Các Đề Mục

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2026

Trở Về - Sáng Tác: Châu Kỳ - Trình Bày: Phạm Gia Nghị & Vương Đức Hậu

Sáng Tác: Châu Kỳ
Trình Bày: Phạm Gia Nghị & Vương Đức Hậu
Thực Hiện:Hoàng Khai Nhan

21/3 Ngày Thơ Thế Giới

 

Hôm nay Hăm Mốt tháng Ba
Ngày THƠ Thế Giới ta tà thẩn.. Thơ
Ai ơi ngồi đấy mà mơ
Mơ Nàng Lục Bát đang chờ... vần "yêu"...

Vô Nhiễm

Chốn Cũ ...



Đà Thành xưa đã phai màu
Còn chăng ký ức con tàu sớm trưa
Cầu Đỏ, kẻ tiễn người đưa
Uốn dòng Cẩm Lệ nắng mưa khua chèo
Về đây anh, xóm mình nghèo
Đọt lang chấm mắm lèo tèo dăm con
Tay dằm miếng ớt xanh non
Vẫn mong đưa được miếng ngon vào lòng
Năm cách năm lúa đòng đòng
Có ai chăm chút thỏa công Mẹ trồng
Quê mình heo hút - Miếu Bông
Lơ thơ Thanh Quýt, đất nồng Cẩm Sa
Đôi lần thăm lại trường ta
Đưa chân khẽ bước lòng sa giọt ....buồn!

Thiên Phương
Đà Nẵng xưa...


Ta Đi Nhẹ Nhàng


 
Đêm Thu ngồi ngắm lá rơi
Ngắm Trăng mới mọc ngắm hoa rời cành
Trăng lên rồi Trăng sẽ tàn
Giàu nghèo rồi cũng đến ngày tàn hơi
Ngày nào còn sống trên đời
Hãy lo tu học –Ham chơi –ích gì-
Mai đây đến lúc ra đi
Tâm hồn thanh thản –Ta đi nhẹ nhàng

Hoàng Long


Ta!

 

Ta giống đa tình thích dạo chơi
Ta là cánh bướm lượn quanh trời
Thăm hương thăm sắc hoa muôn đóa
Rồi kết vần thơ thắm cõi đời

 

Ta như nét bút có muôn màu
Vẽ cảnh, họa tình xóa nỗi đau
Tô đậm trần gian thêu nét đẹp
Hài hòa thi họa dệt trăng sao.

 

Ta chiếc lục huyền vạn phím rung
Đường tơ lả lướt giữa muôn cung
Thấp cao réo rắt say tình khúc
Trầm bổng mê ly tấu bập bùng

 

Ta như thuyền mộng vớt trăng sao
Lướt sóng lênh đênh giữa chiến hào!
Tình ngập đầy khoang tim ngập ý
Ba đào quên lãng khúc Ly Tao.

 

Hồn ta hòa nhập với thiên nhiên
Muôn vật quanh ta chung muộn phiền
Lệ khóc cùng mưa lời điệp khúc
Than van với dế tiếng triền miên.

 

Gió mát trăng thanh cảnh thái hòa
Tình nồng đượm thắm nét muôn hoa
Tao nhân mặc khách đều bằng hữu
Hồn mãi ngoan đồng bệnh tránh xa.

 

Thơ đàn nửa gánh quảy rung rinh
Một thuở trăm năm một chữ tình
Lợi lộc tài danh quên béng mất
Gởi thơ theo gió dệt yên bình

 

Câu thơ tôi viết gửi muôn phương

Mang một chữ tình lẫn chữ thương

Gửi bạn tri âm điều khát vọng

Gửi người tri kỷ nỗi niềm vương

 

Nốt nhạc tôi gieo xinh rất xinh

Du dương đầm ấm chuyện nhân tình

Trao người đồng khí dòng tương ý

Gửi khách đồng thanh khúc gợi hình…

Camthành June 22, 2015
Tha Nhân


Đọc " Góc Nhỏ Cuộc Đời"


Cầm quyển sách trên tay, tôi mân mê hoài, thích quá. Quyển sách in ấn rất đẹp, tác giả tự thiết kế lấy chứ chẳng cần nhờ ai, bởi tác giả cũng chính là người lập ra và điều hành nhà xuất bản Love. 

Trước khi đi vào nội dung, ta tìm hiểu chút chút về tác giả bởi vì người xưa có nói “Văn là người”. Người thế nào thì văn thế ấy, văn là sự phản ảnh của tâm hồn, là sự trải lòng ra trang giấy. Văn có rộng lược, có thâm thiển, có bóng bẩy hoặc đơn sơ… tất cả đều là sự biến ra từ chính tâm người viết. Nhà Phật bảo “Nhất thiết duy tâm tạo” là vậy! 

Võ Phú là tên mà cũng là bút danh để viết văn, còn khi làm thơ thì tác giả ký tên Y Thy. Tôi có duyên lành quen biết với Phú Võ, tự thâm tâm tôi luôn xem Võ Phú là người bạn văn trân quý bởi nhiều lẽ và nhiều lý do giống nhau, nếu nói Nho thì gọi là “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”. Trong những điều giống nhau, có một điều dễ nhận biết là cùng say mê viết, mặc dù biết viết chẳng mấy người đọc, viết để làm gì trong thời buổi công nghệ điện toán và mạng xã hội cuốn hút hầu hết con người. 

Võ Phú là một anh chàng có trí lực dồi dào, sức lực mạnh mẽ, ngoài công việc chuyên môn là chuyên viên ở trường đại học ra, anh ta còn là một handyman, việc gì cũng làm được: Điện nước, sửa nhà cửa, làm vườn, nấu ăn… cái quan trọng nữa là làm sách: Dàn trang, thiết kế bìa. Cái tâm Võ Phú rất tốt, giúp đỡ rất nhiều người có được cuốn sách như ý. Võ Phú rất nhiệt tình và năng nổ từ công việc nhà cũng như việc cộng đồng. Riêng nỗi đam mê văn chương chữ nghĩa thì có thể nói là số một, bút lực mạnh mẽ, đề tài dồi dào, viết như là sự sống…Võ Phú đã từng điều hành nhiều tờ báo từ thời còn sinh viên và đã vinh dự  nhận được nhiều giải thưởng từ cộng đồng chữ nghĩa tiếng Anh cũng như trong cộng đồng Việt ngữ. 

Quyển Góc Nhỏ Cuộc Đời này có thể xem là bút ký (như tác giả ghi nhận) và cũng có thể đọc như một nhật ký cũng đều đúng cả. Với hơn ba trăm trang giấy, đầy ắp những kỷ niệm, những sự kiện trong đời của Phú Võ. Mỗi câu chuyện dù lớn hay nhỏ tác giả cũng tự rút ra cho mình một bài học, hoặc xem đó như một cái mốc ghi nhớ trong đời. Có những câu chuyện đời thường rất bình dị nhưng qua ngòi bút Võ Phú người đọc thấy được tâm niệm mà tác giả gởi gắm. Đọc xong quyển sách, ta có cảm giác như người bạn đang kể chuyện đời, chuyện học hành, chuyện xóm giềng, chuyện gia đình con cái và cả chuyện thế sự, mặc dù chủ đề chính của quyển sách này không phải viết về thế sự. Đó chỉ là những hình bóng thoáng qua, những kỷ niệm chưa phai nhạt trong tâm hồn. Mẩu chuyện Chiếc Xích Lô có lẽ là tiêu biểu nhất. Câu chuyện cho chúng ta biết về người cha của tác giả. Ông ấy cũng như tất cả những quân dân cán chính của miền Nam, sau khi đi tù về thì coi như không còn gì nữa, tấm thân cũng suy tàn nhưng để mưu sinh đành phải đạp xích lô. Xích lô không còn là một nghề mưu sinh hay một chiếc xe vô tri. Xích lô đã trở thành cái biểu tượng đau thương của bao thế hệ người sau khi miền Nam sụp đổ. Và xích lô bây giờ như chứng tích của một dĩ vãng nghèo khổ đau thương. 

Mẩu chuyện Người Hàng Xóm Cũ và Mới lại cho ta thấy cái tình của tác giả, lối sống của tác giả. Dù nơi nào anh ta cũng rất thân thiện, nhiệt tình với mọi người và vì vậy mà anh ta xứng đáng nhận được sự thương mến của láng giềng. Người Việt mình có câu: “Bán anh em xa mua láng giềng gần” là vậy. Sống trên xứ người, bây giờ láng giềng có thể là người Mỹ, người Mễ, người gốc Phi… tuy văn hóa và lối sống khác nhau nhưng cái tình thì ở đâu cũng thế. 

Ở Virginia có câu : “Virginia is for Lovers” quả đúng là đất này dành cho những người yêu thương. Võ Phú cực kỳ thương yêu vợ con, chăm sóc chu đáo, vẹn toàn bổn phận. Anh ta đưa vợ con đi chơi khắp nơi, đặc biệt chụp hình lưu niệm với tất cả những tấm biển có chữ love, với đôi tay khéo léo, Võ Phú cũng tự tạo lấy một tấm biển love ở sân vườn nhà, khiến láng giềng thích thú và khen ngợi. Yêu thương vợ con, trọn bổn phận làm chồng, làm cha. Võ Phú còn đi dạy tiếng Việt cho trẻ em Việt Nam ở chùa Huệ Quang, không chỉ trẻ em Việt theo học mà còn có cả anh chàng bác sĩ người Mỹ tên Dan cũng theo học tiếng Việt. Dạy tiếng Việt góp phần duy trì ngôn ngữ và văn hóa Việt nơi hải ngoại. Dạy tiếng Việt cũng có liên đới đến vấn đề say mê văn chương chữ nghĩa. Võ Phú tâm sự: “Dạy tiếng Việt ở Mỹ chẳng khác gì giữ lửa trong gió. Mà gió thì thổi từ Tik Tok, từ Netflix, từ ngôn ngữ học đường, bạn bè, mạng xã hội. Nhưng nếu không ai giữ lửa, lửa sẽ tắt. Và khi lửa tắt, ta không chỉ mất đi một tiếng nói…Ta mất chính mình”. Cảm ơn Phú Võ, cảm ơn tấm lòng đầy nhiệt huyết, làm việc hết mình. Nhờ có những người như Võ Phú mà cộng đồng Việt ở hải ngoại không lo chuyện mất gốc, không lo tiếng Việt bị mai một. 

Đọc mẩu chuyện Chuyện Con Chim khiến tôi phì cười, vì tôi cũng có viết một truyện ngắn Con Nhỏ Khờ Dễ Sợ. Cả hai nhân vật chính đều hết lòng yêu thương loài vật, thậm chí đã khóc cho con vật nuôi khi nó bị bệnh hoặc bị chết. Chúng ta đều biết người Mỹ ở đây rất yêu thương thú vật, nhất là chó với mèo, ngoài ra những con vật nuôi khác cũng rất được yêu thương. Nuôi thú ở Mỹ khá tốn kém và phiền phức, nào là chích ngừa, trị bệnh, chăm sóc lông, móng, thức ăn, đồ chơi… Nhân vật chính trong chuyện này đã bỏ chuyến du lịch xa vì con chim Milo bệnh, và khi nó không thể sống nổi nữa thì phải đưa đi bệnh viện thú vật để giúp nó ra đi một cách nhẹ nhàng, dĩ nhiên là phải chi trả tất cả những khoản dịch vụ ấy. 

Làm cha, làm mẹ ai cũng phải trải qua giai đoạn chia ly. Khi con cái bắt đầu trưởng thành sẽ đi học xa, sẽ ra đời… Con cái giống như những chú chim đủ lông đủ cánh sẽ rời tổ để bay tới chân trời mới. Buồn lắm chứ nhưng cũng mừng là con cái trưởng thành. Trong chuyện Những Cánh Ngỗng Trời Và Hành Trình Bay Xa, Võ Phú cho ta thấy cái cảnh trước ngày con đi học xa sao mà dễ thương chi lạ. Quyến luyến không rời nhưng phải rời, con diều phải thả lỏng dây nó mới bay được. Tâm trạng người cha, người mẹ vừa mừng, vừa buồn và cả lo lắng. Võ Phú viết: “Tình yêu không phải là ràng buộc, mà là dám buông tay đúng lúc”. Một câu triết lý hay, chí lý và cũng rất thực tế. Tất cả mọi người chúng ta dù muốn hay không cũng phải trải qua bước đường này. 

Để kết thúc bài viết này, tôi chọn bài Cái Kệ Sách Trong Phòng Ngủ, sở dĩ chọn chuyện này có lẽ cũng là “bệnh nghề nghiệp”. Thế gian này, những kẻ mê chữ nghĩa, mê sách ai mà không từng mơ một tủ sách hay giá sách cho riêng mình. Đã mê sách thì không ít thì nhiều ai cũng đi nhà sách, đứng ngẩn ngơ trước những tủ sách đồ sộ, những thư viện đầy ắp sách. Bản thân tôi cũng thế, mê sách lắm, nhiêu tiền cũng mua sách, ngay cả thời đại điện toán bây giờ chỉ cần lên mạng là có vô tận chữ nghĩa nhưng vẫn mua sách. Một cái USB có thể chứa ngàn cuốn sách nhưng vẫn thích sách giấy. Quả thật cầm quyển sách trên tay sao thấy thích gì đâu á! Bản thân quyển sách không chỉ là vật chất mà trong ấy chứa đựng cả một kho báu chờ người đọc khám phá, bởi vậy sách vừa là tặng phẩm vật chất vừa là tặng phẩm tinh thần. Võ Phú viết “Nó không chỉ là nơi để sách đứng thẳng, mà còn là nơi tôi dựng lại những ký ức đã cũ, sắp xếp lại những mảnh ghép của cuộc sống tưởng chừng như rời rạc”

Thời đại hôm nay, con người có quá nhiều thứ lôi cuốn nhưng có lẽ mạng xã hội là thứ cướp lấy thời gian nhiều nhất. Mọi người chúi mắt, chúi mũi vào các iphone, Ipad… quẹt quẹt, bởi vậy mà có kẻ nói vui rằng: Thời đại văn minh quẹt quẹt. Văn chương chữ nghĩa bây giờ như cảnh chợ chiều, buồn hắt hiu… Ấy vậy mà những người mê chữ vẫn âm thầm viết, vẫn độc hành trên con đường này. Viết chẳng biết để làm gì nhưng vẫn cứ viết. Viết là sự đam mê, viết là sống. Xưa nay chẳng có ai sống bằng viết mà viết để sống là sống cho chính cái đam mê của mình, sống với tâm hồn mình, sống với ý nghĩa của con tằm nhả tơ, cây nến cháy sáng. 


Tiểu Lục Thần Phong
Ất Lăng thành, 0326

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2026

Lũy Tre Làng & Thôn Nữ Giả (Du Ký Việt Nam)

 
Đây là 1 cảnh ở khu du lịch ngoại vi Rạch Giá, cách khoảng 4 km. Đường đi lên Hòn Đất.Thôn-nữ-giả dưới rặng tre, dắt trâu đi chăn với chú mục đồng trên lưng. 

Xa xa là cánh đồng lúa xanh, để gợi nhớ lại một thời sau 1975 Má cấp tốc may cho mấy chị em Thanh Hà áo bà ba vải nâu cùng quần đen, ra đồng với Ngoại “giả vờ” nhổ cỏ làm ruộng để tránh bị dòm ngó.


Hình Ảnh: Thanh Hà

 

           Phan Phương Khanh
         (18/3/1947-18/3/2026)

Năm em tôi lên ba
Đã chịu đời xa bố
Mẹ tất tả thân gầy
Nuôi con bao vất vả
Đời thiếu nữ lớn lên
Đắng cay thêm tủi hổ
Áo vá bạc vai gầy
Tuổi thơ sôi cuồng nộ
Mẹ mất năm Mười Ba
Thảm thiết sao kể xiết
Gắng nuôi em từng ngày
Khốn khó dài biền biệt
Bạn học những tỵ hiềm
Thầy, cô nặng trì siết
Bé bỏng hiểu buồn phiền
Buổi thanh xuân thua thiệt
......
Tôi đi làm lính chiến
Trôi nổi chốn trận tiền
Em một mình côi cút
Đâu được cảnh đoàn viên
Mong phần sau lớn lên
Tình duyên nên mãn nguyện
Cầu em đời bình yên
Quên khuất ngày uất nghẹn
Nào đâu buổi sụp vỡ
Cảnh nước mất tan nhà
Lâm thân sơ, thất sỡ
Vây quanh khổn mù sa
Long Thành, chồng tập trung
Anh ngục tù lấm nhục
Trên quê hương lưu đầy
Rừng rực lửa địa ngục
Bốn con thơ khốn cùng
Sức người căng vượt sống
Tư trang bán sạch dần
Cây rừng khô lá rụng
...
Tôi đi lên miền Bắc
Nghiệt phần thân thậm ngặt
Nhớ thương em dãi dầu
Nơi quê nhà bằng bặt
Rừng núi trời vào Thu
Tù vượt đồi đốn nứa
Bên đường đèo nghỉ đỗ
Nghe chuyện buồn thương tâm,
“...Chồng cải tạo tập trung
Vợ ở nhà chết thảm
Bốn con nhỏ khốn cùng
Quay quắt bên thây cứng ...”
Những tưởng nghe nhầm tai
Giật mình gào hỏi lại
Ôi xiết bao kinh hãi
Đúng tên chồng em gái!

1

Chuyện những Đồi Hoa Sim (1)
Nay một lần lập lại
Không chết người ngục tù
Một mình em oan trái
Tôi bật khóc trên đồi
Nhìn khoảng không vần vũ
Có còn không ... Đất
Trời?!
Mây mang mang kéo lũ
Rừng chập chùng lá đổ
Sương dầy vây khói xanh
Thật hay không đấy hở
Tạo Hóa nghiệt cùng đành!
Cháu tôi ai nuôi đây?
Bé nhất chưa biết nói
Chịu sao nổi đọa đày
Giữa trùng vây khổ đói
Năm năm ngày giỗ em
Cấm phòng ngồi gục mặt
Nhói đau trũng ngực nặng
Em chết thật sao Khanh?
(*) Đồi Hoa Sim: Thơ Hữu Loan,
Kể thảm phận người nữ trong thời chiến (1946-1954).
18-3-1983,
Ngục tối Trại Lam Sơn
Không biết ngày chết,
Nhớ ngày Em tôi đã có trong đời.

Hậu từ Bé,

Chạnh nhớ lần mất em
Chẳng hay buổi tử biệt
Lấy ngày sinh thay chết
Thôi thì cũng cùng đành
Năm mươi năm trôi qua
Nay tuổi già chốn vắng
Nhìn ảnh hình xưa cũ
Coi như hết đoạn trường.

Phan Nhật Nam

Tình Ta

 

Tạ ơn đời…anh đã có em
Mùa Xuân đất khách…ánh trăng mềm
Ru ngủ hồn anh…vòng tay ngọc
Trời mơ, đất mộng…chiếc thuyền êm!

Thuyền mơ…rộn rã con tim
Thỏa mãn bao lâu… đã kiếm tìm
Em ơi… đây là ơn phước!
Con tim…xin trao cả về em!

Chẳng cần biết em từ đâu
Dòng sông đưa lối…bắt cầu
Sóng tình…rung cùng nhịp điệu
Gió mây quấn quýt…mãi gần nhau

Dìu nhau…đi suốt cuộc đời
Tình đầu …là tình cuối em ơi
Đốm lửa lòng luôn sưởi ấm…
Dù cho…vạn vật đổi dời…

Thời gian…rồi sẽ qua nhanh
Chúng ta là khách lữ hành…
Cho đời hoa thơm, trái ngọt
Đường về vinh hiển…mãi long lanh!

Tô Đình Đài

Dao Hoa Mạn 瑶花慢 – Chu Mật - 周密



Tựa

Hoa quỳnh quý Dương Châu, Hậu thổ
Khắp thế gian không có loài này
Lúc mới nở, bình vàng bày
Quan cho ngựa tiến như bay cung vàng
Một cành biếu các nhà sang
Một cành biếu khách quá giang xe rồng…!!


瑶花慢 - 周密 Dao Hoa Mạn – Chu Mật

後土之花⑵,
天下無二本。
方其初開,
帥臣以金甁飛騎,
進之天上⑶,
間亦分致貴邸。
餘客輦下,
有以一枝······

Hậu thổ chi hoa, thiên hạ vô nhị bản. Phương kỳ sơ khai, soái thần dĩ kim bình phi kỵ, tiến chi thiên thượng, gian diệc phân trí quý để. Dư khách liễn hạ, hữu dĩ nhất chi…

朱鈿寶玦, Chu điền bảo quyết, 
天上飛瓊, Thiên thượng phi quỳnh,
比人間春別。 Tỷ nhân gian xuân biệt.
江南江北, Giang nam giang bắc,
曾未見、漫擬梨雲梅雪。 Tằng vị kiến, mạn nghĩ lê vân mai tuyết.
淮山春晚, Hoài sơn xuân vãn, 
問誰識、芳心高潔。 Vấn thùy thức, phương tâm cao khiết.
消幾番、花落花開, Tiêu kỷ phiên, Hoa lạc hoa khai,
老了玉關豪傑。 Lão liễu Ngọc quan hào kiệt.

金壺翦送瓊枝, Kim hồ tiễn tống quỳnh chi,看一騎紅塵, Khán nhất kỵ hồng trần,
香度瑤闕。 Hương độ Dao khuyết.
韶華正好, Thiều hoa chính hảo,
應自喜、初識長安蜂蝶。 Ưng tự hỉ, sơ thức Trường An phong điệp.
杜郎老矣, Đỗ lang lão hỉ,
想舊事、花須能說。 Tưởng cựu sự, hoa tu năng thuyết.
記少年、一夢揚州, Ký thiếu niên, nhất mộng Dương Châu,
二十四橋明月。 Nhị thập tứ kiều minh nguyệt.

Chú Thích

1- Dao hoa mạn 瑶花慢: tên từ bài, tên khác là “Dao hoa 瑶華”, “Dao hoa mạn 瑶華慢”. Bài này có 102 chữ, vần trắc. Cách luật:

B B X T vận
X T B B cú
T X B B T vận
B B X T cú
X T T, X T B B B T vận
B B X T cú
T X T, B B B T vận
X X B, B T B B cú
T T X B B T vận

X B X T B B cú
T X T B B cú
X T B T vận
B B T T cú
B T T, X T X B B T vận
T B X T cú
T T T, B B B T vận
T T X, X T B B cú
T T X B B T vận

2- Hậu Thổ 後土: ngôi đền Hậu Thổ ở Dương Châu.
3- Phương kỳ 方其: chính lúc, chính khi.
4- Soái thần 帥臣: quan to, chủ tướng, thống soái.
5- Thiên thượng 天上: hoàng cung.
6- Gian 間: giữa lúc đó.
7- Quý để 貴邸: nhà của bậc vương hầu quyền quý.
8- Liễn 輦: chỉ kinh đô. Liễn hạ 輦下: chốn kinh sư. Chữ "liễn 輦" cũng chỉ cái càng xe (ám chỉ cái xe), hoặc xe của vua.
9- Chu điền 朱鈿: trang sức vật quý đẹp.
10- Bảo quyết 寶玦: ngọc quý.
11- Phi quỳnh 飛瓊: tên một thị nữ của Tây Vương Mẫu 西王母 là Hứa Phi Quỳnh 許飛瓊, chỉ tiên nữ.
12- Mạn 漫: chớ, đừng.
13- Lê vân mai tuyết 梨雲梅雪: hoa lê đẹp như mây và hoa mai nở trong tuyết.
14- Hoài sơn 淮山: chỉ núi Đô Lương sơn 都梁 山bên bờ sông Hoài Thủy 淮水, nay thuộc huyện Hu Di 盱眙t ỉnh Giang Tô 江蘇, TH, biên giới phía bắc của nước Nam Tống 南宋.
15- Phương tâm 芳心: tấc lòng.
16- Tiêu kỷ phiên 消幾番: chịu đựng mấy phen.
17- Lão liễu 老了: già rồi.
18- Ngọc quan 玉關: ngọc môn quan 玉門關 ở phía bắc nước TH.
19- Kim hồ 金壺: bình đựng rượu bằng vàng.
20- Tiễn tống quỳnh chi 翦送瓊枝: cắt cành quỳnh đưa tặng.

21- Nhất kỵ hồng trần 一騎紅塵: mượn chữ trong bài thơ “Quá Hoa Thanh cung tam tuyệt kỳ 1 過華清宮三絕其一” của Đỗ Mục 杜牧:

長安回望繡成堆,Trường An hồi vọng tú thành đôi,
山頂千門次第開。Sơn đỉnh thiên môn thứ đệ khai.
一騎紅塵妃子笑,Nhất kỵ hồng trần phi tử tiếu,
無人知是荔枝來。Vô nhân tri thị lệ chi lai.

Từ Trường An nhìn về (cảnh sắc Lệ sơn như) cảnh thêu chồng chất,
Trên đỉnh núi, ngàn cánh cửa (Hoa Thanh cung) theo thứ tự mở ra.
Một người cưỡi ngựa tung bụi đến, quý phi nhoẻn miệng cười,
Không ai biết rằng (đó là) quả vải (của quý phi) đã đến.

22- Hương độ 香度: mùi thơm lan tỏa đến.
23- Dao khuyết 瑶闕: tiên cung, nơi tiên ở.
24- Thiều hoa 韶華: thời gian tốt đẹp trong đời.
25- Ưng 應: nên, phải.
26- Sơ thức 初識: mới biết lần đầu. Bản khác chép “Sơ loạn 初亂= mới loạn lên”.
27- Phong điệp 蜂蝶: ong và bướm, chỉ những người trân quý hoa quỳnh.
28- Đỗ lang 杜郎: tức Đỗ Mục 杜牧, tác giả tự ví mình.
29- Nhất mộng Dương Châu 一夢揚州: mượn câu thơ trong bài Khiển hoài 遣怀 của Đỗ Mục杜牧:

十年一覺揚州夢,Thập niên nhất giác Dương Châu mộng,
赢得青樓薄幸名。Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh.

Mười năm chợt tỉnh giấc mộng ở Dương Châu,
Nhận được cái tên là kẻ bạc tình trong chốn thanh lâu.

30- Nhị thập tứ kiều 二十四橋: có thuyết nói là 24 cây cầu ở Dương Châu 揚州. Lại có thuyết nói là tên một cây cầu ở Dương Châu do gia đình họ Ngô 吳 thiết lập còn có tên là Hồng Dược Kiều 紅葯橋. Xưa kia nơi đây đã từng có 24 vị cô nương đến thổi tiêu. Đỗ Mục 杜牧 đã viết bài thơ “Ký Dương Châu Hàn Xước Phán Quan 寄揚州韓綽判官: gửi vị Phán quan Hàn Xước ở Dương Châu” trong đó có câu:

二十四橋明月夜,Nhị thập tứ kiều minh nguyệt dạ,
玉人何處教吹箫?Ngọc nhân hà xứ giáo xuy tiêu?

Đêm trăng sáng ở cầu Nhị Thập tứ,
Người Ngọc từ đâu đến thổi tiêu?

Dịch Nghĩa

Ghi chú của tác giả: Hoa (quỳnh) của ngôi đền Hậu Thổ ở Dương Châu, thiên hạ không có giống thứ hai. Lúc mới nở, các quan to cắm vào bình vàng phi ngựa đi dâng hoàng đế, trong khi đó cũng chia cho các nhà quý phái. Khách đi theo xe cũng được một cành (hoặc những người ở chốn kinh sư cũng được chia 1 cành...).

Kim thoa trang sức đỏ, ngọc quyết quý,
Tiên nữ ở trên trời,
Nét xuân sắc khác biệt so với người trần gian.
Tại Giang nam và Giang bắc,
Chưa từng thấy, đừng nghĩ (hoa quỳnh chỉ) là (như) hoa lê đẹp như mây hay hoa mai nở trong trời tuyết.
Ở Đô Lương sơn bên cạnh sông Hoài Thủy đã đến cuối xuân,
Hỏi ai biết, tấc lòng (hoa quỳnh) cao khiết.
Qua mấy phen, hoa rụng hoa nở,
Các vị hào kiệt ở ải Ngọc Quan đã già rồi.

Cắt cành quỳnh cắm vào bình vàng đưa đi tặng,
Hãy nhìn một vị cưỡi ngựa lấm bụi trần,
Mùi thơm tỏa đến cung Dao Đài (nơi tiên cảnh).
Xuân quang chính lúc tốt đẹp,
(Hoa quỳnh) nên tự vui, mới biết đến những kẻ yêu hoa ở Trường An.
Chàng Đỗ lang (tức là tác giả) đã già rồi vậy,
Nghĩ chuyện xưa, hoa có thể nói ra (vì đã trông thấy chuyện xưa của tôi).
Nhớ lúc tuổi trẻ, thời sinh hoạt ở Dương Châu như một giấc mộng,
(Lúc đó) cầu Nhị Thập Tứ chìm trong ánh trăng sáng.

Phỏng Dịch


1 Dao Hoa Mạn - Quỳnh Hoa

Thoa vàng ngọc quyết.
Tiên nữ trên trời,
Sánh hoa trần phân biệt.
Miền nam miền bắc,
Chưa được thấy, chớ nghĩ lê mây mai tuyết.
Hoài sơn xuân cuối,
Hỏi ai biết, tâm hồn cao khiết.
Qua mấy phen, hoa nở hoa rơi,
Già cỗi Ngọc quan hào kiệt.

Bình vàng cắt cắm cành quỳnh,
Thấy một ngựa bụi mờ,
Đem đến Cung khuyết.
Thời quang chính tốt,
Nên tự vui, ong bướm Trường An vừa biết.
Đỗ lang lão cỗi,
Nghĩ chuyện cũ, hoa từng nghe hết.
Nhớ tuổi trẻ, giấc mộng Dương Châu,
Nhị thập tứ cầu phơi nguyệt.

2 Quỳnh Hoa


Thoa vàng ngọc quyết trên trời,
Nàng tiên so với người đời khác xa.
Miền nam miền bắc mọi nhà,
Chưa từng thấy đóa quỳnh hoa trong đời.

Kể chi mai tuyết lê mây,
Hoài sơn xuân muộn hỏi ai cao vời.
Mấy phen hoa nở hoa rơi,
Già nua hào kiệt bên trời Ngọc quan.

Cắt cành quỳnh cắm bình vàng,
Hồng trần kỵ mã lên đàng dâng hoa.
Hương thơm Tiên cảnh chan hòa,
Thời gian tươi đẹp nhân gia yên bình.

Nên tự vui đóa hoa quỳnh,
Lần đầu biết kẻ yêu mình Trường An.
Bây giờ già lão Đỗ lang,
Chuyện xưa tưởng nhớ thời gian xóa mờ.

Hoa quỳnh làm chứng ngày thơ,
Thiếu niên khi ấy mộng mơ đời mình.
Dương Châu sinh hoạt lầu xanh,
Cầu nhị thập tứ nguyệt minh ngày nào!


HHD 
12-2023
***
1- Dao Hoa Mạn, Chu Mật

Thoa hồng ngọc quyết
Quỳnh tiên trên trời
Với cõi đời khác biệt
Giang nam, giang bắc
Chưa từng thấy, chỉ ví lê mây mai tuyết
Hoài sơn xuân hết
Hỏi ai biết, tấc lòng cao khiết
Qua mấy phen, hoa nở hoa rơi
Già rồi Ngọc quan hào kiệt

Cắt quỳnh tặng cắm bình vàng
Nhìn kỵ mã bụi trần
Hương lan Dao khuyết
Tuổi xuân đúng độ
Nên tự vui, Trường An bướm ong mới biết
Già rồi lão Đỗ
Nghĩ chuyện xưa, hoa thể nói hết
Nhớ tuổi trẻ, giấc mộng Dương châu
Nhị Thập Tứ cầu dưới nguyệt


2- Quỳnh Hoa

Quỳnh trên trời, thoa hồng ngọc quyết
So nét xuân khác biệt cõi trần
Giang nam, giang bắc toàn phần
Chưa từng, cứ ngỡ mây vờn tuyết mai

Đô Lương sơn- sông Hoài xuân hết
Hỏi ai hay cao khiết tấc lòng
Hoa rơi hoa nở bao vòng
Ngọc quan hào kiệt phần đông đã già!

Cắm nhánh quỳnh bình ngà tặng dữ
Hãy nhìn xem kỵ mã bụi hồng
Dao đài lan tỏa hương nồng
Tuổi xuân đúng độ hình dong tuyệt trần

Vui mới biết Trường An ong bướm
Chàng Đỗ già, hoa muốn kể mau
Thiếu niên giấc mộng Dương Châu
Nhị thập tứ cầu dưới nguyệt sáng soi!


Lộc Bắc

Feb26


Học Khôn Xứ Người

 

Con ơi mẹ bảo con này,
Trải bao gian khổ có ngày định cư.
Tiếng Tây, tiếng Mỹ, tiếng u,
Mẹ không có biết như mù mà thôi.
Nhưng may họa cũng nhờ Trời.
Văn hóa xứ Việt ngàn đời chẳng quên.
Cho nên mẹ có lời khuyên.
Mai con góp sức xây nền Việt Nam.

Con cần giữ mái tóc đen.
Ấy là bản sắc dịu hiền của ta.
Con đừng học thói kiêu sa,
Tóc đen nhuộm đỏ ấy là ngoại lai.
Dân Việt có chiếc áo dài,
Thướt tha bồ liễu, khoan thai lạ lùng.
Con đừng học thói lố lăng,
Khoe lưng, hở ngực dân mình chẳng ưa.
Khôn ngoan gái Việt có thừa.
Lịch sự duyên dáng là vua trên đời.
Học tính thẳng thắn con ơi!
Lắng nghe người nói, lựa lời hòa vui.
Đừng phóng túng, đừng ham chơi.
Ăn bám xã hội người người cười chê.
Học dân chủ, học lắng nghe.

Mai sau có dịp trở về giúp dân.
Học trách nhiệm, học canh tân.
Kỹ thuật tiến hóa mình cần phải theo.
Học kinh tế, học bang giao.
Giữ yên bờ cõi, đề cao nước nhà.
Con đừng học thói bê tha.
Rì-nô, Vê- gát mồ ma tiêu tùng. (1)
Học thiện nguyện, nhớ góp công.

Giúp người nghèo khó, phụ cùng quốc gia.
Học tiết kiệm, học đầu tư.
Buôn gian bán lận không tù cũng tiêu.
Học nhân ái, học tin yêu.
Thương người hoạn nạn là điều nhập tâm.
Học quản trị, học thương dân.
Không ghen đối lập, không ngầm hại nhau.
Không chụp mũ, không thù dai.
Thượng tôn luật pháp chẳng ai là Trời.
Đi đúng giờ giấc con ơi!
Dân Việt đi trễ người người đều than!

Mẹ già tóc đã điểm sương,
Mai sau giúp nước là đường của con.
Tạ ơn xứ đã cưu mang.
Nhớ nguồn gốc cũ trăm đường chẳng nguôi.
Xứ Mỹ (2) đẹp lắm con ơi!
Dầu sao thì cũng xứ người mà thôi.
Quê mẹ rách nát tơi bời!
Mà sao mẹ cứ thương hoài ngàn năm?

Đào Văn Bình

(Trích Thiên Sử Thi Của Người Vượt Biển xb năm 2002)
(1) Reno và Las Vegas là hai sòng bài lớn tại Hoa Kỳ
(2) Úc, Pháp, Đức, Gia Nã Đại…

Hạnh Phúc Đến Sau

 
 
Sau lần nói chuyện cuối cùng với Kiệt, Ngọc Hương cảm thấy rất buồn và chán nản … những cuộc tình đã qua đem đến cho nàng những nỗi thất vọng…không phải là nàng không được yêu thương, nhưng những lời nói đã đến không đúng lúc, mang đến sự suy tư, bẽ bàng khó chấp nhận. Nàng không muốn làm tổn thương người khác cũng như không muốn gánh lấy những phiến muộn cho chính mình nên dành chọn chia tay dù còn yêu thương Kiệt.

Mối tình đầu đầy thơ mộng và lãng mạn của hai sinh viên mới ra trường được bổ nhiệm về làm việc chung ở nơi xa lạ tưởng như là sẽ bền vững. Nhưng khi Kiệt lên đường nhập ngũ, hoàn cảnh gia đình và những hiểu lầm làm hai người xa nhau. Đến khi gặp lại ở Mỹ, Kiệt nói rõ hoàn cảnh của anh, nhưng Hương không thể chấp nhận, cho dù những điều Kiệt nói là thật đi chăng nữa về việc Kiệt bảo lãnh vợ con anh là nghe theo lời mẹ anh cho cháu nội được qua Mỹ, sau đó sẽ ly dị vì vợ anh đã sống với người khác khi anh đang trong tù cải tạo. Nàng đổ lỗi cho số phận và hoàn cảnh nên không muốn lập gia đình mà chỉ muốn sống một cuộc sống yên tĩnh cho đến cuối đời.

Khoảng một năm sau khi định cư ở Mỹ, Ngọc Hương xin được việc làm ca chiều tại khách sạn Marriott ở DC, tuy vất vả và về nhà đêm khuya nhưng đủ trang trải tiền nhà cho nàng và Thúy , em gái nàng vì Thúy chỉ làm việc bán thời gian để học ở trường đại học cộng đồng. Cuối tuần Hương phải đi làm, nhưng được nghỉ hai ngày trong tuần nên vẫn học thêm về kế toán, mong kiếm được việc về ngành này.

Ca làm việc chiều của Hương xong lúc 11 g đêm, nàng thường đi bộ ra trạm xe bus gần sớ làm đón xe về nhà, nhưng đã khuya và trạm xe bus nơi chung cư khá xa chỗ ở. Hai chị em Hương đang để dành tiền để mua một chiếc xe cũ và đang học lái xe. Duy Tâm, người quen hai chi em Hương ở đảo, đề nghị đến đón nàng đi làm về nhưng Hương từ chối vì tuy mến và thông cảm hoàn cảnh của Tâm nhưng chưa bao giờ Hương có ý định lập gia đình với anh.

Hương gặp Tâm khi nàng làm giúp về giấy tờ hành chánh cho ban đại diện thuyền nhân trên đảo Pulau Bidong và Tâm làm thông dịch viên cho Cao Uỷ Tị Nạn. Tâm đến đảo trước Hương, và vì liên hệ về hồ sơ nên đôi khi nói chuyện với Hương. Tâm ít nói, hơi nghiêm và có vẻ trầm ngâm, nhưng khi hai đứa con gái nhỏ khoảng 10 và 8 tuổi đến thăm anh thì Hương thấy Tâm như khác hẳn, anh nhẹ nhàng vui vẻ và kiên nhẫn với con. Hai đứa nhỏ thật là dễ thương, ngoan ngoãn và lễ phép, tụi nó hay chạy lại bàn làm việc và nói chuyện với Hương vì trong phòng chỉ có nàng là phái nữ… Chắc mẹ chúng đẹp lắm, Hương thầm nghĩ và cũng không ngạc nhiên khi không thấy người mẹ vì cho là bận lo công việc nhà.

Đã hai hôm, không thấy Tâm đến làm việc trong văn phòng ban đại diện, Hương nghĩ là anh theo nhân viên Cao Uỷ đi thông dịch. Đến gần trưa hôm thứ hai, Hương thấy Thu Hà và Thu Hạnh, hai đứa con của Tâm đi đến bàn làm việc của Hương, mặt mày lấm lem. Nàng hỏi
-Có chuyện gì không? Ba con đâu ? Sao hai đứa có vẻ lo lắng vậy?
Thu Hà nắm lấy tay Hương.
-Cô Hương ơi, ba con bệnh mấy hôm nay, hôm qua, con nấu cháo cho ba ăn nhưng ba chỉ húp nước rồi bảo cháo chưa nhừ. Con đang nấu cháo ở nhà, cô đến xem giùm con được không vì cả ngày hôm qua ba không ăn gì cả.
Hương vội vàng xếp lại giấy tờ, nói với người gần chỗ làm là nàng việc có việc cần đi và bảo hai đứa nhỏ.
-Đưa cô về nhà con, cô coi giúp cho.
Hai đứa nhỏ cùng nắm tay Hương đi như chạy về nhà. Hương vào thẳng bếp, thấy có nồi cháo trên bếp còn nóng, nàng khuấy lên, cho thêm nước rồi thổi lửa.
-Hai đứa đi đâu về vậy? Cho ba ly nước.
Tiếng Tâm trong phòng vọng ra, Hương ra dấu cho Hà mang nước vào, nói nhỏ
-Để cô nấu cháo cho, gần chín rồi.
Hạnh ngồi xuống cạnh Hương bên bếp
-Cám ơn cô Hương, ba sắp có cháo ăn rồi.
Hương múc cháo ra tô, để trên bàn, nàng cho chút muối vào và bảo Hà mang vào phòng cho ba. Chút sau nghe tiếng Tâm
-Hôm nay Hà nấu cháo ngon quá, ba ăn hết tô rồi. Ba uống thuốc, thấy đỡ mệt. Hai đứa ở nhà với ba, đừng chạy đi đâu nữa.

Hương nghe cả hai đứa cùng dạ mà lòng thật cảm thương. Nàng không ngờ Tâm mang hai con gái nhỏ đi vượt biển mà không có mẹ của chúng. Bây giờ nàng mới hiểu tại sao mà Tâm luôn có vẻ buồn và trầm ngâm.
Hương hỏi nhỏ
-Mấy hôm nay, hai con ăn gì?
Hà chỉ mấy gói mì và nồi cơm, thì thầm
-Con biết nấu cơm và nướng cá khô. Nhưng ba nói ba không ăn mì và cơm nên con nấu cháo. Ba chưa dạy con nấu cháo nên con mới chạy đến chỗ ba làm tìm cô, hai đứa con biết là cô sẽ giúp.
Hương cũng thì thầm
-Hai đứa ở nhà với ba, cô về chỗ làm. Chiều cô sẽ mang đồ ăn cho con. Hà nhớ vào hỏi ba cần gì không nhé. Nếu con sờ trán ba thấy nóng nhiều thì cho cô biết ngay.
Hương về văn phòng, thu xếp giấy tờ rồi về chỗ nàng ở. Hai chị em Hương và Thúy, em gái Hương nấu một nồi thịt kho trứng. Hương mang nồi thịt kho và ít viên thuốc cảm cho ba cha con.
Đến chỗ Tâm ở, Hương thấy Hạnh đang ngồi trước cửa, nàng hỏi
-Hà đâu? Cô mang thịt kho cho hai đứa ăn với cơm.
Hương nghe bước chân và tiếng Tâm.
-Cô Hương, mời cô vào nhà.
Hương nhìn lên và thấy Tâm đang đứng gần cửa với Hà, Hà chạy ra nắm tay nàng.
-Cô Hương, ba ăn cháo và gần hết bệnh rồi. Cô vào nhà đi.
Hà nói xong thì hai chị em cùng nắm tay Hương, Hương cười
-Hai đứa muốn cô vào thăm ba ?
Cả hai đứa đều nói
-Dạ
Hương bước vào
-Chào anh Tâm, anh thấy đỡ mệt chưa?
Tâm đưa tay
-Mời cô Hương ngồi chơi, cám ơn cô, tôi đỡ nhiều rồi. Xin lỗi cô, tụi nhỏ làm phiền cô quá.
-Không sao đâu anh Tâm, giúp được hai cháu, tôi vui lắm.
Hương nói rồi đưa túi có nồi thịt kho cho Hà.
-Cô kho nồi thịt kho với trứng cho hai đứa ăn với cơm. Con có cần cô giúp con nấu cháo không?
Tâm trả lời thay cho con
-Tôi ăn cơm được rồi cô Hương ạ, không cần nấu cháo. Ngày mai nếu khỏe hẳn, tôi sẽ đi làm.

Dặn dò hai đứa nhỏ vài câu rồi Hương chào về. Hình ảnh ba cha con đứng ở ngưỡng cửa tiễn Hương làm nàng cảm thấy thật buồn.

Mấy tháng sau, Tâm và hai con được đi định cư tại tiểu bang Virginia theo sự bảo lãnh của người cháu của Tâm. Ngày cuối, Hà và Hạnh đến thăm Hương, nhất định bắt Hương hứa là sẽ cho hai đứa đến thăm khi hai chị em Hương được đi Mỹ. Hương rất thương hai đứa con của Tâm nên nhận lời, vì theo lời Hà kể, hai chị em bị mẹ mang trả cho ông bà nội lúc Hà 4 tuổi và Hạnh mới 2 tuổi. Hai chị em sống với ông bà cho đến khi ba Tâm ra tù và đi vượt biển. Nàng thương cảm hoàn cảnh người cha với hai đứa con gái thơ dại không có mẹ chăm sóc nên hết lòng giúp hai đứa bé.

Như một sự tình cờ, hai chị em Hương được người chị họ bảo lãnh đi định cư ở Virginia và rất ngạc nhiên khi Tâm đưa hai con đến thăm nàng. Mới gần một năm mà hai đứa nhỏ đã lớn hẳn ra, Hà đã 11, Hạnh 9 tuổi, cả hai chị em đang học tiểu học.

Rất ân cần lịch sự, Tâm nói anh biết địa chỉ của Hương qua người bạn làm chung ở Cao Uỷ ngày trước và Hà nói Hương hứa cho thăm nên anh mới đưa con đến vì chúng luôn nhắc đến cô Hương từ khi rời đảo. Tâm đã đi làm tại một hãng điện lắp ráp speaker nên tạm đủ sống, anh đang học thêm về ngành điện. Tâm xin phép cho hai con được liên lạc với Hương, mong nàng giúp cho hai đứa con gái anh về những vấn đề anh không biết vì chúng không có mẹ. Hương vui vẻ nhận lời ngay.

Qua lời kể của hai con, Tâm biết Hương mới xin được việc làm ở khách sạn tại Washington DC, ca chiều. Tâm thầm nghĩ, như vậy là sẽ về nhà vào tối khuya và phải đi bộ một khoảng khá xa từ trạm xe bus tới chung cư Hương đang ở. Tâm rất quý mến Hương vì lòng tối của nàng với hai đứa con gái không có mẹ của anh. Từ những ngày biết tin vợ mang hai con trả cho ba mẹ anh, đi theo người khác và không hề có một lần về thăm con trong suốt 5 năm, lòng anh đã lạnh. Anh mang con đi vượt biển và tự hứa sẽ chăm sóc nuôi dưỡng chúng chu đáo. Nhưng thực tế, có những điều mà anh không giúp được, chúng tìm đến và coi Hương như một người mẹ. Anh thực sự chỉ muốn giúp Hương, nhưng nàng không đồng ý.

Tâm vẫn nghĩ Hương là một người con gái xinh đẹp dễ thương, có học và có tấm lòng, còn anh? Anh chỉ là một người có tâm hồn bị tổn thương nặng nề và thân xác hao mòn vì những năm tù khổ sai trong trại tù của cộng sản. Hình ảnh của một người thiếu tá binh chủng Nhảy Dù hào hoa với những chiến công oai hùng chỉ còn là vết son mờ của quá khứ. Nên dù yêu quý Hương, anh biết mình không phải là đối tượng của nàng nên vẫn giữ khoảng cách. Giữ cho anh và cho các con còn có cơ hội gặp nàng.

Chỉ một tuần lễ sau khi Hương đi làm, Tâm đã biết chỗ làm và lịch trình xe bus đến sở làm của Hương. Lúc đi thì không có gì trở ngại vì là buổi chiều, trời còn sáng nhưng lúc về, trạm xe bus gần sở và còn có người qua lại, nhưng trạm xe bus gần nhà khá xa chung cư Hương ở, trời rất tối, vắng người và có vẻ không an toàn.

Tâm gọi cho Hương, nhắc lại đề nghị đón nàng lúc đi làm về vì vấn đề an toàn cho đến khi Hương có xe, giọng anh rất tha thiết và chỉ vì vấn đề an toàn thôi, Hương suy nghĩ rất lâu nhưng cuối cùng nàng từ chối, cám ơn anh và nếu khi nào thấy cần thiết, nàng sẽ nhờ anh. Dù thất vọng nhưng Tâm hiểu và chấp nhận. Anh sẽ tìm cách bảo vệ cho nàng trong quãng đường đi bộ lúc nửa đêm từ trạm xe bus về nhà mà không cho Hương biết. Tâm thật tâm lo cho sự an toàn của Hương và dặn hai con không cho Hương biết.

Thế rồi, mỗi đêm khi Hương đi làm về, Tâm đậu xe gần trạm xe bus, đi theo Hương về nhà nhưng giữ khoảng cách xa, đủ để can thiệp khi có chuyện, anh đội mũ và thường đổi cách mặc đồ mỗi ngày để tránh sự nghi ngờ, trông cho đến khi Hương vào nhà rồi đi về chỗ đậu xe và về nhà. Thường thì Hà học bài chờ ba về rồi mới đi ngủ, nó rất thương cha và cũng tạm hiểu được hoàn cảnh gia đình.

Như Tâm dự đoán, khoảng một tháng sau, vào một đêm trời tối, khi Hương đi đến gần mấy bụi cây, có một bàn tay to mạnh kéo nàng vào trong, Hương la lớn nhưng tiếng la dường như bị nghẹn. Tâm chạy ngay đến, tay cầm đèn pin sáng chói chiếu thẳng vào bụi cây, làm người kéo tay Hương hoảng sợ buông tay, đẩy Hương ra và bỏ chạy. Tâm trờ tới, đỡ ngay lấy Hương khi nàng bị đẩy chúi xuống đất
-Anh Tâm đây, đừng sợ.
Hương nhận ra Tâm và ôm chặt lấy anh. Tám ôm vai nàng
-Hương có sao không? Nó có làm gì Hương không?
Hương lắc đẩu
-Nó bịt miệng Hương, em sợ quá.
Tâm nắm lấy tay Hương và đưa đèn soi qua mặt nàng
-Không có vết thương, đừng lo, để anh đưa Hương về.
Tâm đưa Hương về chỗ đậu xe, mở cửa cho nàng vào rồi đóng của cẩn thận trước khi đi vòng qua bên kia và vào xe. Anh mở máy xe nhưng chưa cho xe chạy
-Hương hết sợ chưa?
Hương gật đầu, nhìn Tâm, mắt nàng ướt sũng
-Cám ơn anh, không có anh đến kịp thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Hương sợ lắm.
Thấy mặt Hương còn vương nét sợ hãi, Tâm nói
-Anh đưa Hương đi uống chút trà nóng cho bình tĩnh hẳn rồi về nhà, đừng để Thuý lo sợ.
Tâm đứa Hương vào tiệm cà phê gần đó, gọi cho nàng ly trà nóng và cà phê cho anh. Uống chút trà nóng, Hương tỉnh táo lại, nàng hỏi Tâm
-Làm sao mà anh lại đến đúng lúc để giúp Hương ngay như thế? Hèn chi mà có lúc Hương thấy như có người đi xa phía sau nhưng không ngờ là anh.
Nói xong, Hương nhìn Tâm, nét mặt đầy cảm động. Tâm thở dài, giọng như vương nỗi buồn.
-Anh không bao giờ quên những việc Hương giúp hai đứa con anh. Anh thực lòng chỉ muốn giúp và lo cho sự an toàn của Hương thôi. Anh biết Hương ngại nên dành đi theo mỗi tối cho đến khi Hương vào nhà. Về nhà, bé Hà nó hỏi, anh mới trả lời nó được. Nó thương và lo lắng cho Hương như người mẹ mà nó không có.
Mắt Hương như ướt lại, hai người đều yên lặng … một lúc sau Tâm nói
-Để anh đưa Hương về, trễ quá sợ cô Thuý chờ.
Đến gần cửa nhà Hương, Tâm ngừng lại, nhẹ nhàng
-Good night Hương, yên tâm nhé.
-Good night anh Tâm, ngày mai anh đón Hương tại trạm xe bus, anh nhé.

Và cứ như thế trong một thời gian khá lâu, tuy hai người chưa nói với nhau điều gì ngoài những chuyện thông thường hàng ngày, nhưng Hương cảm thấy sự hiện diện của Tâm trong lòng nàng cũng như sự trân trọng mà nàng dành cho Tâm…Không rộn ràng say đắm như khi nàng ở bên Kiệt mà là sự bình yên tin tưởng và thân thương.

Một đêm vào đầu mùa đông, Tâm đứng đón ở trạm xe bus nhưng không thấy Hương xuống…chắc có lẽ hôm nay Hương nghỉ làm, Tâm thầm nghĩ nhưng không muốn ghé vào nhà Hương vì đã quá khuya. Anh đứng chờ thêm một chút rồi vào xe vì ban đêm một giờ sau mới có chuyến xe tiếp. Trong khi lái xe về nhà, Tâm cảm thấy lòng không yên, anh lái xe đến trạm xe bus, gần nơi nàng đón xe về thì giật mình khi thấy có dáng người ngồi cúi đầu trong trạm. Anh đậu xe rồi bước vào trong trạm chờ xe bus và hoảng hốt khi thấy Hương ngồi rũ xuống trong chiếc áo coat rộng
-Hương … Hương
Hương ngước lên nhìn Tâm, giọng thều thào yếu ớt.
-Anh Tâm, khó thở quá.
Tâm vội ôm lấy Hương
-Anh đưa Hương vào nhà thương nhé
Hương gật đầu, nàng như lả đi trong tay Tâm. Anh diu nàng vào xe rồi chạy thẳng vào khu cứu cấp của bệnh viện gần đó.

Hương được đưa ngay vào phòng cấp cứu, Tâm ngồi đợi tin bên ngoài, lòng đầy lo lắng và sợ hãi…nếu Hương có mệnh hệ nào thì ba cha con anh sẽ ra sao? Và trong tận đáy tâm hồn, Tâm nhận ra mình đã yêu thương Hương vô cùng, tình yêu mà anh ngỡ như không bao giờ còn có với anh sau sự chấm dứt đắng cay với Thu Cúc, người vợ mà anh tưởng như hoàn hảo và yêu anh say đắm. Ngay bây giờ, Tâm cầu mong nàng được mạnh khỏe bình an trở lại hơn là nàng chấp nhận tình yêu của anh…
Tâm đứng lên ngay khi thấy bác sĩ bước ra.Thấy nét mặt đầy căng thẳng của Tâm, ông nhẹ nhàng

-Tình trạng sức khỏe của Bà Hương đã khá hơn khi chúng tôi cho thở bằng dưỡng khí. Bệnh nhân có bệnh hở van tim di truyền nên khi gặp lạnh bị phản ứng ngay. May là khí lạnh chưa vào sâu nên không đến nỗi nguy kịch. Hiện giờ, để bệnh nhân nghỉ ngơi rồi chuyển sang phòng bệnh để tiện theo dõi. Ông có thể vào thăm.

Tâm cám ơn bác sĩ và bước vào phòng. Hương đã tỉnh, nàng đang thở bằng dưỡng khí, chung quanh đầy dây nhợ …Tâm nhẹ nắm lấy tay Hương
-Hương … em thấy khỏe hơn không?
Hương gặp đầu, nàng nắm nhẹ tay Tâm.Tâm nhẹ nhàng
-Bác sĩ nói Hương bị bệnh tim nên khó thở khi gặp lạnh. Bây giờ anh yên tâm rồi. Anh sẽ gọi cho Thuý và hai con biết rồi sẽ ở đây với em cho đến sáng, khi Thuý đến, anh về nhà cho hai con đi học rồi vào đây với em. Em yên tâm nghỉ ngơi.
Hương khẽ gật đầu, giọng nàng nhẹ như gió thoảng
-Cám ơn anh.

Hai ngày sau, Hương được xuất viện, bác sĩ khuyên nên nghỉ vài ngày trước khi đi làm lại. Tâm đưa hai con đến thăm Hương, anh ngồi yên lặng nghe hai con nói chuyện với Hương, ngọt ngào thân mật đầm ấm như một gia đình. Nàng kể cho hai đứa nghe hôm đó nàng thấy mệt nên làm việc xong, ra đến trạm xe bus thì đã trễ, xe đã đi rồi, mệt quá phải ngồi trong trạm xe và gần như không thở được nữa thì ba con đến. Ánh mắt Hương lướt qua anh đầy cảm kích . Viện cớ Hương còn yếu, Tâm nói sẽ đến đón Hương tại sở nàng, Hương đồng ý ngay làm cả bốn người cười vang trong vui vẻ.

Thấm thoắt mà đã hơn một năm Hương làm việc ở khách sạn, nàng đã học xong những chứng chỉ kế toán căn bản cần thiết và nộp đơn xin việc tại vài công ty nhỏ. Một buổi sáng, Tâm xin nghỉ làm để đưa nàng đi phỏng vấn tại một công ty khai thuế ở Fairfax.

Khi Hương ra khỏi phòng phỏng vấn với nét mặt tươi vui, nàng nhìn Tâm, anh đứng lên và đưa nàng ra xe.
-Có hy vọng lắm phải không? Anh thấy Hương vui đấy
-Có lẽ họ nhận em anh ạ. Cuộc phỏng vấn rất tốt và họ nói sẽ có người gọi cho em đế cho biết kết quả và ngày đi làm. Hương đã nấu phở, mình về nhà Hương ăn phở, rồi anh đưa Hương đi làm nhé.
-Vậy thì tốt quá, mừng cho em.
Vào nhà, Tâm ngồi ở phòng khách trong khi Hương vào phòng thay đồ nhẹ. Lúc ra, nàng đi xuống bếp pha ly cà phê đen đá và đến ngồi cạnh Tâm.
-Cà phê đen đá anh thích đây, em làm cho anh, cảm ơn lúc nào anh cũng lo cho em.
Hương nói rồi đưa ly cà phê cho Tâm, ánh mắt đầy niềm vui và yêu thương. Tâm mỉm cười
-Chưa thấy việc mà thấy em vui quá, anh cũng vui theo em vậy.
Và rồi giọng Tâm chùng xuống
-Hương làm việc ở chỗ mới thì anh không còn được đón em, được gặp em mỗi ngày.
Hương ngước lên nhìn Tâm, thì thầm
-Em vẫn muốn gặp anh mỗi ngày anh ạ.
Tâm hơi nghiêng người, nhìn thẳng vào mắt Hương.
-Em cho phép anh nhé!
Hương gật đầu, nàng dựa nhẹ vào anh.
Tâm ôm lấy vai nàng, giọng anh nồng nàn tha thiết
-Hương, anh yêu em, về nhà với anh và con nhé.
Hương ngước lên nhìn Tâm, đón nụ hôn nhẹ của Tâm trên má, nàng thì thầm
-Cám ơn anh, em sẽ chăm lo cho anh và hai con.
Tâm ôm chặt lấy Hương, cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Hương để đầu dựa vào ngực áo Tâm, những giọt nước mắt rơi xuông tay Tâm, anh nâng mặt nàng lên
-Anh hứa sẽ săn sóc em chu đáo cho đến cuối đời. Cám ơn em đã mang lại hạnh phúc, thương yêu đến cho anh và hai con.

Ở bên Tâm, Hương cảm thấy được che chở và bình yên, nàng chưa hẳn thực sự yêu Tâm nhưng thấu hiểu được tấm chân tình của anh và muốn cùng anh chăm sóc cho con anh. Anh đến với nàng bằng sự trân trọng, biết ơn, bảo bọc và yêu thương… hạnh phúc rồi sẽ đến sau khi hai tâm hồn cùng thấu hiểu sự cảm thông và lòng tri ân…nên nàng nhận lời anh.

Ít lâu sau khi Hương có việc làm về kế toán, Tâm xin được việc làm ở công ty dầu khí với mức lương tương đối khá vì anh có chứng chỉ khi du học ở Mỹ ngày trước, Tâm mua được một căn nhà ba phòng gần chỗ Hương làm việc và tổ chức đám cưới đơn giản với người thân và bạn bè.

Hai đứa con của Tâm là người vui mừng và nồng nhiệt nhất vì chúng đã yêu mến Hương từ những ngày còn sống trên đảo và là nguyên nhân mạnh mẽ để Tâm hết lòng theo đuổi Hương. Hà rất thương cha và biết tấm lòng tốt và sự bao dung của Hương sẽ mang đến hạnh phúc cho gia đình nên luôn khuyến khích cha, an ủi khi ba buồn vì biết cô Hương đã có người yêu và kể cho cha biết lý do hai người chia tay khi đến nhà Hương nhờ chỉ cho cách nấu phở, nghe Hương tâm sự với Thuý mà không ngờ cô bé lắng nghe. Hà kể hết cho cha nghe và sự dứt khoát của Hương làm anh vững tâm trong việc theo đuổi nàng.

Sau đám cưới và về ở chung với ba cha con Tâm, Hương như đắm chìm vào sự yêu thương và săn sóc chu đáo của gia đình mới… dù chỗ làm gần nhà, nhưng vào mùa đông, Tâm đưa đón nàng, viện cớ sợ thời tiết không tốt cho tim. Còn việc nhà thì hai đứa nhỏ chia phiên giúp bà mẹ mới, không để cho nàng làm một mình. Luôn luôn có những tiếng cười vui trong bữa cơm chiều khi chia sẻ cùng nhau những mẩu chuyện trong sở làm hay trong trường học.

Biết Hương thích trồng hoa, Tâm còn nhớ “ giấc mơ trồng hoa tulip” của Hương và cô bạn thân khi còn đi học, hẹn nhau khi đến Mỹ sẽ trồng một vườn hoa tulip đủ màu mà bây giờ mỗi đứa một phương, Hương kể cho anh nghe với giọng nuối tiếc vài lần khi anh đón nàng đi làm về. Anh trồng hai luống hoa tulip hai bên lối đi vào nhà và mỗi góc hiên nhà là những cây hoa trà hoa nữ màu đỏ, loại nở hoa vào mùa đông. Gần hàng rào vườn sau, Tâm làm giàn trồng mướp… không hẳn là anh thích ăn trái mướp mà là để ngắm những bông hoa mướp vàng nở rộ trên giàn…để nhớ lại khu vườn ngày xưa của mẹ anh…Có những buổi chiều hai vợ chồng cùng ngồi ngắm cảnh vườn, những cánh bướm bay là đà trên những bông hoa mướp vàng rồi lượm qua những bụi hoa cosmos mầu trắng tím vương trong ánh nắng chiều… Hương cảm thấy thật bình yên và hạnh phúc, nàng mong có chút con trai cho Tâm vui, đền bù lại những cơ cực đau buồn mà anh đã phải trải qua.

Hơn một năm sau, Hương có thai và Tâm chăm sóc vợ cực kỳ chu đáo, anh thu xếp giờ làm việc trong sở để đưa đón Hương đi làm. Dù biết sẽ là con gái và Hương có đôi chút thất vọng nhưng Tâm thì rất vui, anh nói chỉ muốn cùng nàng có con cho Hương vui lòng. Hà và Hạnh cùng nhau làm việc nhà giúp Hương vì muốn mẹ được nghỉ ngơi nhiều.

Ngày đưa con về nhà là ngày vui và hạnh phúc nhất của Hương. Căn phòng của Hà đã được làm thành phòng cho em bé, có nôi màu hồng nhạt và mọi thứ cần dùng. Hương ngạc nhiên nhìn Hà.
-Hà nhường phòng cho em thì con ở đâu?
Hà nhẹ nhàng
-Mẹ cho em ngủ đi rồi con đưa mẹ đến thăm nhà mới của con.
Hương nhìn chồng thì chỉ thấy anh cười. Nàng cho con ngủ rồi hỏi hỏi Tâm.
-Hà đâu?
-Con đang chờ mẹ đây.
Hương đi theo ba cha con xuống basement và ngạc nhiên khi thấy một căn phòng khá rộng, gần đó có phòng tắm, phòng khách nhỏ và tủ đầy sách học của Hà, cửa đi ra vườn sau được thay bằng cửa kính, trông rất sáng sủa, sạch sẽ và ngăn nắp.
-Giang sơn của con đấy, mẹ thấy không? Rộng hơn phòng của em Tuyền nhiều.
Tâm xen vào
-Ý kiến của Hà đấy. Nó vẽ hoa đồ rồi anh nhờ người bạn trong sở có tay nghề làm giùm. Không cho em biết để làm em ngạc nhiên.
Hương quay sang Hà
-Cám ơn Hà, con làm mẹ vui quá
Hà nhẹ nhàng
-Mẹ vui và có phòng cho em là con vui rồi. Không có mẹ thì gia đình mình đâu có được vui và hạnh phúc như bây giờ đâu.
Hạnh nắm tay Hương
-Chị Hà nói là nhờ nấu cháo và nồi thịt kho đấy mẹ ạ. Con còn nhớ mà.
Tay Hương nắm lấy hai tay của hai đứa con chồng
-Hai đứa nhắc lại làm mẹ muốn khóc quá. Cám ơn hai con.
Rồi Hương nhìn Tâm
-Và cám ơn anh nữa. Em cảm thấy rất là hạnh phúc .

oOo

Thời gian trôi qua, Ngọc Tuyền lớn lên trong sự yêu thương, chăm sóc của ba mẹ và hai chị. Càng ở gần Tâm, Hương càng cảm thấy yêu thương và trân trọng với chồng…hạnh phúc toàn vẹn bên anh mà nàng nghĩ rằng không thể có được nay tuyệt vời viên mãn vô cùng.

Hà học giỏi, nhận được học bổng, ra trường làm bác sĩ chuyên khoa về tim. Hạnh học bình thường, lấy chồng sớm vào năm 20 tuổi khi còn học đại học và theo chồng về tiểu bang Wisconsin. Ngọc Tuyền đang học đại học và Tâm vẫn luôn để tâm đến sức khỏe của Hương. Đã biết bao lần anh đưa Hương đi bệnh viện, khó thở vì bệnh hở van tim với sự lo lắng ân cần săn sóc và yêu thương… hạnh phúc dù đến hơi trễ nhưng ngập tràn suốt cả đời nàng bên người chồng yêu thương và trân quý nàng với tất cả tấm lòng.


Ý Nhi

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2026

O Huế Ngày Xưa

 

Không biết bây giờ O Huế về đâu

những buổi trưa hành lang lặng gió

ngồi bên nhau nghe lòng hớn hỡ

tưởng những mai này tay thuộc về nhau

 

O không nói nhưng môi đã nhận

nụ hôn đầu mắt nhắm vai buông

trang sách cũ một thời ghi đậm

chiều lang thang phố tuổi đá buồn

 

Có nhiều hôm chạnh lòng nhớ Huế

O nhắc về núi Ngự sông Hương

cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp

mắt O vời bao nhịp nhớ thương..!

 

Cuộc dâu bể nào ai biết được

buổi chia tay không gặp mặt người

để bây giờ chim trời cánh mỏi

lòng hỏi lòng "O có yêu tôi?"

 

O Huế ơi, áo xưa màu nắng

O có còn giữ vết môi hôn

hay như đời giữa lòng biển rộng

hạt muối nào thắm mặn trầm luân?

 

O Huế ơi, mùa thương mùa nhớ

mưa ướt trời mưa ướt mắt tôi

ướt nụ cười Huế một bờ môi

xin giữ mãi bóng hình xứ Huế...

 

Durham, North Carolina

Nguyễn Vĩnh Long


Tháng Ba Ngày Ấy


Tháng Ba gợi đống tro tàn
Đau thương mất mát tan đàn phân ly.....!
Đoạn trường kẻ ở người đi
Đau thương cách biệt chia ly não nùng
"Cao nguyên triệt thoái" đường rừng
Nghẹn ngào "Tỉnh Lộ" pháo tung rền trời
Cộng quân nã pháo dòng người.. .
Dòng suối la liệt... xác trôi bập bềnh...!
Bao nhiêu hình ảnh sao quên
Đau thương tang tóc cao nguyên núi rừng
Tù binh thất thểu vào "bưng"*
Trãi đời tù ngục giữa rừng núi cao
Mồ hoang mả lạnh nơi nào...?
Rừng thiêng nước độc thân trao dòng đời...!
Nỗi niềm năm tháng đầy vơi
Làm sao quên được một thời đau thương...
Vết hằn ngày cũ vấn vương
Mang theo ký ức dặm đường phương xa....


Ngư Sĩ
 

O Huế, Bây Giờ Em Ở Đâu...?!



(*Tặng: Giang Văn Nhân & O Huế,
mối tình đẹp, đau... thời chinh chiến!!)

" Chiến binh mà để Non Sông mất...!!
Đau buốt tâm can... xót má đào... !!"

....
Mỗi lần vô Huế đều ghé thăm
Ngắm O bán vải đẹp trăng rằm
Mũi cao má phấn màu hoa bưởi
Răng trắng môi hồng mắt lá răm

Vai hạc lưng ong xõa tóc thề
Liêu trai mà mượt suối đam mê
Gịong oanh thanh nhã vui mời mọc
“- Anh cọ cần chi em giúp hề...?”

Mua vải của O để lấy lòng
Mỉm cười hoa nụ đẹp vô song
Hải Đường hàm tiếu long lanh hạt
Sương sớm bình minh... má ửng hồng

Bàn tay sứ trắng ít ai bằng
Năm ngón thon dài nõn búp măng
Khoan thai là lướt trên nền vải
Đo đếm đường hoàng kéo cắt ngang

Từ đó dần dà em với ta
Nhịp quân nhung nhớ... chợ Đông Ba
Có O bán vải buồn lên mắt
Ngóng cánh chim chiều... bay lướt qua

Tưởng rằng cá nước sẽ dài lâu
Ngày nao mai mối chuyện cau trầu
Đất bằng giậy sóng ai ngờ được
Sông Núi hãi hùng... lún biển sâu...!!

Tháng 3 (- 1975) đơn vị buồn triệt thoái
Triệt thoái trời ơi... sao triệt thoái...??
Chiến trường chưa đánh đã lui quân
Nước cờ ngang ngửa... rồi ra bại
Binh pháp xưa nay... thật lạ lùng...!!

Tràng Tiền ngoái nhìn Phu Văn Lâu
Cao vút kỳ đài vương nỗi sầu
Buồn bã Cờ Vàng... đang phất gió
Đông Ba ngã bóng O giờ đâu...?!


Bí mật quân hành biết tính sao

Rồi đây mai mốt... có còn nhau...?!
Nhịp quân dồ̀̀̀n dập... chân dồn dập
Thương quá O ơi sóng dạt dào...!!

Thư hùng một trận cho hừng chí
Sao lại lui binh thật lạ kỳ
Da ngựa sá gì thây tử sĩ
Cổ lai chinh chiến chuyện nam nhi...!!

Căm phẫn ngang trời... ôi nỗi nhục...!!
Pháo, tăng... còn đó lại quay đầu ?
Đưa lưng để giặc làm bia thịt...
Bãi biển máu trào... sóng biển đau...!!

Ớt chẳng ăn mà cay quá cay
Chiến binh ngã ngựa khốn... đêm ngày...!!
Xác xơ tàn tạ chân rời rạc...
Đói lã nhục nhằn tù khổ sai...!!

Lồng chật... Cồn Thiên nhốt hải âu
Ngày qua tháng lại lá rơi... sầu...!!
Vẩn vơ nghĩ ngợi đời đen bạc
Mây trắng chiều nghiêng... bay về đâu...?!

Bỗng một hôm có người tới thăm
Ngạc nhiên... ai đó đúng hay nhầm ?!
Gặp nhau mới biết rằng O đến
Mừng lắm em ơi ngỡ bặt tăm...!!

O đến thăm ta với chút quà
Thịt phay, bánh ướt... chợ Đông Hà
Bồi hồi... thương quá... ôi thương quá...!!
Tình trải theo đường... xa... ngút xa...!!

Rộn rã niềm vui... chan nỗi khổ
Chuyện nhà, chuyện nước... mắt mi hoen
Bùi ngùi bi phẫn nàng chim nhỏ:
“- Răng để... chừ mất Huế cuả em ?!”

Tránh nhìn đôi mắt huyền hờn trách
Xấu hổ nghẹn lời... biết nói sao
Chiến binh mà để Non Sông mất...!!
Đau buốt tâm can... xót má đào... !!

Đến lúc chia tay O thỏ thẻ
Tình em tha thiết... tẩm trong câu:
“- Giữ gìn sức khoẻ anh yêu nhẹ...!!”
Mái tóc nghiêng nghiêng mắt nhuốm sầu...!!

Lây lất... đếm ngày đen địa ngục
Chim lồng thao thức... giữa đêm thâu
Ngẩn ngơ ngùi nhớ... thương người ngọc
Tượng đá xanh rêu... núi bạc đầu...!!

Chuyển trại bao lần tù trại chuyển
Làm sao O biết... nẽo sơn khê
Tủi thân con ếch... ngồi trong giếng
Ngắm mảnh trời xanh... mãi nhớ về...!!

Tám năm lao lý dài dằng dặc...!!
Sông Cửu cao nguyên... liền biển sâu
Cha Mẹ trông con... mòn nước mắt...!!
Trời ơi cổ thụ phủ... sương sầu...!!

Rồi bỗng ngày vui... chim xổ lồng
Núi rừng... ngơ ngác trước mênh mông
Tới lui nghĩ ngợi thăm vườn cũ
Ta cảm nghe lòng mai điểm bông...!!

San sát ven đường... sim tím trổ
Bước chân vội vã hướng về nơi
Những mong lấp lại dòng sông nhớ...!!
Sông nhớ trập trùng... hoá biển khơi...!!

Đông Ba lạc lõng... buồn giăng phố
O Huế, bây giờ em ở đâu...?!
Môi hồng duyên dáng lời niềm nỡ
Ta dõitheo em... sóng bạc đầu...!!

O chừ nhạn trắng bay... biền biệt...!!
Ta đứng bên bờ... ngóng biển xanh...!!
Mấy bận thăm nuôi tình thắm thiết...!!
Thiên thu núi thẩm vọng... mây lành...!!

Chạnh lòng lá úa khóc... Sầu Đông
Lã chã lá rơi... biển cuộn dòng...
Nhớ O trải nhớ... theo triều sóng...
Sương đọng... đầu non em biết không...?!

Mỗi lần vô Huế đều ghé thăm
Ngắm O bán vải đẹp trăng rằm
Tám năm trở lại tìm người cũ
Kiosk còn đây... nhạn bặt tăm...!?

Nguyễn Minh Thanh
(GA, Đào hoa y cựu... 2020)

Nguồn:

“Răng để mất Huế cuả em...?!”
-Truyện của Giang Văn Nhân
- Cồn Thiên: địa danh, chiến trường xưa
- Đông Ba: chợ chính cố đô Huế
- Đông Hà: địa danh, chợ huyện ĐH
- Sầu Đông: tên người đẹp đến thăm nuôi
* Ngày 25 - 3 - 1975 bỏ Quảng Trị, Thừa Thiên...


Góc Việt Thi: Thơ Tuy Lý Vương

Tuy Lý Vương Nguyễn Phúc Miên Trinh

Tuy Lý Vương 綏理王 (1820-1897) là tước hiệu của Nguyễn Phúc Miên Trinh 阮福綿寊, sinh ngày 19 tháng 12 năm Kỷ Mão (3 tháng 2 năm 1820) tại viện sau Thanh Hòa điện. Tự là Khôn Chương 坤章, Quý Trọng 季仲, hiệu Tĩnh Phố 靜圃, biệt hiệu Vĩ Dạ 葦野. Minh Mạng đặt cho tên Thư, Tự Đức ban thêm tên Thuyết, thuỵ Đoan Trang. Ông là con thứ 11 của vua Minh Mạng. Nguyễn Phúc Miên Trinh từng giữ các chức Đổng Sự Tôn Học Đường, Hữu Tôn Nhân, Phụ Chính Thân Thần, Phụ Nghị Cận Thần.
Năm 1889, Thành Thái nguyên niên, ông được cử làm Đệ nhất Phụ chính Thân thần, kiêm nhiếp Tông Nhân Phủ Tả Tôn Chính, tấn thăng Tuy Lý Quận vương như trước. Năm 1894, tháng 7, vì có công lao lớn, ông lại được tấn phong làm Tuy Lý Vương (綏理王).
Năm 1897, vì tuổi già, ông xin về nghỉ, chẳng bao lâu thì bị bệnh mất ngày 24 tháng 10 năm Đinh Dậu (18 tháng 11 năm 1897), hưởng thọ 77 tuổi. Nghe tin ông mất, Thành Thái cấp một ngàn quan tiền lo việc tang và ban thụy là Đoan Cung (端恭). Mộ Tuy Lý Vương nay thuộc phường Phường Đúc, sát bên đường Bùi Thị Xuân, thành phố Huế.

Tác phẩm:
- Vĩ Dạ hợp tập 葦野合集 (thơ và văn bằng chữ Hán)
- Nữ phạm diễn nghĩa từ 女範演義詞 (thơ chữ Nôm viết bằng thể lục bát)

Dưới đây là những bài thơ tiêu biểu của ông.

1. Bài thơ PHỎNG NGUYỄN VĂN SIÊU 訪阮文超:

Ảnh Nguyễn Văn Siêu trên mạng

偶攀桂樹懷高士, Ngẫu phan quế thụ hoài cao sĩ,
為扣柴扉訪友生。 Vị khấu sài phi phỏng hữu sinh.
華鬢潘郎仍宦拙, Hoa mấn Phan lang nhưng hoạn chuyết,
青年阮瑀舊詩名。 Thanh niên Nguyễn Vũ cựu thi danh.

* Chú thích:
- Phỏng 訪 : là Bái Phỏng, là đến thăm ai đó; đây là cách nói trịnh trọng và lịch sự. PHỎNG NGUYỄN VĂN SIÊU là Đến thăm viếng nguyễn Văn Siêu. Nói thêm : Nguyễn Văn Siêu sanh năm 1799, còn Tuy Lý Vương sanh 1820, nhỏ hơn Nguyễn Văn Siêu 22 tuổi. Siêu lại bậc đại khoa làm quan đến chức Án Sát, nên Vương rất kính trọng và ngưỡng mộ Siêu.
- Ngẫu 偶 : là Ngẫu nhiên; Chuyện đưa đến mà không có dự tính trước.
- Phan Quế 攀桂 : là Trèo lên cây quế; chỉ Thi Đậu. Ở đây chỉ "Đi thăm người có khoa cử" như là đèo bồng mà trèo lên cây quế vậy. Hàm ý khiêm nhượng và tôn trọng của Tuy Lý Vương đối với Nguyễn Văn Siêu.
- Cao Sĩ 高士 : Kẻ sĩ cao nhã; chỉ Nguyễn Văn Siêu.
- Sài Phi 柴扉 : là Cánh cửa bằng gỗ, chỉ ở trong nhà tranh vách đất.
- Hữu Sinh 友生 : là Bạn bè cùng học tập hay cùng là giới văn bút với nhau. Có xuất xứ từ Kinh Thi. Chương Tiểu Nhã. bài Thường Đệ《诗·小雅·常棣》 có câu : "Tuy hữu huynh đệ, Bất như HỮU SINH 虽有兄弟,不如友生". Có nghĩa : Mặc dù có anh em, nhưng vẫn không bằng được bạn cùng học tập".
- Hoa Mấn Phan Lang 華鬢潘郎 : Tóc mai hoa râm của chàng họ Phan. Có xuất xứ từ câu từ của Sử Đạt Tổ đời Tống 宋。史達祖 : Thu phong tảo nhập Phan Lang mấn 秋風早入潘郎鬢. Có nghĩa "Gío thu sớm đã thổi vào tóc mai của chàng Phan". Y chỉ "tóc mai" đã hoa râm, đã già qúa nữa đời người rồi.
- Hoạn Chuyết 宦拙 : là Quan trường vụng về; ý chỉ "Quan trường trắc trở".
- Nguyễn Vũ 阮瑀 : là cháu của Nguyễn Tịch 阮籍. Hai chú cháu đều có tên trong Trúc Lâm Thất Hiền đời Tấn. Nên THANH NIÊN NGUYỄN VŨ 青年阮瑀 chỉ chung "những người tuổi trẻ mà tài cao". Đây là lời ca ngợi Nguyễn Văn Siêu của Tuy Lý Vương.

* Nghĩa bài thơ:

ĐẾN THĂM NGUYỄN VĂN SIÊU

Ngẫu nhiên mà ta có ý muốn trèo cao để đến với kẻ sĩ cao nhã; Vì thế mới gỏ cửa sài để thăm viếng người cùng trong giới văn chương học tập. Thương thay cái anh chàng Siêu nầy cũng giống như anh chàng Phan, tóc đã hoa râm rồi mà đường hoạn lộ vẫn còn nhiều trắc trở; trong khi lại có tài hoa như là chàng Nguyễn Vũ lúc còn thanh niên trai trẻ vậy.

Nguyễn Vũ và Nguyễn Tịch trong Trúc Lâm Thất Hiền

Bài thơ chỉ cò 4 câu mà đầy rẫy những điển tích và điển tích. Đây cũng là điều chứng tỏ Tuy Lý Vương có sở học uyên bác hơn người, xuất khẩu thành chương đối với giới học thuật, chớ giới bình dân thì không bao giờ với tới nổi...

* Diễn Nôm:

PHỎNG NGUYỄN VĂN SIÊU

Đèo bồng đến với người cao nhã,
Nên gõ cửa sài viếng bạn văn.
Tóc bạc Phan lang còn lận đận,
Thanh niên Nguyễn Vũ qủa tài năng!

Lục bát:
Đèo bồng với tới người cao,
Cửa sài đánh bạo gỏ ào viếng thăm.
Chàng Phan tóc đã hoa râm,
Thanh niên Nguyễn Vũ tài năng vang lừng!

2. Bài thơ TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ 贈黎凝甫:

 
Ảnh minh họa Trâu Dương &Mai Thừa

詞賦鄒枚舊勝流, Từ phú Trâu Mai cựu thắng lưu,
一麾出守幾清秋。 Nhất huy xuất thú kỷ thanh thu.
三千風月留吟賞, Tam thiên phong nguyệt lưu ngâm thưởng,
羨殺輕篷印渚舟。 Tiện sát khinh bồng Ấn chử chu.

* Chú thích:
- TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ 贈黎凝甫 : Thơ làm tặng cho Lê Ngưng Phủ. Chưa rõ Lê Ngưng Phủ là ai, chỉ biết ông làm quan tại Quảng Ngãi. Tuy Lý Vương Miên Trinh có đề thơ tặng cho ông. Lời thơ thành thật, thẳng thắn, đề cao tài năng xuất chúng của họ Lê.
- Trâu Mai 鄒枚 : Tức Trâu Dương 鄒陽 (206-129 Trước Công nguyên) và Mai Thừa 枚乘 (?-140 Trước Công nguyên), hai nhà Tản văn và nhà Từ phú thời Tây Hán. Trâu Dương là tác giả bài "Thướng Ngô vương thư 上吳王書", "Vu ngục trung thướng thư tự minh 于獄中上書自明". Mai Thừa là tác giả bài phú "Thất phát 七發". Ở đây, Tuy Lý Vương Miên Trinh đề cao tài văn chương của Lê Ngưng Phủ hơn hẳn hai họ Trâu, Mai của thời Tây Hán, là thời cực thịnh của Tản văn và Từ phú.
- Nhất Huy Xuất Thú 一麾出守 : Mệnh quan triều đình được đặc phái ra làm quan ở bên ngoài. Có xuất xứ từ hai câu thơ cuả Nhan Diên Chi, nhà Tống ở Nam Triều 南朝·宋·颜延之 là : Lũ tiến bất nhập quan, Nhất huy nãi xuất thú 屢荐不入官,一麾乃出守. Có nghĩa : Mấy lần tiến cử chẳng nên quan, Chỉ phất cờ chỉ huy là làm ngay Thái Thú.
- Tam Thiên Phong Nguyệt 三千風月 : Ba ngàn bài thơ ngâm vịnh gió trăng. Có xuất xứ từ hai câu thơ nói về sự xung đột giữa Tễ tướng Vương An Thạch và nhà từ phú Âu Dương Tu là : Hàn lâm phong nguyệt tam thiên thủ, Lại bộ văn chương nhị bách niên 翰林風月三千首,吏部文章二百年. Có nghĩa : Hai trăm năm văn chương Lại bộ, Ba ngàn bài trăng gió Hàn lâm. Ý chỉ "Những áng văn chương tuyệt tác".
- Tiện Sát Khinh Bồng Ấn Chử Chu 羨殺輕篷印渚舟 : là "Rất hâm mộ cho cánh buồm nhẹ để lại dấu ấn cho chiếc thuyền trên bến nước sông". Có thể là tích của tướng quân Tạ Thượng 謝尚 của đời Đông Tấn, là người đất Thái Khang tỉnh Hà Nam, là anh họ chú bác của danh tướng Tạ An 謝安. Ông là người văn võ song toàn, giỏi cả cầm kỳ thi họa, được phong là Trấn Tây Tướng Quân trấn thủ vùng núi Ngưu Chử. Trong một đêm thu khi ông cùng các tuỳ tùng thả thuyền theo dòng Tây Giang để ngắm trăng, tình cờ nghe được trong một chiếc thuyền nan có một chàng thư sinh đang ngâm thơ vịnh sử; Ông bèn cho người đến mời lên thuyền của mình và hai người đã cùng đàm đạo với nhau suốt đêm rất là tương đắc. Người thư sinh đó chính là Viên Hoằng 袁宏, nhà nghèo lại mồ côi sớm, đang làm nghề đưa đò để độ nhật. Sau hôm gặp gỡ và cùng đàm đạo suốt đêm với Tướng Tạ Thượng, tiếng tăm tài giỏi của Viên Hoằng được đồn đại khắp nơi, và sau nầy phát tích làm quan đến chức Thái Thú của Đông Dương.

* Nghĩa bài thơ :
THƠ TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ

Từ và phú của hai họ Trâu và họ Mai là những bậc nổi tiếng từ xưa. Là mệnh quan triều đình được điều đi làm Thái Thú bên ngoài mấy mùa thu rồi. Ba ngàn gió trăng phong nguyệt còn để lại để ngâm vịnh thưởng thức; Làm cho người ta hâm mộ muốn chết về chiếc buồn con để lại dấu ấn bên bến nước sông.

Lại cũng chỉ là một bài Thất ngôn tứ tuyệt nhưng lại tràn ngập những điển tích và điển tích ! Thơ qúa bác học làm cho người đọc không sao theo kịp để nhận biết được cái hay ho thi vị của nó mà thưởng thức. Và... Ông đã ca ngợi đề cao Lê Ngưng Phủ một cách qúa đáng, xa rời thực tế đến không thể chấp nhận được.

* Diễn Nôm:
TẶNG LÊ NGƯNG PHỦ

Từ phú Trâu Mai cũng chịu thua,
Cử làm Thái Thú mấy thu qua.
Ba ngàn phong nguyệt thơ ngâm vịnh,
Hâm mộ cánh buồm bến nước xưa.

Lục bát :
Trâu Mai từ phú thua xa,
Cử làm Thái Thú thu qua mấy mùa,
Ba ngàn trăng gió ngâm nga,
Bến xa Ngưu chữ thuyền qua in bờ.

3. Bài thơ TUẾ MỘ 歲暮:


北望閭簷空杼柚, Bắc vọng lư thiềm không trữ trục,
南來壁壘尚干戈。 Nam lai bích luỹ thượng can qua.
衮衣肉食終無補, Cổn y nhục thực chung vô bổ,
愧爾飧英帶女蘿。 Quý nhĩ san anh đới nữ la.

* Chú thích:
- TUẾ MỘ 歲暮 : TUẾ là Tuổi, là Năm; MỘ có bộ Nhật ở dưới, chỉ mặt trời lặn, là đã về chiều. Nên TUẾ MỘ là Năm đã về chiều, là CUỐI NĂM.
- Bắc Vọng 北望 : là Ngóng về phương bắc.
- Lư Thiềm 閭簷 : là Cổng và Mái nhà; chỉ chung cho "Nhà cửa".
- Trữ Trục 杼柚 : là Con thoi dùng để dệt vải. TRỮ để dệt sợi ngang, còn TRỤC thì dệt sợi dọc.
- Nam Lai 南來 : là Đi về hướng Nam.
- Bích Luỹ 壁壘 : là Những Bờ lũy và Tường chắn trong chiến tranh.
- Can Qua 干戈 : CAN là cái khiên để đở; QUA là cây mác để đâm chém. Nên CAN QUA có nghĩa là Đánh nhau là Chiến tranh.
- Cổn Y Nhục Thực 衮衣肉食 : CỔN Y là Quần áo qúy giá của vua quan mặc; NHỤC THỰC là Ăn thịt thà sang trọng. Nên CỔN Y NHỤC THỰC là Ăn ngon mặc đẹp. Có xuất xứ từ hai câu thơ cuả Khu Sĩ Hành 區仕衡 đời Tống là : Hạt y tằng thế cổn y sầu, Nhục thực thùy tri hoắc thực ưu 褐衣曾替衮衣愁,肉食誰知藿食憂。Có nghĩa : Người mặc áo vải thô thường sầu thế cho người mặc áo đẹp; còn người ăn thịt có ai biết được cái ưu tư của người ăn rau cải đâu !.
- Qúy 愧 : là Thẹn thùa, là mắc cở.
- San Anh Đới Nữ La 飧英帶女蘿 : Ăn bông hoa và đeo những dây leo chằng chịt; Chỉ Ăn mặc cầu kỳ diêm dúa. Có xuất xứ từ bài Sơn Qũy trong Cửu Ca của Khuất Nguyên 屈原的《九歌·山鬼》đời Tiên Tần với hai câu mở đầu : Nhược hữu nhân hề sơn chi a, Bị bệ lệ hề đới nữ la 若有人兮山之阿,被薜荔兮带女萝。Có nghĩa : Nếu như có người đi ở trên triền núi, khoác áo dâu tằm và đeo những dây leo có bông hoa sặc sỡ (Chỉ "Ăn mặc diêm dúa").

* Nghĩa bài thơ:
CUỐI NĂM

Ngóng về phương bắc thì nhà cửa không có nghe tiếng của khung cửi con thoi nào cả; còn đi về phương nam thì đồn luỹ chập chùng đang trong cơn chiến loạn. Ăn ngon mặc đẹp trong ngày Tết đâm ra rất vô bổ, không làm sao cả. Thẹn cho người còn ăn mặc cầu kỳ diêm dúa như một con qũy núi.
Ý chỉ đơn giản có thế, nhưng ông Tuy Lý Vương của ta lại sử dụng chữ nghĩa cầu kỳ cao siêu và điển tích hiễm hóc làm cho người đọc hoang mang mơ hồ không biết là ông định nói lên điều gì...

* Diễn Nôm:
TUẾ MỘ

Trông lên bắc nhà không dệt cửi,
Xuôi về nam thành lũy can qua.
Ăn ngon mặc đẹp chừng vô ích,
Thẹn bạn cầu kỳ với áo hoa !

Song thất Lục bát :
Về bắc ngóng nhà không dệt cửi,
Xuôi nam thì chiến lũy can qua.
Ăn ngon mặc đẹp chi mà...
Thẹn người diêm dúa áo hoa làm gì ?!

4. Bài thơ LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ 旅夜得故人書:


小館閉柴荊, Tiểu quán bế sài kinh,
寒燈暗復明。 Hàn đăng ám phục minh.
忽驚書問訊, Hốt kinh thư vấn tín,
坐覺歲崢嶸。 Tọa giác tuế tranh vanh.
曉月兼霜色, Hiểu nguyệt kiêm sương sắc,
秋風似雨聲。 Thu phong tự vũ thanh.
酒醒相憶處, Tửu tinh tương ức xứ,
鐘漏隔嚴城。 Chung lậu cách nghiêm thành.

* Chú thích :
- LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ 旅夜得故人書 : là "Đêm ở đất khách, nhận được thư bạn cũ".
- Sài Kinh 柴荊 : SÀI là Củi, KINH là loại cây mọc thành bụi. Ở nhà quê hay dùng cây Kinh để đan phên, vì thế nên cánh cửa phên ở dưới quê gọi là “Sài Kinh”.
- Hốt Kinh 忽驚 : KINH ở đây là Ngạc nhiên chớ không phải Sợ hãi. Nên HỐT KINH là Bỗng cảm thấy ngạc nhiên.
- Tranh Vanh 崢嶸 : Chót vót, ở đây có nghĩa là Lơ Lửng chập chờn.
- Hiểu Nguyệt 曉月 : là Ánh trăng buổi sáng.
- Chung Lậu 鐘漏 : Tiếng chuông đồng hồ nhỏ giọt báo thời gian.
- Nghiêm Thành 嚴城 : Thành quách được giới nghiêm và phòng bị kỹ càng.

* Nghĩa bài thơ :
ĐÊM Ở ĐẤT KHÁCH NHẬN ĐƯỢC THƯ BẠN C
Ta đóng lại cửa phên nơi quán trọ nhỏ nhoi nầy, trong ngọn đèn lạnh lẽo tranh tối tranh sáng. Bỗng ngạc nhiên làm sao khi nhận được thư hỏi thăm tin tức, ngồi đây mà cảm thấy như thời gian của năm tháng đang lơ lửng ở trên đầu. Trong cảnh trăng tàn buổi sáng hòa vào trong màu sương sớm, tiếng gió thu hiu hắt tựa như là những tiếng mưa rơi. Rượu đã tỉnh nhớ lại chỗ nhớ nhau là nơi thành quách đang giới nghiêm trong tiếng thời gian nhỏ giọt của khắc lậu canh tàn !

* Diễn Nôm :
LỮ DẠ ĐẮC CỐ NHÂN THƯ

Cửa gài phên quán nhỏ,
Đèn lạnh khi mờ tỏ.
Bỗng nhận thư hỏi tin,
Thời gian như bỏ ngỏ.
Trăng sớm mờ sương đêm,
Mưa thu ngờ tiếng gió.
Rượu tỉnh nhớ nhau đây,
Khắc lậu thành nghiêm đó !

Lục bát :
Cửa sài quán nhỏ phên kinh,
Chập chờn đèn lạnh chợt minh chợt mờ.
Bỗng dưng nhận được tin thơ,
Thời gian lơ lửng ngồi trơ canh dài.
Trăng hòa sương sớm ban mai,
Gió thu xào xạt ngỡ ngoài đổ mưa.
Rượu say tỉnh giấc nhớ xưa,
Giới nghiêm thành quách canh vừa điểm chuông.

5. Bài thơ ĐÔNG DẠ TẠP THI 冬夜雜詩:


有客至自遠, Hữu khách chí tự viễn,
排闥升堂階。 Bài thát thăng đường giai.
矍然執手笑, Quắc nhiên chấp thủ tiếu,
乃心久所懷。 Nãi tâm cửu sở hoài.
淵塞固景仰, Uyên tắc cố cảnh ngưỡng,
矧茲富藻辭。 Thẩn tư phú tảo từ.
瑤琴久不弄, Dao cầm cửu bất lộng,
為君理朱絲。 Vị quân lý chu ty.
施恐風雨散, Thi khủng phong vũ tán,
仳我念裨離。 Tỷ ngã niệm bì ly.

* Chú thích:
- ĐÔNG DẠ TẠP THI 冬夜雜詩 : TẠP là Tạp nhạp, vặt vãnh; Nên ĐÔNG DẠ TẠP THI là Bài thơ vặt vãnh được làm trong đêm đông.
- Bài Thát 排闥 : THÁT là cái cửa ngách, cửa nhỏ bên hông; Nên BÀI THÁT là Đẩy cửa hông mà vào.
- Quắc nhiên 矍然 : là Nhớn nhác; ở đây có nghĩa là Vội vàng.
- Uyên Tắc 淵塞 : UYÊN là Vực sâu; TẮC là bế tắc, cách trở. Nên UYÊN TẮC là Xa xôi cách trở.
- Thẩn Tư 矧茲 : là Huống hồ, Huống chi...
- Tảo Từ 藻辭 : là Nói những lời lẽ tốt đẹp.
- Chu Ty 朱絲 : là những sợi tơ dùng làm dây đàn.
- Tỷ 仳 : TỶ là TỶ LY 仳離 là Chia tay, Chia lìa.
- Bì Ly 裨離 : Một nước nhỏ xa xôi ở vùng Cam Túc xưa. Ở đây mượn chỉ Vùng xa xôi cách trở.

* Nghĩa bài thơ :
BÀI THƠ VẶT LÀM TRONG ĐÊM ĐÔNG

Có khách từ phương xa đến, đẩy cửa hông mà vào lên đến bậc thềm phòng khách. Ta vội vàng đến nắm tay mà cười đón, vì đây chính là người mà hằng lâu ta đã nhớ mong. Đường xá xa xôi cách trở nên luôn ngưỡng mộ nhau, huống hồ chi là những lời nói tốt đẹp dành cho nhau. Chiếc dao cầm lâu ngày đã không đụng đến; Bây giờ sẽ vì bạn mà sửa lại dây tơ (để đàn một khúc). Chỉnh e rồi mưa gió lại phải phân tán chia ly. Rời xa ta rồi thì chỉ còn có nước thương nhớ về nơi xa xôi!...

* Diễn Nôm :
ĐÔNG DẠ TẠP THI

Có khách từ xa đến,
Đẩy cửa hông bước vào.
Vội vàng cười đón tiếp,
Vì lòng những ước ao.
Xa xôi luôn ngưỡng mộ,
Lời khách sáo nhớ sao.
Dao cầm lâu chưa gãy,
Vì bạn thay dây nào.
Chỉnh e trời mưa gió,
Chia tay nhớ biết bao !

Lục bát :
Từ xa có khách đến chơi,
Xô cửa thẳng bước tới nơi công đường.
Vội vàng tay bắt mặt mừng,
Bởi lòng luống những bâng khuâng nhớ người.
Xa xôi ngưỡng mộ lâu rồi,
Bao lời khách sáo nói cười cùng nhau.
Dao cầm ngày tháng tiêu hao,
Vì người vội vả thay mau dây đàn.
Chỉnh e mưa gió ly tan,
Chia tay lại nhớ ngút ngàn nơi xa!

Xin được tạm ngưng bài dịch thơ của Tuy Lý Vương Miên Trinh ở đây. Sẽ dịch tiếp khi có cơ duyên mới !...

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức