Trong một lần lục soạn mấy chục cuốn albums và mấy thùng đựng hình ảnh xưa, tôi nhìn một tấm hình gia đình Nàng vẫn còn rõ nét, gồm cha mẹ và 3 chị em. Nhớ lại, Khi tôi khoảng 13 hay 14 tuổi, Măng tôi treo bức ảnh đóng khung này ở tường ngay trên đầu giường ngủ của tôi. Bà cho thằng con trai út của mình biết đó là hình gia đình của OB Phan Huy Thạch gởi từ Phan Thiết tặng “Bà Vú”, vì Măng tôi là vú đở đầu cho mẹ Nàng trở lại đạo khi OB làm đám cưới tại nhà thờ. Măng tôi còn cho biết Ô. Thạch là một vị quan tòa nổi tiếng thanh liêm, thường bênh vực người nghèo khó, yếu thế và phụ nữ nên được nhiều người quý mến. Theo năm tháng, tôi lớn lên với tấm hình ấy, nhìn ngắm cô bé bên trái mỗi đêm, bắt đầu tơ tưởng đến cô bé ấy. Cho đến một hai năm sau, tôi bổng chỉ tay vào hình cô bé ấy và buột miệng nói với Măng tôi “Con sẽ cưới đứa con gái này”. Vào hè 1966, tôi treo bằng Bac II của tôi bên cạnh bức hình gia đình OB. Thạch. Bấy giờ tôi được 18 tuổi.
Ngoài tấm hình trên, có luôn cả tấm hình rửa tội của Nàng mà trong đó tôi nhìn thấy, từ trái qua phải: linh mục Bửu Đồng, Măng tôi, cô Trần Như Quê, mẹ đỡ đầu với bé sơ sinh trên tay, Bà và Ông Thạch, Cụ Ưng Trạo. Đằng sau tấm hình có hàng chữ “Marie Madeleine, ngày 18 tháng 10, 1953”. Marie Madeleine là tên thánh của Nàng.
Vào một chiều của hè 1967 và mùa thi cuối năm Dự Bị YK, một buổi chiều chan hòa nắng vàng óng ánh trên sông Hương, tôi tình cờ nhìn thấy một cô bé nhỏ nhắn mặc áo đầm vàng đi dạo cùng Mẹ và các em trong công viên trước trường Đồng Khánh. Thuở ban đầu lưu luyến ấy bắt đầu thành hình nơi đây. Vài ngày sau tại nhà tôi trong khuôn viên trường Đồng Khánh, tim tôi đập lỗi nhịp đầy thích thú khi bất ngờ gặp chính cô bé ấy đem bánh ít mặn của Mẹ làm đến biếu “Bà Vú”, tiếng nàng gọi Măng tôi. Bấy giờ tôi liên tưởng ngay đây là nhân vật nữ trong bức ảnh năm nào của gia đình OB Thạch, mà trong bao nhiêu năm qua, mỗi khi nhìn đến, tôi thường nghĩ rằng có ngày tôi sẽ có Nàng luôn bên cạnh, như một ám ảnh, một ước mơ thầm kín. Một nguyện cầu vu vơ. Đứng trước mặt tôi bây giờ là một cô bé tuổi 13, thật thanh tú với ánh mắt sáng thông minh, mái tóc “mùa thu tóc ngắn”, có một giọng nói thật đặc biệt pha từ nhiều miền, kể cả miền Bắc của ông nội Nàng.
Thì ra gia đình Nàng vừa di chuyển từ Đà Nẵng đến Huế sau khi ba Nàng đảm nhận chức vụ Chánh Án tòa án Thượng Thẩm Huế. Do sự quen biết giữa 2 gia đình, thỉnh thoảng tôi đến thăm Nàng tại nhà, tự nhiên làm quen với gia đình và chơi đùa với các em Nàng. Nhờ đó tôi có dịp nhìn thấy nết đoan trang và sự chu đáo của nàng khi phụ giúp Mẹ săn sóc các em. Có một lần, ngồi dựa lưng trên thành cửa sổ nhỏ phòng nàng, tôi hát tặng Nàng bài Mưa Hồng vì tôi thích câu “cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”, do xúc động giọng của tôi xuống thấp rồi tắt, không hát tiếp được, Nàng im lặng không dám cười, nhưng tôi can đảm xin hát lại lần thứ hai.
Mậu Thân 1968 xảy ra. Cả bức ảnh gia đình Nàng và bằng Bac II của tôi chung số phận bị mất cắp. Vào cuối mùa Xuân 68, đến ngày kề cận phải rời Huế vào Saigon học tiếp nửa năm còn lại, tôi lấy hết can đảm viết cho nàng một lá thư tình. Dĩ nhiên thư tôi không được hồi âm.
Đầu năm 1969, gia đình Nàng rời Huế khi ba Nàng nhận nhiệm sở mới ở Nha Trang. Tôi vẫn tiếp tục học thêm một niên khóa tại Saigon. Tôi vẫn chờ đợi trong im lặng, cho mình chín chắn hơn. Cho một thời cơ thuận tiện tốt đẹp. Hay để cho nàng lớn thêm hơn vài tuổi!? Tôi và nàng vẫn kẻ ở Huế, người Nha Trang. Không một thư từ, không một trao đổi liên lạc. Tôi lần lượt lên lớp cao dần ở trường YK và gián tiếp theo dõi tin tức Nàng ở những năm cuối trung học. Sau gần 3 năm xa cách Nàng, tôi tự hỏi mình nhiều lần, đây có phải là tình yêu? Người ta thường nói cách mặt xa lòng! Tưởng tình yêu đơn phương âm thầm tan biến theo thời gian, thế nhưng nó vẫn còn đó, như những cơn gió lao xao chợt đến. Như những tiếng thầm thì không chờ đón.
Cái sợ của tôi là ở Nàng không còn chút hình ảnh nào của tôi! Ngay cả cái tên cũng có thể quên đi! Dù không một tin tức trực tiếp của Nàng, tôi vẫn quyết định tìm đến thăm Nàng vào mùa Xuân 1972 khi Nàng đang học năm thứ Nhất tại phân khoa Chính Trị Kinh Doanh ở Viện ĐH Đà Lạt.
Tôi đến Đà Lạt trong tư cách một cộng sự viên của Sinh Viên Vụ quay phim chụp hình cho phái đoàn SV Viện Đại Học Huế tham dự Đại Hội Thể Thao Liên Viện do ĐH Đà Lạt đứng ra tổ chức vào tháng 3, 1972. Đến nơi, tôi trao hết đồ nghề cho một bạn khác, và trong suốt 3 ngày liên tục của Đại Hội, tôi không làm gì khác hơn ngoài việc tìm thăm Nàng, người tôi yêu và đeo đuổi trong nhiều năm qua, từ Huế vào đến Nha Trang và nay Đà Lạt. Sáng tôi đón Nàng ở Kiêm Ái, chiều tôi trả Nàng về lại cư xá. Nàng và tôi đã đi bộ qua bao con đường quanh thị xã, cùng ngồi chuyện trò ở sân Cù trong nắng ban mai, ngắm Hồ Xuân Hương, dạo phố Hòa Bình, đưa nhau đi ăn sáng, ăn trưa, ăn tối…Với tôi, đó là 3 ngày hạnh phúc nhất trong quãng đời, dù ngắn ngủi, nhưng đã ghi sâu trong tim tôi những kỷ niệm đậm đà không hề phai. Trong lá thư duy nhất gởi tôi khoảng 2 tuần sau khi tôi về lại Huế, Nàng viết “Anh Chánh ơi, hãy trân quý và giữ lấy tình yêu của anh. Nhưng anh cũng phải biết, yêu không cần phải được yêu trả lại mới thật sự là yêu…” Măng tôi cảm nhận sự đau đớn của con trai mình khi nhìn thấy sự lặng lờ của tôi trong những ngày tháng sau đó. Ba ngày le lói bên Nàng tại Đà Lạt, để bù lại, thêm một lần nữa, tôi phải trả đắt giá cho một thời gian “bonjour tristesse” dài trong 3 năm kế tiếp, để khi ở nơi xa, tôi chỉ cầu mong Nàng trong những “đêm mai cô đơn đi về, xin người hãy nhớ tình tôi”.
Trong tình cảnh đáng ngại chính trị và quân sự của Miền Nam VN, tôi tốt nghiệp YK Huế tháng 6, 1973, sau 7 năm miệt mài với sách vở, luôn mang trong lòng một bầu nhiệt huyết với đất nước, sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ bất cứ nơi đâu, bất cứ trong vị trí nào khi đất nước kêu gọi. Song song với giấc mơ dài của trai thời loạn, tôi vẫn giữ kín cho mình niềm mơ ước có ngày tôi sẽ trùng phùng với Nàng, người tôi vẫn tiếp tục mãi mãi yêu thương và nhung nhớ, dù cho Nàng ở xa ngoài tầm với, như một thôi thúc diệu kỳ và mãnh liệt không dứt trong tâm tưởng.
Sau khi thi đậu lâm sàng và do nhu cầu cần in tập Luận Án cho kịp trình vào tháng 12 cuối năm 1973, tôi quyết định làm một cuộc hành trình bằng đường bộ từ Đà Nẵng vào Saigon sau khi dò hỏi biết xe chở khách sẽ dừng đêm tại Nha Trang. Từ bến xe khách Nha Trang, và sau khi gởi nhờ một bà ngồi gần tôi trong cùng chuyến xe giữ giùm xách tay, tôi leo lên xe honda ôm, nhờ chở thẳng đến số 4 đường Hoàng Hoa Thám, dinh thự Tòa Đặc Ủy Giám Sát Quân Khu 2, là cơ sở làm việc của ba nàng và cũng là chỗ gia đình Nàng cư ngụ. Khi xe đến nơi, bỗng nhiên tôi khựng lại, tự hỏi không biết cửa nhà Nàng có mở chào đón tôi, cuộc gặp gỡ có đầm ấm hay gượng gạo khách sáo. Tôi bỏ hẳn ý định vào thăm Nàng như đã rộn ràng lên kế hoạch trước chuyến đi đường bộ. Cái gì đã khiến tôi thay đổi vào phút chót? Mất tự tin?? Thời cơ chưa thuận tiện?? Con người tôi chưa đủ phong độ?? Con đường trước mắt tôi còn quá dài, sự nghiệp tôi còn quá khiêm nhường?? Sau khi xe ôm chạy thêm vài vòng qua lại trước nhà Nàng, tôi quay trở về bến xe, thuê chiếc ghế bố ngủ qua đêm. Một đêm trằn trọc, ray rứt cho đến tận sáng. Để cuối cùng tôi nhận thấy quyết định vừa qua của mình chính đáng và đầy tự trọng.
Tôi trình diện nhập ngũ tháng Giêng 1974 tại trường Quân Y và theo học khóa 16 Trưng Tập cùng với 160 bác sĩ, nha sĩ và dược sĩ. Ngày tốt nghiệp vào cuối tháng 5, 1974, không một do dự dù đậu cao với hạng thứ 12, tôi tình nguyện chọn phục vụ Quân Y Nhảy Dù.
Trở về nhà trong Cư Xá Sĩ Quan Chí Hòa, tôi báo cho Măng biết tôi tình nguyện vào Nhảy Dù. Măng tôi la hoảng lên, lo lắng thấy rõ. “Răng mà chọn đi ND nguy hiểm rứa! Không sợ chết à?! Gia đình nuôi con ăn học ra tới bác sĩ mà không biết suy nghĩ thương lại Măng và các anh chị!..” Tôi liền trình bày sự hiểu biết của mình về binh chủng ND cho Măng tôi nghe… Mặc tôi giải thích, Măng tôi vẫn nhất quyết cho người kêu các bà chị của tôi đến nhà để bàn chuyện, ý muốn tìm cách thay đổi đơn vị cho thằng con trai út bằng cách nhờ cậy các nơi quen biết.
Đến nước đó, tôi cương quyết giữ vững lập trường của mình, cho biết tôi dứt khoát muốn trở thành một BS. Nhảy Dù, rằng tôi muốn tự thực hiện một thay đổi quan trọng cho đời mình, quyết chí cho mình một ý thức mới trong cuộc sống sắt đá oai hùng của một chàng trai đúng nghĩa của thời chiến, sẵn sàng dấn thân vào chốn nguy hiểm để xem mình có thể quên được người con gái hằng đeo đuổi và mãi thương nhớ trong nhiều năm qua. Xót xa cho thằng em mình, các chị tôi bênh vực tôi và cuối cùng Măng tôi đành miễn cưỡng chấp nhận.
Sau hơn nữa năm theo chân Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù chiến đấu tại Miền Trung, tôi được thuyên chuyển về làm y sĩ trưởng Tiểu Đoàn 15 Nhảy Dù Tân Lập, cùng với Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù Tân Lập, có nhiệm vụ trấn giữ Saigon. Tôi may mắn biết được gia đình Nàng đã từ Nha Trang dời vào Saigon từ năm 1974. Và Nàng đang học năm cuối tại phân khoa Chính Trị Kinh Doanh, Đại Học Đà Lạt.
Vào chiều Mùng Một Tết, hiên ngang trong bộ hoa dù mũ đỏ, dạn dày phong sương, ăn nói chững chạc, hạnh phúc dồn dập đến với tôi khi tôi gặp lại Nàng tại nhà gia đình Nàng, sau gần 3 năm xa cách kể từ tháng 3, 1972 ở Đà Lạt. Từ đó tôi tiếp tục ráo riết chinh phục Nàng qua những lá thư đậm đà tình thương nhớ từ trại quân hay trong khi đi hành quân ven đô, hoặc qua những dịp đến thăm Nàng tại nhà, trổ miệng lưỡi chiếm cảm tình của gia đình họ hàng Nàng. Mối tình của tôi từ từ chuyển hướng thuận lợi. Trong bối cảnh chao đảo của chiến sự, càng ngày Nàng và tôi càng cảm thấy gần gũi sâu đậm hơn. Các anh chị tôi, các bà con bên nội và bên ngoại phía Nàng đều thương mến chúng tôi, và qua hình ảnh “Em là gái trong song cửa, Anh là mây bốn phương trời” thường nhìn chúng tôi với ánh mắt ngưỡng mộ.
Tình trạng chính trị và quân sự của Miền Nam Việt Nam từ từ đi vào bế tắt. Xế chiều ngày 30 tháng 4, 1975, tôi rời vị trí chiến đấu của Tiểu Đoàn 15 Nhảy Dù, về nhà Nàng. Nàng là người đầu tiên từ trên balcon nhìn thấy tôi bước xuống xe ôm, và cùng các em chạy nhanh xuống mở cổng đón tôi vào. Khi đến thang lầu, tôi phải vịn vào vai Nàng để bước lên từng bước. Cơ thể tôi rã rời và tinh thần khủng hoảng, tôi thật chẳng hiểu vì sao mình lại về được đến nhà an toàn. Hầu như mọi người đều thông cảm và tôn trọng sự yên lặng của ba nàng và của tôi. Chiều đến, tôi đạp xe về nhà Măng tôi ở cư xá Sĩ Quan Chí Hòa cho bà cụ yên tâm, rồi tôi chở Măng tôi đến nhà Nàng xin ba mẹ nàng cho phép tôi ở tạm nơi đây, vì cư xá Sĩ Quan Chí Hoà quá nguy hiểm.
Đêm 30 tháng 4, Nàng và tôi ngồi ở balcon nói chuyện với nhau đến thật khuya. Trước đây, trong một lá thư gởi cho nàng, tôi có viết “anh xin làm bóng mát trên con đường em đi”. Giờ đây, với sự đổi đời, tương lai tôi mù mịt, viễn ảnh những năm tháng sắp tới là chuỗi ngày đen tối, đọa đày và tôi e ngại tôi chẳng còn khả năng làm bóng mát cho em. Nàng ngồi nghe tôi nói nhiều hơn trả lời. Vì có lẽ câu trả lời đã được quyết định tự lúc nào.
Em yêu dấu, sau ngày đôi cánh thiên thần của tôi sụp gãy, em can đảm dang rộng đôi tay cứu vớt đời tôi khi quyết định thành vợ thành chồng với tôi 3 ngày sau khi mất nước, trong khi tôi là một thằng lính bại trận. Một đám cưới đơn sơ, cô dâu không hề có áo cưới, trong khi mẹ Nàng nuôi con khôn lớn chỉ mong được nghe tiếng pháo cưới của con. Em cùng tôi chắt chiu hạnh phúc trong cơn lốc đổi đời, đã cùng nhau vượt qua bao thử thách gian khó cùng cạm bẫy để có nhau và mãi mãi bên nhau. Cho đến khi chúng ta đến bến bờ tự do. Vòng tay em tuy nhỏ, nhưng cái ôm choàng cứng chặt và bền bỉ hơn cả cánh dù tôi hằng mơ ước.
Giờ đây, nhờ lục soạn những tấm ảnh xưa cũ, nhờ nối kết với những dữ kiện gom góp qua trí nhớ đối chiếu của cả 2 đứa, chúng tôi nhận thấy mình thật sự có duyên tiền định. Thật khó giải thích sự diệu kỳ các diễn tiến phù hợp với suy luận trên. Như trong 2 tấm hình kèm đây. Tấm đầu tiên cho thấy tôi ngồi bên góc phải trên thành cầu của thác Prenn, chụp vào tháng 7, năm 1971 trong một chuyến đến chơi hè ở Đà Lạt. Tấm ảnh kế bên của Nàng, ngồi bên cạnh mẹ cũng ở góc bên phải trên thành cầu thác Prenn, chụp vào khoảng tháng 8, 1971 khi Nàng được cha mẹ đưa từ Nha Trang lên nhập học năm học đầu tiên tại phân khoa CTKD tại Viện Đại Học Đà Lạt. Như vậy không là tiền định thì còn gì hơn nữa!?
Tôi đã bền bỉ chạy theo tiếng gọi của con tim nhưng không hoàn toàn mê muội để bỏ bê học vấn. Tôi chiến đấu với chính mình, tôi vừa thách thức vừa phớt lờ khoảng thời gian và không gian cách trở. Tôi vừa bất chấp vừa chấp nhận sự thua thiệt trong chạy đua. Sự đau khổ tuyệt vọng giúp tôi khiêm tốn. Sự thất bại cho tôi thêm kinh nghiệm và ý chí. Thất tình giúp tôi thêm kiên nhẫn và bền chí, nhất là giúp cho tôi biết chờ đợi cơ hội thuận tiện. Để cuối cùng, không ít thì nhiều, áo hoa dù mũ đỏ cùng phong cách hiên ngang tự tin của một người trai trưởng thành trong khói lửa đã làm Nàng xiêu lòng và cảm nhận tấm lòng thành của tôi. Tình yêu của tôi đã được đáp trả. Giờ đây tôi có tình yêu. Trong tình yêu phải có đam mê. Và tôi có cả hai. Ước mơ năm xưa nay là hiện thực. Tôi là người hạnh phúc nhất trần gian.
50 Năm, một nửa thế kỷ! Một khoảng thời gian quá dài để nhớ hết tất cả những gì đáng nhớ, nhất là khi đã trải qua những năm liền với nhiều biến cố dồn dập. Nhưng rồi 50 năm đã qua như một cơn gió thoảng. Hai chúng tôi tự nhiên gắn bó với nhau theo thời gian, tận hưởng cuộc sống trong từng khoảnh khắc. Hạnh phúc đơn giản dễ thấy khi mỗi sáng thức giấc còn bên cạnh nhau, nắm tay nhau bất cứ khi đi cạnh nhau, tối chờ nhau cùng lên giường một lúc, ôm sát nhau, tay chân đụng nhau, gác lên nhau, xoa xoa nắn nắn, bóp trên bóp dưới, bóp trước bóp sau, bóp chân bóp tay, da thịt quen thuộc, nồng nàn êm ấm, mộng lành trong tiếng thở của nhau, quen luôn cả tiếng ngáy “mê hồn” ru ngủ. Tuy nhãn quan kém dần, tay chân quờ quạng hơn xưa, bước đi kém mạnh và bớt nhanh, nhưng đầu óc vẫn còn minh mẫn để nhìn cuộc đời rõ hơn. Để biết nếu trong đời có những buồn tủi thất vọng thì cũng có những giây phút thăng hoa. Nếu có những cạm bẫy ma quỷ thì cũng có những tha thứ bù đắp, có những hư hao nhưng không là mất mát, những bi quan nhưng không vô vọng. Có những thử thách nhưng không là những cơn bão dữ, những bất ngờ đáng tiếc nhưng không là những tàn phá vĩnh viễn. Vì vậy cảm thông và tha thứ là căn bản trong tình yêu thương vợ chồng bền vững. Nếu duyên tơ hồng là do trời định, thì sự bồi đắp cho một hạnh phúc lâu bền là trách nhiệm của cả vợ lẫn chồng. Hai chúng tôi đều biết điều đó, quyết chí sẽ sống bên nhau cho đến trăm tuổi. Với cuộc tình mãi xanh như thuở ban đầu trong mùa xuân bất tận.
Xin được trích vài lời trong nhạc khúc “50 Năm Bụi Mờ” của nhạc sĩ Lê Tín Hương để làm khung cho phần kết :
“Nhớ như là một giấc mơ, 50 năm ngày nào, hồn xuân vẫn ngọt ngào
Nhìn hoa trái đẹp đời, 50 năm đắp xây, hạnh phúc trong tình đầy…”
Em yêu dấu, bài viết này là thư tỏ tình thứ hai của tôi. Sau 50 năm bên nhau. Ở tuổi gần 80, bài viết mang ý nghĩa trang trọng hơn một buổi tiệc hấp hôn với cả trăm khách mời. Nó tuyệt đẹp hơn cả trăm bó hoa chúc phúc tình mình. Bài viết này đủ để được trân quý đóng khung vĩnh viễn trong ký ức chúng minh.
Trong bài “Thơ Tặng Vợ”, Hồ Dzếnh viết:
“Mình vừa là chị, là em – Tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời
Mai này, tới phút chia đôi - Hai ta, ai sẽ là người tiễn nhau?
Xót mình đã lắm thương đau – tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình..”
Tôi đồng ý hoàn toàn, tuy chỉ xin thêm một câu:
“Mình vừa là boss của anh – lại vừa là mẹ bề trên của nhà"
Cuối cùng, sau tất cả, tôi vẫn có em, bên cạnh tôi. Quả là một ơn phước nhiệm mầu!
Vĩnh Chánh
Tháng 7, 2025
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét