Các Đề Mục

Tiễn Biệt Hoa Văn - Trần Quốc Bảo

Nguyễn Phú Long, Hoa Văn-Ngô Văn Hòa, Trần Quốc Bảo,

Thôi rồi!... lão hữu Hoa Văn! (*)
Gặp nhau mới đó, đã thành cố nhân!
Thế là trọn cuộc phù vân.
Tình thơ để lại, tuyệt luân cho đời!

Hoa Văn tri kỷ, bạn ơi…
Làm sao quên được, những lời tâm tư,
Nhắc về chiến cuộc xa xưa,
Vùng Hai Chiến Thuật, tình cờ gặp nhau,

Túi thơ, bầu rượu… thật ngầu!
Cũng M-16 địa đầu Pleiku!
Rồi ta hội hữu qua thơ,
Tri âm tri kỷ, tới giờ quý thay!

Giang sơn gặp hội chẳng may,
Hoa Văn hứng chịu, tù đày bao năm!
Vẫn hồn trung liệt sao băng!
Trái tim cho Nước, tấm lòng cho Thơ.

Rời Quê Mẹ, diện HO,
Thuyền thơ lưu lạc, tới bờ Richmond.
Phú Long, Quốc Bảo, Hoa Văn,
Bút thơ gốc lính, kết thành Tam Đa.

Phú Long khuất bỏ đã xa,
Hoa Văn nay, tách thuyền qua bến rồi!
Richmond còn lại mình tôi.
Trang thư nhòa lệ, bồi hồi tiếc thương!

Rượu bầu, kể đã mất hương,
Túi thơ, kể cũng văn chương vô tình!
Bên khay trà, chỉ riêng mình,
Tôi ngồi độc ẩm, một bình… ba ly…

Hoa Văn ôi!... bạn cố tri,
Ly này tiễn bạn, an quy non bồng!
Ly này… nhớ Nguyễn Phú Long,
Ngàn thu an giấc, ngoài vòng trần ai!

Thôi thì… số mệnh an bài…
Ly này thành kính… dâng hai bạn hiền!
Tôi lau nước mắt ưu phiền,
Hẹn nhau tái ngộ nơi miền thiên thai!

Trần Quốc Bảo
Richmond, Virginia
---o0o--
Thưa anh Trần Quốc Bảo.

Sau khi Phương Hoa em đọc bài Thơ tiễn biệt của “anh tiền bối” Trần Quốc Bảo viết cho cố thi si Hoa Văn, em xúc động vô cùng. Có thể thấy tình bạn và tình huynh đệ chi binh của các anh thật đáng quí và đáng ngưỡng mộ.

Các anh đã có một tình bạn rất cao cả và thiêng liêng , nên khi anh Hoa Văn mất đi , anh Trần Quốc Bảo rất đau lòng, nhỏ lệ làm một bài thơ thật hay và thật cảm động.

Bài thơ của anh Trần Quốc Bảo là lời tiễn biệt nghẹn ngào của người lính già trước sự mất mát người bạn thân và cũng là người tri kỷ. Từng câu thơ thấm đẫm tình bằng hữu, tình chiến hữu và tình cùng yêu văn thơ "tâm đầu ý hợp" khiến người đọc cảm nhận được nỗi cô đơn quặn thắt của người ở lại. Đặc biệt hình ảnh “một bình… ba ly…” thật cảm động.

Do đó, Phương Hoa mạo muội làm nhạc bài thơ này, để góp phần vinh danh nhà thơ kỳ cựu Hoa Văn, mà chưa kịp xin phép anh TQ Bảo, mong anh lượng thứ .

Kính gửi anh T Quốc Bảo.


Em xin cảm ơn
Phương Hoa

Kính Tiễn Thi Sĩ Đại Lão Hoa Văn - Cao Mỵ Nhân

 

(Thay lời phúng điếu Thì Sĩ vừa mãn phần)

Nối vần thương đại lão HOA VĂN
Lục bát thi vương thủa họa vần
Người đã hôm nay về Vĩnh Cửu
Thơ còn ngàn thủa với phong vân
Bao nhiêu thức giả chào ly biệt
Bấy khách tài hoa khóc tiễn chân
Rượu rót ba ly sầu Quốc Bảo
Trần huynh độc ẩm ngó trăm năm. …

Hawthorne. 14 - 6 - 2026
Cao Mỵ Nhân

Thư Mời Viết Bài Tưởng Niệm Thi Sĩ Hoa Văn - Võ Phú


Kính gửi quý văn hữu, thi hữu và những người bạn thân quý của thi sĩ Hoa Văn,
Với sự đồng thuận của anh Ngô Huy Minh cùng gia đình thi sĩ Hoa Văn, chúng tôi đang thực hiện tập thơ cuối cùng của ông mang tên “Ngày Tháng Mây Bay”, như một nén tâm hương, một lời tiễn biệt đầy yêu thương gửi đến người thi sĩ đã dành trọn đời mình cho thi ca và tình người.
Ngoài những tác phẩm chưa từng được in ấn của thi sĩ Hoa Văn sẽ được giới thiệu trong tập sách này, chúng tôi tha thiết kính mời quý văn hữu, thi hữu và bằng hữu gần xa từng có dịp đồng hành, gặp gỡ, hoặc gắn bó với nhà thơ Hoa Văn, cùng góp mặt bằng những bài viết tưởng niệm, hồi ký, cảm nhận hoặc những kỷ niệm sâu sắc về ông.
Mỗi câu chuyện, mỗi ký ức, dù giản dị hay sâu lắng, đều là những tình cảm quý giá giúp khắc họa chân dung một người thi sĩ đã để lại dấu ấn đẹp trong lòng bạn bè và người yêu thơ. Đó cũng là cách để chúng ta cùng lưu giữ những tình cảm chân thành, những cuộc gặp gỡ đáng nhớ và những giá trị tinh thần mà thi sĩ Hoa Văn đã trao gửi trong suốt hành trình thi ca của mình.
Chúng tôi rất mong nhận được sự hưởng ứng và đóng góp của quý vị trong thời gian sớm nhất để kịp hoàn tất tuyển tập, dự kiến phát hành nhân dịp 49 ngày tưởng niệm thi sĩ Hoa Văn.
Xin hãy cùng nhau viết nên những trang hồi ức đẹp nhất, để tiễn đưa người thi sĩ tài hoa trên chuyến hành trình cuối, và để những vần thơ cùng tình bằng hữu vẫn còn mãi với thời gian.
Bài viết xin gửi về:
Thay mặt Ban thực hiện tuyển tập “Ngày Tháng Mây Bay”,
Xin trân trọng cảm ơn và kính chúc quý văn hữu, thi hữu cùng gia quyến nhiều sức khỏe, an lành.
“Người đi như áng mây bay,
Còn thơ ở lại, còn đầy nghĩa ân.”

p.s. Xin chuyển tin này đến bạn bè văn thi hữu với nhà thơ Hoa Văn
--
Thi Sĩ Hoa Văn, Ngô Văn Hòa, Đã Rong Chơi Theo “Ngày Tháng Mây Bay”

Chiều hôm qua, tôi nhận được email của thi sĩ Trần Quốc Bảo báo tin nhà thơ Hoa Văn đã vĩnh viễn rời xa cõi tạm. Dù biết sinh tử là quy luật muôn đời của kiếp nhân sinh, biết đời người chỉ là một chuyến hành trình ngắn ngủi giữa dòng thời gian vô tận, nhưng khi hay tin ông qua đời, lòng tôi vẫn không khỏi bàng hoàng, hụt hẫng và ngậm ngùi.
Có những người khi hiện diện, ta quen với sự hiện diện ấy đến mức nghĩ rằng họ sẽ còn đó rất lâu. Để rồi khi họ ra đi, khoảng trống để lại không chỉ là sự vắng mặt của một con người, mà còn là sự mất mát của một tâm hồn, một tiếng nói, một nhân cách và một đời thơ.
Tuần trước, trong lúc tôi cùng gia đình đang nghỉ hè tại Acadia National Park, bác Trần Quốc Bảo gọi điện cho tôi. Giọng bác trầm xuống khi kể rằng vừa liên lạc với anh Minh, người con trai của thi sĩ Hoa Văn, và được biết sức khỏe của bác đã suy kiệt. Bệnh viện đã cho ông trở về nhà vì không còn nhiều hy vọng hồi phục.
Bác Trần Quốc Bảo hỏi tôi:
“Mai mốt cháu về, có thể chở bác đến thăm bác Hoa Văn được không?”
Lúc đó tôi vẫn còn ở xa. Tôi thưa với bác rằng khi trở về sẽ liên lạc ngay.
Nhưng cuộc sống vốn luôn cuốn con người vào những bộn bề thường nhật. Sau gần mười ngày vắng nhà, biết bao công việc tồn đọng chờ giải quyết. Con gái bước vào mùa thi đấu bơi lội. Tôi phải đưa cha mẹ đi khám bệnh, lo việc cho trường Việt ngữ, phụ giúp vợ trong công việc gia đình khi khách mang quần áo đến sửa chữa ngày một nhiều...
Tôi vẫn nghĩ mình còn thời gian.Tôi vẫn nghĩ rồi sẽ có dịp đến thăm ông... Nhưng.... cuộc đời đôi khi không cho chúng ta cơ hội để thực hiện những điều mình dự định.
Sáng hôm qua, tôi nhận email của bác Trần Quốc Bảo cho biết bác vừa đến thăm nhà thơ Hoa Văn. Ông rất yếu, nói chuyện khó khăn. Đến chiều, tin buồn lại đến: nhà thơ Hoa Văn đã ra đi.
Tôi lặng người! Một người bạn thơ lớn đã khép lại hành trình gần một thế kỷ nhân sinh.
-oOo-
Nhà thơ Hoa Văn, bút hiệu trước năm 1975 là Anh Hoa, tên thật là Ngô Văn Hòa.
Ông sinh ngày 8 tháng 3 năm 1932 tại làng Thượng Thị, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Ông là cựu Trung tá ngành Chiến tranh Chính trị của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, từng trải qua 11 năm tù cải tạo sau biến cố năm 1975 trước khi định cư tại Hoa Kỳ năm 1993 theo diện tị nạn cộng sản.
Nhưng điều làm nên tên tuổi Hoa Văn không phải quân hàm hay những biến động lịch sử ông từng trải qua.
Điều còn lại trong lòng bạn bè và độc giả chính là thơ.
Ông làm thơ từ năm 1954 và dành trọn hơn bảy mươi năm cuộc đời để sống với thơ, yêu thơ và phụng sự thơ.

Từ những tập thơ đầu tiên xuất bản tại miền Nam trước năm 1975 như:
Đường Em Hoa Nở (1964)
Thơ Anh Hoa (1965)
Thơ Lục Bát (1966)
Mưa Cao Nguyên (1966)

Ðến hơn hai mươi thi phẩm được xuất bản tại Hoa Kỳ sau này, ông chưa từng rời xa thi ca. Những tác phẩm như:
Thơ và Thời Gian
Tạ Ơn Đời
Che Đời Mưa Bay
Như Áng Mây Hồng
Vạt Nắng Bên Đời
Cõi Thơ Ta Ở Một Đời
Gió Cuốn Mây Bay
Dòng Thơ Cho Em
Hương Tình Hoài Điệp
Dòng Tình Yêu Em
Hoa Nở Đường Về
Đồi Lá
Tuyển Tập Bảy Mươi Năm Thi Ca
Thơ Ơn Tạ Tình Chia
Chút Tình Còn Lại
Lòng Ta Như Một Cung Đàn

Những thi tập nối tiếp nhau ra đời trong suốt hơn bảy thập niên sáng tác đã trở thành những dấu mốc đáng trân trọng trên hành trình thi ca bền bỉ của nhà thơ Hoa Văn. Mỗi tập thơ không chỉ ghi lại một giai đoạn đời người, mà còn là những trang nhật ký tâm hồn, phản chiếu những suy tư, trải nghiệm và chiêm nghiệm mà ông đã tích lũy qua bao biến động của cuộc sống. Từ những năm tháng tuổi trẻ đầy mộng mơ, qua những giai đoạn chiến tranh khốc liệt, những năm dài tù đày, cho đến cuộc sống lưu vong nơi xứ người, thơ vẫn là người bạn đồng hành trung thành, là nơi ông gửi gắm tâm sự và giữ gìn những giá trị đẹp nhất của tâm hồn mình.
Trong số những đề tài ông theo đuổi, thơ tình là lãnh vực làm nên dấu ấn đặc biệt của Hoa Văn trong lòng độc giả. Tuy nhiên, thơ tình của ông không phải là những rung động bồng bột hay những đắm say mãnh liệt của tuổi đôi mươi. Đó là thứ tình yêu đã được thời gian gọt giũa, được cuộc đời thử thách và được chưng cất qua biết bao vui buồn, mất còn của kiếp nhân sinh.
Tình yêu trong thơ Hoa Văn mang vẻ đẹp trầm lắng và sâu sắc của một người đã đi qua gần trọn một đời người. Đó là tình yêu của người từng chứng kiến chiến tranh và hòa bình, từng trải qua ly/biệt và đoàn viên, từng nếm trải những mất mát không thể bù đắp và những hạnh phúc giản dị đời thường. Trong những vần thơ ấy, người đọc không chỉ bắt gặp hình bóng của một người yêu, một người vợ hay một cuộc tình, mà còn thấy được tình yêu dành cho gia đình, cho bạn hữu, cho quê hương và cho chính cuộc đời.
Có lẽ vì vậy mà thơ tình của ông luôn mang đến cảm giác ấm áp và bao dung. Dù viết về nhớ thương hay xa cách, ông không oán trách. Dù nhắc đến những mất mát hay đổi thay, ông không bi lụy. Ngược lại, trong từng câu chữ luôn thấp thoáng một tấm lòng biết ơn đối với những người đã đi qua cuộc đời mình và đối với những gì cuộc đời đã ban tặng. Nếu tuổi trẻ yêu bằng cảm xúc, thì thơ tình của Hoa Văn là tình yêu của sự thấu hiểu. Nếu tuổi trẻ thường hướng về những điều đang có, thì thơ ông là tiếng lòng của người biết nâng niu cả những điều đã mất. Bởi thế, thơ tình của ông không chỉ là thơ của tình yêu đôi lứa, mà còn là thơ của ký ức, của lòng tri ân, của sự thủy chung và của niềm tin vào những giá trị đẹp đẽ còn mãi với thời gian.
Đọc thơ Hoa Văn, người ta có cảm giác như đang ngồi bên một người bạn già hiền hậu, lắng nghe ông kể lại những câu chuyện của một đời người đã đi qua bao dâu bể. Trong những câu chuyện ấy có nỗi buồn nhưng không tuyệt vọng, có tiếc nuối nhưng không bi thương, có chia ly nhưng vẫn ánh lên niềm tin yêu cuộc sống. Chính sự từng trải, độ lượng và nhân hậu ấy đã tạo nên nét riêng rất khó nhầm lẫn trong thơ ông, đồng thời giúp những vần thơ của ông vượt qua giới hạn của thời gian để tìm được sự đồng cảm nơi nhiều thế hệ độc giả.
Với Hoa Văn, tình yêu không chỉ là cảm xúc để làm thơ. Tình yêu còn là cách ông sống, cách ông nhìn người, nhìn đời và cũng là món quà đẹp nhất mà ông để lại cho những người còn ở lại sau cuộc rong chơi gần một thế kỷ giữa cõi nhân gian.
-oOo-
Khoảng đầu tháng Tư năm nay, nhà thơ Hoa Văn gửi email cho tôi.
Ông nhờ tôi giúp thực hiện thi tập thứ hai mươi bốn mang tên “Ngày Tháng Mây Bay.”
Trong thư, ông viết:
“Nếu thuận tiện, lo in giùm bác tập thơ mới: Ngày Tháng Mây Bay. Và không trở ngại, bác nhờ cháu viết cho bài cảm nhận về tập thơ này. Cũng như các bài viết của Vinh Hồ, Song Nhị…Cảm ơn cháu.
Cháu từ từ layout, nhưng in xong sớm được ngày nào hay ngày đó, vì bác e không sống lâu hơn được nữa.”
Đọc những dòng chữ ấy, tôi mới cảm nhận hết sự bình thản của một người đang đối diện với chặng cuối cuộc đời.
Email sau đó, ông gửi cho tôi tấm chân dung để làm bìa sách. Tôi hoàn thành bìa mẫu (đính kèm) và chờ nhận bản thảo. Nhưng rồi không thấy ông gửi. Tôi gọi điện thoại, ông nói:
“Nếu cháu rảnh thì ghé nhà bác một chút, bác có chuyện muốn nói.”
Trưa hôm ấy, tôi lái xe đến thăm ông. Căn nhà vẫn yên tĩnh như mọi lần tôi ghé qua. Chú chó nhỏ quen thuộc trong sân nghe tiếng xe lạ liền chạy ra sủa vang. Những lần trước, ông thường cất tiếng la yêu để trấn an nó rồi chậm rãi bước ra đón khách. Nhưng lần này, tiếng sủa vẫn vang lên trong khoảng sân vắng, còn ông chỉ ngồi lặng bên trong nhà, không còn đủ sức để cất cao giọng như trước nữa.
Bước vào căn phòng nhỏ quen thuộc, tôi không khỏi chạnh lòng. Người thi sĩ mà tôi từng gặp với ánh mắt tinh anh, nụ cười hiền hòa và giọng nói trầm ấm nay đã gầy đi rất nhiều. Thân hình ông như nhỏ lại trong chiếc ghế cũ. Khuôn mặt hốc hác, nước da xanh xao, từng cử động đều chậm chạp và nặng nhọc. Dấu vết của những lần ra vào bệnh viện hiện rõ trên gương mặt và trong hơi thở đứt quãng của ông.
Thế nhưng, điều làm tôi xúc động nhất không phải là sự mệt mỏi của tuổi già hay bệnh tật, mà là vẻ bình thản hiện lên trong ánh mắt ông. Đó là ánh mắt của một người đã đi qua gần trọn một đời người, đã nếm trải đủ những thăng trầm của cuộc sống và đang lặng lẽ chấp nhận quy luật vô thường của tạo hóa. Sau vài câu thăm hỏi sức khỏe, ông nhìn tôi, khẽ nở một nụ cười hiền và nói bằng giọng thều thào, đứt quãng:
“Cảm ơn cháu đã đến thăm bác. Nhưng bác xin lỗi, bác đổi ý rồi. Bác không muốn in tập thơ mới nữa. Bao nhiêu đó chắc cũng đủ rồi...”
Tôi lặng người trước câu nói ấy. Không phải vì bất ngờ, mà bởi tôi cảm nhận được trong từng lời nói của ông một sự buông bỏ rất nhẹ nhàng. Không tiếc nuối, không bận lòng, cũng không còn những dự định dang dở mà người ta thường cố níu giữ ở cuối đời. Chỉ là sự thanh thản của một người đã hoàn thành hành trình của mình và đang bình tâm nhìn lại những gì đã đi qua. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng điều ông muốn nói không chỉ là chuyện một tập thơ chưa xuất bản. Có lẽ sâu thẳm trong lòng, ông đang âm thầm khép lại những trang cuối cùng của cuộc đời mình, giống như một thi sĩ đặt dấu chấm hết cho bài thơ dài đã viết suốt hơn bảy mươi năm bằng tất cả tâm hồn và tình yêu dành cho cuộc sống.
Tôi cố gắng thuyết phục:
“Bác cứ gửi bản thảo cho cháu. Cháu sẽ làm như những lần trước.”
Ông mỉm cười.
“Thôi cháu. Bác thấy như vậy là đủ rồi.”
Đó là cuộc trò chuyện cuối cùng giữa chúng tôi.
Khi ra về, tôi khẽ vỗ lên vai ông:
“Bác nghỉ ngơi cho khỏe, còn làm thêm nhiều bài thơ để đăng Facebook cho mọi người đọc nữa.”
Ông chỉ mỉm cười.
Nụ cười ấy giờ đây đã trở thành ký ức.
-oOo-
Điều khiến tôi kính trọng thi sĩ Hoa Văn không chỉ là tài thơ. Điều đáng quý nhất nơi ông chính là nhân cách. Là một người từng trải qua chiến tranh, tù đày và biết bao biến động lịch sử, ông có đủ lý do để cay đắng với cuộc đời, nhưng ông không như thế. Thơ ông không chất chứa hận thù. Ông không sống bằng ký ức đau thương. Ông chọn yêu đời. Ông chọn tha thứ. Ông chọn giữ lại những gì đẹp nhất của con người. Ông từng viết:
“Tôi viết thơ đời theo hướng vui
Vì đời còn chỉ bấy nhiêu thôi
Câu thơ con chữ tình cao đẹp
Chiều đã xuống rồi sương đã rơi
Còn tuổi bao nhiêu ta với đời
Chút tình xanh đỏ chút trăng rơi
Mấy mươi năm đã theo nghề chữ
Một cõi lòng son một cõi vui
Tôi vẫn vui dù chiều đã tàn
Cuộc đời gió thoảng với mây tan
Tuổi không còn nữa cho mùa nữa
Chiều đã già rồi vẫn vẻ vang
Tôi vẫn còn đi tôi vẫn đi
Chút duyên thơ vẫn tuổi theo về
Mấy mươi năm đã như tròn mộng
Chút nghiã chút tình trọn ước mơ”
(DUYÊN THƠ, bài 152)
Võ Phú
Richmond 061226

Bài Thơ Tiễn Bạn Hoa Văn - Tế Luân

 

Nghe tin bạn đã xa trần,
Lòng tôi chợt thấy bâng khuâng ngậm ngùi.
Mới ngày nào đó cùng vui,
Mà nay người đã vi vu mây ngàn.

Một đời dâu bể đa đoan,
Phong sương phủ kín, còn loang hận thù.
Bao năm sương lạnh ngục tù,
Giữ lòng chính khí, giữ hồn Việt Nam.

Thơ là ánh lửa âm thầm,
Sưởi lòng chiến hữu giữa ngàn khổ đau.
Từ vùng lửa đạn năm nào,
Mang theo mộng lớn bước vào nhân sinh.

Bạn đi nhẹ gót vô hình,
Bỏ lại trang giấy nghĩa tình còn đây.
Richmond gió vẫn hao gầy,
Nhớ người tri kỷ những ngày đối thơ.

Trăng xưa còn đọng bên bờ,
Chén trà còn tỏa hương mơ cuối chiều.
Người đi mang cả cô liêu,
Để ai ở lại quạnh hiu bóng người.

Xin rót chén rượu giữa trời,
Tiễn người về chốn xa vời thiên thu.
Ngàn mây mở lối sương mù,
Bạn cùng Phú Long bây giờ gặp nhau.

Bên kia bến mộng nhiệm màu,
Chắc không còn những thương đau cuộc đời.
Còn tôi lặng ngắm mây trôi,
Gửi theo một nén hương lời biệt ly.

Hẹn nhau ngày cuối hành kỳ,
Khi con thuyền mỏi cũng về bến xưa.
Bạn hiền xin cứ an cư,
Tình thơ còn mãi như chưa cách rời.

Tế Luân


Tiễn Biệt Thi Sĩ Ngô Văn Hòa, Bút Danh Anh Hoa, Hoa Văn - Dương Việt Chỉnh

 

Thế là thi sĩ đã thảnh thơi
"Ngày Tháng Mây Bay" khắp nẻo trời
Nơi chốn trần gian như khúc rẽ
Người dừng chân để lại thơ vui

Nguyện cầu linh hồn người từ đây
Về miên tiên cảnh phước ân đầy
Vần thơ lai láng reo trong gió
Gia đình bằng hữu nhớ khôn khuây


Thành kính phân ưu.

Dương Việt-Chỉnh

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2026

Như Cánh Chim Di


Tri âm, tri kỷ hay vợ chồng…. âu cũng là duyên mệnh! Có bao người may mắn được một người xem mình là tri kỷ, dù chỉ là khoảng thời gian không dài nhưng cũng đủ một thoáng ấm lòng! “Cô đơn mới hiểu cô đơn!”….

Như Cánh Chim Di

Không hồng nhan tri kỷ
Cũng chẳng phải tri âm
Đường tình chung lối mộng
Dìu bước cõi thăng trầm…

Phải chăng trong tiền kiếp
Nợ nhau một chữ “Tình”
Kiếp duyên nầy gặp lại
Ta gọi nhau là “Mình”?

Thương nhau trao cho nhau
Chữ “Yêu” thắm sắc màu
Hương tình pha thi vị
Chung mơ dệt mộng đầu

Thời gian …thời gian qua
Tình nửa gần nửa xa
Trong không gian khoảng lặng
Cung buồn xa vắng xa

Gặp chi… yêu nhau chi!
Tình như cánh chim di
Bay về miền gió cát
Tình đến rồi tình đi …

Yên Dạ Thảo
14.06.2018

Xin Hỏi - Xin Đáp

 
(Tranh: Họa Sĩ Đặng Can - Vĩnh Long)

Xướng:

Xin Hỏi

Em về tắm nắng trên sông
Có nghe ấm dạ mát lòng không em?

24.5.2026
Phong Tâm
***
Họa:

Xìn Đáp!

Một chiều em bước sang sông
Chợt nghe xót dạ nát lòng riêng em!

Kim Oanh
4.6.2026

Chân Mây Trắng Đỉnh Núi Xanh

 

Chân mây trắng đỉnh núi xanh
Gió sương nương bóng trăng thanh nhẹ nhàng
Sầu tan thơ thẩn cung đàn
Rừng thương suối nhớ thở than sao mờ...


MD.06/02/26
LuânTâm
Thân cảm tặng "Mây Trên Đỉnh Núi"
của TVS đa tài hoa thật quý HoàngThục Uyên

Nhạc Sĩ Anh Việt Thanh - Vùng Lá Me Bay


Gió vu vu trên đồi, tiếng sóng vỗ bờ hay rừng cây xao xác lá, thoảng nghe chỉ là những tạp âm, nhưng những thanh âm đó nếu cùng hòa quyện với nhau phải chăng lại là bản giao hưởng tuyệt vời của tạo hóa? Người nghệ sĩ, nhờ có cảm xúc rất bén nhạy, đã vận dụng những âm thanh hòa phối thành nghệ thuật, gọi là âm nhạc. Tâm hồn nghệ sĩ rung động tùy theo tâm cảnh và ngoại cảnh mà sự cảm nhận của mỗi người khác nhau dù vẫn hòa chung cuộc sống. Do đó, âm nhạc đến với người thưởng thức cũng rất đa dạng, tùy vào tâm trạng và cái gu thẩm mỹ của từng người. Ngay từ buổi ban đầu của nền tân nhạc, dòng nhạc trữ tình tiền chiến cho những giai điệu mượt mà đã dệt nên những ca khúc vàng êm dịu lãng mạn: Valse, Slow, Tango, Blues, Boston nhẹ nhàng phảng phất chút âm hưởng bán cổ điển Tây phương làm rung động bao con tim.

Tình yêu và Quê hương vẫn là nhũng đề tài muôn thuở vì đó là nguồn sáng tác vô tận của nghệ sĩ. Khi đất nước bước vào giai đoạn Nam Bắc phân đôi, dòng nhạc đó dần dần bị loãng, lắng sâu vào hồn khách mộ điệu, nhường chỗ cho một thể loại khác được gọi là dòng nhạc Thời trang nổi bật là thể điệu Boléro nhằm diễn tả cái thực trạng của xã hội và thân phận con người trong một đất nước có chiến tranh. Chính ở thời đìểm khốc liệt này làng tân nhạc miền Nam xuất hiện nhiều ca khúc quê hương trữ tình đượm chất lãng mạn pha chút chiến chinh. Dòng nhạc Boléro trở nên thịnh hành vì cung bậc chất chứa những đau thương làn điệu mềm mại ai oán, diễn tả nỗi u uất thân phận người mà những người Gitan hát rong Tây Ban Nha sáng tạo ra vào cuối thế kỷ 18 để diễn tả nỗi niềm về thân phận trôi giạt của mình bằng tiếng hát và đàn guitare. Làn điệu Boléro Rumba dịu dàng tha thiết vọng theo nhịp sóng vỗ từ những hải đảo Cap Vert, Cuba xa xăm bên kia bờ đại dương kết thành cung bậc gần gũi với dân ca Việt Nam để diễn tả về thân phận con người trong chiến tranh qua giai đìệu trầm bổng ngũ cung mà lời ca tiếng nhạc đã đi vào lòng người, bàng bạc khắp mọi nơi, từ hang cùng ngõ hẻm nơi phố thị đến những thôn làng hẻo lánh nơi rừng sâu núi thẳm.
Trên quê hương Việt Nam, những nhạc sĩ miền Nam đã từng trải trong chiến tranh chứng kiến những mất mát, chia ly của đất nước, nên từ trong sâu thẳm của nỗi buồn của vết hằn quê hương đã bật lên những hình nốt, tiết tấu gieo thành bản hòa tấu thời chiến mà giai điệu còn vàng hơn thời tiền chiến, đó là: «Tiếng nấc nghẹn của tâm hồn!». Dòng nhạc thời trang đã làm rực sáng cho một số nghệ sĩ, trong đó có nhạc sĩ Anh Việt Thanh.

Miên Du, Mây Thu, Nguyễn Thùy, Anh Việt Thanh

Ông tên thật là Đặng Văn Quang sinh năm 1936 tại Làng An Hữu, Quận Giáo Đức, Tỉnh Định Tường. Ông vốn xuất thân từ gia đình nhạc sĩ có chú và anh trong nhóm nhạc Đức Quỳnh, Mạnh Phát, Châu Kỳ và Hoàng Bửu. Nhờ sự hấp thụ một nền nhạc lý vững vàng của gia đình, ông học hòa âm sáng tác của nhạc sĩ Lê Văn Tài và ngón đàn độc đáo do những nhạc sĩ Nam Huyền, Văn Khánh, Hoàng Bửu truyền dạy. Anh Việt Thanh bắt đầu sáng tác năm 1958, sau đó dạy đàn và dạy nhạc lý. Ông là một nhạc sĩ trong nhóm sáng tác của Cục Chính Huấn của quân đội, những thời gian rảnh rỗi ông đi dạy nhạc nhiều nơi thuộc các tỉnh Đà Lạt, Định Tường, Đà Nẵng, Sài Gòn từ năm 1960 đến 1975. Ông được hai giải thưởng về văn học nghệ thuật: 1966 với nhạc phẩm Phật Tử Kết Đoàn, do Viện Hóa Đạo tổ chức tại Sài Gòn và 1970 Đón Xuân Trên Đồng do Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị tổ chức tại Sài Gòn. Ngoài ra, ông là một phụ tá giám đốc cho hãng băng nhạc Nhã Ca.

Năm 1980, ông và gia định định cư tại Pháp và tiếp tục sáng tác. Năm 1990 ông chuyển lối sáng tác, bắt đầu viết nhạc phổ thơ, và đã chọn phổ nhiều bài thơ của tôi. Từ đó tôi đã giới thiệu ông với nhiều văn nghệ sĩ hải ngoại, trong đó có nhà thơ Phạm Ngọc, lúc đó đang làm chủ biên tạp chí Văn Tuyển ở San Jose, Cali. Năm 2001 ông cho ra đời CD Tương Tư, với 10 Tình Khúc Anh Việt Thanh phổ thơ Phạm Ngọc. Sau đó, ông phổ hàng loạt thơ của nhiều nhà thơ hải ngoại. Năm 2005 nhạc sĩ Anh Việt Thanh gia nhập hội Âm Nhạc Pháp (SACEM) và phát hành một số CD. Anh Việt Thanh đã cống hiến cho đời những nhạc phẩm trữ tình đầy nét thơ; có những nhạc phẩm từng vang bóng một thời trước năm 1975: Vùng Lá Me Bay, Lính (Thích) 33, (Hùng Cường trình bày) Tình Khúc Cho Người Cô Đơn, Yêu Thầm (Mai Lệ Huyền trình bày), Bụi Đời (Hùng Cường trình bày), Cho Nhau Chiều Thứ Bảy (Thanh Hùng trình bày), Đời Con Gái (Trang Mỹ Dung, Khánh Ly trình bày) Một Thuở Xa Người (Khánh Ly, Phương Dung trình bày), Hẹn Em Ngày Về (trình bày Thanh Tuyền), Ngày Xưa Em Nói (Trình bày Phương Dung), Ngày Tháng Cho Người…

Những Sáng Tác Chung:

Bụi Đời 2, 3 (Anh Việt Phương), Phố Cũ Người Xưa (Anh Việt Phương), Tình Mùa Ly Biệt (Trúc Minh), Ngày Xưa Em Nói (Anh Việt Linh, Phương Dung trình bày), Chuyện Tình Thiên Nga (Huy Thanh, Hoàng Oanh trình bày), Chuyện Mưa Mây (Phạm Chinh Đông, Trúc Mai trình bày), Tình Mùa Ly Biệt (Trúc Minh, trình bày Trúc Mai) ...
Nhạc sĩ Anh Việt Thanh tính tình hiền hòa đôn hậu, đối xử với bằng hữu chân tình. Ông ít lên Paris, thường quanh quẩn ở Troyes, thỉnh thoảng có sinh hoạt văn học nghệ thuật tôi lại mời ông về Paris. Là một nhạc sĩ chuyên nghiệp, và sống bằng nghề dựa vào âm nhạc nên những năm mới đến Pháp, ông rất trân trọng và hãnh diện mình là một nhạc sĩ, và làm nghề dạy nhạc. Nhưng những năm cuối đời ông đã chạy theo số lượng, viết vội cho có nhiều bài nhạc theo yêu cầu!

Bút danh Anh Việt Thanh của ông thường bị lẫn với bút danh của cố nhạc sĩ Anh Việt Thu, một tác giả sáng chói trong làng âm nhạc miền Nam với nhiều nhạc phẩm nổi tiếng trước năm 1975: Giòng An Giang, Hai Vì Sao Lạc, 8 Điệp Khúc, Đa Tạ… Riêng nhạc phẩm Giòng An Giang tác phẩm đầu tay viết năm 1957 giai điệu Valse lãng mạn trữ tình được nhiều danh ca trình bày, nhạc phẩm còn được đưa vào học đường, lễ hội vì đã diễn tả nét quê hương rất độc đáo, mà thuở đó ít có nhạc sĩ nào viết, mà nếu có viết cũng không thể lột tả được nét duyên quê, chất phù sa của dòng sông miền Nam. Vì rất thân với nhạc sĩ Anh Việt Thanh do đó tôi đã mời được ông lên Paris ở chơi nhà tôi nhiều lần, có lần tôi hỏi ông:
«Tại sao khi sáng tác anh lại lấy bút danh Anh Việt Thanh, anh không sợ người đời nhầm với nhạc sĩ Anh Việt Thu quá nổi tiếng?».

Anh Việt Thanh trả lời:
«Sở dĩ tôi lấy tên Anh Việt Thanh là vì tôi và Anh Việt Thu ở cùng làng, có bà con xa bên mẹ, hơn nữa tôi rất phục tài của Anh Việt Thu, nên ước muốn nơi chúng tôi sinh ra có nhiều nhạc sĩ.».

Quen biết ông rất lâu nhưng chưa bao giờ nghe ông nhắc đến nhạc phẩm sáng tác đầu tiên của ông dù rằng khuynh hướng sáng tác của ông vào thập niên 60, 70 của thế kỷ trước thiên về thể nhạc Boléro, Slowrock, Twist, Agogo... Bản nhạc Bụi Đời thể điệu Blues ra đời từ năm 1962 được hãng dĩa Việt nam phát hành tại Sài Gòn, do danh ca Hùng Cường trình bày. Không biết nhạc sĩ Anh Việt Thanh có biết trước đó có nhạc phẩm mang tên Bụi Đời đã được nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên viết ngày 06. 9.1957 cho nhạc phim do Trường Sơn Công Ty Điện Ảnh phát hành, đạo diễn Lê Mộng Hoàng thực hiện. Khoảng năm 1965 lại xuất hiện thêm hai nhạc phẩm Bụi Đời 2 và Bụi Đời 3, vì quá lâu ngày tôi nhớ lầm tên tác giả! Trong cuộc điện đàm vào đầu tháng 11 năm 2014 nhạc sĩ Anh Việt Thanh phone cho tôi cáo lỗi việc ông không lên Paris tham dự sinh hoạt ngày văn học nghệ thuật do Câu Lạc Bộ văn Hóa Paris tổ chức hôm 26 tháng 10 năm 2014 vì ông bị bệnh khá nặng, đó là lần cuối cùng tôi được nghe giọng nói ông. Trong câu chuyện tôi hỏi nhạc sĩ Anh Việt Thanh về nhạc phẩm Bụi Đời, ông cho biết không phải là tác giả hai bản đó nhưng đã có người cho ông biết tìm thấy trên internet. Tập nhạc cuối cùng của ông gởi tặng tôi: Em Nhớ Hay Quên cũng chỉ ghi bài Bụi Đời 1, thiếu nhạc phẩm Cho Nhau Chiều Thứ Bảy. Nhưng may thay nhạc sĩ Phan Anh Dũng, chủ biên tạ p chí văn học ở Virginie đã biết những nhạc phẩm đó và gởi cho tôi xem hình bìa của nhạc phẩm, trên đó ghi tác giả 3 bản nhạc Bụi Đời là sự hợp tác của hai nhạc sĩ: Anh Việt Thanh và Anh Việt Phương (là em trai của nhạc sĩ Anh Việt Thanh).

Vào thời nhạc tiền chiến thể điệu Blues đã được nhiều nhạc sĩ viết, ca khúc Bụi Đời 1, ý nhạc buồn, nhưng tiết tấu giai điệu thiên về Slow, hành âm Andante diễn tả sự lãng mạn nhẹ nhàng trữ tình như: Ngày Về của Hoàng Giác, Dư âm của Nguyễn Văn Tý, Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa của Tô Vũ, Ai Về Sông Tương của Thông Đạt, Em Tôi của Lê Trạch Lựu v.v… Điệu Blues Jazz ngoài cấu trúc phức tạp, tiết tấu giai điệu trầm bổng lãng mạn, buồn tê tái như lời than chứa đầy những giọt nước mắt của những người da đen nô lệ xa xưa đã sáng tạo ra dòng nhạc này được diễn tả qua tiếng kèn đồng vút cao rồi trầm xuống âm thanh nức nở hòa với chất giọng nghe não nuột, u uất đã thực sự chinh phục giới thưởng lãm âm nhạc miền Nam. Giữa chốn phồn hoa đô thị đầy ánh đèn màu rất yên bình có một lớp người đang sống thụ hưởng trong men rượu, khói thuốc, vũ trường mà quên đi hiện trạng của đất nước đang mịt mù khói lửa, Phần đất tự do đang bấp bênh giữa cái mất còn!

Vào giữa thập niên 60 nền tân nhạc đã đi một bước khá dài nhưng vẫn chưa hòa nhập với dòng nhạc thế giới, giới nhạc sĩ vẫn nặng tính dân nhạc, chưa dám xa rời chất ngũ cung để tìm những mới lạ trong âm nhạc, nhưng lại khéo léo xử dụng thể ngũ cung, biến các thể điệu tây phương gần gũi với tinh thần Việt Nam nên các thể điệu Boléro, Tango, Habanera, Blues đã nhập vào lời ca để diễn tả nỗi lòng, do đó những giai điệu nhạc trở nên Vàng hơn tạo thành nhạc sóng vàng. Sau nhạc tiền chiến những ca khúc mang thể điệu Blues vang bóng một thời: Thuở Ấy Có Em của Huỳnh Anh, Đời Tôi Chỉ Một Người của Huỳnh Anh, Loan Mắt Nhung của Huỳnh Anh, Những Chiều Không Có Em của Trường Hải, Đêm Nguyện Cầu của Lê Minh Bằng, Điệu Ru Nước Mắt của Vũ Lai, Anh Sơn, Linh Hồn Tượng Đá của Mai Bích Dung, Thương Hận của Tú Nhi & Hồ Đình Phương, Thúy Đã Đi Rồi của Y Vân,… Nhạc phẩm Lòng Mẹ của Y Vân cũng thể điệu Blues nhưng vì bản nhạc ca ngợi về tình Mẹ, đượm tính thiêng liêng nên được trân trọng do đó các nhạc sĩ hòa âm phối khí diễn tả theo cách riêng phù hợp với người hát. Nhạc phẩm Sao Đêm của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn có thể xem là nhạc phẩm đầu tiên mang tính Blues Jazz đặc sắc nhất ở giai đoạn đó. Thể điệu Blues: 2/4, 4/4 hay C thường dùng cho những loại nhạc nhẹ nhàng, lãng mạn có âm hưởng buồn bã nên giữa thập nên 60 nhạc sĩ Anh Việt Thanh lại cho ra nhạc phẩm Cho Nhau Chiều Thứ Bảy mang thể điệu Blues do danh ca Thanh Hùng trình bày. Cách nay nhiều năm, lúc danh ca Thanh Hùng còn tại thế, rất nhiều lần nhạc sĩ Anh Việt Thanh lên Paris đều gặp gỡ Thanh Hùng tại nhà tôi. Trong câu chuyện chúng tôi có đề cập đến bài: Cho Nhau Chiều Thứ Bảy, nhạc sĩ Anh Việt Thanh cho biết đã quên lời, ông hỏi chúng tôi còn nhớ? Tôi còn nhớ lõm bõm giai điệu với ít lời, anh Thanh Hùng cũng chỉ nhớ rất ít ca từ trong bài.

Cuối năm 2010 ông từ tỉnh Troyes lên Paris ở với chúng tôi một tuần để sinh hoạt văn học nghệ thuật với chủ đề Tác Phẩm và Tác Giả do câu lạc Bộ Văn Hóa VN Paris tổ chức được 200 người tham dự. Trong dịp này có hai nhà thơ Miên Du Đà Lạt và Chúc Anh từ Mỹ sang Paris ra mắt tác phẩm. Đặc biệt là chuyến du ngoạn Paris, cứ mỗi lần dừng chân nơi công viên hay trong quán cà phê đều là dịp trao đổi với nhau trên lãnh vực âm nhạc và thơ văn. Nhạc sĩ Anh Việt Thanh tuy ít nói nhưng cũng tranh luận sôi nổi với Miên Du Đà Lạt, GS Nguyễn Thùy, nhà biên khảo Mỹ Phước Nguyễn Thanh, nhà thơ Nguyễn Mây Thu, nhà báo Kim Long và tôi.
 

(GS Minh Cầm, GS TS Phạm Đình Liên, GSTS Lê Mộng Nguyên, BS Nguyễn Bá Hậu, GS Nguyễn Thùy, Nhà thơ Miên Du, Nhà Giáo Kiều Hạnh, Nhà thơ Mây Thu (Đại diện tạp chí Cỏ Thơm), Nhà thơ Chúc Anh.
Hàng sau: Đỗ Bình, Nhà Biên Khảo Mỹ Phước Nguyễn Thanh và Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng. Bạch Sương (Đại diện tạp chí Nguồn), Nghệ sĩ Thúy Hằng, Nhà Giáo Quang Tuyển, BS Phan Khắc Tường)

Lần cuối cùng là năm 2013 chúng tôi: nhà biên khảo Mỹ Phước Nguyễn Thanh, nhà thơ Mây Thu, nhà thơ Trịnh Cơ và tôi đến Troyes thăm ông. Hôm đó chúng tôi ghé thăm nhà văn Hồ Trường An, trên đường đưa ông trở lại nhà ông nói rất e ngại cho sức khỏe của nhà văn Hồ Trường An, lúc đó trông Hồ Trường An rất yếu và họa sĩ, nhạc sĩ Vũ Thái Hòa thì vừa mới mất! Tôi còn nhớ trong lần tổ chức Thu Đất Khách, nhà thơ Hoàng Xuyên Anh từ Cali sang ra mắt tác phẩm, Nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh thành viên cuối cùng của Nhóm Tự Lực Văn Đoàn sang Paris nói chuyện đề tài: Người Phụ Nữ Hôm Nay. Nhà thơ, Họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật từ Na Uy sang Paris cùng Họa sĩ Nguyễn Đức Tăng trang trí sân khấu, Nhà văn Nguyễn Thùy từ Thụy Sĩ sang Paris. Tất cả các bạn đều ngụ tại nhà tôi thật vui vẻ dù rằng nhà không lớn. Chúng tôi kéo ra thương xá uống café, 4 người: Nguyễn Thùy, Nguyễn Hữu Nhật, Anh Việt Thanh và tôi; chúng tôi vui quá bá vai nhau bước trước cặp mắt ngạc nhiên của nhiều người Pháp. Tôi chợt nhận ra và nói:
"Các ông ơi họ đang nhìn mình và ngỡ mình đồng tính! "
Mọi người cười ồ vui vẻ buông nhau ra. Nay Nguyễn Hữu Nhật, Nguyễn Thị Vinh, Thanh Hùng, Hoàng Xuyên Anh, Diệu Khánh, Hà Lan Phương, và Anh Việt Thanh đã thật sự buông bỏ cõi đời để tìm về một cõi xa không vương tục lụy. Các bạn tôi không còn lo âu sự đời miếng cơm manh áo và không phải cầm bút cưỡng lòng.

Trời viễn xứ thời gian nhanh như gió thoảng, nhìn hạ đến thu đi đông tàn tuyết rơi xuân về hoa lá nẩy mầm... mà nghĩ về thân phận con người chợt thấy những mất còn quanh ta. Khói lửa chiến chinh hôm nào nay đã thành cổ tích, Chuyện quê hương đầy huyền thoại vẫn trong mơ dù vị đắng cay đã thành kỷ niệm. Nhiều lúc đọc lại quyển sách cũ, nghe lại cuộn băng xưa cả khung trời quê hương thơ mộng hiện về nhập vào trang sách, theo tiếng hát thật êm đềm.

Paris 26/03/2015
Đỗ Bình

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

Lạy Mẹ Sao Biển - SángTác: Văn Duy Tùng - Ca Sĩ: Tuyết Mai


Xin được chia sẻ cùng Quý vị và các bạn bài thánh ca kính Đức Mẹ mang tựa đề “Lạy Mẹ Sao Biển.”

Tháng Hai vừa qua, tôi có dịp trở về Việt Nam và tìm đến một làng chài ven biển. Nơi cách đây đúng 46 năm tôi đi vượt biển. Chuyến trở lần này không chỉ để ôn lại những kỷ niệm xưa, mà còn để cảm nhận sâu sắc hơn lòng biết ơn đối với Đức Mẹ.

Nơi đây có tượng đài Đức Mẹ Sao Biển hướng mặt ra biển khơi, là nơi bà con ngư dân trong vùng thường đến cầu nguyện và tạ ơn. Đứng trước tượng đài ấy, bao nỗi niềm của những ngày tháng năm xưa lại hiện về trong tôi thật rõ ràng.

Tôi vẫn nhớ như in những ngày trước khi lên chiếc ghe nan nhỏ bé, mong manh như một chiếc thuyền giấy để vượt biển. Mỗi chiều, tôi đều đến quỳ trước Đức Mẹ, tha thiết xin Mẹ chúc lành cho chuyến đi của chúng tôi được bình an và cập bến an toàn. Chính sự hồi tưởng thiêng liêng ấy đã cho tôi nguồn cảm hứng để viết nên hai ca khúc mới nhất kính Đức Mẹ : “Lạy Mẹ Sao Biển” và “Mẹ Sao Biển.”

Trong bài Lạy Mẹ Sao Biển, có một câu hát mà tôi luôn xúc động mỗi khi cất lên :

“Quỳ đây bên lòng Mẹ, dâng lên tấm chân tình,
Mẹ ơi ban an bình, đời con bớt chênh vênh.”

Tôi không dám xin cho cuộc đời mình hoàn toàn không còn chênh vênh. Tôi chỉ thành tâm cầu xin Đức Mẹ ban cho một chút bình an thôi. Vâng, chỉ một chút thôi để cuộc sống BỚT đi những nỗi bất an, những gập ghềnh và thử thách. Chính câu hát ấy đã nhiều lần làm tôi nghẹn ngào, và không ít lần lấy đi nước mắt của tôi trong suốt quá trình hoàn thiện ca khúc.

Xin được chia sẻ đôi dòng tâm tình cùng Quý vị và các bạn, đồng thời kính mời lắng nghe ca khúc:

Văn Duy Tùng

Về Nguồn

  
(Tranh: Hoạ Sĩ Đặng Can)


Rủ em trẩy bước về nguồn
hong lên cho rực ấm nồng tình quê
cầu tre rung nhịp đi về
võng khuya kẽo kẹt vỗ về đời con

Thời gian ủ chín tuổi buồn
ụ rơm gốc rạ thả hồn vịn tay
sông tình ngửi vị trầu cay
giục em đỏ má nhớ ngày hợp hôn

Vai ngoan quang gánh bào mòn
trên da còn ửng vết bồng cháu con
bến xưa giặt áo đá mòn
đèn dầu đỏ ngọn nhà còn đợi ai

Duyên em thắm vạt áo dài
thương con mắt ngắm nhớ hoài tháng năm
ghẹo em giữa hội trăng rằm
tơ hồng đỏ nụ trăm năm chúng mình

Vẫn là Nước đẹp Non xinh
cho quay quắt nhớ bóng hình Việt Nam
tặng em tình khúc tơ tằm
ươm thân óng ả con Rồng cháu Tiên

Cao Nguyên

Mong Cầu

Mong…
Cầu…
Trông…
Đợi… Mỏi mòn.
Mong cho tươi tốt núi non xanh màu
Mong cho nắng hạn qua mau
Mong cho trái đất chung nhau giữ gìn
Mong cho thiên hạ yên bình
Mong cho khí hậu như nghìn năm xưa.
Cầu cho thuận gió hòa mưa
Cầu cho nhân loại sống vừa lòng nhau
Cầu cho tất cả đâu đâu
Nam, Phụ, Lão, Ấu ân sâu nghĩa tình. 
Trông cho vạn vật đẹp xinh
Trông cho thiện ác phân minh rõ ràng
Trông cho cuộc sống huy hoàng
Nước nào cũng mạnh dân càng ấm no.
Thơ & Hình Ảnh: Nguyễn Thành Tài

Tất Cả Những Cuộc Gặp Gỡ, Đều Là Một Kiểu Trả Ơn


Trong cõi đời này, có một chân lý giản dị mà sâu xa:

Tất cả những cuộc gặp gỡ đều không phải ngẫu nhiên.
Chúng là một hình thức trả ơn, báo ân, hoặc hóa giải nhân duyên từ muôn ngàn kiếp trước.

Phật dạy: Vạn pháp do duyên sinh.
Người ta đến với ta - không sớm hơn, không muộn hơn - đều là đúng lúc trong một kế hoạch vi tế của nhân quả.
Có người bước qua đời ta chỉ trong khoảnh khắc, nhưng chạm vào tận sâu tâm hồn. Có người đi cùng một quãng đường dài, rồi lặng lẽ rẽ lối.
Gặp nhau là duyên, ở lại là nguyện.

Người xưa có câu: "Muốn gặp nhau một lần ở kiếp này, phải ngoái đầu năm trăm lần nơi kiếp trước."
Duyên, không chỉ là tình cờ. Duyên là cả một quá trình tu tập, chờ đợi, trả - nhận - hóa - chuyển trong nhiều đời sống.

Có một câu chuyện kể rằng...
Một cô gái lặng lẽ cầu nguyện giữa biển người đông đúc, chỉ để có thể gặp lại một người từng đi ngang qua đời mình. Phật Tổ nghe thấu, Ngài nói: "Muốn gặp lại người ấy, con phải tu 500 năm."
Cô gái không ngần ngại. 500 năm sau, cô hóa thành lan can đá nơi chiếc câu mà chàng trai sẽ đi qua. Nhưng chàng chỉ lướt nhẹ qua mà chẳng biết cô từng chờ đợi ngàn năm.

Lại một lần nữa, cô cầu xin Phật Tố. Ngài nói: "Muốn chạm vào người ấy, con phải tu thêm 500 năm."
Cô tiếp tục tu hành. 500 năm sau, cô hóa thân thành gốc cây bên đường, để một lần chàng tựa vai trong mỏi mệt.

Và khi Phật Tổ hỏi: "Con còn muốn làm vợ anh ta không?"
Cô gái mỉm cười: "Không cần nữa. Chừng ấy là đủ. Được thấy người ấy bình an đã là đủ rồi."
Phật Tổ thở dài mà nói: "Cũng tốt. Vì chàng trai ấy... đã tu 2000 năm để chỉ có thể nhìn thấy con một lần."

Một câu chuyện mang màu sắc thần thoại, nhưng lại thấm đẫm tinh thần Phật pháp.

Yêu không phải là sở hữu. Mà là đồng hành trong yêu thương và buông xả.
Tình bạn, tình thân, tình yêu - đều là một phần của dòng chảy nhân duyên
Khi còn bé, chỉ cần một cây kẹo, một cái bút, là đã có thể thân thiết với một người. Nhưng khi lớn lên, ta nhận ra:
Gặp một người dễ, giữ một người khó.
Rất nhiều người từng gọi nhau là tri kỷ, rồi chỉ vì không còn liên lạc mà hóa người dưng.
Rất nhiều người từng thề không rời, lại tan vào biển người chẳng thể gặp lại lần nào nữa.
Vì vậy, người còn ở bên ta hôm nay, là người ta đã nợ ân tình rất lớn từ những kiếp trước.
Dù chỉ là vài câu chuyện, một ánh mắt, một vòng tay, cũng không nên xem nhẹ.
Không có gì là ngẫu nhiên - mọi cuộc gặp đều có ý nghĩa
Bạn gặp một người để học cách tha thứ.
Bạn yêu một người để học cách buông bỏ.
Bạn chia ly với một người để học cách chấp nhận vô thường

Cuộc sống vì vậy mà trở nên đầy màu sắc, đầy vết thương, và đây hoa trái tâm linh
"Tất cả những nơi bạn đã đi qua, đều có dấu chân của nhân duyên.
Tất cả những người bạn từng gặp, đều là một phân của bài học cuộc đời!"


Hạnh phúc là khi ta biết cúi đầu trước duyên khởi và chấp nhận duyên tàn
Không ai giữ mãi một người, không ai nắm được một đoạn đường mãi mãi.
Cũng như hoa nở rồi tàn, mây tụ rồi tan - mọi hợp tan đều năm trong dòng chảy của vũ trụ.
Khi hiểu được điều đó, ta không còn trách móc số phận, cũng không nuối tiếc một người đã rời đi.
Thay vào đó, ta tri ân mỗi cuộc gặp, dù ngắn hay dài, dù hạnh phúc hay khổ đau.
Vì chính họ - là một phần khiến ta trở thành phiên bản sâu sắc hơn của chính mình hôm nay.


"Đi qua một số người, ghi lại một số chuyện, mới hiểu:
Cuộc đời này - tất cả những cuộc gặp gỡ, đều là một kiểu trả ơn."



Và biết đâu, hôm nay bạn gặp tôi - cũng là vì một lời hẹn từ kiếp trước..

tanvanchualanh
(lượm trên FB.TN)
Tố Miên Sưu Tầm

Canh Chua Rau Muống, Thịt Gà

 

Trong bốn mùa ở xứ Úc, mùa hè là mùa trồng được nhiều rau muống nhứt. Mùa này, rau muống vừa rẻ vừa tươi non có thể ăn thả dàn thỏa thích để bù những khi trái mùa rau muống 1ký tới mười đồng. Ngoài việc đem xào tỏi, xào chao, luộc chấm tương hoặc chẻ quăn ăn với bún riêu, bà bếp cũng thường nấu canh chua với thịt gà. Cách nấu rất nhanh, đơn giản mà cũng ngon không thua gì món canh chua thập cẩm khóm, giá, bạc hà, cà chua, đậu bắp, tôm cá lung tung.


Vật liệu:

- Hai bó rau muống cọng to lặt lấy chỗ non ngắt từng khúc ngắn
- Vài trái cà chua từ huồm huồm tới chín đỏ
- 1 trái ớt chuông đỏ xắt lát mỏng
- Ngò gai, rau om xắt nhỏ
- 1kg gà (đùi, cánh hoặc ức tùy thích)
- 1 vắt me hột ngâm nước, lượt bỏ hột, lóng cặn
- Muối - Đường - Nước mắm - Bột ngọt


Rau muống lặt lấy khúc non
Cà chua xắt múi cau
Gà thigh fillet

Cách làm:

Bắc nồi lên lò, phi tỏi, xào sơ thịt gà cho thơm, chế 1,5 lít nuớc sôi vào nấu cho chín thịt gà, chắt nước me và cho cà chua vô nấu tiếp. Khi cà vừa chín, nêm nếm chua ngọt mặn cho vừa ăn, thả rau muống vào, dùng đũa đảo sơ rồi tắt lò ngay để rau còn xanh.

Khi múc ra tô, rải ngò, gai rau om và vài lát ớt chuông hoặc nếu thích cay thì cho ớt hiểm hay ớt sừng trâu lên mặt. Món canh chua này mà có thêm dĩa sườn xào mặn thì bữa cơm sẽ ngon miệng hơn bất cứ cao lương mỹ vị nào. Mời quý bạn nấu thử coi sao.

Bon appétit!

Người Phương Nam


Hương Linh, Đố Ai Ăn Táng Được Hương Linh?


Con người khi sống có hai phần: thân thể và linh hồn. Phần linh hồn (spirit/ghost) của con người khi đã chết bên Phật Giáo gọi là hương linh 香靈 hay vong linh 亡靈. Phần thể xác (corpse/body) gọi là nhục thể (không phải nhục thân). Thân và Thể là hai chữ khác nhau.

Tự điển Hán Việt chỉ có hai chữ nhục thể 肉體 Nhục 肉 là xác thịt; thể 體 là nói về toàn bộ thân thể con người; còn thân 身chỉ là phần tử cổ xuống đến bẹn, không bao gồm đầu và tứ chi. Bài học cách trí bậc tiểu học “Thân thể người ta chia làm ba phần: đầu, mình, và chân tay.” Mình là thân; cũng như thân cây là phần ở giữa không có cành, lá, và rể.

Vì vậy khi con người qua đời, theo niềm tin các tôn giáo thì phần linh hồn của những người hiền lương sẽ rời phần thể xác để được Thánh Phê Rô hay Phật A Di Đà đón về cõi thiên đàng hay niết bàn hưởng phước đời đời - tuỳ theo người này là tín đồ Thiên Chúa Giáo hay Phật Giáo. Còn nếu phạm nhiều tội lỗi thì sẽ sa xuống địa ngục để nhận các hình phạt. Phần thể xác còn lại thì tùy ý thích mà được chôn hay thiêu ra tro rồi gửi vào nơi thờ tự hoặc đem rải ra sông, biển.

Chúng tôi đi dự nhiều tang lễ của bên Phật Giáo và nghe các vị Đại Đức trong mấy ngày làm lễ - từ tẩm liệm đến phát tang, cúng cơm cho đến kết thúc - đều đọc nhiều lần các câu đại khái như sau:
- Hôm nay là ngày mồng… tháng… năm…, tang quyền tụ tập về đây để làm lễ an táng cho nhục thân hương linh ông Nguyễn Văn X. pháp danh Thích Y. Z.

Chỉ an táng hay hỏa táng ‘nhục thân’ thôi sao? Còn đầu và chân tay để đâu?

Nhục thể (hay nhục thân) được an táng hay hoả thiêu thì đúng rồi, chẳng có chi thắc mắc.
Nhưng hương linh thì đã ra khỏi phần xác, đang lảng vảng quanh quẩn đâu đó chờ nghe ông sư và tang quyến đọc hết mấy chục lần niệm khẩn xin Phật A Di Đà rước về cõi vĩnh hằng. Có khi hương linh nghe kinh dài mệt oải quá, nên đã nhanh nhảu tung cánh bay đi xa mất rồi cũng nên. Thế thì an táng hay hoả táng hương linh là thế nào đây?

Thời chúng tôi còn nhỏ, thấy các vị sư tu hành thường có trình độ Hán văn khá thâm sâu. Họ không những đọc và hiểu các bản kinh mà còn có tài viết các bài văn, thơ chữ Hán. Ngày nay có lẽ những vị sư không mấy rành chữ Hán nên cứ đặt ra những câu tụng theo ý mình mà không cần biết đúng sai.

Dã Ngoại 野 外

Tự Điển Thiều Chửu có định nghĩa như sau:
野 dã (11n) là

1: Ðồng. Như khoáng dã 曠野 đồng ruộng. Nguyễn Du 阮攸 : Nghiệp Thành thành ngoại dã phong xuy 鄴城城外野風吹 (bên ngoài thành Nghiệp gió đồng thổi).
2 : Cõi, người ngày xưa chia vạch bờ cõi, theo đúng các vì sao, nên gọi là phân dã 分野.
3 : Dân quê. Như triều dã 朝野 nơi triều đình, chốn dân quê.
4 : Quê mùa.

Ở trang 162, Tự Điển Hán Việt Đào Duy Anh, có chữ
Tự Điển Tín Đức, trang 144 định nghĩa:

Sự ghép hai chữ Dã và Ngoại hoàn toàn đúng với văn phạm; đó là một tĩnh từ được hiểu là ngoài trời, nơi thiên nhiên xa nơi dân cư, phố thị. Chỉ cần bước ra khỏi ranh giới khu dân cư, một thị trấn, là đã ra đến nơi đồng quê. Đơn giản là ngoài đồng, ngoài phạm vi thị trấn, khu dân cư. Sự ghép này có khác gì các chữ ‘thư trung, gia trung, thành nội, thành ngoại, hải ...’

Đứng một mình, chữ ‘dã ngoại’ không hề có ý nghĩa là các sinh hoạt, vui chơi... Nó phải được đi theo sau một danh từ. Ví dụ: Chúng tôi thích sống dã ngoại, Hướng Đạo chú trọng các hoạt động dã ngoại, du hành dã ngoại, cắm trại dã ngoại. Có thể nói “đi dã ngoại.” Nhưng đi làm gì? Đơn thuần đi bộ dạo chơi hay tập thể dục, hay đi lang thang như kẻ thất tình?

Ngày nay, ở Việt Nam có khuynh hướng dùng chữ Dã Ngoại như một danh từ hay động từ để nói về những hoạt động ở nơi thiên nhiên như picnic, cắm trại, du ngoạn. Cách dùng sai như thế này khá phổ biến ở Việt Nam, như các chữ ‘ấn tượng’ (cô ấy hát ấn tượng), ‘thần tượng’ (Tôi thần tượng ca sĩ Mi Mi), ‘tâm tư’ (trong trường hợp xui xẻo của anh, tôi rất tâm tư). Nói kiểu thế này thì hoàn toàn không chấp nhận được, vì nó không tròn nghĩa, dùng sai các loại từ (danh từ dùng như động từ).

Nói chung, có rất nhiều chữ hiện nay ở Việt Nam dùng sai, nhưng điều này không có nghĩa là những chữ đó sai.
Lại nói về tĩnh từ chỉ số lượng

Trong một bài phát thanh có đề cập đến các thứ tự của tĩnh từ và danh từ, chúng tôi có đưa ra thí dụ về hai nhóm chữ Hắc Tam Sơn, Nhị Bạch Hà được quân nhân Sư Đoàn 22 Bộ Binh của VNCH dùng để nói về đặc điểm của vùng đất họ trấn giữ.

Mới đây, có một độc giả góp ý rằng “Nhưng khi người trong cuộc quan niệm Tam Sơn và Nhị Hà là những danh từ kép thì họ có quyền nói ‘Hắc Tam-Sơn, Bạch Nhị-Hà’.”

Nói về địa danh có kèm theo con số, ở miền Bắc Việt Nam chỉ có sông Nhị Hà (cũng là sông Hồng Hà chảy từ vùng Nam Trung Hoa ra vịnh Bắc Phần; đoạn chảy từ Lào Cai đến Việt Trì thì có tên là sông Thao, đoạn kế chảy qua Hà nội thì có tên là sông Nhị), sông Lục Đầu (gồm sáu con sông: sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam, sông Đuống, sông Kinh Thầy, sông Thái Bình gặp nhau tạo thành); ở miền Nam thì có sông ‘Cửu Long’ do sông Mekong khi chảy vào nước ta thì đổ ra biển bằng 9 nhánh, nên người ta đã đặt tên là Cửu Long. Về núi thì ở miền Bắc có núi ‘Tam Đảo’, miền Nam thì có vùng Thất Sơn ở Châu Đốc, Gần Đà Nẵng thì có Ngũ Hành Sơn. Nếu chúng tôi kể thiếu, kính xin quí vị bổ túc giùm.

Chúng tôi không tìm thấy trong sách địa lý của VN núi “Tam Sơn” hay sông “Nhị Hà’ nào ở vùng Pleiku, Kontum mà Sư Đoàn 22 trấn giữ cả. Những con sông và núi non ở miền Trung không có liên đới với nhau để tạo thành những vùng có tên riêng là Nhị Hà, Tam Sơn.

Do đó, lý luận của vị độc giả nêu trên là không hợp lý; không thể viết ‘Hắc Tam Sơn, Bạch Nhị Hà,’ mà phải là ‘Tam Hắc Sơn, Nhị Bạch Hà’ thì mới đúng với văn phạm, thứ tự các tĩnh từ bổ nghĩa cho danh từ. Xin nhắc lại: Tĩnh từ chỉ số lượng luôn đứng trước các tĩnh từ khác.

Sau đây là thứ tự của các chữ bổ nghĩa (modifiers, có thể là tĩnh từ, trạng từ, danh từ...) trong Việt Ngữ. Trong Hoa Ngữ hay Anh Ngữ thì đảo ngược lại, ngoại trừ tĩnh từ số lượng và mạo tự luôn luôn đúng đầu:

1. Tĩnh từ về số lượng, kế đó là mạo từ, luôn đứng đầu nhóm chữ, trước danh từ chính.
Kế đó là danh từ chính, theo sau nó lần lượt các loại từ bổ nghĩa sau:

2. Những danh từ được dùng như tĩnh từ.
3. Chữ bổ nghĩa chỉ về vật liệu.
4. Chữ bổ nghĩa chỉ về xuất xứ:
5. Chữ bổ nghĩa chỉ về màu sắc.
6. Chữ bổ nghĩa chỉ về hình thể. :
7. Chữ bổ nghĩa chỉ về cũ mới, già trẻ.
8. Chữ bổ nghĩa chỉ về kích cỡ.
9. Chữ bổ nghĩa chỉ về phẩm chất.

Đỗ Văn Phúc
Đài Phát Thanh Đáp Lời Sông Núi
___________________________

Dù ở bất cứ nơi đâu, chúng ta vẫn là người quốc gia Việt Nam.
那儿去 我們是越南國家人

Chứng Tích



trong ta còn giọt lệ mừng
với trăm nỗi nhớ dợm chừng nỗi đau
và ngàn giọt lệ nín mau
cho vui nở nụ cười sầu trên môi
còn người đã lỡ một đời
đã bên kia, mắt vẫn vời vợi nhau
áo xưa vạt đã phai màu
tình xưa dẫu cắt vết khâu còn hườm
trong ta, ngấn cổ còn son
mươi năm nụ ấy chưa mòn dấu hôn

Cao Vị Khanh



Thương Nhớ Chapa



(Tặng chị Cao Mỵ Nhân,
Nữ Danh Sĩ quê ở ChaPa)

Kể từ lưu lạc xa quê,
Biết bao thương nhớ gửi về Chapa. (Sa Pa)
Một vùng rừng núi bao la,
Thượng nguồn châu thổ Hồng Hà Lào Cai.

Tuyệt vời khí hậu nơi đây!
Lạnh se se tựa những ngày lập Đông,
Giống như Đà Lạt Lâm Đồng,
Tả Vân, Tả Phín bình bồng sương sa.

Chập chùng đồi núi Chapa,
Đỉnh cao nhất nước, ấy là Fansipan!
Trọng Đông tuyết lạnh giá băng,
Kỳ quan thắng cảnh, sánh bằng Fuji.

Ruộng bậc thang đẹp tuyệt kỳ!
Cắt vòng đồi núi khác gì bức tranh.
Sức người biến cải thiên nhiên,
Nhà nông vẫn giữ cổ truyền xưa nay.

Sắc dân bản tộc nơi đây,
Gồm Mèo, Hmông, Thái, mường Tầy, mường Dzao.
Mỗi bản nói tiếng khác nhau,
Nhưng khi họp chợ, lầu lầu tiếng Kinh.

Gái Mèo, Hmông, Thái rất xinh!
Hồn nhiên hát “Dắc Cành Dinh” (*) hẹn hò…
Người Dzao, Tầy giỏi nông phu,
Cắt đồi thành ruộng, cần cù làm ăn.

Dân Chapa rất hiền lành,
Tấm lòng hiếu khách, đã thành bẩm sinh.
Cát Cát đồi núi hữu tình!
Hương hoa thơm ngát rừng xanh bốn mùa.

Chim muông ca hát nô đùa,
Đất lành khí hậu gió mưa thuận hoà!
Tha phương nhắc tới quê nhà,
Nỗi lòng thương nhớ Chapa bồi hồi…

Trần Quốc Bảo

Richmond, Virginia
(*) Dân ca miền Thượng “Dắc Cành Dinh” 
(đại ý: Vào rừng hái hoa) trai gái thường hát,để tỏ tình với nhau.

Mùa Đông Chạm Cửa


Một điều đã chạm đến trái tim. Đôi khi những câu chuyện sâu sắc nhất là những câu chuyện âm thầm giữ kín trong lòng suốt nhiều năm, và cuối cùng tìm được lời để diễn đạt, cảm giác ấy vừa nhẹ nhàng vừa xoa dịu vết thương đau.Đó là cảm xúc chân thật, ký ức thật.

Tôi vẫn đây. Không ai nhận ra, do thời gian không đo lường được, trong khoảng lặng, thời gian đằng đẵng trôi qua. trong lòng thật âm ĩ của những điều chưa bao giờ thực sự rời đi.
Ngôi nhà cũ vẫn im lìm, con đường,vắng lặng, những hàng cây nghiêng phủ như đang lắng nghe. Bên trong, cạnh cửa sổ, có một chiếc ghế đã không hề di chuyển trong nhiều năm. Và đôi khi, trong ánh chiều muộn, dường như vẫn còn ai đó ngồi, dõi theo, hồi tưởng, đợi chờ bước chân ai....

Cô đơn gối chiếc tái tê lòng
Lạnh lẽo mùa về chạm tiết đông
Hoang vắng chiều nghiêng sầu gió bấc
Chạnh lòng sương phụ rót vào song

Tôi vẫn đây, trong những vầng thơ. Đã có thời, ngôn từ tuôn chảy dễ dàng, tuổi trẻ mang theo sự ngây thơ như một kho báu bí mật. Có lần đã nghe những dòng thơ bén hơn dao xé hết ruột gan đã vậy còn chan canh bằng nước mắt. Tuy nhiên vẫn cảm ơn Thượng Đế còn được sống để thưởng thức thú đau thương... Cảm ơn người, cảm ơn cuộc đời, những lời thơ vương nhiều trăn trở, thú đau thương của người làm nhịp thở cứu sinh....
Những ngày tháng tràn ngập hạnh phúc, nhớ không cần lý do, yêu đến nhẹ nhàng, như một lời hứa ngầm. Có lẽ quá ngốc nghếch. Nhưng đó là một sự ngốc nghếch dễ thương, ngây thơ. Một kiểu ngây thơ viết nên những giấc mơ đầu đời.

Cuộc tình ấy bỗng một lần chợt đến
Tắt sao trời mắt rực sáng đê mê
Trong bóng đêm mùi hương áo cũ về
Hong hơi thở ủ đôi bờ vai ấm

Nhớ những ngày xa xưa qua... tự cảm nhận chính mình một sự ấm áp, nồng nàn, hồn nhiên trong sáng, không bị ảnh hưởng bởi sự chia xa. Thay vì oán trách, nghi ngờ, lại tin vào tình yêu vĩnh cửu mà không cần hỏi vì sao...Đó là một thời của những giấc mơ đẹp, sự kỳ diệu, huyền nhiệm của ân Thiên sắp xếp và ban cho.

Tôi vẫn đây, qua từng thời gian ... Hướng về phía trước .... Mùa thay đổi, từng sợi nhớ sợi thương đan xen vào nhau, và cuộc sống dần trở nên tĩnh lặng hơn, xa cách đã từng... nhưng khoảng cách xa nhau không dài thăm thẳm, những mối len nhớ càng gút chặc hơn để kết thành một chiếc khăn choàng quấn quanh hạnh phúc và ấm áp đôi tim.

Mơ ước bên người tiết đông sang
Như Chiếc khăn len nhẹ ôm choàng
Chia nhau hơi hướm trời lạnh giá
Sưởi ấm vượt qua nỗi gian nan

Tôi vẫn đây, nhìn lá rơi. Gió mang theo cái lạnh buốt da. Bầu trời trải rộng và âm u, thế giới dường như rộng hơn, trống rỗng hơn. Đã từng có một người bên cạnh vào chính mùa này.
Không hẹn mà gặp, không nói mà hiểu, không hiểu mà yêu, không thiếu mà nợ...và không hẹn mà hứa để rồi không hứa mà chờ... cùng nhau trên từng cây số ngàn....những câu dang dở, và rồi..lặng lẽ ra đi... 

Mùa thu cất bước, mang thế giới bằng những màu sắc quen thuộc. Lá nhè nhẹ rơi..., như thể chẳng có gì thay đổi. Sương đêm vẫn giăng lạnh lùng. Người ta nói hãy bước tiếp, hãy buông bỏ. Nhưng có những điều không thể biến mất, nỗi buồn vẫn không hề thay đổi. Hình bóng ấy cũng không đổi thay. Vẫn hiện hữu nơi đây, bên cạnh cuộc đời nhau. 

Mọi điều không phải tàn nhẫn. Không phải giận dữ. Chỉ là sự kết thúc lặng lẽ của khoảng cách. Một cuộc sống khác. Một con đường khác, không quay lại. Tuy nhiên người ấy đã để lại điều gì đó. Một ký ức nhỏ bé và sống động, từng lời, từng chữ từng âm thanh vẫn vang vọng đâu đây dường như vô tận.... Xung quanh mờ nhạt, nhưng tất cả những gì người để lại không bao giờ mất dấu phôi phai.

Không còn níu lấy nữa, một cách nghĩ đơn giản là mang nó theo suốt cuộc đời. Và vì thế vẫn ở đây. Không bị ràng buộc giữa quá khứ, mà được hòa quyện nhẹ nhàng vào nếp sống, hít thở chung một bầu trời, tiếp tục bước đi con đường có hương hoa, mùi lá, ôm trọn một tình yêu chưa bao giờ bị lãng quên.

Bên ngoài, lá vẫn rơi.... Góc riêng, nhắm mắt lại chỉ trong giây lát, và trong không gian tĩnh lặng này, không gì mất đi. Chỉ còn lại ký ức đẹp, êm đềm và bền lâu.... Mùa đông chạm cửa, giữ cho nhau chút nồng nàn để sưởi ấm khoảng đời nhau....

Sớm đông tiếng gió thì thào
Rót vào hương đượm lời trao ngọt ngào
Mơ mơ trời chớ sớm mau
Đắp chăn ký ức đẹp màu thời gian

Sớm đông gió đã ghé sang
Giá băng nắng hạ xua tan sương mờ
Nhớ nhớ đời bỗng nên thơ
Gian phòng hạnh phúc đợi chờ gió ơi!

Kim Oanh
Melbourne Đầu Đông 2026