Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

Thử Tìm Xuất Xứ Bài Vọng Cổ - Trần Kiêm Thêm (Huỳnh Chiêu Đẳng Sưu Tầm & Biên Soạn)


Một Giai Đoạn Của Lịch Sử


Năm 1918, sau khi đặt nền móng xong các cơ cấu chính trị, quân sự, người Pháp thật sự đô hộ nước ta. Việt Nam sau hơn một ngàn năm bị đô hộ bởi Trung Hoa, kế đến nước Pháp với mộng bành trướng lãnh thổ, đã đem quân viễn chinh chiếm lấy toàn cõi Đông Dương. Các nhà nho, các nhà cách mạng đứng trước gông cùm cửa ách nô lệ, trước những thay đổi của thời đại với một phong hóa suy đồi, tang thương ngẫu lục, họ hết dối đau lòng. Nho học đã nhường chỗ cho Tây học:


Cái học nhà Nho đã hỏng rồi,

Mười người theo học chín người thôi.


Tinh thần sĩ phu của các nhà nho trước biến cố của thời đại, trước những trở nhố nhăng của xã hội mới:


Bà con tênh hếch xem bôi trải,

Thằng bé lom khom ghé hát chèo.

Cây sức dây đu nhiều chị nhún,

Tham tiền cột mỡ lắm anh leo.

(Trần Tế Xương)


Thái độ của các nhà nho đã thật rõ rệt. Một số rút vào các chiến khu, chiêu mộ quân dân kháng chiến chống Pháp như Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám Nguyễn Thiện Thuật, Phan Văn Trị, Tôn Thọ Tường... Họ chiêu binh mãi mã đánh quân xâm lược. Nhiều nhà nho đã có óc tiến bộ, bôn ba hải ngoại để cầu viện quốc quân ít thể có như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng...

Cuộc chống Pháp đã rất khó khăn, vì quân Pháp với đầy đủ vũ khí tối tân, với đoàn quân tinh nhuệ, trong khi đó các nhà nho chỉ có một tấm lòng yêu nước, thật là một cảnh châu chấu đá xe. Đọc một đoạn thơ Phan Đình Phùng trả lời Hoàng Cao Khải thì rõ:

"Song le, tâm sử và canh ngô của tôi có nhiều nỗi muốn van khó khăn hết sức. Xem sử thế thiên hạ như thế kia, mà tài học tôi như thế này, y như lời cổ nhân đã nói thân con bọ ngựa là bao mà dám giơ cánh tay lên muốn cản trở cỗ xe sao nổi mà không biết ! Việc tôi làm ngày nay, sánh lại con quá hờn nữa, chẳng phải như chuyện con bọ ngựa đưa tay ra cản cỗ xe mà thôi.

"Nhưng tôi ngẫm nghĩ lại, nước nhà mình mấy ngàn năm nay, chỉ lấy văn hiến truyền nối nhau đời này đến đời kia đất nước chẳng rộng, quân lính chẳng mạnh, tiền của chẳng giàu, nhưng có thể ỷ thì dựa nương đã dựng nước được là nhờ cái gốc vua tôi, cha con theo đạo thường mà thôi. Xưa kia nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh bên Tàu, bao nhiêu phen lăm le muốn chiếm lấy đất ta làm quận huyện của họ mà vẫn không chiếm được.


Ôi ! nước Tàu với nước ta, bờ cõi liền nhau, sức mạnh vạn bội thế mà trước sau họ không thể mạnh mà nuốt trôi nước ta được. Đến nay người Pháp với mình cách xa không biết là mấy muôn dặm, họ vượt bể lại đây, đi tới đâu như là gió lướt tới đó, đến nỗi nhà vua phải chạy, cả nước lao xao, bỗng chốc non sông nước mình biến thành bờ cõi của người ta, thế mà trọn cả nước nhà, dân nhà cũng bị đắm chìm hết thảy, chớ có phải riêng một châu nhà ai phải chịu cảnh lầm than mà thôi "

Trong một đoạn khác, bức thư viết:

" Từ lúc tôi khởi nghĩa đến nay, đã phải mười lăm năm trời, những người đem thân làm việc nghĩa, hoặc là bị trạch phạt, hoặc là bị chém giết, vậy mà lòng người trước sau chẳng hề lấy thế làm nản chí ngã lòng bao giờ. Trái lại số người mạnh bạo ra theo tôi càng ngày càng nhiều thêm mãi. Nào có phải người ta lấy điều tai vạ hiểm nguy làm sự sung sướng thêm thuồng mà bỏ nhà dấn thân ra theo tôi như vậy đâu. Chỉ vì họ tin cậy lòng tôi, lường xét trị tôi, cho nên hâm hở như vậy thôi. Ấy lòng người như thế, nếu như cố nhân đặt mình vào cảnh của tôi, liệu chứng cố nhân có nỡ lòng nào bỏ đi cho đành hay không ? "

"... Phải biết quân Pháp đi tới có lữ thiếu nhân mình của ta rẫy kệ lập công, thử vơ oan cha, những người không có tội gì chung cũng đâm thọc, buộc ràng cho người ta có tội, phạm có cách gì đục khoét được của cải của dân, thì chúng nó cũng dùng tới hết thảy. Bởi thế mà thói hư mối tệ tuôn ra cả trăm cả ngàn, quân Pháp làm sao biết thấu cho cùng những tất khổ của dân trong chốn làng xóm quê mùa như thế thì bảo dân không phải tản lìa trôi dạt đi sao được ".

Tinh thần cách mạng của các nhà nho tưởng nhiều thế hệ sau nên lấy đó làm khuôn vàng thước ngọc để xử thế.

Nhưng như ta đã thấy, quân Pháp với đầy đủ quân bị tối tân. Thứ nữa họ lắm bạc nhiều tiền sẵn sàng mua chuộc hàng sĩ phu ham mồi phú qúi, nhưng vẫn còn một chút lương tri nghĩ tới quốc gia dân tộc. 


Xem một đoạn thư thuyết hàng của Hoàng Cao Khải thì biết rõ:

"Nay nhân quan Toàn Quyền trở lại, đem việc ở tỉnh ra bàn bạc với tôi; có khuyên tôi sai người ngỏ ý cùng Ngài biết rằng: "Ngài là bậc người hiểu biết nghĩa lớn, dẫu không bản lòng tướng nghị gì đến thân mình nhà mình nữa, thì cũng nên tưởng nghĩ cứu vớt lấy dân ở trong một địa phương một mới phải. "Lời nói đó, quan Toàn Quyền không nói với ai, mà nói với tôi, là vì cho rằng : tôi với Ngài có tình xóm làng cũ có rượu với nhau, chắc hẳn tôi nói Ngài nghe được, vậy có lẽ nào tôi làm thinh không nói ....ÔI ! Làm người trên phải có lòng thương yêu dân làm cốt, chứa từng có ai không biết thương dân mà bảo là trưng với vua bao giờ. Việc của Ngài làm từ bấy lâu nay bảo rằng trung thì thật là trung, song dân ta có tội gì mà vương phải nỗi lầm liệt than thế này là lỗi tại ai ? Nếu bảo là vì thiên hạ thì không biết chỉ tới nhà nữa cũng phải, nhưng một nhà của mình đã như vậy, chứ còn bao nhiêu nhà ở trong một vùng cũng bỏ đi cả, sao cho đang tâm ? Tôi nghĩ nếu Ngài cứ khăng khăng làm trận tôi mãi, thì e rằng khắp cả sông Hồng núi Lam, đều biến thành hổ cả hết thảy, chớ không phải chỉ riêng lọ cho quê hương điêu đứng xiêu tàn, tướng chắc bậc người nhân nhẫn, quân tử không lấy gì làm vui mà làm thì phải ".

Các nhà viết sử sau này luận bức thư thuyết hàng trên đây là ngụy biện, không đúng tinh thần của một nhà nho yêu nước.


Đứng trước những khuynh hướng và thái độ của các sĩ phu lúc bấy giờ. Thật khó mà phân định cho một nếp sống vững vàng. Những dẫu sao hình ảnh quật cường của một dân tộc đã được thể hiện qua thơ văn yêu nước thời đó. Thái độ của chúng ta, những người đang sống nói hải ngoại nên nung đúc tinh thần cách mạng ấy như là một đường hướng tốt cho phương cách xử thế hôm nay và mai sau.

Đúng luận sự hỗn thua của những phong trào cách mạng thời bấy giờ như Phong trào khởi nghĩa Yên Bái, Phong trào Văn Thân, Phong trào Đông Du.... Có thể trước sức mạnh của kẻ địch, các phong trào kể trên đã tan vỡ. Chúng ta chỉ ghi nhận cái thiện chí, lòng yêu nước vô bờ bến của họ là đủ.

 

Thử Tìm Xuất Xứ Bài Vọng Cổ

Trần Kiêm Thêm

 

DI TÌM XUẤT XỨ BÀI VỌNG CỔ


Như đã trình bày ở trên, trước những thất bại ê chề của các nhà cách mạng, nhưng phong trào khởi nghĩa. Thái độ của các nhà yêu nước lúc bấy giờ hoặc là chết làm liệt như các Liệt sĩ Hoàng Hoa Cường, hoặc là lui về ở ẩn trong các làng thôn, mượn lời thơ để trang trải nỗi lòng chuyên chở niềm đau dân tộc.


Vào năm 1920, một nhà sư đang tầm thuốc, mắt sáng, vừng trán rộng đến cư ngụ tại làng Hòa Bình tỉnh Bạc Liêu. Không ai biết sư ông từ đâu đến, sau nay người ta mới hay vị sư là một trong những nhà cách mạng trong nhóm Văn Thân chống Pháp. Thất bại trong việc chống thức dân nên tìm về nương náu trong một ngôi làng nhỏ bé. Cũng không ai biết nhà sư tên họ là gì, ngài xưng pháp danh là Nguyệt Chiếu. Đàm đạo với nhà sư mới biết sư ông là một nhà uyên thâm, học rộng hiểu nhiều, thuộc làu kinh sử. Ngài từng thuyết pháp đạo vô thường nghĩa từ bi và lý lẽ của Tứ Diệu Đế. Ngoài ra Ngài con là một nhà thơ nữa. Thơ ông man mác một nỗi buồn sâu kín, ưu thời mẫn thế. Lời thơ chua cay. Đọc kỹ mới thấy thơ ông chứa đựng ý nghĩa của một nhà cách mạng đã dấn thân tranh đấu cho quốc gia dân tộc nhưng "mưu sự tại nhân thành sự tại thiên". Thất bại ê chề trước cuộc thế, nay mượn câu kinh tiếng kệ khuây khỏa nỗi lòng, lấy thi ca làm bạn tâm giao.


Thơ của sư ông Nguyệt Chiếu phản ánh của tinh thần văn học miền Nam. Một nền văn học có nhưng nét đặc thù như Đông Hồ từng đề cập đến: "Văn học miền Nam khai mào khai thác lành thổ hồi ba thế kỷ trước thì chịu ảnh hưởng trực tiếp với văn học Trung Hoa. Khoảng giữa, chịu ảnh hưởng của văn học Đàng trong và văn học triều Nguyễn. Khoảng cuối lại chịu ảnh hưởng lếch lác văn hoá Pháp".

"Vì thế mà văn học miền Nam lúc nào cũng có tính cách đặc thù xa cách.

Cho đến hồi gần đây, nhờ giao thông tiện lợi, nhờ phong trào giải phóng, nhờ phong trào di cư làm cho nhân dân ba miền liên lạc gần gũi, thân mật nhau, va văn hoá miền Nam cũng theo đó thống nhất hoà đồng với văn học cổ truyền dân tộc.(Trích: Văn Hoá Nguyệt san XIII,12 (1964) Trang 1633-1642)

Xem như thế, văn học miền Nam thời đó ngoài một ít tác phẩm của nho sĩ cũ sáng tác từ thế kỷ trước còn sót lại được nhân dân sao chép, được xuất bản theo khẩu truyền, còn thì không sản xuất thêm được phần nào có giá trị nữa.


Theo nha văn Đông Hồ thì các sách báo quốc ngữ miền Nam xuất bản khoảng từ 1900 đến 1920, dúng ta thấy có một lối viết lỏng lẻo hời hợt mất hẳn văn hoá cổ hữu, tệ nhị cổ truyền của hai miền Trung - Bắc. Điều nhận xét trên chúng minh cho biết bài tử "DẠ CỔ HOÀI LANG" (Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng) với ý nghĩa sâu sắc, những thiếu nét diễn đạt tệ nhị, văn hoa của các nhà thơ miền Bắc trên Nam Phong Tạp Chí (1917-1934) và Phong Hóa Ngày Nay ở Hà Nội (1932-1940) báo Tiếng Dân (1927). Tuy nhiên bài Dạ Cổ Hoài Lang không thiếu những nét hàm súc của nó.

Nội dung của bài Dạ Cổ Hoài Lang có ý nghĩa gần giống như câu chuyện Chinh Phụ Ngâm Khúc của bà Đoàn Thị Điểm, nghĩa là vẫn có hình ảnh của một bời canh lịch sử đất nước tao loạn, người chồng phải từ giả bút nghiên, từ gia người vợ hiền, con thơ để đi chinh chiến. Người vợ trung trinh gạt nước mắt tiễn chồng ra quan ải. Còn lại là chuỗi ngày dài chờ mong tin chiến thắng về, chờ người chống dấu yêu trở lại. Gạt nước mắt tiễn chồng ra đi, có nghĩa con là một lỗi ai oán:


Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.

Xanh kia thăm thẳm từng trên,

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này !

(Chinh Phụ Ngâm Khúc - ĐTD)


Nhưng với niềm tin sắt đá có một ngày về trong chiến thắng hiền vinh đã làm cho người chinh phụ kiên nhẫn đợi chờ.

Bài Dạ Cổ Hoài Lang với nội dung như thế, đủ hiểu nhà sư Nguyệt Chiếu vẫn tin có ngày dân tộc quật cường đuổi hết quân xâm lược.

Dạo đó khắp sáu miền lục tỉnh ai cũng biết ngón đàn và tài sáng tác nhạc của ông Sáu Lầu. Tâm sự của người nhạc sĩ này có những nét tương đồng như sư Nguyệt Chiếu và các nhà cách mạng đường thời. Ông Sáu Lầu đứng trước nạn quốc phá gia vong, yêu nước nhưng không làm gì được, muốn ngón đàn để trao niềm tâm sự riêng tây. Bởi thế, khi được thưởng thức bài "Dạ Cổ Hoài Lang" ông Sáu Lầu tự cảm như đã gặp tri kỷ tri bỉ, như Bá Nha gặp được Tử Kỳ và ông đã phổ nhạc bài thơ ấy.

Bản nhạc "Dạ Cổ Hoài Lang" đã được quần chúng thời bấy giờ hết sức tán thưởng. Đâu đâu cũng nghe văng vẳng lời ca ai oán, tiếng đàn nỉ non.

 

Những Biến Chuyển Của Thời Đại Và Sự Biến Dạng Của Bài Dạ Cổ


Để tìm hiểu vài sự thay hình đổi dạng của bài Dạ Cổ thiết tưởng không gì bằng ở đây chúng tôi xin trở lại vài quá trình biến chuyển của thời đại lục lục bấy giờ. Nhận xét về những biến chuyển đó, Nguyễn Tử Quang trên tập chí Bách Khoa số 16 (1959) có viết: "Sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) nước Pháp phát triển sự khai thác kinh tế ở Đông Dương. Kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam bị kinh tế thực dân làm lung lay dữ dội. Nước Việt Nam biến thành thôn quê của thành thị Pháp.

Hàng hóa Pháp vào thôn quê làm phá sản những tiểu công nghệ, tỹ công nghệ ở thôn quê. Nông dân mang canh bấn, cùng, vô sản hóa. Chế độ phong kiến ở miền Nam lung lay tận cội rễ. Những lung lay mà vẫn ở một chỗ, không tiến lên đuốc theo sự tiến triển tự nhiên của nô túc lạ con đường tư sản hóa.

Vì mỗi khi một địa chủ nào lìa bỏ đất đai để ra thành thị kinh doanh thì bị thức dân tìm cách hạt trở lại đất đai.


Giai cấp tư sản Việt Nam ở miền Nam không thành hình được, mà chỉ có những phân tử tư sản thôi. Nhưng phần tử đó không có cơ sở kinh tế tư sản (doanh nghiệp, thương mại, kỷ nghệ...) gì vững chắc, cho nên ta có thể bảo tư sản miền Nam tức là địa chủ và ngược lại, cũng là tư sản chưa thoát thân.

Vì những phần tử tư sản địa chủ ở miền Nam không lối thoát, họ chỉ con chạch thận thờ, mở mỏng chê độ phong kiến tư sản không đuốc đứng trên địa vị rực rỡ như ngày nào.

Tuy không tích cực khởi đuốc, nhưng những phân tử tư sản đua theo phong trào vùng dậy của nông dân trong thời kỳ, nên xuất thân tranh đấu với một dường hướng cải lương.

Chính trị vốn có ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng của con người - thế là trên bình diện văn nghệ - một sản phẩm của tư tưởng - những gánh hát cải lương ra đời. Bài Dạ Cổ nhịp đôi được đưa lên sân khấu với gánh hát thành lập đầu tiên ở miền Nam. Đó là gánh thầy Năm Tú ở tỉnh Mỹ Tho. Rồi lần lượt các gánh khác xuất hiện.


Xuất xứ ở Bạc Liêu, bài Dạ Cổ qua những giai đoạn, biến đổi cùng ở Bạc Liêu. Từ nhịp đôi lên nhịp tư, nhịp tám, xuất bản bằng những tập mỏng, nhỏ bản 5 xu trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng với nhãn hiệu "Vọng Cổ Bạc Liêu" rồi lần lần kéo dài thườn thượt như ngày nay ta đã thấy.

Từ bài Dạ Cổ Hoài Lang (Đêm Khuya nghe tiếng trống nhớ chồng) đổi sang "Vọng Cổ Hoài Lang" (Tưởng chuyện xưa nhớ chồng) có sự thay đổi ấy, vì nhiều nhạc sĩ cho rằng: suốt bài chánh của nó không diễn tả một tiếng trống nào, hơn nữa bao nhiêu bài Dạ Cổ khác cũng đều nhạc chuyện xưa, như vậy sửa lại "Vọng Cổ" cho hợp hơn.

Thay đổi như thế, nhưng thực ra cái tên không có gì quan hệ ở chỗ nội dung và hình thức của nó.

Tư sản địa chủ lấy nó làm sản phẩm của mình đưa lên sân khấu, cho vào dĩa hát bán chạy như tôm tươi. Thấy nhiều người ưa thích, bọn thức dân Pháp thông trị lợi dụng, cho phát triển nó để làm một lời khi tác động tinh thần.

Từ nhịp đôi bài Tú Phụ Tướng... tả người đàn bà mong chồng "hoài bảo tinh non nước" hình thức đơn giản, gọn gang, buồn man mác, khêu gợi nhớ nhung, biểu lộ mối tình chung thủy. Rồi từ bài Dạ Cổ, biến thành Vọng Cổ, kéo dài lên nhịp tứ, nhịp tám, nhịp mười sáu ba mươi hai... Càng kéo dài càng lâm ly, bi sau não nuốt.

Tự cho hoài bảo mối tình non nước đề nhắc nhở, dặn dò ai kia bao giờ cũng phải vẹn thủy toàn chung, bây giờ lại trở nên tiếng khóc suốt mướt của kẻ bị tình phụ, những tiếng than tuyệt vọng của những người hấp hối... Nào:


"Con nhạn đứng kêu sương nỗi biên Bắc,

Thức trót canh gà, thường con nhớ chồng, gan sầu ruột héo...

Tôi khóc đã làm phen rồi...."


Như đã trình bày trên, nhà sư Nguyệt Chiếu đã đem tất cả tấm lòng của một sĩ phu trao gởi trong một bài tư và ông Sáu Lầu đã có công đem phổ thành ca khúc. Từ một bài "Dạ Cổ Hoài Lang" đến "Vọng Cổ Hoài Lang" với nhiều tiết nhịp. Nay thì bài Vọng Cổ đã phổ cập khắp quảng đại quần chúng, không chỉ trong khuôn khổ của sáu tỉnh miền Nam, mà dần chung miền Trung, miền Bắc đều mến mộ. Vọng cổ thật đã ăn sâu vào tâm khảm mọi người. Tuy vọng cổ không biểu đường đuốc sức tranh đấu anh dũng của dân tộc, nhưng dù sao cũng là một sản phẩm văn nghệ của dân tộc, nó đành dấu được một bước đường lịch sử của dân tộc. Có thể nói cải lương và vọng cổ đã có một chỗ ngôi vẻ vang trong văn học sử nước nhà. Người Việt tha hương mỗi khi nghe Út Bạch Lan, Thành Được, Việt Hùng, Thanh Nga, Út Trà Ôn ca sáu câu vọng cổ đều như nhớ lại một giai đoạn lịch sử của dân tộc oai hùng và những tâm sự nguồn cơn chưa được tỏ bày với một niềm nhớ khôn nguôi.


● TRẦN KIÊM THÊM


TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Anh Ngữ:

  • Buttinger, Joseph - The Smaller Dragon - New York: Prager 1958
  • Crawford, Ann - The Customs and culture of Vietnam Rutland, Vermont: Tuitle Co. 1966
  • Newman, Bernard - Background to Viet Nam, New York: Roy Publications 65
  • Nguyen Khac Kham - Introduction to Vietnamese Culture, Saigon 1961.
  • Thái Văn Kiểm - Traditinal Vietnamese Holidays - New York 1962
  • Trường Ngọc Giàu - The Delta Village of Mỹ Thuận. Saigon Michigan State University - 1964

Việt Ngữ:

  • Đào Duy Anh - Nguồn gốc dân tộc VN Saigon 1951.
  • Đào Duy Anh - Việt Nam văn hóa sử cương. Bốn Phương, Saigon 1951.
  • Dương Quảng Hàm - Việt Nam Văn học sử yếu, Nha Học Chánh Đông Pháp, Hà Nội 1942.
  • Mai Thọ - Việt Nam Phật Giáo sử lược, Hà Nội 1950.
  • Ngô Sĩ Liên - Đại Việt sử ký toàn thư (Bộ Văn Hóa Giáo Dục VN) Saigon 1962.
  • Nguyễn Đổng Chi - Việt Nam Cổ văn học sử - Hàn Thuyên, Hà Nội 1942.

Pháp Ngữ:

  • Lê Thành Khôi - Le Vietnam Histoire et civilisation, Paris 1955.
  • Trần Văn Giáp. "Le Buddhisme en Annam des origines au XIII siecle" Befeo Ha Noi 1932. 

  • Huỳnh chiêu Đẳng Sưu tầm và Biên Soạn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét