(Phiếm Võ Phú)
Con người muốn tồn tại thì trước hết phải ăn. Theo tháp nhu cầu của Abraham Maslow ((Sanh ngày 1 tháng 4 năm 1908, mất ngày 8 tháng 6 năm 1970) là một nhà tâm lý học người Mỹ có ảnh hưởng tiên phong và là một trong những người sáng lập trường phái tâm lý học nhân văn. Ông được biết đến nhiều nhất với việc phát triển thuyết “Tháp nhu cầu” (Hierarchy of Needs)). , ăn uống thuộc nhu cầu sinh lý cơ bản nhất nhưng cũng là nền tảng quan trọng nhất. Khi những nhu cầu này chưa được đáp ứng, con người khó có thể nghĩ đến các nhu cầu cao hơn như an toàn, tình cảm hay khẳng định bản thân. Vì vậy, trong quan niệm dân gian, “ăn” thường được xếp đứng đầu trong “tứ khoái”; ăn, ngủ, ấy (tình dục) và ị (bài tiết). Bởi đó là điều kiện tiên quyết của sự sống.
Dưới góc nhìn khoa học, ăn còn mang lại khoái cảm tự nhiên cho con người. Khi thưởng thức món ăn ngon, cơ thể tiết ra dopamine và endorphin, những chất dẫn truyền thần kinh tạo cảm giác hạnh phúc và thoải mái. Do đó, ăn không chỉ để duy trì sự sống mà còn để thỏa mãn cảm xúc, giảm căng thẳng và tạo niềm vui.
Trong văn hóa Việt Nam và nhiều nước Á Đông, ăn uống không đơn thuần là hành vi cá nhân mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Bữa cơm là nơi sum họp gia đình, gắn kết bạn bè, thể hiện tình thân và sự hiếu khách. Các dịp lễ, Tết, giỗ chạp hay cưới hỏi đều gắn liền với mâm cỗ và nghi thức ẩm thực. Câu tục ngữ “Có thực mới vực được đạo” đã khẳng định vai trò nền tảng của ăn uống đối với đời sống tinh thần và đạo lý.
So với những “khoái” khác, ăn là niềm vui dễ đạt được, có thể lặp lại hằng ngày và ít rủi ro hơn. Chính vì vừa thiết yếu, vừa mang lại khoái cảm sinh học, lại vừa có giá trị văn hóa xã hội sâu sắc, nên ăn được xem là một trong những niềm vui căn bản và quan trọng nhất của con người.
Hôm nay là ngày mùng 9 tháng Giêng, dư âm của những ngày Tết vẫn còn đọng lại, nên tôi viết bài phiếm này để góp vui cùng bạn đọc. Người Việt gọi là “ăn Tết” vì trong tiếng Việt cổ, “ăn” không chỉ có nghĩa là ăn uống mà còn mang nghĩa rộng là tham dự và hưởng một dịp lễ như ăn cưới, ăn giỗ….
Tết, đặc biệt là Tết Nguyên Đán, gắn liền với mâm cỗ, cúng tổ tiên và sum họp gia đình, nên yếu tố ăn uống trở thành trung tâm của ngày lễ. “Ăn Tết” vì thế vừa là hưởng thành quả sau một năm lao động, vừa là hưởng phúc, đón lộc đầu năm.
Nghĩ cho cùng, cả năm người ta ăn để sống, còn mấy ngày Tết dường như sống để ăn. Trước Tết lo ăn; gói bánh, làm mứt, kho thịt, ngâm dưa. Trong Tết bận ăn; ăn tất niên, ăn giao thừa, ăn mồng Một, mồng Hai, mồng Ba. Sau Tết lại… ráng ăn cho hết. Cái vòng quay ấy nghe có vẻ buồn cười, nhưng ẩn trong đó là niềm mong mỏi rất người. Mong một năm mới đủ đầy, không đói kém, không thiếu thốn.
Bởi vậy, nghĩ đến chuyện “ăn” là một trong tứ khoái, tôi lại có lúc… bực mình. Không phải bực chuyện ăn, mà bực cái không khí “ăn Tết” lúc nào cũng rình rang quá mức cần thiết.
Năm nào cũng vậy, cứ độ chừng hai tuần trước Tết là vợ tôi bắt đầu tất tả. Tiền bạc không phải vấn đề. Vấn đề là nàng muốn mọi thứ phải đủ đầy, trọn vẹn, để “nguyên năm không thiếu thứ chi”. Mâm ngũ quả phải có “Cầu – Dừa – Đủ – Xoài”. Bánh trái, mứt gừng, mứt dừa, mứt bí… năm nào cũng từng khay từng hộp xếp ngay ngắn. Tôi nhìn mà vừa thương vừa… lo cho cái bụng và cái chỉ số đường huyết của mình.
Năm nay chúng tôi sắp chạm ngưỡng năm mươi. Cái tuổi bắt đầu nghe bác sĩ nhắc nhiều hơn đến tiểu đường, mỡ trong máu, huyết áp. Vì vậy, nàng cũng "cắt bớt" thực đơn Tết. Không còn cả chục loại bánh mứt như xưa, chỉ giữ lại vài món thật sự thích. Bánh tét vẫn gói, nhưng thịt ba rọi, nàng lựa những miếng ít mỡ hơn. Tuy sống ở Mỹ, chúng tôi vẫn thích cảm giác canh nồi bánh những ngày giáp Tết. Thế là hai vợ chồng hí hoáy gói bánh tét kiểu cổ truyền, nhóm bếp củi sau vườn. Khói bay cay mắt mà lòng lại ấm lạ thường. Giữa xứ người, mùi lá chuối và nếp chín thơm như kéo cả quê nhà về trước hiên.
Rồi đến thứ Bảy, 25 Tết, nàng năn nỉ tôi chở đi chợ “mua cho đủ ba ngày Tết”. Một vòng Costco, rồi chợ Hàn, chợ Việt, ghé thêm chợ Ấn Độ cho đủ gia vị. Xe đẩy chất đầy mà tôi cứ lẩm bẩm:
-Nhà có ba người ăn thôi mà…
Nàng cười:
-Tết mà!
Chủ Nhật, mới năm giờ sáng nàng đã dậy. Trong khi tôi còn định ngủ nướng, dưới bếp đã leng keng nồi niêu. Trước 12 giờ trưa phải xong mâm cơm cúng. Đến 11:30, bàn thờ đã tươm tất: hoa quả, nhang đèn, món mặn món ngọt bày biện chỉnh tề.
Nhà năm nay chỉ có ba người (cậu con trai bận học ở xa nhà, không về được). Tôi mời mẹ và vài người bạn đến ăn tất niên, nhưng cuối năm ai cũng bận. Ba tôi ăn chay trường, không thích rời nhà. Cuối cùng chỉ có mẹ sang. Bốn người ngồi quanh mâm cơm gia đình, nói chuyện năm cũ, nhắc vài kỷ niệm cũ. Mâm “chỉ để cúng” ấy, vậy mà ăn mấy ngày sau vẫn chưa hết. Tủ lạnh đầy ắp hộp lớn hộp nhỏ. Tôi mở ra là thấy Tết nhìn lại mình.
Nhiều lúc tôi tự hỏi: ta ăn Tết hay Tết ăn ta? Bao nhiêu công sức, bao nhiêu chuẩn bị, rốt cuộc cũng quy về mấy bữa cơm no. Nhưng rồi, khi ngồi nhìn vợ lúi húi sắp xếp lại bàn thờ, cẩn thận chia phần gửi mẹ mang về, tôi chợt hiểu: nàng không chỉ đang nấu ăn. Nàng đang giữ một nếp nhà.
“Ăn Tết” có thể bắt đầu từ chuyện ăn, nhưng rốt cuộc không dừng ở chuyện ăn. Đó là cách ta chứng minh với tổ tiên rằng mình vẫn còn nhớ nguồn cội. Là cách người phụ nữ trong nhà thể hiện sự vun vén. Là cách những đứa con, dù ở Mỹ hay ở đâu, vẫn tìm lại mùi vị quê hương qua đòn bánh tét khói bay nghi ngút.
Có thể tuổi năm mươi sẽ khiến chúng tôi bớt ăn lại. Có thể mâm cỗ mỗi năm sẽ gọn hơn, ít đường, ít mỡ hơn. Nhưng tôi biết, chừng nào vợ tôi còn tất bật trước Tết, còn năn nỉ tôi chở đi chợ “cho đủ ba ngày”, chừng đó trong nhà vẫn còn Tết.
Và có lẽ, cái bực mình của tôi thực ra chỉ là do tôi lười và không muốn vợ cực nhọc. Nhưng nếu một năm nào đó không còn ai tất tả lo “ăn Tết” nữa, chắc tôi lại thấy thiếu. Không phải thiếu miếng ăn, mà thiếu cái không khí ấm áp khiến mình biết rằng: gia đình vẫn còn đây, và mùa xuân vẫn trở về.
-oOo-
Ngày xưa, khi cuộc sống còn khó khăn, Tết là dịp hiếm hoi trong năm có miếng thịt ngon, nồi bánh chưng xanh, đĩa xôi thơm. Trẻ con háo hức vì được “ăn trên ngồi trước”, người lớn vui vì mâm cỗ tươm tất chứng tỏ một năm làm ăn không đến nỗi nào. Ăn khi ấy không chỉ là nhai và nuốt, mà là một cách khẳng định: “Nhà ta vẫn đong đầy. Năm cũ ta đã vượt qua.”
Những năm 80–90, gia đình tôi nghèo đến mức thiếu ăn thật sự. Cái nghèo khi ấy không phải là thiếu món ngon, mà là thiếu cái để lấp đầy bụng. Những củ sắn còn dính vỏ, gọt chưa sạch, được cắt lát, phơi khô, (thường dùng cho heo ăn) ghé cùng với hạt gạo (mốc) cho “đỡ hao”. Cơm ít, sắn nhiều. Ăn riết thành quen.
Anh kế tôi khi ấy đang tuổi lớn, lại ham ăn. Nhà thiếu thốn, nên hễ có gì là anh ăn cho “đã”. Có lần ăn quá nhiều sắn đến say, ói mửa cả ngày. Mẹ vừa xót con vừa sợ hãi. Cái đói ngày đó không chỉ làm bụng trống rỗng, mà còn gieo vào lòng người một nỗi ám ảnh âm thầm… Sợ thiếu!
Có lẽ vì vậy mà bây giờ, khi cuộc sống đã ổn định nơi xứ người, mẹ tôi và cả anh tôi vẫn giữ nguyên thói quen tích trữ thức ăn như để phòng một cơn đói có thể quay lại bất cứ lúc nào. Tủ lạnh lúc nào cũng đầy ắp. Mà không chỉ một cái, ba cái trong nhà đều chật kín. Nhà anh tôi chỉ có hai vợ chồng thôi, vậy mà có đến bốn tủ lạnh và tủ đông. Nhìn vào cứ ngỡ như một cửa hàng thực phẩm thu nhỏ. Thức ăn chất đầy đến mức tôi nghĩ chắc ăn nửa năm cũng chưa hết.
Tôi đã nhiều lần nói rằng ở đây siêu thị mở cửa quanh năm, thực phẩm lúc nào cũng sẵn, không còn cảnh xếp hàng mua từng ký gạo như thời trước nữa. Nhưng mẹ tôi chỉ cười hiền; “Biết đâu lỡ…” Cái chữ “lỡ” ấy nghe nhẹ tênh, mà nặng như cả một thời quá khứ. Cái “lỡ” ấy không nằm ở thực tại, mà nằm sâu trong tiềm thức của một thời đói kém.
Mỗi lần tôi ghé thăm, câu đầu tiên mẹ hỏi bao giờ cũng là: “Con ăn gì chưa?” Không phải “Con khỏe không?”, cũng không phải “Công việc sao rồi?”, mà là “Con ăn chưa?” Với mẹ, hỏi ăn là hỏi thương. Bà lục đục dưới bếp, hâm lại món này, dọn thêm món kia, ép tôi ăn bằng được. Bà tin rằng con mình ăn nhiều là con mình khỏe, là mình làm tròn bổn phận.
Hồi trước, tôi còn cả nể. Sợ mẹ buồn, tôi ráng ăn cho bà vui. Ăn dù đã no, ăn dù bụng bắt đầu phản đối. Nhưng càng lớn tuổi, tôi càng không thể chiều theo cách đó nữa. Vợ tôi ở nhà đã “nuôi” khá kỹ, thực đơn tính toán vừa đủ. Bác sĩ thì dặn dò chỉ số đường, mỡ máu phải kiểm soát. Ở cái tuổi sắp năm mươi, thêm một chén cơm hay một miếng thịt kho đôi khi không chỉ là thêm calorie, mà là thêm nguy cơ. Tôi đùa rằng nếu cứ ăn như mẹ ép, chỉ số đường và mỡ máu của tôi chắc phóng lên như tên hỏa tiễn.
Vậy nên dạo gần đây, tôi từ chối. Từ chối nhẹ nhàng nhưng dứt khoát. Tôi nói: “Con no rồi, con ăn vậy đủ rồi.” Mẹ có buồn. Tôi nhìn thấy chút hụt hẫng trong ánh mắt bà. Cái buồn ấy không phải vì tôi chê đồ ăn, mà vì bà không còn được chăm con theo cách bà quen nhất.
Nghĩ kỹ, tôi hiểu thế hệ của mẹ tôi yêu bằng thức ăn. Trải qua những năm tháng thiếu thốn, họ tin rằng đầy đủ nghĩa là có cái ăn. Cho con ăn no là cách chắc chắn nhất để bảo đảm con không khổ như mình ngày trước. Còn thế hệ chúng tôi, lớn lên trong thời dư dả hơn, lại học cách yêu bằng lời nói, bằng không gian riêng, bằng sự tôn trọng lựa chọn của nhau.
Giữa hai cách yêu ấy đôi khi có va chạm. Tôi bực mình vì bị ép ăn. Mẹ buồn vì con từ chối. Nhưng sâu bên trong, đó chỉ là hai nỗi sợ khác nhau… Mẹ sợ con đói, còn tôi sợ bệnh tật.
Có lẽ điều tôi cần học không phải là ăn thêm cho mẹ vui, mà là nói với mẹ theo một cách khác rằng tôi đủ ăn, đủ khỏe, đủ đầy. Rằng cái thời sắn trộn cơm đã qua rồi. Và rằng tình thương của mẹ, dù không được đo bằng số món trên bàn, vẫn luôn dư dả hơn bất kỳ tủ lạnh nào.
Bởi rốt cuộc, sau tất cả những năm tháng thiếu ăn, điều còn lại không phải là cơn đói mà là ký ức về nó. Và ký ức ấy, đôi khi, vẫn âm thầm chi phối cách người ta yêu thương nhau suốt cả một đời.
-oOo-
Ngày nay, vật chất đầy đủ hơn, thức ăn không còn là nỗi chờ mong hiếm hoi. Nhưng “ăn” vẫn còn đó như một thói quen văn hóa. Ta có thể bớt ăn đi một chút cho khỏe, nhưng không thể thiếu bữa cơm đoàn viên. Vì điều làm nên ý nghĩa của ăn không nằm ở cao lương mỹ vị, mà ở chỗ quanh mâm cơm ấy có đủ mặt những người ta thương.
Cuối cùng, “ăn”, "ăn Tết", không chỉ là hành vi sinh lý mà là cách con người gắn kết với đời sống, với gia đình và với ký ức. Cả năm chúng ta ăn để sống, nhưng những ngày Tết, ta dường như sống để ăn, không chỉ ăn thức ăn, mà còn ăn niềm vui, tình thân và hy vọng cho một năm mới đủ đầy. Những mâm cỗ, những nồi bánh tét, những câu chuyện quanh bữa cơm không chỉ nuôi cơ thể mà còn nuôi lòng người, giữ gìn nếp nhà, giữ lại hồn cốt văn hóa.
Và có lẽ, sau tất cả những phân tích về sinh học hay văn hóa, “ăn” vẫn đơn giản là cách con người cảm nhận sự sống rõ ràng nhất. Một miếng ngon làm ta ấm lòng. Một bữa cơm sum họp làm ta thấy mình thuộc về. Một cái Tết đủ đầy làm ta thêm tin vào ngày mai.
Cho nên, nếu ai hỏi vì sao người Việt cứ nói “ăn Tết”, tôi sẽ mỉm cười: bởi chúng ta không chỉ ăn thức ăn, chúng ta ăn cả ký ức, ăn cả tình thân, ăn cả niềm hy vọng cho một năm mới an lành.
Võ Phú
RIC-022526
(Hình Ảnh: Tác Gỉa gửi)



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét