
Đế quốc Mông Cổ, tên chính thức là Đại Mông Cổ Quốc là đế quốc du mục lớn nhất trong lịch sử, từng tồn tại trong các thế kỷ 13 và 14. Khởi đầu trên vùng thảo nguyên Trung Á, đế quốc trải dài từ Đông Âu đến biển Nhật Bản, bao gồm nhiều phần rộng lớn của Siberia ở phía bắc và mở rộng về phía nam đến Đông Nam Á, tiểu lục địa Ấn Độ, cao nguyên Iran, và Trung Đông. Ở thời điểm đỉnh cao, đế quốc Mông Cổ trải dài 9.700 km (6.000 mi), diện tích lãnh thổ lên tới 24.000.000 km2 (9.300.000 dặm vuông Anh) và thống trị 100 triệu dân
Đế quốc Mông Cổ xuất hiện khi các bộ lạc Mông Cổ và Đột Quyết trên khu vực Mông Cổ thống nhất dưới quyền lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn. Thành Cát Tư Hãn đã được tuyên bố là người cai trị của toàn thể người Mông Cổ vào năm 1206. Đế quốc phát triển nhanh chóng dưới quyền cai trị của ông cùng các hậu duệ về sau này, họ đã tiến hành các cuộc xâm lược theo mọi hướng. Đế quốc liên lục địa rộng lớn này đã kết nối phương Đông và phương Tây với việc thi hành hòa bình kiểu Mông Cổ ( Pax Mongolica), cho phép mậu dịch, công nghệ, hàng hóa,
Như vậy, ta cũng nên biết Thành Cát tư Hản là ai? Một nhân vật vỉ đại của lịch sử nhân loại
Thành Cát Tư Hãn
(Phát âm tiếng Mông Cổ: [tʃiŋɡɪs xaːŋ] ; tên thật: Temüjin; phiên âm Hán-Việt: Thiết Mộc Chân;– tháng 8 năm 1227) là người sáng lập và Khả Hãn đầu tiên của Đế quốc Mông Cổ. Sau khi dành phần lớn cuộc đời thống nhất các bộ tộc Mông Cổ, ông đã phát động một loạt các chiến dịch quân sự, chinh phục đại bộ phận Trung Quốc và Trung Á.
Chào đời vào khoảng những năm 1155 và 1167 với cái tên Thiết Mộc Chân, ông là con trai cả của Dã Tốc Cai, một tù trưởng Mông Cổ thuộc bộ tộc Bột Nhi Chỉ Cân, với người vợ Ha Ngạch Luân. Cái chết của thân phụ do bị đầu độc khi Thiết Mộc Chân mới lên tám đã khiến gia đình ông bị ruồng bỏ bởi bộ tộc của mình. Nghịch cảnh éo le sau đó đã buộc ông phải ra tay giết hại người anh trai Biệt Khắc Thiếp Nhi cùng cha khác mẹ để bảo toàn vị thế cho gia đình. Nhờ tài năng lãnh đạo, ông lần hồi thu phục được nhiều đồ đệ, cũng như liên minh với hai thủ lĩnh thảo nguyên hùng mạnh là Trát Mộc Hợp và Thoát Lý. Khi thanh thế ngày một vang xa, quan hệ của ông với Trát Mộc Hợp cũng dần dà suy suyển thành hiềm thù. Bị bại trận Dalan Balzhat vào năm 1187, Thiết Mộc Chân có lẽ đã dành nhiều năm tháng đày đọa và làm hạ thuộc tại triều đình nhà Kim; tái xuất vào năm 1196, ông nhanh chóng nổi lên và thâu tóm quyền lực. Thoát Lý bắt đầu nhận thấy Thiết Mộc Chân như một mối đe dọa thực thụ và ra đòn phủ đầu bằng một cuộc đột kích tại triền cát Qalaqaljid vào năm 1203. Thiết Mộc Chân thoái lui, rồi tập hợp lại lực lượng và đánh bại Thoát Lý không lâu sau đó; sau khi quy phục nốt bộ tộc Nãi Man và xử tử Trát Mộc Hợp. Sau đó, Thiết Mộc Chân trở thành người cai trị duy nhất của thảo nguyên Mông Cổ rộng lớn.
Năm 1206, Thiết Mộc Chân lấy danh hiệu "Thành Cát Tư Hãn" với ý nghĩa mà nay không còn rõ. Ông thực thi các chính sách ổn định hóa, cải biến cơ cấu bộ lạc của người Mông Cổ thành chế độ nhân tài phụng sự gia tộc cai trị. Sau khi đập tan âm mưu chính biến của một thầy pháp có thế lực, Thành Cát Tư Hãn đẩy nhanh tiến trình phát huy và củng cố quyền lực. Năm 1209, ông phát động chiến dịch đánh Tây Hạ, giành được nhượng bộ vào năm sau. Ông tiếp nối bằng chiến dịch đánh Kim kéo dài bốn năm, giành chiến thắng sau khi hạ thành Trung Đô năm 1215. Năm 1218, ông cử viên tướng Triết Biệt đánh chiếm Tây Liêu ở Trung Á. Năm sau, thân chinh xâm lược Đế quốc Khwarazm lấy cớ sứ thần cử đi bị giết; chính quyền trung ương Khwarazm nhanh chóng tan rã, cho phép đại quân Mông Cổ làm cỏ Transoxiana và Khorasan một vùng Trung Á rộng lớn, trong khi các đạo quân của Triết Biệt và Tốc Bất Đài đánh lấn sang Gruzia và Rus' Kiev ( ngày nay là Ukraina). Năm 1227, Thành Cát Tư Hãn qua đời khi đang dẹp loạn ở Tây Hạ; theo sau thời kỳ nhiếp chính kéo dài hai năm, con trai thứ ba của ông là Oa Khoát Đài đăng cơ lên ngôi Đại Hãn vào năm 1229.
Thành Cát Tư Hãn được coi là một nhân vật lịch sử gây nhiều tranh cãi. Ông là người rộng lượng và trung thành với đồ đệ, song hết sức tàn nhẫn khi đối đãi với kẻ thù. Ông chấp nhận lời tham chính từ nhiều phía trong sứ mạng chinh phục thế giới của mình, tin rằng đây là định mệnh đã được chiếu cố cho ông bởi vị thần shaman giáo Tengri. Các cuộc chinh phục của Thành Cát Tư Hãn đã gieo rắc hàng triệu cái chết, song về mặt ích lợi thì đã góp phần kiến tạo những mạng lưới giao thương và trao đổi văn hóa xuyên lục địa. Ở Nga và các nước Ả Rập, ông bị đánh giá là kẻ man rợ lạc hậu, trong khi giới học giả phương Tây gần đây đã suy xét và đánh giá lại ông dưới ánh sáng mới. Hiện nay tại quê nhà Mông Cổ, ông được nhân dân tôn kính và thờ phụng như một kiến quốc phụ.![]()
Ta có thể tạm xem Đế Quốc có hai thời kỳ:![]()
1. Chinh Phục
2. Hòa Bình (Pax Mongolica)
Tách ra làm 2 thời kỳ để dễ hiểu, trên thực tế nó chồng chất lên nhau có nghĩa vừa chiến tranh vừa bình định
Dưới trướng Thành Cát Tư Hản có nhiều tướng giỏi, không những về chiến thuật, hành quân, có kỷ luật sắt. Giang san rộng lớn phải có những thủ lãnh có tài, trung thành và tuy là riêng rẽ nhưng cũng tuân theo tổ chức quản trị quốc gia, không mà là cả đế quốc khi ông còn sống
Các đời Đại Hãn ( danh xưng của người đứng đầu các Khả Hãn. Các khả hãn là thần tử)
Đời | Vị Đại Hãn | Mối quan hệ | Công trạng / Đặc điểm chính |
Đời 1 | Thành Cát Tư Hãn | Người sáng lập | Thống nhất các bộ lạc thảo nguyên, đặt nền móng đế chế. |
Đời 2 | Oa Khoát Đài | Con trai thứ 3 | Mở rộng lãnh thổ sang Nga, Đông Âu và Ba Tư. |
(Chuyển tiếp) | Quý Do | Con Oa Khoát Đài | Trị vì ngắn ngủi (2 năm), nội bộ bắt đầu rạn nứt. |
Đời 3 | Mông Kha | Cháu nội (Con Đà Lôi) | Củng cố quyền lực cho dòng họ Đà Lôi, tấn công Nam Tống. |
Đời 4 | Hốt Tất Liệt | Em trai Mông Kha | chiếm trọn Trung Hoa , dời đô về Bắc Kinh,Lập nhà Nguyên |
Thành cát Tư Hãn có 4 người con trai thứ tự như sau: Truật Xích, Sa hợp Đài, Oa Khoát Đài và Đà Lôi. Các dòng tộc từ những người con và vài cận tướng được phép chiếm giử một phần lãnh thổ riêng và có quân đội riêng. Về sau, những thế hệ tiếp nối không tránh khỏi có những cuộc xô xác, bất mãn, chống đối nhau, tranh quyền sau khi Thành Cát Tư Hãn qua đời.![]()
Đế quốc bắt đầu phân liệt do hậu quả của các cuộc chiến tranh chọn người kế vị, khi các cháu nội của Thành Cát Tư Hãn tranh chấp. Họ có chịu chấp nhận về việc liệu dòng Đại hãn nên ngã theo dòng của vị con trai kế vị Oa Khoát Đài (Ögedei), hay theo dòng của một trong số những người con trai khác của Thành Cát Tư Hãn như Đà Lôi (Tolui), Sát Hợp Đài (Chagatai), hay Truật Xích (Jochi).
Rốt cuộc, việc truyền ngôi Đại Hãn đời thứ 4 đã xảy ra sự chia rẻ đó. Dòng hậu duệ của Đà Lôi ( người con trai thứ 4 của Thành Cát Tư Hãn) đã thắng thế sau một cuộc thanh trừng đẫm máu bè phái với dòng hậu duệ của Oa Khoát Đài và dòng hậu duệ của Sát Hợp Đài. Thí dụ : Dòng Hậu duệ Đà Lôi được chọn làm Đại Hãn, tranh chấp với hậu duệ của dòng khác, thậm chí ngay trong dòng hậu duệ của Đà Lôi tranh giành ngôi Đại Hãn, hai anh em ruột đã thanh trừng nhau.
Cơ cấu tối cao: Vai Trò Hội đồng gia tộc Hốt lý lặc thai (kurultai )
Cơ chế quản trị của Mông Cổ thời bấy giờ có Hội đồng gia tộc họp lấy tên là đại hội Hốt lý lặc thai (kurultai) Mỗi khi Đai Hãn qua đời, Hội đồng sẽ quyết định ai là Đại Hãn kế vị . Hội đồng này hoặc tuân theo di chúc hoặc sẽ phế truất thay thế một Đại hãn khác.Thí dụ ngôi Đại Hãn từ dòng Oa khắc Đài chuyển qua dòng Đà Lôi. Quyết định Hội đồng tuy là địa vị tối cao nhưng dễ bị thao túng đưa đến các dòng tộc chia rẽ , gây những cuộc nội chiến liên miên
Để dễ hiểu, khi một vị Đại hãn băng hà, các đại hội Hốt lý lặc thai (kurultai) kình địch có thể đồng thời bầu lên những người kế vị khác nhau, như trường hợp hai huynh đệ A Lý Bất Ca (Ariq Böke) và Hốt Tất Liệt (Kublai), họ đều được bầu làm Đại hãn và sau đó đã không những chỉ phải đối phó với nhau, mà còn đối diện với những thách thức từ những hậu duệ khác của Thành Cát Tư Hãn. Hốt Tất Liệt đã thành công trong việc đoạt lấy quyền lực, nội chiến đã xảy ra sau đó khi Hốt Tất Liệt tìm cách giành lại quyền kiểm soát đối với hai dòng hậu duệ của Sát Hợp Đài và Oa Khoát Đài, song đã không thành công.
Vào thời điểm Hốt Tất Liệt băng hà năm 1294, Đế quốc Mông Cổ bị phân chia thành bốn hãn quốc hay đế quốc riêng biệt, mỗi một Hãn quốc theo đuổi lợi ích và mục tiêu riêng của mình: Hãn quốc Kim Trướng ở phía Tây Bắc, Hãn quốc Sát Hợp Đài ở Trung Á, Hãn quốc Y Nhi ở phía Tây Nam, và triều Nguyên ở khu vực Đông Á định đô tại khu vực Bắc Kinh ngày nay. Năm 1304, ba hãn quốc phía tây trong một thời gian ngắn chấp nhận quyền bá chủ của triều Nguyên, song đến khi triều đại này bị triều Minh của người Hán lật đổ vào năm 1368, đế quốc Mông Cổ chính thức tan rã.
Cũng nên biết qua về vài khía cạnh của Đế Quốc Mông Cổ
Lịch sử
Sơ lược lịch sử Đế Quốc Mông Cổ
1206 Thành Cát Tư Hản; thống nhất các bộ lac Mông Cổ Thành lập Đế quốc Mông Cổ
1227 Thành Cát Tư Hản băng hà
1210-1350: Thời Hòa Bình Kiểu Mông Cổ (Pax Mongolica)
1267-1264: Đế Quốc Phân Chia Hãn quốc Kim Trướng, Hãn quốc Sát Hợp, Hãn quốc Y Nhi, triều Nguyên
1368: Đế quốc Sụp Đổ (Nhà Nguyên bị xóa sổ)
Chánh Phủ và Lập Pháp: Hội đồng Hốt Lý Lặc Thai (KURULTAI)
Quân Sự
Để có thể kiểm soát một diện tích đất đai khổng lồ và duy trì sức mạnh quân sự vô tiền khoáng hậu, người Mông Cổ không chỉ dựa vào lòng dũng cảm mà còn nhờ vào một hệ thống tổ chức và huấn luyện cực kỳ khoa học, vượt xa tầm mức thời đại bấy giờ.
Tổ chức quân đội viễn chinh
Đơn vị nhỏ nhất Arban èZuun èMingghanè Tumen
1. Hệ thống Thập phân (Arban) – Chìa khóa của sự kỷ luật nhỏ
Thành Cát Tư Hãn đã xóa bỏ sự phân chia theo bộ lạc để thay thế bằng một cấu trúc quân đội chặt chẽ dựa trên số 10:
Arban (10 người): Đơn vị nhỏ nhất. Mười người này sống, chiến đấu và bảo vệ nhau như anh em ruột thịt. Nếu một người bỏ chạy, cả 9 người còn lại sẽ bị xử tử. Điều này tạo nên sự gắn kết tuyệt đối.
Zuun (100 người): Gồm 10 Arban.
Mingghan (1.000 người): Đơn vị nòng cốt để tác chiến.
Tumen (10.000 người): gồm 10 Mingghan tạo thành một quân đoàn độc lập, có thể tự tác chiến trên một mặt trận riêng biệt.
2. Huấn luyện:
Chiến tranh ví như là một cuộc đi săn kéo dài
Đối với người Mông Cổ, không có ranh giới giữa đời sống thường nhật và huấn luyện quân sự. Kỷ năng chiếu đấu cá nhân hay đồng đội được luyện tập từ thủa nhỏ:
Học cưỡi ngựa từ lúc 3 tuổi: trẻ em Mông Cổ được buộc vào lưng ngựa con,hay dê,cừu trước khi biết đi vững. Đến tuổi thiếu niên, họ có thể vừa phi ngựa nước đại vừa bắn trúng đích.
Tập trận quy mô: Cuộc đi săn lớn (Nerge) Thử thách chiến đấu tập thể: Mỗi mùa đông, toàn bộ quân đội sẽ tổ chức một cuộc săn quy mô lớn kéo dài hàng tháng. Họ giăng một vòng cung dài hàng trăm dặm, khép dần vòng vây để dồn thú dữ vào giữa. Đây chính là bài tập dàn trận, rút lui, đuổi bắt, bao vây, phối hợp hiệp đồng các bộ phận quân binh chủng hành quân ở quy mô cực lớn mà không quốc gia nào thời đó làm được.
3. Vũ khí và Trang bị: Tối giản nhưng hiệu quả
Cung phức hợp (Composite Bow): Đây là "vũ khí hủy diệt hàng loạt" của thế kỷ 13. Nó có tầm bắn xa và lực xuyên thấu mạnh hơn cung của châu Âu nhờ được làm từ nhiều lớp gỗ, sừng và gân động vật. Một chiến binh thường mang theo 2-3 cây cung và hàng trăm mũi tên cho các mục đích khác nhau (xuyên giáp, tẩm lửa, hoặc phát tín hiệu).
Ngựa Mông Cổ: Nhỏ nhưng cực kỳ bền bỉ, có thể tự tìm cỏ dưới tuyết để ăn. Mỗi chiến binh mang theo từ 3 đến 5 con ngựa. Khi một con mệt, họ đổi sang con khác ngay lập tức, giúp quân đoàn có thể hành quân liên tục ngày đêm với tốc độ mà đối phương không thể tin nổi. Thử nghỉ nếu có 1000 quân sẽ có 5,000 con ngựa như vây tính đoàn quân nay có tất cả 5000 đội ngũ , và nêu có 10,000 quân di chuyễn thì có đến 50,000 nhân mã.. thì nó rần rộ như thế nào.
Giáp nhẹ: Họ thường mặc áo lụa bên trong giáp da. Nếu bị trúng tên, lớp lụa dai sẽ quấn quanh đầu mũi tên, giúp việc rút mũi tên ra khỏi cơ thể dễ dàng và giảm thiểu nhiễm trùng.
4. Hệ thống Truyền tin liên lạc "Yam"
Để kiểm soát đế chế rộng lớn, họ thiết lập hệ thống trạm ngựa tiếp sức gọi là Yam. Các sứ giả có thể phi ngựa liên tục 200-300km mỗi ngày để truyền tin từ mặt trận về trung tâm. Đây chính là "mạng internet" thời cổ đại, giúp các Hãn quốc nắm bắt tình hình và điều động binh lực kịp thời trên diện tích hàng triệu cây số vuông.
Sự kết hợp giữa lối sống du mục khắc nghiệt và tư duy tổ chức kỷ luật thép đã biến mỗi người dân Mông Cổ thành một đơn vị chiến đấu tinh nhuệ, tạo nên một cỗ máy chiến tranh không có đối thủ trong suốt hai thế kỷ.
5. Chiến Thuật Hành Quân![]()
Mình đi sâu hơn vào những "bí mật quân sự" đã làm nên huyền thoại của vó ngựa Mông Cổ. Để điều phối một đội quân trên một diện tích khổng lồ, họ không chỉ dựa vào sức mạnh mà còn là những bậc thầy về tâm lý chiến và chiến thuật điều binh.
Dưới đây là những chiêu bài kinh điển mà người Mông Cổ đã dùng để khuất phục các đế chế từ Á sang Âu:![]()
1. Chiến thuật "Hồi mã thương" (Feigned Retreat) Lùi xe phản công" (Feigned Retreat)
Đây là chiến thuật nổi tiếng nhất và cũng là "cái bẫy" chết người nhất.
Cách vận hành: Khi giáp trận, một bộ phận quân Mông Cổ sẽ giả vờ thua chạy hỗn loạn. Các hiệp sĩ châu Âu hoặc quân đội định cư thường kiêu ngạo, tưởng thắng thế nên dốc toàn lực đuổi theo.
Cú đòn quyết định: Quân Mông Cổ có thể giả vờ chạy suốt nhiều ngày để kéo đối phương rời xa trận địa có lợi hoặc làm họ kiệt sức. Khi đối phương đã rơi vào ổ phục kích hoặc đội hình bị kéo giãn, kỵ binh Mông Cổ bất ngờ quay ngoắt lại, đồng thời các cánh quân dự bị từ hai bên sườn khép vòng vây.
Kết cục: Đối phương bị tiêu diệt gọn trong sự ngỡ ngàng. Trận đánh tại sông Kalka (Nga) là minh chứng hùng hồn nhất cho sự lợi hại của chiêu thức này.
2. "Cơn mưa tên" và khả năng kỵ xạ phi thường
Chiến binh Mông Cổ có một kỹ năng độc nhất vô nhị: Bắn tên khi ngựa đang phi nước đại.
Họ thường chờ đúng khoảnh khắc cả bốn chân ngựa đều rời khỏi mặt đất để buông tên. Lúc đó, cơ thể chiến binh ổn định nhất, giúp cú bắn chính xác tuyệt đối.
Họ không giáp lá cà ngay. Họ vây quanh quân địch ở khoảng cách an toàn và liên tục rót "mưa tên" vào đội hình đối phương. Khi đối phương rối loạn và suy yếu vì trúng tên, lúc đó kỵ binh nặng mới cầm thương lao vào dứt điểm.
3. Tâm lý chiến: "Đánh vào lòng người trước khi đánh vào thành"
Thành Cát Tư Hãn và các hậu duệ rất giỏi dùng nỗi sợ hãi làm vũ khí:
Hư trương thanh thế: Mỗi chiến binh Mông Cổ thường dắt theo 3-5 con ngựa. Khi hành quân, họ buộc bù nhìn cỏ lên lưng những con ngựa trống để đối phương nhìn từ xa tưởng rằng quân số đông gấp nhiều lần. Đêm đến, mỗi người đốt 5 ngọn đuốc thay vì 1, tạo nên một "biển lửa" uy hiếp tinh thần quân trong thành.
Chính sách tàn khốc và khoan dung: Họ đưa ra lựa chọn rõ ràng: Đầu hàng sẽ được bảo toàn mạng sống và tự do tôn giáo; chống cự sẽ bị san phẳng. Tin tức về những thành phố bị hủy diệt lan đi nhanh hơn cả vó ngựa, khiến nhiều Thành Phố khác chưa đánh nghe tin đã sợ hải mở cửa hàng phục.
Phải nói đây là chiến thuật tàn nhẫn và hiệu quả nhất vì chỉ có hai thành phố bị san phẳng mà chinh phục 10 thành phố khác không tốn một mũi tên.. Họ đầu hàng ngay khi nghe tin quân Mong Cỗ đến..
4. Công binh và Công thành chiến (Sự học hỏi không ngừng)
Dù là dân du mục, nhưng người Mông Cổ cực kỳ nhạy bén với công nghệ:
Khi đánh Trung Hoa, họ bắt các kỹ sư người Hán chế tạo máy bắn đá và thuốc súng.
Khi đánh Ba Tư, họ dùng các chuyên gia vùng này để chế tạo máy bắn tên xuyên thành.
Họ là những người đầu tiên kết hợp sự cơ động của kỵ binh thảo nguyên với sức mạnh công phá của vũ khí hạng nặng từ các nền văn minh định cư.
5. Khả năng chịu đựng và tiếp vận tối giản
Trong khi các quân đội khác cần những đoàn xe lương thảo cồng kềnh, quân Mông Cổ gần như tự cung tự cấp:
Nếu thiếu lương thực trên đường hành quân thần tốc, chiến binh có thể uống máu ngựa hoặc sữa ngựa để duy trì sự sống.
Họ có thể ngủ ngay trên lưng ngựa khi đang di chuyển. Chính sự tinh gọn này giúp họ xuất hiện ở những nơi đối phương cho là "không thể đi qua" (như vượt sa mạc hay rừng rậm) để đánh úp.
Xã Hội dưới thời Mông Cổ
Theo luật Yassa, lãnh đạo và tướng lĩnh được lựa chọn dựa trên phẩm chất, sự khoan dung tôn giáo được đảm bảo, và việc trộm cắp hay phá hoại tài sản công dân bị nghiêm cấm hoàn toàn.
Đế quốc được cai trị bởi một hội đồng trung ương phi dân chủ theo kiểu nghị viện, gọi là Hội Đồng Hốt lý lặc thai (Kurultai),
1. trong đó các chỉ huy Mông Cổ diện kiến Đại hãn để bàn về những vấn đề đối nội và đối ngoại.
2. Các đại hội Hốt lý lặc thai cũng được triệu tập để bầu Đại hãn mới.
Thành Cát Tư Hãn rất khoan dung với các tôn giáo khác, và không bao giờ xử tội một người nào vì niềm tin tôn giáo của họ. Điều này có liên hệ với văn hóa và tư tưởng tiến bộ của họ. Một số sử gia trong thế kỷ 20 nhận định rằng đó là một chiến lược quân sự đúng đắn, như khi ông đang tiến hành chiến tranh với Sultan Muhammad của Đế quốc Khwarezm, các lãnh tụ Hồi giáo khác đã không tham gia vào việc chống lại ông - họ xem đó chỉ là một phi thánh chiến giữa 2 cá nhân mà thôi.
Trên toàn đế quốc, các con đường giao thương và một hệ thống thư tín có phạm vi rộng (yam) được thiết lập. Nhiều thương nhân, người đưa thư và khách lữ hành từ Trung Hoa, Trung Đông và châu Âu đã sử dụng hệ thống này. Thành Cát Tư Hãn cũng cho tạo ra một quốc ấn, khuyến khích việc sử dụng chữ cái Mông Cổ, và miễn thuế cho các giáo viên, luật gia, và các nghệ sĩ, mặc dù tất cả các đối tượng khác của đế quốc bị đánh thuế nặng.
Đồng thời, bất cứ sự chống đối nào đối với sự cai trị của người Mông Cổ đều bị trừng trị tàn khốc. Các thành phố bị chiếm và dân chúng trong thành đều bị thảm sát nếu họ không tuân theo mệnh lệnh của người Mông Cổ.
Tôn giáo
Người Mông Cổ đều rất hào phóng với hầu hết các tôn giáo, và điển hình là bảo trợ cho nhiều tôn giáo cùng một lúc. Dưới thời Thành Cát Tư Hãn, hầu như mọi tôn giáo đều có những người cải đạo, từ Phật giáo tới Cơ-đốc giáo, và từ Minh giáo tới Hồi giáo. Để tránh xung đột, Thành Cát Tư Hãn thành lập một thể chế để đảm bảo tự do tôn giáo hoàn toàn, mặc dù bản thân ông là người theo Shaman giáo (Vu-hích-tông giáo). Dưới sự cai trị của ông, tất cả các lãnh đạo tôn giáo đều được miễn thuế, và không phải trả các dịch vụ công cộng.
Ban đầu, người Mông Cổ có rất ít địa điểm chính thức cho việc cầu nguyện và thờ phụng do lối sống của dân du mục. Tuy nhiên, dưới thời Oa Khoát Đài, nhiều dự án xây dựng được triển khai ở Cáp Lạp Hòa Lâm. Cùng với những cung điện, Oa Khoát Đài cũng xây các nhà cầu nguyện cho những tín đồ Phật giáo, Hồi giáo, Cơ-đốc giáo và Đạo giáo. Tôn giáo chiếm ưu thế vào thời điểm đó là Shaman giáo, Tengri giáo
(Đằng-cách-lý giáo) và Phật giáo, mặc dù vợ Oa Khoát Đài là một người Mông Cổ theo Cảnh giáo. Cuối cùng, ba trong bốn hãn quốc chính đều theo Hồi giáo.
Hệ thống Truyền tin
Như đã bàn ở trên, Đế quốc Mông Cổ có một hệ thống thư tín truyền tin rất hiệu quả ở thời điểm đó, thường được các học giả gọi là Yam. Hệ thống có những đội chuyển thư tiếp sức được trang bị tốt và đầy đủ được gọi là örtöö, có mặt khắp nơi trên Đế quốc Mông Cổ. Hệ thống Yam về sau được lập lại ở Hoa Kỳ dưới hình thức Pony Express. Một người đưa thư điển hình phải di chuyển 40 km giữa 2 trạm kế tiếp nhau, và người này có thể nhận được một con ngựa mới, đã được nghỉ ngơi hoặc là đưa thư đó cho người tiếp theo để đảm bảo tốc độ chuyển thư nhanh nhất có thể. Thông thường người này có thể di chuyển 200 km mỗi ngày, nhanh hơn kỷ lục nhanh nhất được ghi nhận của Pony Express của Hoa Kỳ vào 600 năm sau.
Thành Cát Tư Hãn và người kế vị ông là Oa Khoát Đài cũng tiến hành xây dựng các con đường, một trong số đó cắt qua dãy núi Altai. Sau khi lên ngôi Đại Hãn, ông đã tổ chức hệ thống đường sá và ra lệnh cho Sát Hợp Đài hãn quốc và Kim Trướng Hãn quốc nối với các con đường ở phần tây của Đế quốc. Để giảm sức ép cho các hộ dân, ông đã thiết lập các trạm trung chuyển kèm với các hộ dân cách nhau 40 km. ![]()
Bất cứ ai có Paiza (bài tử) một loại Thẻ Thông Hành mới sẽ được phép cấp ngựa tiếp sức và được cung cấp một khẩu phần ăn đặc biệt, nhưng những người mang các thư tín đặc biệt liên quan đến quân sự thì có thể sử dụng Yam mà không cần paiza. Tin về cái chết của Thành Cát Tư Hãn ở Cáp Lạp Hòa Lâm được chuyển tới lực lượng Mông Cổ của Bạt Đô Hãn ở Trung Âu trong vòng 4-6 tuần là nhờ có Yam
Kinh tế & Thương mại
Bạn có muốn tìm hiểu về cách họ cai trị và giữ hòa bình trên Con đường Tơ lụa (thời kỳ gọi là Pax Mongolica) sau khi đã chiếm được đất đai không?
Khi cuộc chiến tạm lắng xuống và vó ngựa không còn khua vang khắp nẻo, một chương mới mở ra trong lịch sử nhân loại: Pax Mongolica (Hòa bình Mông Cổ).
Đây là một thời đại kỳ lạ, khi những kẻ chinh phạt tàn khốc nhất lại trở thành những người kiến tạo nên một hệ thống thương mại và văn hóa kết nối toàn cầu đầu tiên.
Có một câu ngạn ngữ nổi tiếng thời bấy giờ "Một thiếu nữ đội vương miện vàng có thể đi từ Đông sang Tây mà không bị xâm hại" nhầm mô tả sự an ninh tuyệt đối trên các tuyến đường dưới sự kiểm soát của người Mông Cổ.
Luật Yassa: Thành Cát Tư Hãn ban hành bộ luật này với những hình phạt cực kỳ nghiêm khắc đối với tội trộm cắp và cướp bóc.
Hệ thống hộ chiếu (Paiza): Người Mông Cổ cấp những tấm thẻ bằng vàng, bạc hoặc sắt cho các sứ giả và thương gia quan trọng. Ai sở hữu tấm thẻ này sẽ được cung cấp ngựa, thực phẩm và sự bảo vệ tại bất kỳ trạm dừng chân nào trên khắp đế chế.
2. Sự bùng nổ của Con đường Tơ lụa
Chưa bao giờ trong lịch sử, việc đi lại giữa Trung Hoa và Châu Âu lại dễ dàng đến thế:
Hàng hóa luân chuyển: Tơ lụa, thuốc súng, giấy và la bàn từ Trung Hoa chảy về phương Tây; ngược lại, đồ thủy tinh, gia vị và các loại đá quý từ Ba Tư, Châu Âu chảy ngược về phương Đông.
Marco Polo: Chính nhờ sự ổn định của Pax Mongolica mà nhà du hành người Ý này mới có thể đến được triều đình của Hốt Tất Liệt và viết nên cuốn du ký làm thay đổi thế giới.
Vai trò Phụ nữ trong xã hội Mông Cổ (Xin xem chương sau)
KÊT LUẬN:
Trong lịch sử thế giới trung đại chưa có đế quốc nào nổi lên với mức độ thành công như thế, người Mông Cổ hầu hết trải qua chiến thắng trong mọi cuộc chinh phục mà ít khi nếm trải thất bại. Nguyên nhân thành công của họ là nhờ sở hữu và sử dụng lực lượng quân sự hiệu quả nhất lục địa Á-Âu thời bấy giờ. Người lính Mông Cổ được huấn luyện ngay từ nhỏ với kỹ năng cưỡi ngựa, chiến đấu và phối hợp nhóm thành thạo, khả năng chịu đựng điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên cao độ. Đặc biệt trọng tính cơ động, linh hoạt và tốc độ chưa từng thấy trong bất kỳ đội quân nào trong lịch sử.
Bí quyết thành công của họ còn nằm ở việc biết thu nạp người tài từ thợ rèn cho tới quân sư của địa phương bị chinh phục với chế độ đãi ngộ rất tốt, đồng thời khủng bố tàn khốc kẻ thù nếu không thuận theo ý họ, khiến nhiều người phải chọn lựa thay vì chống lại vô ích sẽ có lợi hơn khi đi theo Mông Cổ. Các chiến thắng liên tục cũng thúc đẩy tinh thần quân Mông Cổ tự tin, kiêu hãnh và ngang tàn trong hơn một thế kỷ nổi lên chinh phục của họ. Ngoài ra, kẻ chinh phục Mông Cổ dùng cả dịch bệnh từ xác chết để hỗ trợ không kém sự hung hãn tàn phá bằng quân đội.
Quân đội Mông Cổ cũng không phải bách chiến bách thắng. Họ thất bại trong trận đánh với quân Ai Cập, họ thất bại ở Đại Việt, Nhật Bản, Nam Dương, điều đó cho thấy quân Mông Cổ tuy nổi tiếng bách chiến bách thắng, nhưng không thạo hải quân, họ giỏi chiến đấu trên mặt đất hơn, vốn là điều kiện quen thuộc mà người lính Mông Cổ rèn luyện từ nhỏ.
Nhắc lại chiến thắng 3 lần của nước Đại Việt đối với đội quân hùng mạnh Mông Cỗ không phai lầ một chuyện dễ dàng cho thấy công khó và ý chí kiên trì dũng mãnh của Vua tôi, nhân dân Nhà Trần.
Tuy vậy, Mông Cổ có những nhược điểm nhất định, họ là đế chế nổi lên nhưng thiếu nền tảng của một nền văn minh hay ít ra là một nền văn hóa mạnh mẽ. Điều này khiến họ mau chóng bị đồng hóa vào các địa phương đã chiếm. Người Mông Cổ dần bị tiêm nhiễm sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo, thậm chí là nhân chủng và ngôn ngữ trên lục địa Á-Âu, khiến cho những cội rễ tinh thần và sức mạnh cố kết đế chế bị mất đi. Bởi vì quá trình đó không chỉ làm mất đi tính thống nhất dân tộc đi chinh phục mà còn làm cho họ phân thành những kẻ bị đồng hóa khác nhau vào những xã hội khác nhau.
Mời xem những trận đánh tiêu biểu của Mông Cổ
The Mongol Empire: Nomads That Conquered Half of the World (những trận đánh chinh phục)
Như đã bàn ở trên, Đế quốc Mông Cổ có một hệ thống thư tín truyền tin rất hiệu quả ở thời điểm đó, thường được các học giả gọi là Yam. Hệ thống có những đội chuyển thư tiếp sức được trang bị tốt và đầy đủ được gọi là örtöö, có mặt khắp nơi trên Đế quốc Mông Cổ. Hệ thống Yam về sau được lặp lại ở Hoa Kỳ dưới hình thức Pony Express. Một người đưa thư điển hình phải di chuyển 40 km giữa 2 trạm kế tiếp nhau, và người này có thể nhận được một con ngựa mới, đã được nghỉ ngơi hoặc là đưa thư đó cho người tiếp theo để đảm bảo tốc độ chuyển thư nhanh nhất có thể. Thông thường người này có thể di chuyển 200 km mỗi ngày, nhanh hơn kỷ lục nhanh nhất được ghi nhận của Pony Express vào 600 năm sau.
Tạo Ortoo – Wikipedia tiếng ViệtTạo Pony Express – Wikipedia tiếng Việt
Thành Cát Tư Hãn và người kế vị ông là Oa Khoát Đài cũng tiến hành xây dựng các con đường, một trong số đó cắt qua dãy núi Altai. Sau khi lên ngôi Đại Hãn, ông đã tổ chức hệ thống đường sá và ra lệnh cho Sát Hợp Đài hãn quốc và Kim Trướng Hãn quốc nối với các con đường ở phần tây của Đế quốc. Để giảm sức ép cho các hộ dân, ông đã thiết lập các trạm trung chuyển kèm với các hộ dân cách nhau 40 km.
Bất cứ ai có Paiza (bài tử) mội loại Thẻ Thông Hành mới sẽ được phép cấp ngựa tiếp sức và được cung cấp một khẩu phần ăn đặc biệt, nhưng những người mang các thư tín đặc biệt liên quan đến quân sự thì có thể sử dụng Yam mà không cần paiza. Tin về cái chết của Thành Cát Tư Hãn ở Cáp Lạp Hòa Lâm được chuyển tới lực lượng Mông Cổ của Bạt Đô Hãn ở Trung Âu trong vòng 4-6 tuần là nhờ có Yam
Kinh tế & Thương mại
Bạn có muốn tìm hiểu về cách họ cai trị và giữ hòa bình trên Con đường Tơ lụa (thời kỳ gọi là Pax Mongolica) sau khi đã chiếm được đất đai không?
Khi cuộc chiến tạm lắng xuống và vó ngựa không còn khua vang khắp nẻo, một chương mới mở ra trong lịch sử nhân loại: Pax Mongolica (Hòa bình Mông Cổ).
Đây là một thời đại kỳ lạ, khi những kẻ chinh phạt tàn khốc nhất lại trở thành những người kiến tạo nên một hệ thống thương mại và văn hóa kết nối toàn cầu đầu tiên.
Có một câu ngạn ngữ nổi tiếng thời bấy giờ "Một thiếu nữ đội vương miện vàng có thể đi từ Đông sang Tây mà không bị xâm hại" nhầm mô tả sự an ninh tuyệt đối trên các tuyến đường dưới sự kiểm soát của người Mông Cổ.
Luật Yassa: Thành Cát Tư Hãn ban hành bộ luật này với những hình phạt cực kỳ nghiêm khắc đối với tội trộm cắp và cướp bóc.
Hệ thống hộ chiếu (Paiza): Người Mông Cổ cấp những tấm thẻ bằng vàng, bạc hoặc sắt cho các sứ giả và thương gia quan trọng. Ai sở hữu tấm thẻ này sẽ được cung cấp ngựa, thực phẩm và sự bảo vệ tại bất kỳ trạm dừng chân nào trên khắp đế chế.
2. Sự bùng nổ của Con đường Tơ lụa
Chưa bao giờ trong lịch sử, việc đi lại giữa Trung Hoa và Châu Âu lại dễ dàng đến thế:
Hàng hóa luân chuyển: Tơ lụa, thuốc súng, giấy và la bàn từ Trung Hoa chảy về phương Tây; ngược lại, đồ thủy tinh, gia vị và các loại đá quý từ Ba Tư, Châu Âu chảy ngược về phương Đông.
Marco Polo: Chính nhờ sự ổn định của Pax Mongolica mà nhà du hành người Ý này mới có thể đến được triều đình của Hốt Tất Liệt và viết nên cuốn du ký làm thay đổi thế giới.
Vai trò Phụ nữ trong xã hội Mông Cổ (Xin xem chương sau)
KÊT LUẬN:
Trong lịch sử thế giới trung đại chưa có đế quốc nào nổi lên với mức độ thành công như thế, người Mông Cổ hầu hết trải qua chiến thắng trong mọi cuộc chinh phục mà ít khi nếm trải thất bại. Nguyên nhân thành công của họ là nhờ sở hữu và sử dụng lực lượng quân sự hiệu quả nhất lục địa Á-Âu thời bấy giờ. Người lính Mông Cổ được huấn luyện ngay từ nhỏ với kỹ năng cưỡi ngựa, chiến đấu và phối hợp nhóm thành thạo, khả năng chịu đựng điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên cao độ. Đặc biệt trọng tính cơ động, linh hoạt và tốc độ chưa từng thấy trong bất kỳ đội quân nào trong lịch sử.
Bí quyết thành công của họ còn nằm ở việc biết thu nạp người tài từ thợ rèn cho tới quân sư của địa phương bị chinh phục với chế độ đãi ngộ rất tốt, đồng thời khủng bố tàn khốc kẻ thù nếu không thuận theo ý họ, khiến nhiều người phải chọn lựa thay vì chống lại vô ích sẽ có lợi hơn khi đi theo Mông Cổ. Các chiến thắng liên tục cũng thúc đẩy tinh thần quân Mông Cổ tự tin, kiêu hãnh và ngang tàn trong hơn một thế kỷ nổi lên chinh phục của họ. Ngoài ra, kẻ chinh phục Mông Cổ dùng cả dịch bệnh từ xác chết để hỗ trợ không kém sự hung hãn tàn phá bằng quân đội.
Quân đội Mông Cổ cũng không phải bách chiến bách thắng,Họ thất bại trong trận đánh với quân Ai Cập, họ thất bại ở Đại Việt, Nhật Bản, Nam Dương, điều đó cho thấy quân Mông Cổ nổi tiếng đó, không thạo hải quân, họ giỏi chiến đấu trên mặt đất hơn, vốn là điều kiện quen thuộc mà người lính Mông Cổ rèn luyện từ nhỏ.
Nhắc lại chiến thắng 3 lần của nước Đại Việt đối với đội quân hùng mạnh Mông Cỗ không phai lầ một chuyện dễ dàng cho thấy công khó và ý chí kiên trì dũng mãnh của Vua tôi, nhân dân Nhà Trần.
Tuy vậy, Mông Cổ có những nhược điểm nhất định, họ là đế chế nổi lên nhưng thiếu nền tảng của một nền văn minh hay ít ra là một nền văn hóa mạnh mẽ. Điều này khiến họ mau chóng bị đồng hóa vào các địa phương đã chiếm. Người Mông Cổ dần bị tiêm nhiễm sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo, thậm chí là nhân chủng và ngôn ngữ trên lục địa Á-Âu, khiến cho những cội rễ tinh thần và sức mạnh cố kết đế chế bị mất đi. Bởi vì quá trình đó không chỉ làm mất đi tính thống nhất dân tộc đi chinh phục mà còn làm cho họ phân thành những kẻ bị đồng hóa khác nhau vào những xã hội khác nhau.
Lê Minh Đức (YK 6774)
Sưu Tầm & Biên Soạn











Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét