
I. TỔNG QUÁT VỀ NGỰA
Ngựa nhỏ nhất là ngựa Falbella cao khoảng 48cm, chỉ nặng 14kg. Ngựa to nhất là ngựa Belgian cao 1 met 8, nặng 1.450 kg.
Ngựa có lông màu đen, nâu, xám, màu kem, vàng và trắng.
Ngựa đực có 40 răng, ngựa cái có 36 răng. Giữa răng cửa và răng hàm là một khoảng trống nên người ta đặt 1 hàm thiếc ở đó. Tốc độ tối đa của ngựa là 70 cây số/giờ.
Khi ngựa từ 1 tuổi trở lên có thể kết bạn, chu kỳ giao phối của ngựa cái là 21 ngày, mùa Xuân là mùa ngựa sinh sản.
II. SỰ BÀNH TRƯỚNG CỦA GIỐNG NGỰA
Khoảng 700 năm sau Tây Lịch, nhà tiên tri Mohammed đã đi rao giảng đạo Hồi bằng cách chỉ huy đoàn kỵ mã Ả-Rập giẫm nát Châu Âu mở rộng tới bờ Địa Trung Hải, sang Phi Châu, bao gồm cả Tây Ban Nha. Trước khi đế quốc nầy sụp đổ, Tây Ban Nha đã bị cai trị hàng trăm nam, do đó, ngựa Ả-Rập pha giống ngựa Tây Ban Nha thành một giống ngựa tốt, là tổ tiên của ngựa Châu Mỹ.
Mấy trăm năm sau, Thành Cát Tư Hãn bằng kỵ binh chiếm gần hết nước Trung Hoa, Tây Hạ, Triều Tiên, Ba Tư, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ và một phần đất Nga. Quân Mông có tài cưỡi ngựa cả ngày không biết mệt, vó ngựa tới đâu cỏ không mọc nổi!
Ngựa lai giống của Hồi Giáo và Mông Cổ lan khắp thế giới, trong đó ngựa Ả-Rập lai giống ngựa Tây Ban Nha được gây giống ở châu Âu, còn ngựa Mông Cổ thì được gây giống ở Á Châu.
Năm 1518, một người Tây Ban Nha tên Don Hermando Cortés dẫn một đoàn kỵ binh 16 con ngựa đổ bộ lên Mexico tìm vàng. Dân Da Đỏ học lóm cách cưỡi ngựa của Tây Ban Nha để săn bắn và đánh trận, chống lại người da trắng. Sau nhiều trận đánh, người Mỹ thấy ngựa chiến lợi hại của người Da Đỏ nên Đại tá Ronard Mckenzie đã nhận lệnh, chỉ huy đoàn kỵ binh thứ 4 đã thảm sát toàn bộ lạc Kiowas và 1.400 con ngựa!
Định cư ở Mỹ một thời gian, vào khoảng thế kỷ 16, di dân Tây Ban Nha rút về nước, bỏ lại tất cả gia súc, trong đó có ngựa, chúng trở thành ngựa hoang.
Gần một thế kỷ sau, người Châu Âu trở lại Mỹ thì ngựa hoang có đàn gần cả chục ngàn con.
Năm 1918, nước Mỹ có 29 triệu con ngựa.
III. NGỰA TRONG VĂN CHƯƠNG, ÂM NHẠC VIỆT NAM
-Chinh Phụ Ngâm: nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn do Bà Đoàn Thị Điểm dịch sang chữ Nôm:
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao,
...
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
...
Đưa chàng lòng dặc dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
...
Tiếng nhạc ngựa lần xen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.
...
Hơi gió lạnh người rầu mặt dạn,
Dòng nước sâu ngựa nản chân bon,
...
Xông pha gió bãi trăng ngàn,
Tên reo đầu ngựa, giáo lan mặt thành.
...
Chàng ruỗi ngựa dặm trường mây phủ,
Thiếp dạo hài lầu cũ rêu in
-Đoạn Trường Tân Thanh: của Nguyễn Du
Tuyết in sắc ngựa câu dòn,
Cỏ pha màu áo, nhuộm non da trời.
...
Gió chiều như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa, người còn trông theo.
...
Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong Thu đã nhuốm màu quan san.
...
Tái sinh chưa dứt hương thề
Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai.
-Mòn Mỏi: bài thơ của Thanh Tịnh
-Em ơi! nhẹ cuốn bức rèm tơ
Tìm thử chân mây khói tỏa mờ
Có bóng tình quân muôn dặm ruỗi
Ngựa hồng tuôn bụi cõi xa mơ
-Xa nhìn trong cõi trời mây
Chị ơi! em thấy một cây liễu buồn
-Bên rừng em hãy lặng nhìn theo
Có phải chăng em ngựa xuống đèo?
Chị ngỡ như chàng lên tiếng gọi
Trên mình ngựa hí, lạc vang reo
-Bên rừng ngọn gió rung cây
Chị ơi! con nhạn lạc bầy kêu sương
-Ô kìa bên cõi trời Đông
Ngựa ai còn ruỗi dặm hồng xa xa
-Nầy lặng em ơi! lặng lặng nhìn,
Phải chăng mình ngựa sắc hồng in
Nhẹ nhàng em sẽ buông rèm xuống
Chị sợ trong sương bóng ngựa chìm
-Ngựa hồng đã đến bên hiên
Chị ơi! trên ngựa chiếc yên...vắng người
-Ngựa Tiêu Sương: bài thơ của Nguyễn Đình Chiểu
Tiếng đồn ngàn dặm ngựa Tiêu sương,
Lầm đứa gian mưu nghĩ khá thương.
Giậm vó chẳng màng ăn cỏ Tống,
Quay đầu lại hí nhớ tàu Lương.
Chẳng cho chủ khác ngồi lưng cổ,
Thà chịu vua ta nắm khớp cương.
Ngựa nghĩa còn cứu nhà nước cũ,
Làm người bao nở phụ quê hương.
-Bài cổ thi “Lương Châu từ”:
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
Bài dịch thơ (của Tô Kiều Ngân):
Rượu Bồ đào, chén dạ quang,
Mới vừa muốn uống đã vang tiếng tỳ.
Say nằm trận địa, cười chi?
Xưa nay chinh chiến người đi không về.
-Ca dao Việt Nam:
Rồng chầu xứ Huế
Ngựa tế Đồng Nai
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài
Thương người xa xứ lạc loài tới đây
Tới đây thì phải ở đây
Bao giờ bén rể xanh cây mới về.
-Lục súc tranh công:
Ngựa nghe nói tím gan, nổ phổi
Liền chạy ra hầm hí vang tai
“Ớ nầy nầy, tao bảo chúng bây
Đố mặt ai dài bằng mặt ngựa?
...
Ông Cao Tổ năm năm thượng mã
Mới dựng nên cơ nghiệp Lưu gia
Ông Quan Công sáu ải thoát qua
Vì cậy có Thanh Long, Xích Thố
. . . . . . . . . . . . . .
-Hai câu thơ của vua Trần Thánh Tông:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu
Dịch nôm:
Xã tắc hai phen bon ngựa đá
Non sông thiên cổ vững âu vàng
-Âm nhạc VN:
Cổ Nhạc có những bản như Lý Ngựa Ô Nam, Lý Ngựa Ô Bắc, Hướng Mã Hồi Thành, Sơn Đông Hướng Mã...
Tân nhạc có nhiều bài đề cập tới ngựa như:
-Vết Thù Hằn Trên Lưng Ngựa Hoang (của Ngọc Chánh và Phạm Duy)
-Ngựa Phi Đường Xa (của Lê Yên)
-Người Kỵ Mã Trong Sương Chiều (của Văn Sanh)
-Ngẫu Hứng Ngựa Ô (của Trần Tiến)
-Chàng Dũng Sĩ Và Con Ngựa Vàng (tức Đạo Ca 3 của Phạm Thiên Thư và Phạm Duy )
-Ngựa Hồng (tức Rong Ca 9 của Phạm Duy)
-Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa (của Lê Uyên Phương)
-Chuyện Phù Đổng Thiên Vương và con ngựa sắt:
Đời vua Hùng Vương thứ 6, giặc Ân sang xâm chiếm nước ta, Vua sai sứ đi rao tìm nhân tài ra dẹp giặc. Ở làng Phù Đổng (Bắc Ninh) có một đứa bé xin đi đánh giặc Ân. Đứa bé xin đúc cho một con ngựa sắt và 1 cái roi sắt, khi đúc xong, đứa bé vươn vai cao một trượng nhảy lên lưng ngựa, cầm roi đi đánh giặc. Sau khi phá tan giặc Ân, người và ngựa đến Sóc Sơn thì biến mất. Vua nhớ ơn, lập đền thờ ở làng Phù Đổng, sau phong là Phù Đổng Thiên Vương.
-Chuyện Tái Ông Thất Mã:
Xưa có một ông già mất ngựa. Mọi người tỏ ý tiếc cho ông. Ông nói: “Biết đâu đó lại chẳng là điều may mắn!”. Ít lâu sau, con ngựa ấy dẫn một con ngựa Hồ về nhà ông. Mọi người đều mừng cho ông già. Ông nói: “ Biết đâu đó chẳng là cái hoạ”.
Đứa con trai của ông cưỡi con ngựa Hồ, bị ngã què chân. Mọi người lại đến an ủi, Ông nói “ Biết đâu đó lại chẳng là phúc lớn”.
Năm sau, quân Hồ tràn vào, trai tráng bị bắt lính, ra trận chết rất nhiều, riêng con trai của ông già bị què chân nên không bị bắt lính.
-Chuyện con ngựa thành Troy:
Xưa ở mạn Bắc Tiểu Á Tế Á có thành Troy giàu có, dân cư đông đúc, Hy Lạp muốn đánh chiếm đã 10 năm mà không được. Tướng Odyssey của Hy Lạp bày mưu làm một con ngựa bằng gỗ rất lớn, rỗng ruột, có bánh xe để di chuyển cho một toán quân sĩ núp trong bụng ngựa rồi đẩy con ngựa gỗ đến trước cửa thành Troy khiêu chiến, nhưng quân Hy Lạp bỗng rút quân bỏ lại con ngựa gỗ trước mặt thành.
Quan quân của thành Troy thấy vậy ra đẩy con ngựa gỗ vào thành, mở tiệc ăn mừng chiến thắng thu được ”chiến lợi phẩm”, đêm ấy quan quân say vùi. Đến khuya, toán quân trong bụng ngựa gỗ mở nắp chạy ra giết chết lính canh rồi mở của thành cho quân Hy Lạp mai phục bên ngoài tràn vào đánh chiếm thành Troy.
Vinh Hồ sưu tầm & Biên Soạn
30/11/2025
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét