Các Đề Mục

Quê Nhà



1
Lòng Hồ Suối Trầu

Cây khiu khẳng đứng giữa lòng đời
Im lặng hằng bao thế kỷ rồi
Có một cánh cò từ quá khứ
Bay về đậu mãi giữa mù khơi
2
Lòng Hồ Đá Bàn
 
Nửa đêm thuyền ngủ giữa lòng hồ
Gió thổi thuyền trôi chẳng bến bờ
Theo nguyệt thuyền rơi vào huyễn ảo
Em ơi tất cả đã thành thơ!

Vinh Hồ
1991
(Trích trang 247, thi tập Ẩn Dật của Vinh Hồ)


Việc Làm Tốt Đẹp Cho Đời

 

Thứ Hai rồi lại Thứ Ba
Thứ Năm Thứ Sáu trôi qua một Tuần
Trần gian tạo hóa xoay vần
Thời gian như thể mây tan trên trời
Đến đi một cuộc rong chơi
Ta mong để lại cho đời hương hoa
Đường trần rong ruổi bôn ba
Duyên sanh duyên diệt như là phù vân
Việc làm tốt đẹp xa gần
Ta nên ưu ái giúp công cho đời
Dù ta trên nẻo đường trần
Hạnh phúc tìm đến chẳng gần chẳng xa
Dù thời gian có nhạt nhòa
Trong tâm ta vẫn chan hòa tình thương.


Hoàng Thục Uyên


Những Vì Sao Băng

Câu chuyện văn học

Paris là thủ đô ánh sáng, từ xa xưa đã được mệnh danh là cái nôi của văn hóa  thế giới, vì nơi đây ngoài sự quy tụ những tài năng của thế giới, trong viện bảo tàng quốc gia còn cất giữ những bộ sách, tranh , ảnh và những phẩm vật mang giá trị văn hóa của nhân loại. Một số viện bảo tàng Pháp trưng bày một số bộ sách Việt Nam đủ các thể loại, từ lịch sử, nghiên cứu, những sách về văn học nghệ thuật đến các tranh, ảnh, điêu khắc và  các loại đàn dân tộc.
Trong sinh hoạt văn học nghệ thuật ở Paris có rất nhiều giai thoại hay, nhưng ít được phổ biến.
Cách nay gần 40 năm, thuở đó sinh hoạt văn hóa văn nghệ của người Việt ở Paris nở rộ như vườn hoa muôn sắc, chẳng có tuần lễ nào mà không có những tổ chức lễ hội, trình diễn văn nghệ, hoặc ra mắt tác phẩm, tất cả những nơi tổ chức đều rất đông người tham dự.

Lãnh vực Truyền Thông:
Đài Radio Sài Gòn, do BS Trần Duy Tâm phụ trách. Ban biên tập: TS Trần Bình Tịnh, Nhạc sĩ Trần Văn Trạch, GS Nguyễn Vô Kỷ, Nhà văn Đỗ Bình. Nhà biên khảo Nguyễn Đức Tăng. Đài Radio Á Châu, do Nhà báo Tô Vũ phụ trách. Ban biên tập: GS Nguyễn Ngọc Chân, Nhà báo Nguyễn Thừa Thính. Và Đài Radio International của Pháp, Ban Việt ngữ do Nhà báo Bạch Thái Quốc Phụ trách: Ban biên tập Việt ngữ quy tụ nhiều phóng viên, ký giả giỏi nghề như KS Võ Long Triều, GS Nguyễn Vô Kỷ, GS Nguyễn Bảo Hưng, GS Quản Mỹ Lan, Nhà phê bình văn học Thụy Khuê, Nhạc sĩ Thanh Phương, (KS Võ Long Triều và GS Nguyễn Vô Kỷ chỉ làm một thời gian ngắn bị loại vì đưa quá nhiều tin tức chống cộng)….
Thuở đó báo chí Việt ngữ ở hải ngoại lên ngôi, nhất  là ở Mỹ, tuy nhiên ở Paris rất ít tờ báo Việt ngữ phát hành, vì thiếu người làm báo. (Làm nghề riêng, lấy tiền nuôi báo)
Báo chí:
Tạp chí Tự Do, tạp chí Quê Mẹ, tạp chí Văn Nghệ, Tạp chí Ngày Mới, tạp chí Đường Mới, tạp chí Chuyên đề : Định Hướng, tạp chí Vùng Dậy, tạp chí Văn Lang, tạp chí Diễn Đàn Người Việt, tạp, tạp chí Chiến Hữu, tạp chí Thông Luận, tạp chí Viễn Tượng, tạp chí Diễn Đàn, tạp chí Âu Du, tạp chí Lính, Đặc san Ái hữu Petrus Ký, Đặc san Ái hữu Gia Long Paris, Đặc san Lê Ngọc Hân & Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho, Báo Nhân Bản, Báo Ái Hữu, Báo Khánh Anh, báo Giáo xứ, Báo Y Sĩ, Báo Bạn Đường, Báo Ép Phê… Báo Pháp ngữ Nhân Quyền, nhật báo song ngữ Tin tức….
Người làm báo và ký giả:
 Người làm báo và viết báo không nhiều, đa số người viết báo là những nhà trí thức khoa bảng viết những bài biên khảo mang tính nghiên cứu về văn hóa. Những người làm phóng sự viết tin và viết chính luận cũng rất ít. Có thể kể tên những người nổi tiếng làm báo và viết báo:
Nhà báo và làm báo An Khê, Nhà báo và làm báo  Trần Văn Ân, Nhà báo và làm báo Phạm Việt Tuyền, nhà báo và làm báo Trần Tam Tiệp, Nhà báo và làm báo  Trần Văn Ngô, Nhà báo và làm báo Võ Văn Ái,  Nhà báo và làm báo Trần Trung Quân, Nhà báo Nguyễn Trần, Nhà báo Thế Huy, Nhà làm báo Hứa Vạng Thọ, Nhà báo và làm báo  Ngô Quốc Dũng, Nhà báo và làm báo Phạm Hữu, Nhà làm báo Đỗ Việt, Nhà báo và làm báo Từ Ngọc Lê, Nhà báo và làm báo Dương Văn Lợi, Nhà báo Phan Ngọc Khuê, Nhà báo Từ Thức, Nhà báo Bùi Tín, Nhà báo và làm báo Nguyễn Văn Huy, Nhà báo và làm báo Huỳnh Tâm, Nhà báo và làm báo Lê Trân, Nhà báo và làm báo Tô Vũ, Nhà báo và làm báo  Nguyễn Đình Nhân, nhà báo và làm báo Trần Minh( Luật gia Đoàn Trần Thiều), nhà báo và làm báo Kim Long, nhà báo và làm báo Lê Đình Điểu, nhà làm báo Phạm Xuân Hy, nhà làm báo, viết báo Thiên Ân (cựu Trung tướngTrần Văn Trung), nhà làm báo Nguyễn Vân Xuyên, nhà làm báo Hoàng Thụy Long, nhà làm báo Nguyễn Đưc Tăng,  nhà làm báo Đỗ Bình(tôi làm chủ bút tạp chí Vùng Dậy, chủ nhiệm là cựu Trung tướng Trần Văn Trung và nhà văn NguyễnVân Xuyên), nhà làm báo Phạm Văn Đức,  Nhà báo và làm báo Võ Long Triều, Linh mục làm báo Trần Thanh Giản, Nhà báo và làm báo Đặng Phương Nghi, Nhà báo Từ An, Nhà báo và làm báo Diễm Thy, Nhà báo và làm báo Ỷ Lan, Nhà báo Hà Lan Phương,  nhà báo Việt Dương Nhân, , Phương Mai, nhà báo Ca Dao…
*
Trong tinh thần văn hóa Việt dâng cao đó, có một người rất tài năng, nhưng thầm lặng vì bản tính khiêm nhường. Ông luôn sát cánh trong sinh hoạt văn hóa, báo chí với bằng hữu, đó là Dịch giả, nhà nhiên cứu Hán Nôm Phạm Xuân Hy, bút hiệu Bạch Phát Tú Tài.

Vài Nét về  Nhà nghiên cứu văn hóa Phạm Xuân Hy:

Dịch giả Phạm Xuân Hy sinh ở Bắc Việt, di cư vào Sài gòn năm 1954, sống ở khu Chợ Vườn Chuối, quận 3. Ông là cựu học sinh Chu Văn An , và Đại học Văn Khoa Sài gòn. Trước năm 1975 ở Sài gòn ông viết truyện ngắn liêu trai, và dịch những truyện ngôn tình của Trung Hoa sang Việt ngữ với bút danh Bạch Phát Tú tài.. Đa số truyện dịch của ông là truyện phổ thông của Trung Hoa qua ngôn ngữ Bạch văn, đọc là hiểu ngay, ông còn dịch những truyện ngắn mang tính Hàn lâm ngôn ngữ bác học nhiều điển tích và ẩn ý khó hiểu, các tác phẩm của ông được đăng trên các báo văn nghệ ở Sài Gòn và các tạp chí văn học ở hải ngoại sau này.
Trong suốt mấy chục năm ông sinh hoạt trong lãnh vực văn hóa, có mặt trong nhiều buổi hội luận về văn học, nhưng ông chưa hề phát biểu một câu. Ông thầm lặng như chiếc bóng trong đám đông. Tôi có hỏi ông: «Tại sao anh không phát biểu góp ý ? ». Ông chỉ cười nhẹ nhàng trả lời: «Các Cụ ấy nói hay quá, tôi đến để nghe và học hỏi thêm  những điều mình chưa biết.». Bạch Phát Tú Tài luôn luôn khiêm tốn, ngay cả cái bút danh của anh có nhiều người đã quên, hoặc chưa bao giờ nghe nhắc đến. Ở Paris có rất nhiều người như thế, rất tài năng nhưng họ chỉ muốn được thầm lặng để hòa đồng trong đám đông người đồng hương, để tìm cái không gian văn hóa của quê hương.

Trong sinh hoạt văn học nghệ thuật của CLB Văn Hóa VN Paris năm xưa, giáo, sư nữ sĩ Minh Châu Thái Hạc Oanh có lần phát biểu: «Một bài thơ được gọi là hay phải đạt được cả Ý lẫn Lời. Những cái đẹp của bài thơ có thể nhìn thấy được như : Niêm luật, ngôn ngữ, hình tượng hội họa, nhạc thơ trong thanh bằng trắc và tính nhạc trong thơ, nhưng đó chỉ là phần mỹ học ; Còn phần tư tưởng nằm trong tứ thơ, đây là phần để chúng ta  đánh giá về sự sâu sắc của một bài thơ.»
Nhà văn Hồ Trường An phát biểu: «Đọc một cuốn truyện ngoại ngữ, nếu chỉ để hiểu cốt truyện theo cảm xúc thì dễ, nhưng đọc để tìm ra những cái tinh hoa và tư tưởng ẩn trong truyện thì rất khó, người đọc phải chăm chú đọc kỹ hơn mới thấy được giá trị thực của tác phẩm.»
Nhà nghiên cứu văn hóa Hán Nôm Phạm Xuân Hy làm trong tạp chí Diễn Đàn Paris, phụ trách phát hành. Tờ báo quy tụ những khuôn mặt văn nghệ ở Paris như Nhà báo Lê Đình Điểu, họa sĩ Nguyễn Cầm, họa sĩ Lê Tài Điển, nhà thơ Đỗ Bình, nhà báo Từ Ngọc Lê, dịch giả Bạch Phát Tú Tài.. Tạp chí do nhà báo Lê Đình Điểu chủ trương thuần về văn học nghệ thuật.
Về Mặt Kiến Thức:
Dịch giả Phạm Xuân Hy là người uyên bác, kiến thức sâu rộng. Có thể nói ông là một trong số rất ít người Việt ở Paris giỏi chữ Nôm. Những vị khác ở Paris giỏi Chữ Nôm như: Giáo sư Đoàn Đức Nhân, ông là cựu giáo sư Đại học ở Hồng Kông, Đài Loan và Paris. Chính GS Nhân đã chỉ dạy thêm chữ Nôm cho Phạm Xuân Hy. Những người giỏi chữ Hán như GS Hoàng Xuân Hãn, GS Trần Văn Bảng, bút hiệu Bằng Vân, nhà thơ  Phượng Linh Đỗ Quang Trị, BS Nguyễn Đương Tịnh, bút hiệu Trúc Cư, Linh mục Đinh Đồng Thượng Sách, nhà văn Trần Đại Sỹ…
Có lần Học giả Trần Văn Tích ở Đức quốc, được chúng tôi mời sang Paris để thuyết trình về một đề tài văn hóa. BS Tích đã hết lời khen ngợi kiến thức sâu rộng và sự tìm tòi, nghiên cứu về chữ Nôm của dịch giả Phạm Xuân Hy. Một lần khác chúng tôi sinh hoạt CLB, đã mời giáo sư  Lê Hữu Mục, cựu giáo sư Hán Nôm của Đại học Văn Khoa Sài gòn trước năm 1975, đang định cư ở Canada qua Paris diễn thuyết về đề tài văn hóa, lần đó giáo sư Mục đã khen ngợi ông Phạm Xuân Hy là nhà văn hóa Việt. Khi chúng tôi thực hiện cuốn Những Khuôn Mặt Văn Hóa VN Hải Ngoại, dày 1500 trang, quy tụ hơn 400 nhà văn hóa Việt ở hải ngoại, chúng tôi có đến nhà của dịch giả Phạm Xuân Hy để mời góp tiểu sử và thành quả vào sách, nhưng ông đã khiêm nhường, từ chối. Ông nói :«Xin để số trang sách dành cho những người đã đóng góp tích cực cho văn hóa dân tộc hơn ông."

Vào mùa hè năm 2024 chúng tôi có tổ chức một buổi diễn thuyết về đề tài Chữ Nôm,  chúng tôi mời diễn giả là giáo sư Nguyễn Văn Sâm từ Cali sang. GS Sâm, giảng dạy về Hán Nôm, là cựu giáo sư của trường Đại học Văn Khoa Sài gòn trước năm 1975, và sau này ở hải ngoại.
Nhà văn hóa Phạm Xuân Hy dù sức khỏe kém nhưng vẫn đến tham dự. Để đáp lễ, chúng tôi gồm nhà biên khảo Nguyễn Đức Tăng, BS Nguyễn Bá Linh, giáo sư Nguyễn Văn Sâm và Tôi cùng đến nhà thăm nhà văn hóa Phạm Xuân Hy. GS Nguyễn Văn Sâm rất vui khi thấy hơn 100 bộ sách bằng Chữ Nôm. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau về chuyện văn học, riêng GS Sâm thì mải mê đọc sách. Đây là những bộ sách hiếm qúy của gia đình mà nhà văn hóa Phạm Xuân Hy khi rời Việt Nam mang theo và còn cất giữ. Có thể nói ở Paris, kể cả viện bảo tàng,  nhà của ông Phạm Xuân Hy có nhiều bộ sách chữ Nôm nhất.

Tôi lấy một cuốn sách trong tủ sách rồi yêu cầu nhà văn hóa Phạm Xuân hy đọc lớn và giải nghĩa cho chúng tôi nghe. Ông Hy cầm sách vaà đọc làu làu như đang diễn thuyết. GS Nguyễn Văn Sâm ngưng đọc sách và nói : « Chữ Nôm viết đã khó, còn đọc rõ ràng và nhanh như ông Hy lại càng khó hơn. Phải giỏi lắm mới được như thế. »
Những năm tháng cuối đời, nhà văn hóa Phạm Xuân Hy thường hay phôn nói chuyện với tôi, ông nhắc về nhà thơ Du Tử Lê, nhạc sĩ Vũ Thành An, nhà báo Lê Đình Điểu và những người bạn văn nghệ người còn người mất. Ông thích Du Tử Lê, Lê Đình Điểu vì những người này dù ở đỉnh danh vọng nhưng vẫn không quên ông là người bạn thời thanh xuân. Mỗi lần Du Tử Lê qua Paris ra mắt tác phẩm tôi đều giới thiệu tác phẩm của ông. Những lần đó Nhà thơ Du Tử Lê đều ở nhà Phạm Xuân Hy.
*
Paris đã vào xuân, tiết trời đang ấm áp bỗng dưng đổ lạnh, mưa, gió cả tuần làm Paris ướt sũng! Tôi thương cảm cho một bạn làm báo khi xưa nay tuổi già, mắt bị lòa sống trơ trọi một mình nơi một làng nhỏ ven biển ở Perpignan. Anh không còn nhìn thấy số để bấm điện thoại.
Một người bạn văn khác, ông có một thời vang bóng hải ngoại, nay sống một mình không người đồng hương trong viện dưỡng lão của một thành phố nhỏ thuộc miền Nam nước Pháp. Tôi gọi phôn thăm anh, anh cầm điện thoại, mãi 15 phút sau anh mới nói được! Tôi xúc động, một nhà phê bình văn học,  một triết gia, một diễn giả được mọi người sủng ái khắp nơi. Đã từng được mời đến Paris, Cali, và Úc diễn thuyết, nay ông mở miệng nói không ra lời! Sau khi lấy lại được tinh thần tôi hỏi ông :  «Anh bị đau cuống họng sao nói không được ?». Anh trả lời : Có đau gì đâu, lâu quá không nói chuyện nên quên nói !»  
Tôi hỏi : Anh nói tiếng Pháp rất giỏi, sao không nói chuyện với các người bạn Pháp ?»
Ông trả lời:« Họ già rồi, nói chuyện chán lắm, không hợp!"
Tôi im lặng, vì biết người bạn cao niên của tôi năm nay đã 94 tuổi không tìm được người đồng điệu. Cả đời ông đi tìm cho mình một triết thuyết, đó là Lẽ Đạo, nhưng,  có lẽ con đường đó còn xa lắm, nó chỉ hiện hữu trong tâm tư của ông.»
Ông hỏi đến vài người bạn văn ở Paris làm tôi bùi ngùi!
  • Những người yêu thơ văn, trân trọng với văn học nghệ thuật lần lượt ra đi làm cho không gian văn nghệ ngày càng nhạt màu sắc quê hương. Những tác phẩm văn học được trúng giải, những buổi triển lãm tranh, ảnh theo những chiếc cúp lịm vào thời gian. Những người nhạc sĩ lừng danh thời tiền chiến đã vào thiên cổ, những bàn tay lướt trên dương cầm tạo cho Paris  màu sắc quê hương, nay người mất, người còn, mười ngón tay trở nên lạc lõng, cứng vì thiếu vắng người tri âm. Những buổi diễn thuyết vẫn đông người nhưng không cần nói bằng tiếng Việt, vì người tham dự đã hòa điệu văn hóa người, hiểu tiếp Pháp hơn tiếng Việt. Thời huy hoàng văn nghệ đã tắt như ánh sao băng, cho dù mảnh tinh tú vĩ đại đó có to lớn nhưng vẫn chẳng để lại trên vòm trời vệt sáng mờ !
Mới hôm nào BS Hoàng Cơ Lân giã từ cõi đời về nơi an lạc, nay nhà văn hóa Phạm Xuân Hy cũng bỏ chốn văn chương trần thế, hồn bay về tìm sự an bình nơi nước Chúa.
Xin cầu chúc hương hồn những người đã khuất được trọn đời an nghỉ, và những người còn tại thế một sự bình an.
Đỗ Bình
19.05.2026

Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2026

Tôi Biết

 

Tôi biết người ta cố quên tôi
Ước thề chỉ để thoảng đầu môi
Gặp tôi người cứ ne né vội
Như sợ chạnh buồn phía xa xôi

Tôi đã dằn lòng phải thế thôi
Người ta giờ đã khác xa rồi
Chữ tình khéo bẻ thành trăm lối
Dụ khách say tình, lén chuốc vôi.

Tôi sẽ về thăm lại lần thôi
Để nghe gió lạnh thốc mé hồi
Để xem u uẩn chiều loang lối
Để ngó mây trời lững lững trôi.

Hà Nội, ngày 06 tháng 03-2024
Đặng Xuân Xuyến


Ngũ Ngôn Tường Vi

  

những ngọn cây. ven rừng
đợi bình minh. thức giấc
bầy chim xa dừng chân
báo tin vui trở lại

hường ơi. đã sớm mai

em hái bông tường vi
trong vườn cây đợi nắng
thoảng hương trà vũ di
từ một câu thơ cổ

những câu thơ anh viết
dài theo đường chim bay
cũng là bông tường vi
sáng nào em đã hái

sáng nào em đã hái
bông tường vi màu xanh

có ửng đường vân đỏ
có tím pha lời chim
xanh là xanh chờ đợi
đỏ là vết dao sâu
tím với sầu nuối tiếc
sao thời gian qua mau
sao thời gian không ở
em hái bông tường vi
tưởng rằng sẽ cất giữ
thơ anh và xuân thì
tưởng rằng sẽ cất giữ
tường vi đâu. xuân thì...

nhặt trái thông khô

Anh trở lại đồi cao
nhặt trái thông. trong nắng
tưởng bài thơ buổi nào
bỗng. đầu cành. chín. rụng
trái thông. trái thông khô
bằn bặt ngọn lửa nhỏ
của một ngày. hồng trăng

đã về. dốc sương mù
đã về. cây hoàng hôn
tiếng gà trưa vẫn gáy
bông phù dung. trong vườn

em. và bầy chim én
vẫn bay. trên phố xưa
những mái nâu. cao. thấp
quán sách. hương cà phê

anh đi trên mái nhà
anh đi. lá thông khô
đã đầy trong màu nắng
anh chết tự bao giờ
mà hồn bay vàng phố
mà về theo gió đưa
dấu chân in lá cỏ
của những mùa hè qua

anh chết. hồn dã quỳ

chắc bây giờ thấy nhớ
và như là bao giờ
anh nhặt trái thông khô
bàn tay khum ngọn lửa
tiếng gà. tiếng gà trưa
thế kỷ tàn. tàn. rụng
anh về. tiếng gà trưa

Nguyễn Xuân Thiệp

Hoa Trăng

 

Sonate Ánh-Trăng/Bee-tho-ven nhỏ giot
Trên bàn tay anh lạnh ngắt lúc đêm tàn
Em mộng mị tóc vùi trong sương đọng
Chờ rạng đông bừng dậy đón ngày sang

Giọt thanh âm thấm sâu hồn cô phụ
Cho tinh yêu nở tựa đoá hoa xuân
Mỗi đứa ở một chân trời vũ trụ
Buồn hay vui theo nhip sống thăng trầm

Lớp màn bạc trải đều lên vạn vật
Trên hàng cây liễu rủ tóc buông lơi
Từng sợi nhỏ vấn vương cài nét mặt
Gió mơn man xoa triền má rạng ngời

Khi hờn giận ẩn sau tầng mây xám
Lúc hân hoan ló mặt giữa trời xanh
Em chập chờn như hoàng hôn ảm đạm
Hồn đan nhau thưa thớt cũng thôi đành

Dấu hạnh phúc chưa đủ đầy biểu hiện
Đóa hoa qùynh còn ủ nụ tươi non
Anh đứng dưới trăng ngà đêm diễm tuyệt
Đợi bao giờ hoa tỏa ngát hương thơm

Kiếp tha phương nhớ nhung về quá khứ
Thuở học trò mơ ước mộng phiêu du
Mong chắp cánh quay về nơi chốn cũ
Tìm dấu yêu vẫn biền biệt xa mù.

Chinh/Hồng Nguyên_H.N.T 
 Apr.20.26 (720)
(xem them:KHUC NHAC ANH TRANG, #297,2018)

Diễu Hành Hay Diễn Hành? - Đỗ Văn Phúc

 

Diễu hành hay Diễn hành?

Từ rất lâu, nhiều vị cho rằng chữ Diễu Hành, Diễu Binh là chữ của VC, vì chỉ thấy do người miền Bắc sử dụng, còn ở miền Nam phải là Diễn Hành, Diễn Binh. Chúng tôi cũng từng có phản ứng khó chịu khi lần đầu thấy những chữ Diễu Binh. Diễu Hành này.

Trước khi đi vào phân tích, chúng tôi xin nói sơ về vài chữ có liên quan:

Duyệt binh,閱兵, hay duyệt hàng quân (review the troops), là hành vi của cấp chí huy đi duyệt qua hàng quân đang đứng nghiêm chỉnh theo đội hình. Duyệt hàng quân có thể đi xe hay đi bộ; tùy theo mức độ đông hay ít, lớn hay nhỏ, Ví dụ trong buổi lễ Quốc Khánh của VNCH trước đây, các đơn vị quân đội sắp hàng tề chỉnh ở vị trí ấn định dọc Đại Lộ Cường Để, Thống Nhất. Buổi lễ bắt đầu bằng cuộc duyệt binh; vị nguyên thủ quốc gia sẽ cùng vị tướng chỉ huy buổi lễ đứng trên xe mui trần chạy chậm dọc theo hàng quân rồi mới trở về an vị ở khán đài. Trong những lần tiếp đón quốc khách, vị chủ nhà cùng ngang cấp sẽ đứng ở chân cầu thang máy bay, đón vị quốc khách rồi cùng bước theo vị chỉ huy quân lễ, duyệt hàng cờ và đội quân danh dự dàn chào.

Diễn hành 演 行 (parade): là hành vi của nhiều đoàn người tuần tự đi trên đường với mục đích biểu dương hay vui chơi. Diễn hành có thể trong cuộc lễ hội như diễn hàng Mardi Gras ở New Orlean, Carnival ở Sao Paulo, Brazil, Văn Hóa Á Châu ở New York; Rose Parade ở Pasadena, California. 

Diễn binh   (military parade): Nhưng khi cuộc diễn hành do những đoàn quân, thì được gọi là Diễn Binh nhằm mục đích phô trương lực lượng.

Trong tự điển Việt Nam trước đây có cả chữ Diễn Binh và Diễu Binh.

DIỄU: Chữ Diễu  này thấy trong Tự điển của Linh mục Antôn Trần Văn Kiệm nghĩa là lượn một vòng, đi diễu phố, diễu hành, diễu binh; và Diễu (𠰉𠴕có nghĩa diễu cợtHán Việt Tự Điển của ông Huỳnh Minh Xuân trang 211, do cơ sở Đại Nam xuất bản từ thời VNCH định nghĩa: Chạy chung quanh: Sự diễu đàn, diễu phố, diễu binh.  

DIỄU: Trong Việt Nam Tự Điển của Lê Ngọc Trụ, ở trang 373 có chữ Diễu định nghĩa là: Rễulượn quanh, qua lại, đi nhởn nhơ. Chạy diễu. Chữ Diễu Binh được định nghĩa là “Diễn binh, điều khiển binh lính mang súng đi biểu diễn (ví dụ: Đi coi diễu binh).”

Như thế, ông Lê Ngọc Trụ đã đồng nghĩa chữ Diễu Binh và Diễn Binh (Động từ: Diễn binh, điều khiển binh lính mang súng đi biểu diễn. Đồng thời ở trang 371 có chữ Diễn Binh với định nghĩa phô bày lực lượng binh bị và vũ khí trong một cuộc lễ.

DIỄU : Chạy xung quanh, Sự diễu đàn, diễu quân (Tự Điển Việt Nam của Tín Đức Thư Xã, trang 153).

Như thế, có thể xác định rằng chữ Diễu không chỉ giới hạn trong nghĩa đi vòng vòng vui chơi, mà còn có thể dùng trong trường hợp Diễu Binh. Diễu Binh, Diễu Hành, hay Diễn Binh, Diễn Hành đều có thể sử dụng, tùy theo ý thích và thói quen.

Khách quan mà nói, khi nghe chữ Diễu, ai cũng nghĩ rằng nó là sự đùa cợt (theo Tự Điển Tín Đức trang 221), không mang tính chất nghiêm trang. Vì thế, chúng tôi đề nghị dùng chữ Diễn Binh cho trang trọng. Còn ai sính dùng chữ diễu binh, diễu hành, thì nên tôi trọng sự lựa chọn của họ, vì hai chữ này cũng không sai.

Đã có thời người ta ngại dùng các chữ ‘giải phóng, cải tạo...’ Bài hát “Cờ bay” trong đó có câu “Quảng Trị ơi, chào quê hương giải phóng đã bị đồi lời thành “chào quê hương đổi mới...” Rồi hiện nay, ở hải ngoại người ta cũng tự ý sửa câu đầu của bài Quốc ca, từ “Này công dân ơi, quốc gia đến ngày giải phóng” thành “này công dân ơn, đứng lên đáp lời sông núi.” Theo chúng tôi, cả hai trường hợp đều sai. Không ai có quyền sửa lời ca của một nhạc sĩ, và càng không thể sửa lời bài quốc ca mà Hiến Pháp đã ấn định, từng được sử dụng chính thức trong hơn hai thập niên ở miền Nam.

Cũng như gần đây, khi tôi dùng hai chữ ĐỒNG CHÍ khi nói về một người bạn cùng hoạt động chính trị, đã có một anh bạn mỉa mai rằng tôi cũng dùng chữ VC. Nếu cứ né tránh những chữ VC đang sử dụng, thì e rằng chúng ta không còn chữ nào để viết và nói với nhau. Chúng ta chỉ tránh những chữ mà VC dùng sai nghĩa hay cắt xén, lắp ghép bừa bãi để khó nghe mà thôi. Chữ của cha ông, không riêng gì của VC hay VNCH. Tùy trình độ và quan điểm mà mỗi bên dùng khác nhau, Chúng ta nên khách quan, sáng suốt. cứ mạnh dạn dùng theo cách chúng ta. Vì không phải chữ nào bên VC dùng thì chúng ta né đi. Riết rồi chúng ta còn chữ nào mà nói, viết nữa. 

Sơ Tán, Di Tản

Tán:   Tán, là giãn ra, như vân tán (mây tan), tán muộn (giải buồn). Một âm khác của   còn đọc là Tản có nghĩa rời rạc  (tản mác). Khác với Tán  có nghĩa là tụ lại.

:  là mới, là trước. Cái gì xảy ra lúc ban đầu đều gọi là sơ (sơ giao là mới quen, sơ khởi là mới bắt đầu, sơ học là học ở bước khởi đầu).

Di là dời,  cũng là di, dời đi, chuyển đi.

Tán hay Tản thì cũng từ một chữ Hán, có cùng một nghĩa. Với các định nghĩa từng chữ như trên, chúng ta có thể nói 

Di Tản  : là hành vi phân tán và di chuyển đi nơi khác. 

Ví dụ: Hàng ngàn dân quê phải di tản ra khỏi vùng chiến sự

Di tản chỉ mang tính chất tạm thời; nếu ra đi vĩnh viễn thì gọi là di cư 移居. Nhưng trong cuộc chiến Việt Nam, ở nhiều vùng dân chúng di tản từ vùng nông thôn đến các thị xã và coi như không mong có ngày trở về.

Sơ Tán   là hành vi phân tán ban đầu khi có biến cố xảy ra. 

Ví dụ: để tránh thiệt hại nhân mạng trong các cuộc không kích của Mỹ, dân chúng Hà Nội phải sơ tán ra các vùng ngoại ô

Những cuộc di chuyển xảy ra về sau không thể gọi là sơ tán nữa.

Có người thắc mắc về hai chữ “di dời, vụ việc;” đã di còn thêm dời, đã vụ lại còn thêm việc? Như thế có phải thừa không!

Những cách ghép chữ cho câu nói nghe xuôi tai cũng không có gì lạ. Những chữ ghép bởi hai chữ cùng nghĩa hay một chữ có nghĩa, một chữ không nghĩa; hoặc một chữ gốc Hán, một thuần Việt, là để cho câu văn không bị thô thiển, nghe êm tai theo vần điệu, miễn không sai nghĩa hay kỳ quặc như mấy chữ cặp đôi, cụm từ.... Những chữ chúng ta thường nghe: tĩnh lặng, buồn rầu, đùa cợt, in ấn, bến cảng, che đậy, chen lấn, xô đẩy, thúc dục, ca hát, phẫn nộ, ... Nhiều lắm.

Còn hai chữ Vụ Việc thì có khác nhau đấy. Một vụ nói đến cách bao quát, việc chỉ một hành vi. Vụ giết người có nhiều yếu tố từ âm , dàn dựng, rình mò, theo dõi, hành vi giết, phi tang, tẩu thoát...  nhưng việc giết người chỉ là một hành vi dùng vũ khí hay tay không để làm chết người. Người ta nói: một vụ án thì trong đó có nhiều tình tiết; điều tra một vụ tham nhũng trong đó có việc sưu tầm tài liệu, hỏi cung, kết luận... 

Đỗ Văn Phúc

Viết Về Mẹ


Quê ngoại tôi ở Ninh Bình.Ông bà ngoại tôi được ba người con:người con gái lớn tên Kinh,chúng tôi gọi là bá,lập gia đình sớm,rồi theo chồng vào Nam.Bà mất năm 1947 tại Saigon.Người con thứ hai là bác Sử,cùng học trường Bưởi với cha tôi.Mẹ tôi tên Truyện,là con gái út.Tôi thường thắc mắc,tại sao mẹ tôi không có một cái tên đẹp,nhưng khi xếp tên ba người,KINH,SỬ,TRUYỆN,là tên các sách mà sĩ tử ngày xưa phải học để đi thi,thì tôi hiểu ngay dụng ý của ông ngoại: cụ muốn các con theo đòi nghiên bút.Không may,ông tôi mất sớm,bà tôi bệnh,nên bác Sử,dù rất giỏi,đành phải đi làm sau khi học xong trung học.Bác ở lại ngoài Bắc,có vào thăm cha mẹ tôi sau 1975,và qua đời năm 1988.Bá và mẹ tôi thời đó chỉ được học tới khi đọc thông,viết thạo,là phải nghỉ để lo việc nhà.

Mẹ tôi chịu khó đọc sách,thơ,văn,ca dao,bà thuộc rất nhiều.Bà ru tôi bằng Kiều, Chinh Phụ Ngâm,Cung Oán,bằng những bài thơ mà hơn 60 năm sau,tôi còn nhớ:

Đêm khuya,ta ngủ trong màn,
Vẳng nghe tiếng muỗi kêu vang phía ngoài,
Khiến ta nhức óc vang tai,
Mẹ ta ngồi cạnh,thở dài bảo ta:
Như con có mẹ có cha,
Có anh có chị sướng là bao nhiêu,
Đêm đêm con ngủ màn điều,
Ngày ngày đi học,chiều chiều đi chơi...
Ngoài kia bao trẻ mồ côi,
Không cha, không mẹ, không người nào thương,
Ngày đi vơ vẩn trên đường,
Tối về gối đất nằm sương đầu hè,
Mùa đông,chẳng có gì che,
Mùa thu đã vậy,mùa hè làm sao?

Sang ngang nhớ lại chuyến đò,
Năm xưa,một cậu học trò sang sông,
Ngây thơ sợ cả má hồng,
Biết nay cô lái có chồng hay chưa,
Bây giờ cậu bé năm xưa,
Qua con đò cũ,lại mơ một người.

Tôi là người đọc sách khá nhiều, mà bài trước, tôi chưa từng thấy; Bài sau,mẹ tôi nói là của Nguyễn Bính nhưng trong những tuyển tập của tác giả này,tôi cũng không tìm được.
Những nỗi vất vả,sự hy sinh của mẹ tôi trong thời kháng chiến và lúc mới di cư vào Nam,tôi đã có dịp nhắc đến trong bài “Tâm Sự”đăng trên Tập San Y Sĩ,số 132,tháng 8,năm 1996.
Khi xẩy đàn tan nghé năm 1975,cha mẹ tôi kẹt lại,tôi một mình chạy thoát từ Cần Thơ,và định cư ở Montreal.Ngày đó,tôi nghĩ rằng không còn dịp gặp lại cha mẹ,nhưng tình thế đổi thay,tôi đã đón được các người qua đây năm 1982.Lúc đó,tôi đã lập gia đình,con trai tôi gần 3 tuổi,con gái chừng 3 tháng,và mẹ tôi vừa tròn 70.Mẹ tôi có cháu ngoại từ năm 1954,lúc di cư vào Nam,khi bà mới 42 tuổi,và bây giờ,tổng cộng 6 đúa.Tụi nó đã lớn,một số có giá đình,lại ở xa,bên quận Cam,nên tình thương của bà bây giờ dồn hết cho mấy đứa cháu còn nhỏ.

Con gái tôi lúc đó chưa biết gì,nhưng thằng con trai yêu bà đến độ có khi theo về ở luôn với bà cả tháng trời,khổng nhớ gì tới cha mẹ cả!
Cha mẹ tôi ở gần nhà thương nơi tôi làm việc,khi nào rảnh là tôi tạt qua thăm, gặp bữa thì cùng dùng cơm,không thì ngồi uống trà,nghe kể chuyện dĩ vãng.
Chiều thứ tư,khi xong phòng mạch,tôi tới dùng cơm tối với song thân.Thứ bẩy,
tôi dắt theo hai con đến ở với ông bà cả ngày.Nhà tôi thì chạy tới chạy lui không có giờ giấc.Từ hơn 20 năm nay,tôi chưa hề thay đổi thói quen đó. Trong tuần,mẹ tôi lo mua sắm lỉnh kỉnh để làm những món ăn ngon cho cháu.
Đó là lẽ sống của mẹ tôi.Bà môn nao trông đợi ngày thứ bẩy.Khi đến,mẹ tôi đã đứng chờ ở cửa sổ,khi đi,mẹ tôi lại đứng ở cửa sổ trông theo. Mỗi khi thấy bóng dáng gầy gò,nhỏ bé của mẹ sau cửa kính,tôi lại nhớ tới câu
Chinh phụ ngâm mà bà ru tôi ngày xưa “lòng lão thân buồn khi tựa cửa “.Có thể lúc đó,mẹ tôi buồn,nhưng tôi thấy mình tràn trề hạnh phúc.

Thời gian êm đềm trôi,và các em tôi lập gia đình.Mỗi lần thêm một đứa cháu, mẹ tôi lại vui mừng hớn hở,dù bà mỗi năm một già đi.Tóc bà trắng như tuyết và rụng rất nhiều.Mẹ tôi không có bệnh gì nặng,chỉ bị arthrite,arthrose,các ngón tay biến dạng,mấy cục sạn trong túi mật,họa hoằn lên cơn đau vài ngày,và
hay ợ chua,nhưng với losec và domperidone,bà không thấy khó chịu nữa.Tai bà còn thính,mắt trái rất tốt sau khi mổ cườm,nhưng mắt phải thì hầu như bị hư hẳn,vì sau khi mổ cườm và ghép giác mạc không thành công.Nhưng chỉ cần mắt trái,bà vẫn đọc sách báo và xem truyền hình được..

Hồi cuối tháng 7 năm 2003,mẹ tôi bị một crise de goutte,phải vào nhà thương ba tuần.Nhân dịp này,tôi đã làm đủ các thử nghiệm cho bà,tất cả đều tốt như những lần trước.Được xuất viện thượng tuần tháng 8,bà phải đi marchette vì chân yếu.Lúc đó,thành phố sửa đường,không cho xe chạy,tôi phải đậu cách nhà 200 thước,rồi dìu mẹ đi.Thấy bà vất vả,tôi cõng bà cho tiện.Tính tôi vốn hoạt kê,vừa cõng mẹ vừa đùa:”Vân Tiên cõng mẹ trở vô,đụng phải cái bồ,cõng mẹ trở ra”.Lúc đó mẹ tôi rất vui,cười tươi như hoa.
Nhưng từ đó,hình như mẹ tôi yếu dần: bà ăn ít hơn,nằm nhiều,bớt hoạt động,và vẫn rên như thường lệ.Mẹ tôi vốn hay rên từ mấy chục năm nay,hỏi tại sao,thì bà nói nhức đầu,hoặc đau răng,nhưng thường thường thì bà cười:”Mợ không sao cả,rên như vậy,thấy dễ chịu “.Tôi hay cằn nhằn: Lúc nào mợ cũng rên thì làm sao con biết mợ bệnh hay không bệnh “.Mẹ tôi chỉ cười!

Ngày 22 tháng 10 năm 2003,mẹ tôi bị ngã,rách da đầu,phải vào nhà thương, chụp hình đầu và may da.Lúc đó,bà sốt tới 39 độ C,bị septicemie,bắt nguồn từ nhiễm trùng đường tiểu,và hơi thiếu máu,có lẽ vì vậy mà bà yếu và bị ngã.
Từ một bệnh tầm thường đó mà phát sinh ra bao nhiêu thứ biến chứng:Chữa septicemie bằng trụ sinh —>Clostridium Difficile.Flagyl không hiệu quả,dùng Vancomycine —>Suy thận.Vì có nước biển,mà suy thận,không thải đủ nước,tim chịu không nổi —>Oedeme aigu du poumon. Bớt nước,cho thuốc lợi tiểu,mẹ tôi yên được mấy hôm thì lại bị Sưng phổi,bronchospasme,bác sĩ chuyên môn lại cho trụ sinh và Solumedrol.Trụ sinh làm mẹ tôi bị lại C. Difficile,Solumedrol giữ nước và làm đường trong máu lên cao,phải dùng Insuline..Chẳng qua mẹ tôi lớn tuổi,không có sức đề kháng,nên mới sinh ra nhiều biến chứng như vậy.

Trong thời gian mẹ tôi nằm bệnh viện,anh chị em chúng tôi chia nhau,khi tới bữa thì vào cho bà ăn uống.Ai cũng cố ép bà ăn nhiều,nên mẹ tôi hay cằn nhằn:” Các con nhồi mợ như nhồi vịt “Tôi cười: “ Thì ngày xưa,mợ cũng nhồi tụi con và mấy đưa nhỏ vậy “
Cha tôi vào thăm mẹ tôi hàng ngày,bằng taxi,vì không muốn phiền con cái.Vì sợ ông yếu sức,bị ngã gẫy chân,hay bị cảm,chúng tôi hết sức can ngăn,nhưng ông nhất định không nghe.Ông rơm rớm nước mắt:Các con đừng cản cậu nữa.
Cậu ở nhà thì cũng chỉ ngồi không,thà vào đây ngồi với mợ.”.
Các thân hữu đến thăm mẹ tôi rất đông.Trong số này,có người mẹ tôi quen,có người bà không biết, nhưng ai cũng đem lại cho bà những giờ phút vui tươi thoải mái.

Rồi mẹ tôi càng ngày càng yếu,càng tiều tuỵ, dù bà rất tỉnh táo, minh mẫn. Chúng tôi bắt đầu thay nhau ở lại ban đêm với bà.Chị thứ hai của tôi vất vả nhất,vừa thăm nuôi mẹ,vừa lo cơm nước cho cha,chị như con thoi, không lúc nào ngưng nghỉ.Chị cả của tôi,từ Californie qua giúp các em. Chị vốn là người vui vẻ,hoạt bát,nhưng vì anh rể tôi mới qua đời hơn hai tháng,chị còn thất thần,cả ngày không nói một câu,ra vào như chiếc bóng.Em trai út của tôi,ở Ottawa,cuối tuần nào cũng về thăm mẹ,túc trực bên giường.Ngày 27 tháng 12 năm 2003, đường trơn,đóng đá,nó bị ngã, gẫy cả hai mắt cá chân trái, phải mổ,đóng 6,7 cái đinh, rồi bó bột đi nạng.

Đứa em trai kế tôi,lấy vợ hơi trễ,một nách 3 đứa con nhỏ,đi làm cách nhà 80 cây số,nhưng lúc nào rảnh là mò vào nhà thương thăm mẹ.
Trong số anh chị em,tôi là người ít công trạng nhất,vì tôi làm việc tại nhà thương không phải chạy tới chạy lui,lại may mắn được gặp mẹ tôi rất thường.Cứ lúc nào rảnh là tôi lên ngồi với bà,vừa theo dõi bệnh tình,vừa quan sát những thay đổi..
Chúng tôi thường cắt,chải tóc cho mẹ,bóp tay chân cho bà đỡ mỏi,thoa kem cho mềm da,hoặc làm manicure.Mẹ tôi có vẻ thích những sự săn sóc nho nhỏ này.Cầm tay mẹ,tôi mới để ý thấy những ngón tay của bà bị méo mó,lệch lạc một cách thảm hại,chứng tích của cả một đời vất vả vì chồng,con và cháu.
Ngay lúc bệnh hoạn như vậy,mà cứ mở mắt là mẹ tôi hỏi:”Cậu đâu?cậu và các con ăn uống gì chưa? Mợ mệt quá, không làm gì được “Thì ra việc lo lắng cho chồng con lúc nào cũng canh cánh trong lòng mẹ.

Ngày xưa,mẹ tôi rất sùng đạo Phật.Vì cha tôi chỉ thờ tổ tiên,nên từ khi lập gia đình,mẹ tôi ít hay hầu như không có dịp đi chùa.Trong thời gian nằm bệnh viện, ngày nào mẹ tôi cũng tụng khinh “Thiên Trúc độ giang nhân” là những câu kinh mà từ hơn 70 năm,bà không đọc lại.Phòng bệnh tối lờ mờ,tiếng kinh buồn thảm thiết,tôi nghe thấy não lòng và linh cảm tới chuyện không may.

Từ 20 tháng 01 năm 2004,mẹ tôi càng ngày càng yếu,càng tiều tụy,không ăn uống được nữa,chỉ thoi thóp nhờ chút nước biển.Ngày 22tháng 01 năm 2004, lúc 6 giờ 45 sáng,mẹ tôi trút hơi thở cuối cùng.Hôm đó là mùng một Tết Giáp Thân,mẹ tôi được 93 tuổi ta.

Mẹ tôi đi an lành như người ngủ say.Cô y tá nhờ tôi gỡ catheter veineux central ở cổ mẹ tôi.Đáng nhẽ cô không nên nhờ tôi làm việc này.Mắt nhoà lệ,tôi loay hoay mãi mới cắt được mấy mối chỉ:tôi cố làm thật nhẹ nhàng,cẩn thận,vì da mẹ còn ấm và mềm,tôi sợ mẹ còn biết đau.
Nhờ sự chỉ dẫn và giúp đỡ tận tình của các bạn,tang lễ của mẹ tôi được cử hành rất chu đáo và trọng thể.Tôi khóc thật nhiều,nhất là lúc đóng linh cữu và lúc chị tôi cùng tôi nhấn nút để bật lửa lò hỏa thiêu.
Mất mẹ thì ai chả đau.Trong lòng mỗi đứa con đều có một khoảng trống không sao lấp đầy được.Tôi khóc nhiều chỉ vì quá yếu đuối và nhậy cảm.Thật ra thì tôi còn may mắn hơn nhiều người,ngoài 60 tuổi mới mất mẹ,nhưng hình như càng ở lâu với mẹ,thì sự mất mát càng lớn.

Bây giờ,gần đến thất trai tuần của mẹ ,tôi đã đi làm lại.Mỗi khi đi qua phòng 244 là nơi mẹ tôi đã nằm trong mấy tháng qua,tôi không sao nén được xúc động.Tôi nhìn vào phòng,mường tượng như mẹ còn nằm đó,và nước mắt trào ra.
Mỗi khi về thăm cha,tôi không còn thấy bóng dáng thân yêu của mẹ đứng chờ sau cửa kính.
Mẹ ơi,đây là bài thơ con làm riêng để dâng lên mẹ:

Mẹ ra đi thanh thản,
Tựa như người ngủ say,
Chúng con lòng nổi sóng,
Mẹ ơi,mẹ có hay.

Ôi cả đời lưu lạc,
Như một áng phù vân,
Nay mẹ về cõi Phật,
Rũ sạch hết bụi trần.

Mẹ đi rồi,đi thật,
Con vẫn tưởng như mơ,
Từ nay còn đâu nữa,
Người tựa cửa mong chờ.

Đây là hình tang lễ,
Con không dám mở coi,
Vết thương còn rỉ máu,
Con nhớ mẹ,mẹ ơi.

Tháng 3, năm 2004.
Nguyễn Thanh Bình.

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2026

Đêm Tự Sự



Đêm vẫn còn mơ chiếc áo thầy
Nhớ thời bọn trẻ đứng quanh vây
"Thầy ơi" tiếng gọi nghe êm quá
"Nghiệp giáo" xa rời vận đổi xoay
Phấn trắng bảng đen chưa vẹn chữ
Nghề thanh đời bạc nghĩa chưa đầy
Hoàng hôn dần đến còn chi nữa
Tâm trí tàn phai với dáng gầy

Dáng gầy ấp ủ nỗi riêng tây
Thao thức bao đêm kỷ niệm nầy
Cửa Khổng đã rồi khoa bút mực
Sân Trình đâu nữa hội rồng mây
Ngôi trường thuở trước in tâm trí
Bục giảng năm nao bặt bóng thầy
Cuộc sống êm đềm sao vội tắt
Trăng tàn chênh chếch đẫm sương rây

Quên Đi


Ngày Lạnh Ngồi Thiền

 

Hôm nay trời lạnh cắt da
Nơi miền nằng ấm tưởng là độ cao
Nào ngờ mưa xuống ào ào
Rồi thành hoá đá ai nào có hay
Ngồi nhà nên thể bó tay
Chẳng đi đâu được bèn lay hoay hoài
Thôi thì đâu bị mệt nhoài
Như khi đá bóng ở ngoài sân chơi
Niệm thiền ta học cách ngồi
Tĩnh yên trong dạ bồi hồi làm chi
Âm thầm luyện tập từ bi
An lành ta khấn tâm tri nhẹ nhàng

1/25/26
Diệm Trân

Áo Mỏng Vai Gầy

 

Trò chơi chữ nghĩa mệt rồi
Muốn nằm ngủ giữa dòng đời đảo điên
Người xưa mỏi mắt tìm tiên
Mình nay lạc bước đến miền tuyết rơi

Bơ vơ lạ cảnh lạ người
Niềm đau nát mặt tiếng cười hiện sinh
Cũng chim én nhỏ xinh xinh
Cũng loài se sẻ quê mình không vui

Cũng may còn tiếng con cười
Cũng may còn một góc trời tự do
Đêm đêm mơ tiếng gọi đò
Bâng khuâng giọng hát câu hò quê hương

Cò bay sông nước cải lương
Tháng năm lắng đọng nỗi buồn phù sa
Vịt con quanh quẩn ao nhà
Vì sao duyên thắm phải ra nỗi nầy

Tóc rơi áo mỏng vai gầy
Giật mình theo gió theo mây quê người…

MD 12/18/01
LuânTâm

Phong Ơi, Vĩnh Biệt!


Trong 26 năm biết nhau, thân nhau, tôi chỉ thấy bạn tôi (T. Rose-Marie) cười, nhất là cười mỉm. Không phải để khoe cái đồng tiền lúm má trong các buổi tiệc tùng, họp mặt bạn bè hay trong những lúc quay cuồng, lả lướt trên sàn nhảy vv Mà vì ‘’như thế vừa thân thiện, vừa để da mặt làm việc’’. Nhưng sáng thứ bảy qua, 16/5/2026, lần đầu tôi thấy bạn tôi khóc, hầu như trong suốt buổi lễ, lễ tiễn đưa Paul Viraphong NORINDR, vĩnh viễn ‘’ra đi’’ hôm khuya thứ năm 7/5 vừa qua. Paul, người cha của 3 đứa con cô bạn chúng tôi, người bạn thân của vợ chồng tôi, người bạn ‘’rất-thân’’ của tôi!

Paul là người Lào, lập gia đình với T. (Việt-Lào) năm 1978. Tôi gặp T. & Paul lần đầu trong một ‘’nhà-hàng-khiêu-vũ’’ (restaurant dansant) VN ở khu 13-Paris, đêm thứ bảy 8/9/2001.Tôi nhớ rõ ngày vì chiều đó chúng tôi làm ‘’surprise’’ con gái chúng tôi, bằng cách mời mấy người bạn của con đến nhà (ăn) mừng sinh nhật cháu. Để bọn trẻ tự nhiên, chúng tôi đi ăn ngoài, do nhà tôi và T. (mới quen không lâu) hẹn trước.

Trước 75, tôi có một vài người bạn ‘’Việt-kiều-hồi-hương’’ (Nam Vang hồi cư) nhưng đều là dân Marie-Curie, nên tôi không thấy khác biệt gì với mấy người bạn VN trường Tây. Sang Pháp, thời gian đầu ở một trung tâm tạm cư (centre d'hébergement provisoire /Limoges) người tị nạn, lần đầu, tôi quen được một số người Lào (6,7 gia đình), trong đó có một ‘’prince’’, dòng Souvanna Phouma(?), lớn hơn tôi 1 tuổi, cả hai vợ chồng học Y khoa Vạn Tượng, vượt biên sang Thái, rồi Pháp! Không biết có phải vì là ‘’prince’’ hay vì cá tánh, ‘’prince’’ rất ít nói. Hôm hai đứa đứng hút thuốc nói chuyện ngoài sân, ‘’prince’’ nghe tôi nói nhiều hơn. Về chuyến vượt biển khá ‘’êm xuôi’’ của tôi! Người tị nạn Lào, ở trung tâm tạm cư, có một số là Việt-Lào nhưng chỉ có một anh (bố Việt, mẹ Lào), tên Sinh, nói (kha khá) tiếng Việt. Anh Sinh bảo tôi : người Lào hiền lắm, .. ‘’bọn nó’’ không hại ai, thích chơi hơn làm. Làm đủ sống thì ngưng, đi chơi ‘’. Hiền như anh Đức, ‘’anh’’-bạn-Việt-Lào của tôi!

Quen với T.& Paul, tôi quen được nhiều người bạn Lào, Việt Lào (đa số). Họ rất thích nhảy đầm nên chúng tôi dễ thân nhau ! Nhờ họ mà tôi múa ‘’lamvong’’ y như người Lào! Người Việt Lào ‘’ngộ’’ lắm ! Người nào cũng nói giọng Bắc, mặc dầu nhiều người là Nam kỳ rặt ! Có lần tôi mang thắc mắc này hỏi một Bác người gốc miền tây, sống ở Lào nhưng bác và bác gái nói giọng ‘’Nam’’ thì Bác trả lời : ‘’Mấy cô giáo, thầy giáo tụi nó đều nói ‘’tiếng’’ Bắc Kỳ, nên tụi nó cũng vậy’’! Riêng Paul, tuy là người Lào nhưng hiểu tiếng Việt vì: bà vú anh là người Việt, bên vợ anh cũng nói tiếng Việt!

Paul và tôi có nhiều điểm giống nhau: tên Việt của Paul là Phong, hơi giống tên tôi, mỗi đứa có ‘’4 mắt’’, râu (mép), ‘’tạng’’ người xấp xỉ nhau (lúc đó Paul chưa ‘’phát tướng’’) và, nhất là, đều cùng tần số ‘’quậy’’! Sau khi đậu tú tài ở Lào (1972), Paul sang Pháp, trúng tuyển vào trường võ bị Saint-Cyr nhưng sau khi ra trường thì xin phục vụ trong ngành ‘’logistique’’ (tiếp vận?), vài năm sau đệ đơn ‘’xuất ..quân’’.

Tánh Paul, vốn dĩ đã ‘’carré’’, lại được quân đội ‘’huấn luyện’’, nên ‘’kỹ càng’’ hơn! Một số người cho là Paul ‘’khó tánh’’. Với tôi thì không, Paul rất dễ ‘’chơi’’. Một người ‘’đâu ra đó, đâu vào đó’’, thẳng tánh, muốn người đối xử với mình như mình đã đối xử với người, không phải là một người khó tánh. Mấy chục năm giao du, chúng tôi chưa một lần xích mích, dù không cùng quan điểm trên một vài vấn đề. Với Paul, lời nói phải đi đôi với việc làm ! Paul rất quý bạn và luôn hết lòng khi bạn cần đến. Nhưng cũng rất dễ ‘’sensible’’ (nhạy cảm ?) khi thấy bạn có vài cử chỉ, lời nói không quý trọng mình!

Paul có nhiều tài nhưng 3 ‘’nghề của chàng’’ là : vườn tược (‘’thiết kế’’), montage ‘’video’’ và …làm bếp!
Bà xã bận cửa tiệm nên Paul lo hết mọi chuyện trong nhà. Paul kể tôi nghe cái thời khóa biểu cuối tuần của hắn: đi chợ Tàu (quận 13), làm bếp, dọn dẹp, săn sóc vườn, ‘’ăn chơi’’. Hầu như không có cái week end nào hai vợ chồng ở nhà, trừ khi họ… mời bạn.

Trong phần phát biểu hôm tang lễ, con gái út của Paul nói: ‘’rất khó mà làm régime với papa vì ‘’ổng’’ làm đồ ăn ngon quá’’! Tôi xác nhận điều này! Tuy không phải là một người hảo ăn nhưng mỗi lần chàng mời, nhìn cái bàn ăn, lủ khủ các món ăn Lào ‘’technicolor’’ (lạp, sai-oua, tầm sụn, xôi trắng vv) là tôi đã thấy đói (dù sau đó chỉ nhơi nhơi )!

Tạo cảnh vật, cây cỏ trong vườn, vừa là cái tài vừa là đam mê của Paul. T. kể, nhiều đêm trong tuần, Paul lo uốn cây, tỉa lá vv cho đến 11, 12h khuya dù sáng phải dậy sớm đi làm. Khu vườn nhà Paul là một khu vườn-thành-phố có một không hai. Vườn nhỏ thôi nhưng nhiều ‘’hoa thơm, cỏ lạ’’ (tôi đếm gần cả trăm loại!!!), lại được Paul uốn cành, tỉa lá, tạo những hình thù theo ý hắn. Tôi chưa gặp được một khu vườn nào như thế : đông tây hài hòa! Có lần chúng tôi nhờ Paul cho ý kiến ‘’trang điểm’’ phía mặt vườn đối diện với phòng ăn, nhà-bếp nhà tôi, để ‘’ông chủ’’ được nhấp rượu, thưởng hoa. Thế là một sáng thứ bảy, đầu hè 2013, Paul điện thoại hỏi tôi có nhà không. Khi biết tôi có khách buổi trưa, hắn bảo ‘’không sao, mày cứ nói chuyện với khách, tao làm chuyện của tao’’. Khoảng vài tiếng sau (14h), hắn bấm chuông, mang vào vườn sau nhà tôi nào cây, nào hoa, nào cuốc, nào xẻng, rồi một mình lúi húi đào đất, trồng cây trong mấy tiếng đồng hồ: một cây ‘’dừa’’, một cây yucca, xung quanh là các cụm xanh xanh, hồng hồng mà hắn bảo là ‘’mua rẻ’’ ở Truffaut vv Trong mấy năm liền, mỗi lần sang tôi, chiều nào, ông bạn Bruxellois cũng đều ‘’khiếu nại’’ vài ly đỏ, để ‘’trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn / ly rượu trong tay ngắm cảnh vườn‘’ ! Cách đây mấy năm, một cơn gió lốc thổi gãy cây yucca ! Bây giờ chỉ còn cây dừa ‘’trơ gan cùng tuế nguyệt’’. ‘’Uống rượu nhớ kẻ trồng cây’’, mấy hôm nay, mỗi lần nhìn cây dừa, tôi nhớ bạn tôi da diết!

Tuyệt chiêu sau cùng của Paul là ‘’làm video’’. Với cặp mắt của một ‘’phó nhòm tài tử’’, lại thích ghi lại những kỷ niệm bè bạn, những thước video Paul làm, lúc nào cũng vui, cũng mang đến nụ cười, nên được bạn bè ưa thích. Nhớ, có lần, ghé nhà Paul bất ngờ, nhà-tôi nhờ hắn chụp vài ‘’bô’’ hình trong vườn. Xong xuôi, vừa nói chuyện với chúng tôi, vừa tay bấm lia lịa ‘’iphone’’, thỉnh thoảng ghé mắt xem, chỉ 20 phút sau, là Paul đã làm xong một cái ‘’video’’ độc đáo. Vì thế Paul rất được bạn bè ‘’chiếu cố’’. Phần vì hai vợ chồng vui tính, hòa đồng, phần vì chàng thích chụp hình, ‘’quay’’ film, nên lễ lộc nơi nào, cặp T. Paul cũng đứng đầu liste mời! Nhà – tôi và tôi thì khác, chúng tôi rất ngại các màn ‘’xuất hiện trước …công chúng’’. Chúng tôi không chơi ‘’phây-bút’’, không vào youtube. Khi chúng tôi mời T. Paul, bởi vì đó là bạn thân, lại chịu khó ‘’quậy’’: đùa giỡn, ca hát (T. hát rất hay), nhảy đầm, chịu ‘’cụng’’ vv . Thế thôi. Lễ hội ‘’đặc biệt’’ nào của chúng tôi, thế nào cũng phải có T. & Paul. Sinh nhật 5 bó, Ngân khánh, Ngọc-trai khánh, Giao thừa Tây, Tết ta, ‘’Tình hè rực rỡ’’, ‘’Salut les copains’’, Dạ vũ hóa trang vv Những ‘’chủ đề ăn chơi’’ chúng tôi đưa ra, lúc nào cũng có T. & Paul tham dự. Vui mà không có bạn thân thì làm sao vui trọn vẹn?

Lần đầu gặp (2001), nghe nói Paul mới qua một cơn ‘’thập tử nhất sinh’’, nên bây giờ chịu ‘’tận hưởng cuộc đời’’, chứ lúc trước ít chịu ra ngoài ! Đi đâu, chàng cũng ẳm theo máy chụp-hình-quay-phim. Ít lâu sau chiếc máy chụp hình cồng kềnh được thay bằng cái điện-thoại-chụp-hình-quay-phim, vật bất ly thân của chàng khi ra ngoài ! Nhất là từ khi ‘’thảy’’ được các ‘’phóng sự’’ của mình trên youtube (2009?). Sau đó, có một khoảng thời gian mấy năm chúng tôi không gặp nhau, khi Paul phải điều trị … ung thư! Khi hay tin dữ, tôi hằng cầu nguyện cho bạn tôi. Và bạn tôi đã qua khỏi. Để tiếp tục ‘’quậy’’ với bạn bè!

Lo cho vợ, cho con chưa đủ, gần một năm nay, chàng lại còn lo cho cháu nội, khi hai thằng bé, theo bố, về ở với ông bà. Paul bảo tôi ‘’lúc này, tao chỉ ở nhà lo cho cháu thôi, hết xí- quách rồi!’’. Nói vậy, chứ khi vào ‘’youtube’’ của chàng, tôi cũng thấy phim, ảnh mới đều đều !

Tháng 7 năm rồi, đến nhà tôi chơi cả ngày, khi mọi người về hết, chỉ còn T.- Paul và cô bạn C.V. Trong khi các bà hỏi thăm C.V. về ông xã V., một người bạn (rất ) thân của tôi, bị ‘’Alzheimer’’ mấy năm nay, ngày càng nặng, gia đình mới đưa vào ‘’dưỡng đường’’ ( Ehpad médicalisée ) vì không còn chăm sóc nổi, tôi và Paul ra sân sau, vừa nhâm nhi cognac, vừa nói chuyện đời! Lúc đó khuya lắm rồi (hơn1H sáng), khi nhắc đến V., xúc động quá, tôi cầm tay Paul, rơm rớm nói ‘’lúc mày bị ung thư, tao cũng buồn lắm!’’. Bạn tôi gật gù, không nói gì, chỉ vỗ nhẹ nhẹ lên bàn tay tôi, nói khẽ ‘’Tao biết. Tao biết. Thôi, chuyện đó qua rồi, đừng nhắc đến nữa! ‘’.

Tôi có rất nhiều bạn. Bạn Việt, bạn Tây, bạn Lào. Như các đẳng cấp trong nhu đạo, mức độ thân thuộc giữa bè bạn tôi và tôi cũng vậy. Từ bạn-biết ‘’đai trắng’’ (gặp nhau bắt tay, hỏi thăm vài câu), bạn-quen ‘’đai vàng’’, khá-quen ‘’đai cam’’ vv cho đến bạn-thân ‘’đai xanh’’, bạn-rất-thân ‘’đai nâu’’, tri kỷ ‘’đai đen’’ ! Nói về bạn (phương) Đông, bạn ‘’đai-đen’’ của tôi chỉ có hai ông : một ở Việt Nam (học chung từ tiểu học đến đại học vv) và một ở Bruxelles. Bạn ‘’đai nâu’’ có 3 : V.A., ở miền Tây (Pháp), ‘’lặn’’ từ 4 năm nay, do bị chứng nhức đầu trầm trọng, xin cho ‘’riêng một góc trời’’, V. bị ‘’Alzheimer’’, lần chót gặp nhau, là tháng 3/2024 (trong tang lễ một cô bạn), đi đâu cũng có người dìu, nghe tôi nói gì, hỏi gì, chỉ … cười, không biết có nhận ra tôi không ! Chỉ còn lại Paul.

Trong bài viết ‘’khóc Phạm đình Chương’’, ông Lô-Răng Phan Lạc Phúc có viết mấy câu mà tôi rất tâm đắc‘’ Ở cái tuổi mình, trên 60, cái ranh giới tử sinh thật là mờ ảo, ở đấy rồi đi đấy, còn đấy mà mất đấy. Thành ra ít lâu nay, tôi cứ phải làm một con tính trừ thê thảm. Mấy năm trước mất Thanh Nam, rồi Vũ Khắc Khoan, bây giờ Phạm Đình Chương – Hoài Bắc. Già thì càng cần có bạn, mà bạn già thì càng ngày càng thưa thớt ‘’. ‘’Mấy năm trước’’, ông Phúc chỉ mất có Thanh Nam, Vũ Khắc Khoan mà đã thấy ‘thê thảm’’ ! Trong khi tôi, ‘’mấy năm trước’’, mất Tiến, mất anh Phúc, anh Tân, rồi Long, rồi anh Đức …. Thu 2024, mất anh-‘’Tây’’-đai-nâu hàng xóm. Bây giờ là Paul, cũng người bạn ‘’đai nâu’’!

Ở tuổi này, mất một người bạn. Là xem như mất luôn! Làm sao tìm được một người mới để ‘’thay’’ vào, nói chi đến một người-bạn-mới-đai-nâu. Ở tuổi này?!!!!

Trong đám tang Paul, giữa hai trăm (?) người, tôi gặp lại Cường,Thảo, hai người bạn (Việt-Lào) dễ thương, quen qua T. - Paul. Lúc đầu tôi nhận không ra. Phần vì đã gần 10 năm không gặp nhưng cái chánh là vì cả hai anh chị đều ...’’bạc phơ’’. Nhất là anh Cường! Không phải là một Cường cao ráo, đẹp trai tôi biết, mà trước mặt là một .. tiên ông , râu tóc bạc phơ, tay lại chống nạng (!). Như một nhân vật võ lâm ! Hỏi thăm, mới biết là cách đây hai năm, anh bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, khi đang ở Việt Nam! Phải đi ‘’kiné’’, tập dữ lắm nên ‘’mới đươc như thế này’’ ! Hai đứa nói với nhau về Paul! Anh Cường cho biết, anh vừa đăng trên youtube ca khúc ‘’khóc Paul’’ anh mới viết. Bài hát hay lắm, cảm động lắm, anh Cường! Cám ơn những lời hát, nốt nhạc của anh đã nói thay chúng tôi trước sự ra đi của người bạn thân chúng ta:

16/5/2026, ngày tang lễ Paul cũng là ngày sinh nhật Paul! Một số bạn của T.– Paul, đã quyết định tiếp tục ‘’feter’’ ngày sinh nhật Paul (dự trù trước đó?) ở tư gia T. – Paul. Cứ như là Paul vẫn còn đây, giữa bạn bè thân thuộc! Từ cái không gian ‘’ồn ào’’, tôi lặng lẽ bước ra vườn, một mình đi thăm từng gốc cây, khóm hoa. Sau cơn mưa, những giọt nước còn đọng trên hoa, trên lá, cứ như là những giọt nước mắt của ‘’cây nhà, lá vườn’’ khóc người đã tạo ra chúng, chăm sóc chúng, nuôi nấng chúng trong mấy chục năm nay. Và tôi lo dùm cho tương lai của chúng!

Buổi chiều ngày 16/5/2026, sau tang lễ Paul, trong ngày sinh nhật Paul, trong khu vườn Paul, có tôi và cỏ cây, hoa lá, nhớ vô cùng một người đã không còn với chúng tôi!

Can đảm nhé T.! Tụi này luôn bên cạnh bạn!

Và Phong ơi, vĩnh biệt!

20/05/2026
BP

Biếc Cả Sông Thu



Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào

(Thu Vịnh - Nguyễn Khuyến)

NƯỚC non, non nước vẫy nhau chào
BIẾC cả sông Thu đẹp xiết bao...
TRÔNG đợi nàng Hằng ban rượu quế
NHƯ chờ chú Cuội tặng cành đào
TẦNG lam mây ảo, đêm ngời nguyệt
KHÓI xám sương mờ, tối nhạt sao
PHỦ xuống thuyền câu, ông lái mộng!
SONG THƯA ĐỂ MẶC BÓNG TRĂNG VÀO...


Duy Anh
17/5/2026
  

Chờ Nhau Trong Hư Vô

 

Tóc rối buông lơi em ngóng đợi
Thu về trở lạnh gió từng hồi
Lá chuyển màu vàng ôi lá chết
Như mạng người run rẩy khắp nơi

Nước nhà đau xót trong tim nhói
Em nhớ tình nồng cảnh lứa đôi
Anh xa có nhớ ngày xưa cũ
Nhớ nghĩa phu thê xót cảnh đời.

Xuân qua Hạ đến nét sừng sờ
Thu sầu, đếm mãi nước mắt rơi
Đời em, dòng nước mưa thu cuốn
Anh mãi nhìn Đông vẫn ngóng chờ

Em ngồi trông đợi lòng thương nhớ
Cảnh cũ người xưa phút ly bôi
Anh đi vẫn tưởng rằng trở lại
Ta mãi chờ nhau trong hư Vô

Lê Nguyễn Nga
May 3, 2026
Viết tặng các chiến sĩ , quý dân cán chính VNCH đã đi “cải tạo “

sau ngày 30 tháng 4 1975..
Kính oan hồn nhiều tù nhân đã bỏ xác thân, các anh không được về

Tạ Ơn Mẹ (Vũ Đình Trường) - Thank You, Mother! (Thanh Thanh)

 

Tạ Ơn Mẹ

Tạ ơn Mẹ, người không cùng huyết thống
Tóc mẹ vàng, da mẹ trắng như mây
Mẹ vớt con từ vực thẳm lưu đày
Nuôi con lớn bằng tình thương máu mủ

Tạ ơn Mẹ vì con mà lam lũ
Ngày qua ngày trong xưởng máy, nhà kho
Làm thêm giờ cho con được ấm no
Đêm lại thức dạy con từng tiếng Mỹ

Khác ngôn ngữ như ngăn thành, cách lũy
Mẹ dỗ con bằng ánh mắt, vòng tay
Mẹ gốc Âu, con gốc Á, khổ thay
Con là nợ, vì đâu mà mẹ gánh!

Mẹ biết con từ quê hương bất hạnh
Có lũ người hung ác tựa sài lang
Nuốt miền Nam bằng nanh vuốt bạo tàn
Đưa cả nước trở lại thời trung cổ

Cũng từ đó con như chim mất tổ
Tuổi còn thơ đã bỏ mẹ, lìa cha
Xuống thuyền đi trong nước mắt nhạt nhòa
Đem tính mạng gửi trên đầu ngọn sóng

Nhờ ơn Mẹ như trời cao biển rộng
Con mới còn sống sót đến ngày nay
Được nên người trên đất nước thứ hai
Niềm hãnh diện cho cả hai dân tộc

Trong hồn con mẹ rạng ngời ánh đuốc
Sáng bập bùng soi mỗi bước con đi
Lời Mẹ hiền con sẽ mãi còn ghi:
“Là dân Mỹ, nhưng đừng quên gốc Việt!”

Dâng lên Mẹ đóa hồng tươi thắm thiết
Chứa tình con từng cánh đỏ yêu thương
Mai con về quỳ hôn đất quê hương
Càng nhớ đến ngàn công ơn của Mẹ.

Vũ Đình Trường
***
Dịch Thơ:

Thank You, Mother!

Thank you, my white-skinned golden-haired mother
Who are not of the same bloodline as me or the other
But you fished me out of the abyss a refugee errant,
Adopted and fostered me with the love of a parent.

Thank you for having taken such painstaking jobs
Days after days in warehouses and workshops,
Toiled and moiled extra hours to make me undeterred,
And stayed up late to teach me each English word.

Pushing language difference as a bad barrier aside,
You soothed me with your look warm and arms wide.
You are a Westerner and I am Easterner, how rare,
I was such a heavy debt, you volunteered to bear!

You knew well that I came from that unhappy land
Where there were many a ferocious and fiendish band
Who invaded the South and confined people to cages,
Brought the whole nation back to the Middle Ages.

Since then I had become a nestless nestling in qualm
In childhood to leave Dad and separate from Mom,
I got into the fleeing boat with hot tears dripping wet
Risking my life entrusted to wave crests full of threat.

Thanks to your high-sky and vast-ocean love, my fay,
That I could survive until I can achieve success today
And become a dignified human in this second home,
A pride for both our peoples under the azure dome.

You are so shining in my soul the glittering torchlight
To enlighten each of my steps scintillating in the night.
Your virtuous advice I will always remember of course:
“Be American but don’t forget your Vietnamese source!”

I respectfully offer you this fresh gorgeous bright rose
Suffused with my affection in each red petal to enclose.
On my repatriation kneeling to kiss my native soil soon
I will bear in mind thousandfold your precious boon.

                                                                      

Translation by Thanh Thanh

Gửi Kim Oanh Long Hồ Vĩnh Long - Lê Tuấn


(Văn Các tương giao chờ Mặc Khách
Thi Đàn hội ngộ đón Tao Nhân - Huỳnh Hữu Đức)

Lê Tuấn xin cám ơn Ban Biên Tập Long Hồ Vĩnh Long. Đã phân ưu chia buồn gửi đến gia đình nhạc mẫu của chúng tôi. Và xin đa tạ toàn thể Anh Chi Em VBVNHN VDBHK đã gửi lời phân ưu chia buồn.
Trân trọng
Lê Tuấn

Xin có đôi lời gửi đến Kim Oanh.

Giữa không gian văn học Việt Nam Hải Ngoại, mang đậm tính nhân bản và đầy nghĩa tình, nữ sĩ Lê Thị Kim Oanh,một moderator của trang Blogspot Long Hồ Vĩnh Long, đã lặng lẽ góp phần giữ lửa cho văn chương Việt Nam nơi xứ người bằng tinh thần tận tụy và đáng quý.
Cô luôn cập nhật nhiều bài văn, bài thơ của nhiều tác giả, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn học của cộng đồng yêu văn chương.

Trang blog Long Hồ Vĩnh Long được trình bày trang nhã, ấm áp và giàu cảm xúc, như một góc sinh hoạt văn học thân tình dành cho những người yêu thơ văn bốn phương.
Điều đáng trân trọng hơn cả là sự cần mẫn của cô trong việc sưu tầm, lưu giữ và chia sẻ những bài thơ,
bài văn của nhiều tác giả, giúp tiếng Việt và tình quê hương được lan tỏa rộng hơn trong cộng đồng.

Công sức âm thầm ấy thể hiện một tấm lòng yêu văn học chân thành và rất đáng được biểu dương, của Nữ Sĩ Kim Oanh.

Gửi Kim Oanh Long Hồ Vĩnh Long

Long Hồ một bóng trăng quê
Kim Oanh lặng lẽ tìm về văn chương
Gom thơ kết nhịp yêu thương
Chắt chiu từng ý, thêm hương ngọt ngào.

Bao người xa xứ nghẹn ngào
Đọc trang blog nhỏ, xôn xao lòng mình
Quê hương còn giữ nghĩa tình
Nhờ người thắp lửa lung linh chữ đời.

Âm thầm chẳng ngại đầy vơi
Sưu tầm, chia sẻ cho người gần xa
Một trang Long Hồ đậm đà
Như dòng sông cũ thiết tha nghĩa tình.

Xin gửi một đóa hoa xinh
Tặng cô em gái dáng hình dễ thương
Văn thơ đậm chất quê hương
Việt Nam Văn Bút còn vương vấn tình.

Lê Tuấn
Viết tặng Nữ Sĩ Lê Thị Kim Oanh
Moderator Long Hồ Vĩnh Long

Tôi Yêu Hoa Cúc Mùa Thu


Đây là bài số bảy trăm tám mươi bảy (787) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ ORTB.

Người viết ra đời vào tháng Mười Một mùa Thu và có chút máu nghệ sĩ chảy trong người nên sống rất nhiều về tình cảm, ưa thích văn chương nghệ thuật, hoa lá cỏ cây. Các người thân trong gia đình thường hay tặng hoa hồng, hoa lan cho người viết nhân ngày sinh nhật của tôi và Ngày Của Mẹ. Như thế là hợp ý người viết lắm rồi và tôi cảm thật hạnh phúc khi được tặng hoa trong những ngày đặc biệt này.

Tôi yêu hoa cúc vì hoa cúc được chọn là hoa của tháng Mười Một, là tháng sinh của tôi.
Tôi thường trồng hoa cúc ở sân vườn nhà tôi để được ngắm hoa mùa Thu trong khi các loài hoa khác trong vườn nhà tôi tàn úa hết

Mùa Thu tôi có hai thú vui là được ngắm màu vàng cam của những trái hồng trĩu nặng lòa xòa trên sàn gỗ và màu vàng tươi sáng của những hoa cúc trong vườn nhà tôi. Hai màu sắc sáng đẹp này đã làm khu vườn nhà tôi đẹp hẳn lên trong khi lá trên cành hoa đào, hoa lê rụng đầy sân khiến thân cây trơ trọi lá buồn tênh.

Tháng Mười Một trời Portland đã khá lạnh. Thỉnh thoảng có những cơn mưa làm trời càng thêm rét lạnh.

Tôi hát khe khẽ:

“….Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường
Sợ thơ tình không đủ nghĩa yêu đương
Anh thay mực cho vừa màu áo tím….”

Xin mời quý bạn đọc một tài liệu về hoa cúc được tôi sưu tầm trên internet đem về đây chia sẻ với bạn bè đọc cho vui nhé,

Hoa cúc vàng trong nắng

Nói tới hoa cúc là ta nghĩ ngay đến màu vàng, song thực ra cúc gần như có đủ các màu: Cúc trắng, cúc đỏ, cúc tím, cúc nâu, cúc hoa cà. Theo thống kê trên toàn thế giới có đến hàng ngàn bông hoa thuộc họ cúc.
Sắc vàng và sắc cam rực rỡ của những bông hoa cúc tiền. Cúc bách nhật màu tím hàng trăm ngày vẫn không rụng cánh, đổi màu. Cúc vạn thọ cánh vàng đậm có viền đỏ. Có giống cúc dây, trồng trên ban công rủ xuống như một dòng suối màu vàng gọi là kim tuyền, hay màu trắng gọi là ngân tuyền. Lại có loài cúc mốc, cành lá hình dáng đẹp, sống rất lâu năm, người ta thường trồng trong chậu để tạo dáng hoặc trồng ghép vào các hòn non bộ.

Hoa cúc là loại hoa không chỉ được ưa chuộng tại Việt Nam mà rất nhiều nước trên thế giới cũng xem hoa cúc như một giá trị tinh thần rất sâu sắc. Trong quốc huy của người Nhật có hình hoa cúc, và tấm huy chương cao quý nhất của người Nhật là Huân chương Hoa Cúc, vì người Nhật coi
hoa cúc tượng trưng cho mặt trời. Người Nhật, Trung Quốc, Đại Hàn thường tổ chức những lễ hoa cúc rất tưng bừng.

Các nhà nghiên cứu về hoa cho biết, hoa cúc đã xuất hiện trên trái đất từ rất lâu. Người ta đã tìm thấy hoa cúc trong những di vật cổ đại từ rất lâu đời. .

Theo phong thổ xưa, khi thu đến, đông sang, các loài hoa khác đều tàn lụi, chỉ có cúc vàng đua nở, "khi cúc trổ hoa, các hoa khác không còn", nên cúc được tán tụng là "cúc ngạo ngàn sương", "cúc là hoa tài tuyệt hảo của mùa thu"...

Những năm trở lại đây, không cần phải đến mùa thu mà người ta có thể nhìn thấy hoa cúc vào bất kỳ mùa nào trong năm nhờ vào những kỹ thuật tiên tiến .

Thân cúc vàng chia nhiều nhánh. Hoa vươn nở ở đầu cành. Những cánh hoa xúm xít kết hợp hài hòa quanh đám nhụy li ti màu xanh non. Hàng ngàn cánh hoa vàng rực bao bọc xung quanh những nhuỵ hoa li ti. Nhiều cánh hoa tiếp theo từ nhỏ tới lớn dần, lần lượt vây quanh ở những vòng ngoài sắc vàng tươi thắm hơn. Đài hoa xanh có nhiều lớp cánh bao bọc giữ cho những cánh hoa khắng khít mãi bên nhau.

Mỗi cây hoa cúc có rất nhiều cành và ở mỗi đầu cành luôn luôn là những nụ hoa đang chờ ngày vươn mình hé nở. Thường rất nhiều hoa và nụ trên một cây nhưng hoa cúc vẫn không mất đi màu xanh, những chiếc lá cũng vươn mình theo những cánh hoa lunh linh. Lá hoa tạo cho hoa có
một vẻ đẹp rực rỡ hơn, những chiếc là với thiết kế đường cong uốn lượn rất mỹ thuật

Ngoài vẻ đẹp quyến rũ, điều đặc biệt làm cho người ta thích hoa cúc hơn nữa là chính là vẻ đẹp bền lâu của những bông hoa và mùi hương quyến rũ khi hoa nở. Hơn nữa, dù khi hoa không còn tươi tốt, dù lá đã úa vàng thì những cánh hoa, lá khô héo ấy vẫn "son sắt" không lìa bỏ cành. Đố ai nhặt được hoa lá cúc tàn nằm trên mặt đất. Đôi khi ta thấy quanh gốc cúc có hoa lá rơi rụng thì chỉ là do cúc bị sâu bọ cắn phá.

Vì đặc điểm này mà từ ngàn xưa hoa cúc vàng đã được biểu trưng cho người quân tử “mai, lan, cúc, trúc “muốn ám chỉ sự trung thành và cương quyết , trước sau không thay đổi. Hoa cúc vàng được đặc biệt yêu thích ở những nước phương Đông, người ta thường có thói quen thưởng thức ngắm hoa cúc nở hay chưng những chậu cúc trong nhà.

Hoa cúc vàng sau khi được phơi hoặc hãm khô dùng để ướp với trà rất tốt cho sức khỏe. Dùng trà hoa cúc vàng sáng sớm mỗi ngày và trong một thời gian dài để kéo dài vẻ trẻ đẹp và thanh nhiệt cơ thể. Trà hoa cúc thích hợp với những người đã có tuổi, muốn tìm về chốn bình yên, trà hoa cúc tạo cảm giác thư thái an nhàn cho người thưởng thức .
Ngoài ra hoa cúc còn được dùng như một vị thuốc điều trị nhiều bệnh khác rất công hiệu ...
Hoa cúc vàng là biểu tượng và truyền thống của ngày Tết Việt Nam, hãy cảm nhận vẻ đẹp của những bông hoa cúc vàng khoe sắc rực rỡ.
(Nguồn: Trích trong viettruyen.vn/tanghoa)

Hoa cúc còn nói lên lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ qua câu chuyện cổ tích dưới đây:

SỰ TÍCH HOA CÚC


Chuyện kể rằng, hồi đó có một gia đình nghèo có 2 mẹ con sống rất yên bình trong một ngôi nhà nhỏ. Người mẹ tần tảo làm lụng nuôi con. Người con còn nhỏ nhưng rất hiếu thảo, biết vâng lời và chăm chỉ. Nhưng rồi một ngày kia, người mẹ bỗng lâm bệnh nặng. Người con thương mẹ lắm, nên dù nhà nghèo em vẫn cố gắng chạy chữa những thầy lang giỏi nhất vùng. Nhưng sức khỏe người mẹ càng ngày càng yếu đi. Người con lo lắm, quyết tâm đi tìm thầy chữa bệnh cho mẹ.

Em đi mãi, đi mãi, qua bao nhiêu làng mạc, núi sông, ăn đói mặc rách vẫn không nản lòng. Một hôm đi qua một ngôi chùa, em xin phép nhà sư trụ trì được cầu phúc cho mẹ, tấm lòng hiếu thảo của em động đến cả trời xanh. Trời nghe phải nhỏ lệ, đất nghe phải cúi mình. Ông Bụt từ bi cảm thương tấm lòng hiếu thảo của người con, động lòng trắc ẩn Người đã hóa thân thành một nhà sư, đi ngang qua chùa và tặng em một bông hoa vàng rực. Ông Bụt nói: “ta cho con bông hoa này, nó là biểu tượng của sự sống, là bông hoa chứa đựng niềm hi vọng, là ước mơ của loài người, là thần dược để chữa bệnh cho mẹ con. Nhưng con phải nhớ, cứ một năm thì hoa sẽ rụng đi một cánh hoa, bông hoa này có bao nhiêu cánh thì mẹ con chỉ sống được bấy nhiêu năm. Nhưng mỗi một cánh hoa rụng đi, cuộc sống của con cũng mất đi một năm”. Người con cảm tạ Ông Bụt và đếm cánh hoa. Rất đau buồn khi biết bông hoa chỉ có năm cánh, nghĩa là người mẹ chỉ sống với em được năm năm nữa.

Thương mẹ quá, em đã xé nhỏ từng cánh hoa cho đến khi không còn đếm được bông hoa có bao nhiêu cánh nữa. Bà mẹ nhờ có bông hoa thần dược đó mà sống rất lâu nhưng người con hiếu thảo thì không sống được bao nhiêu năm. Thương con, bà mẹ đã chôn người con ngay tại trong vườn nhà. Và lạ thay, trên ngôi mộ của em, hoa cúc mọc khắp mộ và lan rộng ra cả vùng. Bông hoa vàng rực vô số cánh là biểu tượng của sự sống, là ước mơ trường tồn, là khát vọng chữa lành mọi bệnh tật của con người. Sau này, người đời gọi là Hoa Cúc.

Hoa Cúc trong đời sống tâm linh của người Việt thể hiện rõ qua những bộ tranh tứ quý: ”Tùng Trúc Cúc Mai”. Hoa Cúc là biểu tượng cao qúy của sự sống, của sự thịnh vượng và tình cảm thương yêu, hiếu thảo của con người.

Ngày nay, ngoài màu vàng họ nhà cúc còn có nhiều loại mang những màu sắc khác nhau vô cùng rực rỡ, hương thơm mát, mang lại sức khỏe và sự sảng khoái cho con người.
(Cổ tích Việt Nam)
(Nguồn trích trong http://www.songtinmungtinhyeu.org)

Thật tuyệt vời cho loài hoa mang tên hoa cúc, bạn nhỉ?
Mời quý bạn thưởng thức Youtube Portland Hoa Cúc Mùa Thu của Minh Suong Lam thay cho lời kết luận bài tâm tình hôm nay nhé.

Mời xem

 

Xin chúc quý bạn có nhiều sức khỏe, thân tâm an lạc, sống vui từng ngày trong hiện tại với duyên nghiệp của mình nhé.

Người giữ vườn Một Cõi Thiền Nhàn

Sương Lam
(Nguồn: tài liệu và hình ảnh sưu tầm trên internet, qua email bạn gửi MCTN 787-ORTB 1228-11-19-25)