cuồng theo một lực kéo siêu nhiên. Dẫu có nấn níu cách mấy rồi cũng xuôi tay. Vậy đó mà bỗng dưng tay bắt mặt mừng.... mà nước mắt rưng rưng !
Cuộc đời quả là bí hiểm !
50 năm trước, lịch sử xoay chiều. Cả một dãy đất phía Nam chuồi vào bóng tối. Kẻ sa vào địa ngục. Người lặn lội thiên nhai. 5 năm. 10 năm. 20 năm. 25 năm. Thời gian lẵng lặng xuôi theo từng ngày. Từng ngày một. Mạnh ai nấy bương chải. Bặt tăm. Biệt tích. Cả một chuổi dài hình xưa bóng cũ lặng lẽ trở thành kỷ niệm. Thứ kỷ niệm nhét cất kỹ trong từng ngõ ngách của trí nhớ, thứ trí nhớ thường hay bội phản. Thế giới mở ra, rộng đến hết cở. Người đi, đi tới chỗ mới mà chẳng biết rồi ra thế nào, chỗ mới. Quê hương khóa lại, bít bùng. Người ở lại, ở lại chỗ cũ mà cũng chẳng biết rồi ra thế nào, chỗ cũ.
Vậy đó mà hai mươi lăm năm trôi qua. Có lần ở một nơi không phải quê nhà, buồn tình thả rong ngọn bút mà rằng “ hai mươi lăm năm nói nghe gọn bâng như một hơi thở hắt mà thật ra hai mươi lăm năm dài lắm, dài dằng dặc”... tới nỗi không biết phăng đâu ra đầu giây mối nhợ, những thân tình đã có lúc tưởng chừng như ruột thịt. Nói dưng không thì nghe ra như thần thoại mà thật tình thử hỏi đã có mấy ai liệu được sẽ có một ngày... một ngày tung tóe thân sơ như đám lá thu cuối mùa gặp ngày gió lớn. Những chiếc lá, vâng, những chiếc lá một khi lìa cành y như gởi mình vào cõi vô định. Lề đường. Hè phố. Bãi cỏ. Bờ sông. Và tệ hơn nữa có những chiếc rơi xuống giữa dòng, nước cuốn phăng chẳng biết đâu là bờ bến. Và con người, con người sau cơn đại nạn, đã có khác gì những chiếc lá kia đâu. Thảm cảnh của người ở lại. Và thảm cảnh của những kẻ ra đi... Đã có biết bao nhiêu chuyện buồn không muốn nhớ. Vậy sao muốn quên mà làm như cứ lại không đành.
Cả một thời nhiễu loạn khi súng đạn chỉ mới vừa im tiếng thì ác tính lại được thời lên tiếng. Những trại giam bên trong rào gai. Và những trại giam không rào cản. Người ta sống thu mình như những con ốc ma. Lắm khi, quen biết cũng làm ra mặt lạ.
Từ đó, người ta mất nhau như bọt bèo khi trời làm sóng gió. Người chết đã chết. Kẻ cùm gông đã mất dấu trong những trại giam. Lơ láo sót lại, người lội bộ băng rừng, rừng chông gai rắn rít. Người ngộp thở dưới những hầm ghe sông đi biển, biển sóng dập gió vùi ganh đua với cướp bóc. Vậy mà ai bỏ đi được thì đi, sống chết cách nhau chưa đầy một hơi thở hắt.
Vậy đó mà người ta mất nhau. Cha mẹ con cái, anh em bạn bè, thầy trò như những mảnh tinh cầu thất lạc sau cơn nổ hồng hoang. Vũ trụ thì vốn không bờ không bến. Đã tưởng là vĩnh quyết.
Phải vậy thôi đâu. Thảm kịch chỉ một lần mà hậu quả thì vô tận. Người kẹt lại, dẫu sống phần xác mà hồn coi như đã chết. Người bỏ đi dẫu xém qua bờ cõi chết có vói được tới đất sống, rồi vẫn sống với hồn đã chết, như vốn đã từ khi.
....................................................
...............................
...........
Xảy cái, sau chín-ngàn-một-trăm-hai-mươi-lăm ngày đêm biền biệt, qua một cuộc điện thoại viễn liên người ta nghe lại một vọng âm của quá khứ. Tiếng hỏi han, nghèn nghẹn... Rồi rủ rê, ân cần...
Em xa đâu, bỗng gọi. Hun hút mấy tầng đời...
Đã 25 năm qua từ sau cơn thất tán, mọi thứ của cải trong hồn hao hớt đến gần như trống hoác kiểu như kẻ bị tán gia bại sản. Nhất là thứ có thời đã được tôn vinh là giá trị tinh thần. Từ mớ chữ nghĩa đã được tổ tiên chắt chiu suốt mấy ngàn năm chật vật đến mớ kiến thức bá nạp học lóm tứ phương bỗng chốc rồi như hết xài. Sau cơn vật vã của tù đày thân xác và lộn lạo văn minh của đời tị nạn, lòng rồi rỗng như không. Cùng với thứ mặc cảm vong quốc của kẻ thất phu, đã bỏ đám đông, chọn về sống ở một ngoại ô, thưa thớt người quen nhiều kẻ lạ. Ra đường, vẫn thường hay cúi mặt, lách mình mà đi. Ngày mười, mười một, mười hai tiếng đồng hồ vật vã kiếm ăn, đêm về y như có lần đã bộc bạch... đêm-về-gối-đầu-lên-sầu-mà-ngủ.
Vậy đó mà ngày tháng kéo nhau qua lũ lượt. Cái mất thì đã mất. Chút cặn cáo cũng héo hắt rồi rơi rụng theo từng bước quẩy mặt của thời gian. Tưởng đã phận bày. Vậy mà sao rồi chỉ một lời thăm hỏi lẫn chút ngại ngần, dưng không như dựng lại cả một thời thân ái cũ. Ờ những-ngày-thân ái-cũ tưởng đã đoạn đành. Vậy mà mấy chốc, cả một chuổi kỷ niệm đã hóa thạch bỗng như động đậy, rượt đuổi ngược thời gian, kêu réo, gọi bầy... Hóa ra mớ hình sương bóng khói vẫn lúc thúc theo quanh, chỉ chực hờ khều gọi...
Cũng lạ, có ngắn ngủi gì đâu, đã hai mươi lăm năm... một phần tư đời người nếu nói như người xưa... trăm năm một kiếp. Vậy mà rồi rộn rã như mới hôm qua hôm kia. Cả một dãy quá khứ chìm đâu không biết khi không rồi quẩy sóng trồi lên. Từ cái thời làm học-trò-không-sách-vở-cầm-tay đến lúc làm thầy cũng không-trên-tay-sách-vở. Từ “hippy” đến “bụi đời”, từ những ngày “trốn học” đến những ngày “dạy học”, từ “lề đường” đến “bục giảng” rồi lại “lề đường”... làm như mỗi thứ đều có chỗ đứng của nó. Nhất là mỗi thứ làm như là ruột thịt của nhau, thứ này là đầu mối của thứ kia dẩn tới thứ nọ. Cả một quá vãng trổi dậy, kêu đòi... hãy sống lại, dù sao. Rồi như một hệ thống dây chuyền... Chuyện không đầu không đuôi nối nhau thành... chuyện. Lớn lên giữa thời súng đạn mà vẫn cặp kè sách vở. Đã vậy còn được hưởng không ít hoa trái của cuộc đời. Suốt một tuổi mới lớn không phải con nhà giàu mà cứ làm như... công tử không bằng. Chuyện học hành thi cử thì coi như cũng vừa vừa phải phải. Ngược đời là cứ mê hai tiếng “bụi đời”, thích đi lang bang cho ra vẻ giang hồ, kết giao với mấy tay du côn.... mà trong đầu thì cứ chăm bẩm lời thầy cô và cha mẹ. Vậy mà mọi sự rồi cũng hanh thông. Kể cả ba cái chuyện nhằn nhện, lấp ló ở bên ngoài cửa lớp.
Cho đến lúc phải trả bớt nợ đời rồi ra cũng không hổ thẹn. Dẫu lắm khi quen tật bung thùa, cũng đã hết lòng làm cái việc mà hồi xưa gọi là gỏ-đầu-trẻ. Giữa một đám gái-trai chưa đủ lớn mà không còn nhỏ, đem mớ văn thơ và triết lý cũ mèm, chữ nghĩa và ý tình chẳng ăn nhằm gì hết với thực tế của thời súng-đạn-lên-ngôi... Rõ là rù quến em út lãng quên thực tại với đủ thứ sắt máu mà cái đám-người-lớn đã bày ra bất kể. Cho dẫu có vẻ viễn vông, ít ra thầy trò cũng có đôi lúc... thoát trần, tạm quên đi tiếng mìn, tiếng súng nổ dòn như tiếng rủa xả, tiếng la ó biểu tình của đám sinh-viên-phản-chiến-no-cơm-rửng-mở ở Sài Gòn, cũng như tạm quên đi cái chợ gạo-châu-củi-quế ở ngay bên ngoài cổng trường... Kể ra cũng có thể coi như là những... giờ-ra-chơi ngay giữa thời-buổi-của-những-kẻ-sát-nhân*. Thầy trò mặc tình mà mơ mộng, lội ngược thời gian, quay về với ba cái thế kỷ đã xa mù xa mịt... Thầy trò đã dắt nhau tìm về chiêm ngưỡng những tài hoa của dân tộc, đã cùng nhau chắt chiu cái ĐẸP cái THIỆN ngay giữa lúc cái ÁC cái XẤU đang ngày đêm quậy phá. Giữa những cặp mắt vừa hết ngây thơ nhưng chưa hề dày dạn, láp lánh một niềm tin sáng lán đã làm phát khởi những bài giảng hết lòng... Từ đó, những năm đó dẫu đã hai mươi lăm năm qua vẫn đủ sức gợi lại miếng ngọt ngào của tiếng “dạ thưa” trong và ngoài lớp học, đủ nồng để mặn lại giọt nước mắt buổi bất ngờ gặp thầy cũ vừa được thả ra khỏi trại tù-cải tạo, đủ hồn nhiên để sống lại một niềm tin đã gãy đổ từ sau buổi tan trường lần chót... Ờ mà kể sao cho hết những ân tình ân nghĩa đã nhận lại dù thời gian đứng trên bục giảng đếm chưa quá năm ngón tay. Kể cả từ đất đai sông nước và người địa phương, ngay sau lúc buổi giặc về ! Bấy nhiêu đó đã đủ chưa để thu xếp một chuyến đi. Đi-tìm-lại-thời-gian-đã-mất ! **
Ngày đó, tháng đó, năm đó, ở một thành phố có nắng vàng và biển xanh, dẫu đã mòn gót lưu vong vẫn còn hoi hóp chút niềm tin lãng mạn, người thầy chỉ mới có 5 năm thâm niên dạy học đã “được”cải tạo ngót 700 ngày đêm vì dạy-học-trò-đậu-tú-tài-để-đi-sĩ-quan-đánh-phá-cách-mạng”, cộng thêm hai mươi năm lang bạt xứ người, đã quày quả đi tìm lại quá khứ. Trong sự xúc động tột cùng.
Buổi đó, phố xá không quen mà sao chừng không lạ. Ngoảnh đi ngoảnh lại rồi ai nấy như cũng quen nhau. Sau 25 năm hồn-ai-nấy-giữ, những phận đời lưu lạc tứ phương đã tìm về, rộn rã không khác gì buổi tựu trường xưa khi đời chưa dâu bể. Phút chốc họ như sống lại tuổi thời gian đẹp nhất của một đời người. Mặc kệ hai mươi lăm năm trễ nãi, lòng họ bỗng chốc như quày lại tức khắc thời học trò áo trắng. Phút chốc như sạch trơn mọi oan khuất, mọi tức tưởi. Phút chốc như chỉ có những buổi sáng buổi chiều ở một thị trấn ven biển, nơi có những bầy hải âu cánh trắng bay tới bay lui... Và nhất là có ngôi trường trung học ở cuối một con đường vắng hoe, xuyên qua một cánh đồng trống gió. Hôm đó, ở một góc công viên thành phố, những cặp mắt thiếu nữ xưa đã bớt vẻ rụt rè, những mái tóc dài bỏ lửng đã được cắt ngắn, những vóc dáng tre non liến thoắng đã biến mất thay vào đó là những cử chỉ điềm đạm, dáng dấp chững chạc của người đàn ông trưởng thành. Ở đó, dẫu vậy, hiện tại vụt biến mất nhường chỗ cho dĩ vãng. Thứ dĩ vãng của hoa của bướm, của hồn nhiên tiếng cười, của chân tình tiếng khóc...
Phúc chốc, những đời lưu lạc như được bước lại trên từng thước đất quê hương, nơi sân trường có hàng cây khuynh diệp, có dãy hành lang hút gió, có hàng quán bán xoài chua cốc ổi, có tiếng chuông reo đổi giờ, có góc khuất nhét vội tay ai lá thư tình thứ nhất... Phút chốc, những bài học Toán, Lý Hóa... hóc hiểm, những giờ Văn Triết Sử lê thê... bỗng dưng rồi như những dấu ấn đã mờ mà sao còn vướng vít lại đôi ba vết tích... Từ đó là một cuộc trở về, chung bước.
Từ đó, họ trải lòng ra không ngần ngại. Họ đón nhận nhau như chưa lần mất nhau. Những kỹ niệm chung rồi làm động lòng riêng không ít. Những giờ học dài như không dứt, giờ ra chơi ngắn như một tiếng chuông reo. Những vui buồn hờn giận, những ngún nguẩy làm duyên, những mơ mộng nửa vời... Và bữa học cuối không ai kịp nói lời từ giã... Lẫn lẫn trong đó thứ tình bạn tình người trong sáng nhất mà không dễ gì tìm lại được trong suốt phần đời còn lại. Phút chốc, họ như muốn cho hết, nhận hết... những gì mà lịch sử đã cướp mất.
Buổi đó, trong cái rộn rã đến bồi hồi của một hồn riêng sớm cỗi, người thầy cũ đã gặp lại chính mình, một nửa của đời chưa dâu bể và một nữa của phế tích tang thương.
Trong sự xúc động tột cùng giữa tiếng cười rộn và nước mắt lặng, có lúc bỗng thoáng dậy một ý thơ... cũ mèm mà sao cứ máy động không thôi. Em-đến-bên- ta... Tưởng vậy thôi mà rồi chữ nghĩa đâu lại níu kéo nhau. Em-kể-cùng ta... Thơ tới bất ngờ không giấy bút. Cứ vậy mà lải nhải trong đầu. Hẹn-nhau... Ai đời giữa những dĩa đồ ăn thơm phức, mùi rượu đỏ nồng nàn và tiếng cười nói vang vang, chữ nghĩa cứ như chơi trò cút bắt, thúc hối, vói níu... để rồi sau cùng kết thúc trong buổi dạ tiệc đãi đằng nhau, trước khi chia tay... lần nữa. Em-đến-bên-ta- đêm-tái-ngộ / Ngập-ngừng-sợ-động, vở-chiêm-bao... Hẵn là đã có một cái ngắt nhéo nào đó vào thùy não trái vốn đã lì lợm từ lâu. Mắt-xưa-như-đã-sầu-một- dạo. Bài thơ đã chấm hết ngay sau khi bữa tiệc tan. Những siết tay tưởng không rời, những vòng ôm khít rịt. Nhắc lại một số điện thoại, một địa chỉ...Thêm một tiếng cười... gượng. Thêm một tiếng khóc... nghẹn. Rồi mạnh ai nấy ra về. Mỗi người mỗi ngả. Sót lại một bài thơ.
BÀI THƠ BỎ NỬA CHỪNG
Em đến bên ta đêm tái ngộ
ngập ngừng sợ động, vỡ chiêm bao.
Mắt xưa chừng đã sầu một dạo
từ buổi xa trường, mất bóng nhau.
Em kể cùng ta những dặm đường,
những hồi ly biệt, nỗi tang thương,
những sông suối cạn, cồn quạnh quẽ,
những núi oan khiên, biển đoạn trường !
Em nhắc cho ta một mảng đời.
Mấy tầng kỷ niệm đã im hơi
những hình bóng cũ còn thoi thóp.
Vạt áo dài xưa đã lạc loài.
Em nối giùm ta những dở dang
những trang vở cũ đã úa vàng.
Nhúm hương phấn bụi mùa hoa cũ
rụng xuống hồn ta đôi cánh ngoan
Sao thấy yêu thương thật bất ngờ !
Thương trời giăng nhện rối như tơ !
Thương em áo mỏng đời luân lạc !
Thương nửa đời ta sống hững hờ !
Bỗng thấy yêu thương đến chạnh lòng !
Nghĩ trời đất rộng đến mênh mông
ngón tay em nhỏ run đường chỉ
níu lại nhen em ... nối lại vòng.
Ôi biết thời gian có chịu ngừng !
Sao lời hẹn cuối bỗng ... rưng rưng !
Rủ nhau “ mai mốt về quê cũ
giảng nốt bài thơ ... bỏ nửa chừng ! ”
năm sau “buổi tan trường” lần chót-
Vậy mà đắp đổi cũng vừa đúng 25 năm. Có hôm lòng trống trải sực nhớ câu trước quên câu sau. Hôm sau sực nhớ câu sau quên câu trước. Phần số những bài thơ rồi có khác gì mớ lá thu nằm sắp lớp vườn sau, mỗi lượt cuối mùa. Không ai chờ ai đợi, mùa đông ập tới, đổ tuyết trắng phau. Có moi có tìm rồi cũng chỉ là những vang bóng của một vàng thu ảo ảnh.
Thơ cũng vậy, cũng chỉ là ảo ảnh của những xúc động bất chợt. Những bài thơ vần điệu cũ xì y như mớ xiêm y lỗi thời được xếp lại để hy vọng giữ chút mùi hương cũ.
Có điều, ai xúi mà hai câu thơ cuối quả là vọng tưởng. Hẹn nhau mai mốt về quê cũ. Giảng nốt bài thơ bỏ nửa chừng.
Ngày tháng đó, hai mươi lăm năm trước hẵn là máu lệ cũng đã khô, cái thật cái giả đã rõ như trắng với đen. Người chờ thì cứ chờ. Lịch sử vô tình thì vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Thế giới thì đã gần như quên cơn bức tử. Thiên hạ kẻ trước người sau đã dẫn nhau... về-thăm-cho-biết !
Sao riêng ta, ta còn mơ lại một ngày về giảng tiếp bài thơ... vốn dĩ đã tro than từ trận lửa phần thư, năm đó !
Hay chính vì trong nỗi vui quá đỗi rộn ràng giữa những vòng tay thân ái dễ làm người ta quên thực tại. Rồi sanh ra... vọng tưởng !
Hay chính vì nguồn cơn đã quả tình tuyệt vọng mà nẩy sinh ra thơ như một vỗ về cho những mất mát của riêng mình. Mà thơ, rồi thơ cũng vẫn chỉ là... mơ !
Rốt lại, chẳng biết sau ra sao, có điều cho đến khi viết những dòng này, đã 50 năm trễ tràng, thì rõ là không còn kịp để có lần... giảng nốt bài thơ đã nửa chừng bỏ lỡ.
Buồn?
Tiếc?
Hận!
Cao Vị khanh
* Henry Miller
** Marcel Proust
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét