Các Đề Mục

Tìm Nhau Ngày Mưa

 


Vắng người trời cũng sầu mưa
Thiếu người gió buốt cũng vừa chạm qua
Van mưa mau tạnh rời xa
Mang chút nắng ấm chiều tà sưởi em

Đường tình ngày ấy mang tên
Hai chiếc bóng kết ướt mềm lòng tôi
Mưa xưa nồng ấm bờ môi
Mưa nay nhoà nhạt phai rồi hương yêu

Quán cũ hò hẹn tịch liêu
Phố phường lất phất bao chiều áo bay
Tìm lại bóng dáng thơ ngây
Hoài mơ nhung nhớ đong đầy cho nhau

Tim hằn tì vết xót đau
Mưa bão vây bủa úa nhàu không gian
Quạnh hiu phòng vắng thênh thang
Bắt bóng mộng vỡ ngỡ ngàng người xa….

Kim Oanh
28/10/2016
 

Gửi Đêm



Em lại ra ngồi ngóng đợi ai
Để se sợi nhớ thắt thêm dài
Để dìu ánh mắt thêm hoang hoải
Để ríu cười buồn thêm mắt ai

Em lại ra ngồi ngóng đợi ai
Để líu ríu đêm tiếng thở dài
Để ngân ngấn lệ đêm trống trải
Để nhói đêm dài một dáng ai!


Hà Nội, 09:30 ngày 19/04/2023
Đặng Xuân Xuyến

Tình Thu - Ước Mong


 

Tình Thu

Lời xa xôi ấy cõi lòng em
Vàng lá thu rơi nhuộm trước thềm
Ngơ ngẩn hồn xưa quen dáng cũ
Đợi hài trở bước nhẹ từng đêm

Vườn tình ái ý thơ lưu khách
Theo bóng mây ray rứt thẫn thờ
Thu chợt đến khơi sầu tiếc nuối
Người mơ ơi thỏa ước mong chờ

Ôi thương nhớ nỗi buồn vương mãi
Định mệnh nào ly cách biệt nhau
Ôm kỷ niệm vai gầy trĩu nặng
Người đi rồi biết ở nơi đâu

Kim Phượng
***
Cảm Tác:

Ước Mong

Dù xa xôi nhớ mãi tình em
Bao mùa thu lá phủ bên thềm
Khắc khoải hồn đau thương dáng cũ
Hồn anh thao thức nhớ từng đêm!

Đời anh giờ đây là viễn khách
Nhìn áng mây trôi dạ thẫn thờ
Phải được trở về bên xứ cũ
Chúng mình kết họp khỏi mong chờ!

Mãi nhớ em nỗi sầu vương mãi
Biết bao lâu đời thôi xa nhau
Cõi lòng ta thôi sầu tương biệt
Gần bên nhau mình khỏi tìm đâu!?

Hàn Thiên Lương
9-5-2026

Tạp Ghi Và Phiếm Luận:Những Nhạc Khúc Mùa Hè Trước 1975


... Rồi chiều nay Hè trở lại đây
Phượng thắm rơi Phượng thắm rơi đầy
Lại cách xa nhau chín mươi ngày
Hay là một thế kỷ dài
Mà lòng ai đang khóc ai...

Tiếng hát cao vút như réo gọi, như nhắc nhở, như nức nở của ca sĩ Hoàng Oanh với lời ca bản nhạc Mùa Chia Tay của nhạc sĩ Duy Khánh như làm sống lại những mùa hè của năm mươi năm trước. Tội nghiệp cho tuổi trẻ của các thập niên 60-70 của Thế kỷ trước, học hành dang dở vì bị lôi cuốn một cách bất đắc dĩ vào vòng chiến tranh ý thức hệ giữa Nam Bắc Việt Nam. Những mùa hè là những "Mùa Chia Tay" có khi không bao giờ còn gặp lại, vì...

Đời trai chinh chiến ngang trời,
Súng gươm là bạn... và...
Bút nghiên là... cố nhân thôi !

Giọng hát lanh lảnh làm xao xuyến lòng người của nữ ca sĩ Thanh Tuyền lại như réo gọi ta trở về với quá vãng xa xưa:

Người ơi, thắm thoát niên học hết rồi
Chúc đi cạn lời giây phút ly bôi.
Ngày mai tan trường mình không chung lối,
Thương nhau nhiều biết gởi về mô,
Kỷ niệm cũ tan vào hư vô...

"Ba Tháng Tạ Từ" của nhạc sĩ Thanh Sơn đã âm thầm nói lên sự "Tạ Từ" không phải là "Ba Tháng" mà có khi mãi mãi sẽ không còn gặp lại nhau nữa:

Rồi đây có những khi buồn não lòng,
Cố nhân biền biệt có nhớ nhau không ?
Ngoài kia, hoa phượng rụng rơi tơi tả,
Dư âm làm sống lại đời ta...
Dù ngăn cách nhớ hoài ngày qua !...

Nhắc đến nhạc sĩ Thanh Sơn cũng không thể không nhắc đến "Nỗi Buồn Hoa Phượng". Một bài ca nói lên mỗi niềm chung của lứa tuổi học sinh trong ba tháng nghỉ hè, lại vừa là tâm sự thật của nhạc sĩ với cô bạn cùng lớp có tên là "Nguyễn thị HOA PHƯỢNG", là một "Tiểu Thư" con nhà công chức ở chốn thành đô theo cha về học ở vùng lục tỉnh Sóc Trăng xa xôi, làm cho chàng thư sinh tỉnh nhỏ nghe xao xuyến tâm hồn như những vầng thơ rất nên thơ của nhà thơ Huy Cận thời Tiền Chiến:

Vậy đó bỗng nhiên mà họ lớn
Tuổi hai mươi đến có ai ngờ
Một hôm trận gió tình yêu lại
Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư

Đến khi nàng tiểu thư con công chức về lại xứ thành đô hoa lệ, bỏ lại chàng thư sinh nhạc sĩ miền quê, lúc chia tay chàng hỏi "Nếu mình nhớ nhau thì làm cách nào?". Nàng đã trả lời rằng : "Mỗi năm đến mùa hoa phượng nở, anh nhìn hoa phượng anh sẽ nhớ tới em! Bởi tên em là Hoa Phượng mà!". Nhưng từ đó hai người không còn gặp lại nhau nữa.

Mười năm sau ngày chia tay cô gái mang tên Hoa Phượng, vào mùa hè năm 1963 tại Sài Gòn, một lần tình cờ đi ngang qua một ngôi trường học và nhìn thấy hoa phượng nở đỏ rực, ông bỗng nhớ lại người xưa, cảm xúc ùa về để ông hoàn thành ca khúc "Nỗi Buồn Hoa Phượng", trong tên bài hát có tên của người xưa để cho...

Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn !...
Khi biết rằng:

... Ta từ là hết người ơi!
Càng thổn thức hơn với:
... Tiếng ve nức nở buồn hơn tiếng lòng,
Biết ai còn nhớ đến ân tình không ?!...
Đường xưa in bóng hai đứa nay đâu,
Những chiều hẹn nhau lúc đầu...
Giờ như nước trôi qua cầu !...

 

Và nhạc sĩ Thanh Sơn cũng cho biết thêm rằng nhờ sáng tác bản nhạc "Nỗi Buồn Hoa Phượng" mà mỗi tháng ông nhận được sáu ngàn đồng tiền tác quyền (năm 1963 với hối đoái 1 đô-la Mỹ bằng 60 đồng VN lúc bấy giờ) Vừa thoát được cảnh nghèo túng, ông còn mua được nhà, xe để đi lại. Tất cả cuộc sống ấm no sung túc đều nhờ vào "Nỗi Buồn Hoa Phượng" mà có cả ! Nhưng người xưa thì vẫn biền biệt phương trời, để cho...

Màu hoa phượng thắm như máu con tim,
Mỗi lần hè thêm kỷ niệm,
Người xưa biết đâu mà tìm !...

Không tìm được người xưa, nên đến năm 1967 Thanh Sơn lại cùng nhạc sĩ Song Ngọc sáng tác nhạc phẩm "Phượng Buồn" để hoài niệm đến người xưa. Lời ca da diết u buồn trong tiếng hát lanh lảnh cao vút của nữ ca sĩ Thanh Tuyền như xoáy vào lòng người nghe :

Nếu ai một lần trong cuộc vui
Xa vắng người thương nghe mặn môi
Trách gì loài hoa kia còn rơi
Tôi đi người về hai lối
Ngậm ngùi ai nói không nên lời !...

Đến năm 1974, nhạc sĩ Tuấn Hải cũng cho ra đời một bản "Phượng Buồn" rất được giới mộ điệu ưa thích, do nữ ca sĩ Hoàng Oanh thu thanh đầu tiên vào dĩa nhựa nhạc Ngày Xanh. Nhưng trong tất cả các băng nhạc và đĩa nhạc của khoảng thập niên 1990 - 2000, đều ghi tên tác giả của Phượng Buồn là nhạc sĩ Thanh Sơn. Vì sao lại có sự nhầm lẫn trái khoái nầy ? Sau đây là lời giải thích của nhạc sĩ Tuấn Hải được tìm thấy trên mạng :

Bài này tôi viết năm 1974 tại Sài Gòn và đã sắp xếp Hoàng Oanh hát đầu tiên vào dĩa nhựa nhạc Ngày Xanh tại phòng thu của một người Hoa ở số 13 đường Bùi Hữu Nghĩa (trước cửa chợ cá Hòa Bình, quận 5 Chợ Lớn cùng trong năm ấy). Đến năm 2004 tôi về Sài Gòn gặp lại một số bạn cũ trong đó có các nhạc sĩ: Ngọc Sơn, Đài Phương Trang, Dzoãn Bình và Vinh Sử. Rồi chúng tôi có cuộc hẹn đi uống bia tại quán Hội Nghệ Sĩ...
Sau khi tặng Vinh Sử một CD Phượng Buồn thì người bạn này nói liền: "Xin lỗi anh, em có làm một chương trình có bài Phượng Buồn nhưng gặp khó khăn về việc kiểm duyệt tác giả ở nước ngoài nên đã để tên anh Thanh Sơn cho dễ dàng và tiện việc thanh toán bản quyền..." Ngay lúc đó tôi không thấy gì phiền hà vì việc đã rồi. Hơn nữa Thanh Sơn sau này có chút gì vui vui... Thế là vấn đề thông qua.
Sau đó bài Phượng Buồn lần lượt được nhiều trung tâm sử dụng nên việc " tam sao thất bản" càng lan tràn theo tỉ lệ thuận...

Phượng Buồn của Thanh Sơn, Thanh Tuyền hát:

"Phượng Buồn" của nhạc sĩ Tuấn Hải gần đây được rất nhiều ca sĩ hát và được nhiều người yêu thích, với âm điệu du dương và lời ca gợi cảm, chân thật, nhẹ nhàng đánh động lòng người nghe:

Trong tiếng hát ve phượng hồng là hoàng hậu đó
Phượng buồn vì tình ta tan theo sóng biển nổi trôi
Ngàn năm trong tôi, tình này không phai phôi
Xuân qua hè tới ta nhớ nhau luôn phượng ơi !...

Cảm xúc biết bao khi nghe hát câu...
Xuân qua hè tới ta nhớ nhau luôn phượng ơi !...

Dù sao thì sự nhầm lẫn giữa tên của hai tác giả đều có sáng tác bản nhạc "Phượng Buồn" cũng tạo nên một giai thoại trong làng tân nhạc cận đại một cách rất nên thơ và không kém phần thú vị! Điều đáng nói là cả hai bản nhạc đều hay, đều gợi cảm, đều du dương và đều làm cho người nghe không khỏi bâng khuâng nhớ về thời áo trắng với hoa phượng đỏ thắm trong sân trường mỗi độ hè về.

Bây giờ tóc đã bạc, mắt đã mờ, răng đã... giả hết rồi, nhưng "Mỗi năm đến hè, vẫn thấy Lòng man mác buồn", khi nghe lại "Lưu Bút Ngày Xanh" với lời ca réo rắc...

Lòng xao xuyến mỗi khi hoa phượng rơi
Nhắc lại câu chuyện buồn...
Trường còn kia ôi mái đổ tường rêu
Nơi kỷ niệm êm ái...

Lớn lên trong mùa ly loạn, xếp bút xếp nghiên, hổ lều hổ chỏng, học hành dang dở... Kỷ niệm thời tuổi trẻ chỉ còn lại nuối tiếc của những mùa hè với hoa phượng đỏ thắm sân trường; Rồi lại phải lao vào vòng chiến tranh ý thức hệ một cách oan uổng. Chiến tranh chấm dứt thì lại phải làm thân lưu vong nơi xứ lạ quê người. Những "Mùa Chia Tay" cứ mãi tiếp nối nhau, biết đến bao giờ mới tìm lại được "Những Này Xưa Thân Ái" cũ ?! Như lời ca của "Thương Ca Mùa Hạ"...

Một ngày biệt ly trăm ngày nhớ nhau...
Nuối tiếc cuộc vui ân tình phút đầu
Nếu ai đã từng rung cảm
Đôi lần nhặt màu hoa thắm
Lòng bâng khuâng biết mình đã yêu ...

Tuổi trẻ là tình yêu của lứa tuổi học trò, vào đời với tình yêu gia đình, yêu cuộc sống, yêu non sông, yêu Tổ quốc... Giờ lại phải đành gởi thân nơi chân trời góc bể nầy để ngậm ngùi nhớ tiếc cho những tháng ngày hoa mộng đã qua. Cám ơn nhạc sĩ Thanh Sơn với Nỗi Buồn Hoa Phượng, với Ba Tháng Tạ Từ, với Thương Ca Mùa Hạ, với Lưu Bút Ngày Xanh... Cám ơn nhạc sĩ Tuấn Hải với Phượng Buồn, Cám ơn nhạc sĩ Duy Khánh với Mùa Chia Tay...

Nhạc sĩ Thanh Sơn lúc trẻ và khi về già

Những ca khúc bất hủ của mùa hè, sống mãi và theo mãi gót chân lưu vong của người Việt đi khắp năm châu bốn bể...

Hẹn bài viết tới!

杜紹德
Đỗ Chiêu Đức



Tản Mạn Về Những Tà Áo Dài Việt Nam Và Sự Trùng Phùng Đầy Thú Vị

 

Một nhà văn đàn chị “tầm cỡ” nhưng lại chơi thân với “cây viết tay mơ” tôi đã nói, “Có một ‘món thời trang’ phụ nữ đi qua nhiều năm tháng, thậm chí qua nhiều thế hệ mà vẫn giữ được vẻ xinh đẹp, quyến rũ, và dịu dàng như nụ cười của người con gái Việt Nam. Đó là chiếc áo dài – mảnh lụa hai tà!” Tôi thích quá…vỗ tay liền cho nhận định đầy thú vị đó. Câu nói của chị đã cho tôi cảm hứng viết bài này khi được “rửa mắt”nhiều kiểu áo dài trong lần đến Nam Cali.

Tôi là người tôn sùng “chủ nghĩa áo dài” hơn là khoái cái món “đầm đìa váy vía” như cô bạn Bắc Kỳ 9 nút (54) của tôi thường nói ngày xưa, mặc dù tôi cũng từng thiết kế nhiều chiếc đầm cưới đặc biệt được khách hàng ngợi khen. Trước 1975, tôi có phần hùn với trường Hoa Mỹ, chuyên “Dạy Cắt May Âu Việt Phục Nam Nữ” trước cửa chợ Xóm Mới thành phố Nha Trang. Tôi từng học bổ túc môn áo dài tân thời kiểu “Raglan” tại nhà may Thiết Lập, một nhà may nổi tiếng của Sài Gòn thời ấy. (Sau 1975, nghe ông bà Thiết Lập cũng định cư Mỹ và mở nhà may Áo Dài Thiết Lập Saigon ở Cali. Đáng tiếc tôi không có dịp ghé thăm và nghe đâu Cô đã quy tiên vào năm 2021). Khi ấy cô Kim Hoa phu nhân một Đại úy Bộ Binh QLVNCH là chủ trường Hoa Mỹ, nhưng tôi có phần hùn và là giảng viên chính.

Dù tôi cũng có dạy về Âu Phục nam như quần tây, veston, áo khoác dài, kể cả áo dài chữ Thọ thắt nút vải của các cụ thời xưa, tôi đam mê nghiên cứu về áo dài nữ nhiều hơn. Thật là vui, thời đó tôi còn nhận “may áo dài lấy liền” bằng cách đo cắt vắt sổ xong, tôi chia cho đội ngũ học viên sắp tốt nghiệp, kẻ thì thêu máy những mẫu bông hoa rồng phụng, người lược và luôn tà, người ráp tay, người may cổ… cuối cùng ráp lại chiếc áo dài hoàn hảo chỉ trong vài giờ, làm khách hàng xa rất hài lòng, vì tiện đường đi chợ may lấy luôn. Cái thuở vàng son ấy, mỗi cuối tuần hay những ngày lễ, tôi dẫn cả lớp vài chục học viên, nam thì “đóng bộ” đỉnh đạt, nữ diện áo dài, điệu đà đi chùa Hải Đức, đi nhà thờ Núi, đi ngoạn cảnh chụp hình Tháp Bà, Hòn Chồng, thăm Suối Tiên, hay nghe nhạc, xem phim, rồi về đi ăn ngoài phố đường Độc Lập, cùng với những chàng “Lính Không Quần” bạn chàng xã nhà tôi từ Trung Tâm Huấn Luyện KQ Nha Trang; họ đi theo để tán tỉnh những cô học trò xinh xắn của tôi từ các nơi đổ về thành phố học nghề. Đáng tiếc sau 1975, chiếc áo dài thướt tha ngày trước đã bị “banh xác” một cách vô tội vạ, để sửa lại thành hai cái áo ngắn, kể cả những nhà giáo cũng bị bắt buộc mặc áo cũn cỡn đứng trên bục giảng bài cho học sinh. Cho tới những năm sau này chiếc áo dài mới “sống” lại.


Trước khi miền Nam bị “giải phóng”, hình ảnh phụ nữ Việt Nam với chiếc áo dài đã được nhiều văn thi nhạc sĩ ca tụng. Bài hát về chiếc áo dài Việt Nam. “Áo lụa Hà Đông” của Nguyên Sa được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành bài hát nổi tiếng hầu như ai cũng thuộc lòng:

“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông...”(Áo lụa Hà Đông – Nguyên Sa)

Áo dài cũng in đậm nét trong những vần thơ nghịch ngợm duyên dáng của Nguyễn Tất Nhiên khi Phạm Duy phổ nhạc:

“Đưa em về dưới mưa
Áo dài sầu hai vạt
Khi chấm bùn lưa thưa... (Em hiền như Ma-soeur)

Sống ở Mỹ, mỗi lần đi đâu chỉ cần nhìn thấy những tà áo dài thướt tha trong gió giữa phố đông người, tôi lập tức nhận ra đó là Việt Nam của tôi, là văn hóa, là ký ức, và là hương sắc của con cháu Hai Bà Trưng Triệu nhà Nam. Đến các tiểu bang có khu phố người Việt, tôi đều ghé vào gian hàng áo dài Việt Nam, và dù mắc dù rẻ khi ra về cũng “vơ” cho được vài cái. Tôi là tác giả đã nhận giải VVNM, nên năm nào cũng được Việt Báo mời tham dự lễ phát giải. Những lần xuống Nam Cali, tôi thường ghé vô khu Phước Lộc Thọ “lùng áo dài rẻ đẹp” trước khi đi đâu.

Vào cuối năm rồi, tôi leo xe Đò Hoàng đi Nam Cali dự Lễ Phát Giải Viết Về Nước Mỹ 2025. Tôi nhờ người bạn đón ghé vào Phước Lộc Thọ một chút cho tôi “ngắm áo dài đỡ ghiền”. Khu hàng quần áo người Việt chiều hôm ấy người lựa đồ chen lấn đông đến nỗi, nói như một người bạn có tính khôi hài của tôi ngày xưa khi đi dự đêm Giáng Sinh tại nhà thờ Núi Nha Trang là, “Nếu ai lỡ đánh rơi nụ cười, chắc cũng có người hứng giùm phía sau vì…không còn chỗ để nó rơi xuống đất”. Người Việt từ đâu kéo về đây đông như trẩy hội. Chắc họ về dự lễ phát giải VVNM như mình, tôi thích thú đoán thầm.

Dọc hai bên lối đi vào Trung Tâm Phước Lộc Thọ là “cánh rừng” áo dài. Áo dài xanh, đỏ, tím, vàng, màu sắc chói chang chen nhau tỏa sáng trước bà con Việt. Những tà áo thướt tha bị gió chiều bên ngoài len lỏi luồn vào bay bay, chiếu lấp lánh. Nhưng hấp dẫn nhất, lại là những mảnh bảng giá “On sale” đong đưa với mức giá mỗi chiếc áo còn thua giá… một trái thanh long! “$9.99/each!

Dạo khu Phước Lộc Thọ, tôi có cảm giác như đang dạo phố Sài Gòn, vì xung quanh tiếng Việt nói cười rộn ràng, bên kia tiếng Bắc lanh lảnh, bên nọ tiếng Nam “đớt đa” nghe đậm đà như đường thốt nốt, bên tê là giọng Huế ngọt ngào, và thỉnh thoảng chen vài câu tiếng Anh “đứt bóng gãy gọng” như tiếng Việt nhưng nghe thân thương vô cùng:
“Tời quơi, cái áo này so cute nha chị! Vô thử đi!”
“Oh my God, màu này hợp da nha!”
“Lấy luôn đi, về mai mốt có dịp thì mặc!” Rồi tiếng giọng Huế hạ thấp xuống thì thầm, “Rẻ chưa tề! Lụm hết đi! Bên mình loại áo ni cũng phải đến mấy chục!”

Tôi thích thú nhìn quanh. Các bà, các cô mắt sáng rỡ, ai cũng hí hửng ôm cả mớ trên tay, vào thử rồi ra vơ thêm, rồi lại thêm nữa. Có cô kia thử xong bước ra ỏng ẹo xoay một vòng như người mẫu, tà áo bay phấp phới, quét trúng mặt ông chồng đang ngồi chờ với vẻ mệt mỏi trên chiếc ghế cạnh chỗ tính tiền. Tôi cố nín cười khi nghe ông nói, “Sáng giờ đã tám cái rồi đó nghe em,” nhưng miệng thì nở ra nụ cười trông méo xệch. Chắc là vì đợi mệt chứ không phải vì “xẹp hầu bao” bởi giá cả ở đây món nào cũng rẻ rề.
Vừa chui vào chiếc áo dài màu xanh cổ tròng, tôi bỗng nghe tiếng người phía sau:
“Ô chị mặc áo này đẹp quá, chị lấy chỗ nào vậy? Mà nè chị ơi, làm ơn kéo giúp em cái áo này xuống chút, hỏng biết bị kẹt gì mà em kéo hoài không được”.

Tôi quay lại và xém chút nữa là bật cười lên thành tiếng. Một cô đầu tóc bờm xờm, đang nhùng nhằng chui nửa chừng vào chiếc áo dài màu đỏ lấp lánh đầy cườm ren trước ngực. Tôi cười trong bụng gần muốn …sặc, vì đang “vật lộn” với chiếc áo của mình chưa xong, tóc tai phủ đầy mặt mũi mà vẫn có thì giờ ngắm và khen áo đẹp của người khác! Cô này chắc cũng là một trong các “tín đồ áo dài” như tôi chứ chẳng chơi.
Vừa giúp cô xong tôi định bước đi thì cô ta kêu lên, tay chỉ vào tôi:
“Chị Hoa! Chị là chị Hoa con bác Hai phải không?

Tôi giật mình nhìn kỹ người trước mặt, và chúng tôi cùng kêu lên rồi ôm nhau rối rít. Đó là Nương, con của người chú họ bên nội hiện đang sống tại New York mà chúng tôi đã mất liên lạc hàng chục năm rồi. Sau khi tốt nghiệp tôi bán shop Nails đi gõ đầu trẻ nơi vùng khác, đã làm mất số điện thoại cô. Không ngờ “nhân duyên áo dài” đưa đẩy chúng tôi gặp lại nhau một cách quá tình cờ. Tôi rất vui và chợt nghĩ, “Hoan hô áo dài!”

Buổi lễ phát giải Viết Về Nước Mỹ của Việt Báo 2025 diễn ra tại Bảo Tàng Bowers Museum, một nơi rộng rãi và trang trọng. Ngay khi bước vào hội trường, tôi đã cảm nhận một bầu không khí thân thiết vô cùng, như thể cả một góc quê hương được mang sang đất Mỹ, vì những tà áo dài tha thướt khắp nơi, mỗi màu mỗi vẻ đang hòa quyện tỏa sáng giữa cái xứ sở hiện đại “đầm váy” này.

Tôi thích thú mỉm cười, nhớ lại những lần tôi tham khảo các tài liệu văn hóa về lịch sử trang phục truyền thống áo dài Việt Nam. Xin phép được tản mạn “ngoài lề” một chút. Các nhà văn hóa đã gọi sự tiến hóa đó là “Một hành trình mềm mại cùng thời gian của chiếc áo dài”.

Từ thuở xa xưa, khi người Việt còn gắn bó với ruộng đồng, sông nước, thì trang phục của phụ nữ mang nét mộc mạc và tiện dụng. Những chiếc áo Giao Lĩnh cổ chéo, váy dài, yếm đào được mặc phổ biến trong xã hội Việt cổ xưa. Chúng không thon thả như áo dài ngày nay, nhưng đã sớm thể hiện tinh thần kín đáo, dịu dàng của cái duyên “rất Việt”.

Bước sang thế kỷ XVII – XVIII, dưới thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, trang phục phụ nữ bắt đầu đưa vào quy củ. Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát ban hành quy định cải cách y phục, khuyến khích phụ nữ mặc áo dài thân kín, quần dài thay cho váy.

Từ đây, áo ngũ thân ra đời, và đó là tiền thân của áo dài hiện đại. Áo có năm thân tượng trưng cho nền văn học của “ngũ thường” - nhân, nghĩa, lễ, trí, tín – chúng vừa mang ý nghĩa đạo lý vừa giữ được vẻ đoan trang cho phụ nữ. Đến đầu thế kỷ XX, khi làn gió phương Tây thổi vào Việt Nam, áo dài bắt đầu một cuộc “lột xác” đầy duyên dáng.


Khoảng những năm 1930, họa sĩ Cát Tường (Lemur) đã cải tiến áo ngũ thân thành kiểu áo ôm dáng, cổ cao, tay hẹp, mang vẻ thanh lịch hiện đại. Lemur Cát Tường cùng với nhóm “Tự Lực Văn Đoàn” khởi xướng cho phong trào cách tân áo ngũ thân truyền thống theo phong cách văn hóa phương Tây để tạo ra áo dài. Ông đề ra phương châm: "Quần áo tuy dùng để che thân, song nó là tấm gương phản chiếu cái trình độ, trí thức của một đất nước”.

Ban đầu, kiểu áo này gây nhiều tranh luận - vì “tân thời” quá - nhưng rồi lại nhanh chóng được phụ nữ thành thị yêu thích. Và rồi áo dài tiếp tục biến hóa qua từng giai đoạn lịch sử. Thập niên 1970, cổ áo dài được hạ thấp hơn, còn chừng 3cm, tay Raglan ra đời giúp áo vừa đẹp vừa thoải mái. Dù đang trong thời chiến, áo dài vẫn ung dung khoe sắc, dù lúc giản dị đời thường, hay khi trang trọng lễ nghi.

Phụ nữ miền Nam trong đó có tôi, mỗi khi ra đường đều mặc áo dài. Bây giờ nhìn lại từ chiếc áo “Giao Lĩnh” mộc mạc thuở ban đầu đến áo dài thướt tha hôm nay, tôi xin “bắt chước” chương trình Việt Báo VVNM mà nói rằng, “Áo dài phụ nữ Việt Nam là một cuốn sử sống bằng vải vóc ghi lại hành trình văn hóa, thẩm mỹ, và tâm hồn của dân tộc Việt”…

Nhìn toàn Ban Phụng Sự Việt Báo năm 2025, tôi thấy họ chọn đồng phục áo dài xanh màu mạ non điểm hoa văn chữ thọ. Các bóng hồng tất bật đi qua lượn lại, tà áo phất phơ xanh ngát cả hội trường nhìn mát mắt vô củng. Mấy chục mùa phát giải trôi qua, mỗi mùa các cô đều điệu đà thướt tha trong những tà áo dài sắc màu khác nhau vô cùng tuyệt mỹ.
Như thủ tục chúng tôi vẫn thường làm mỗi khi đi dự lễ phát giải Việt Báo VVNM, là các tác giả từng đoạt giải trước đây được BTC mời ký tên vào chừng 15 quyển sách đặc biệt VVNM của năm đó, để bán giá cao một chút hoặc bán đấu giá gây quỹ cho chương trình VVNM kế tiếp.
Ký xong hết 15 quyển sách, tôi đi tìm các bạn quen. Những dãy bàn tròn bày biện lịch sự. Bên hông là hai dãy bàn thức ăn Việt được trình bày vô cùng bắt mắt với hàng hàng lớp lớp các món Việt thân quen, bánh mì kẹp, bánh bò, bánh cam, chè thập cẩm…

Khi vào chỗ ngồi đã được sắp xếp, tôi hiếu kỳ nhìn kỹ những chiếc áo dài của Ban Tổ Chức đang mặc. Những năm trước thì các cô mặc áo dài “chít ben” cho vòng eo ôm siết lại, lộ vòng 1 gợi cảm và vòng 3 hấp dẫn. Nhưng kỳ này, các cô “chơi” mốt “thả ben”, thì kìa, nhìn vẫn dáng duyên vô cùng:
Nhấn “ben” lộ rõ đường cong
Thả “ben” mườn mượt ôm vòng số 2!

Nói nào ngay, ngắm các mỹ nhân Việt Báo hôm nay, người chiêm ngưỡng có thể khẳng định rằng, “dù ôm dù thả” ở chỗ vòng 2, chiếc áo dài phụ nữ Việt Nam vẫn giữ được nét duyên bất di bất dịch. Ngay cả “dân tóc dài” là tôi cũng ngưỡng mộ vô cùng.
Và tôi ngồi tẩn mẩn chấm điểm chiếc áo dài xinh nhất, mốt nhất, điệu đà nhất buổi lễ hôm này là của cô MC xinh đẹp Thùy Linh. May quá, vừa đúng lúc Giám đốc Việt Báo Hòa Bình, Thùy Linh, và Anne Khánh Vân - người thắng Giải Nhất Viết Về Nước Mỹ trước tôi 2 năm - đi ngang qua, tôi liền “chộp” lấy các cô và nhờ người chụp tấm hình làm kỷ niệm.

Xong tôi mở điện thoại xem, để chắc ăn là hình không bị… sứt đầu đứt tai. Và tôi giật mình, nhìn xuống chiếc áo dài tôi đang mặc. Chiếc áo “gấm Thái Tuấn” này con dâu trưởng tôi mới vừa tặng khi biết tôi đi dự lễ Việt Báo. Tôi nhớ cháu có nói là “mốt mới” nhưng không để ý, tôi chọn mang đi là vì chiếc áo bị cuộn chặt ém vào vali một thời gian mà chẳng bị nhàu. Không ngờ mốt áo của tôi lại giống hệt mốt áo của các cô Thùy Linh, Hòa Bình, và Khánh Vân – áo thả ben không chít eo. Đó là chiếc áo không chít eo đầu tiên sau hàng chục năm trong tủ áo dài toàn chít eo của tôi mà trước đó tôi nào để ý.

Nhưng điều khiến tôi “dựng chân lông” lại là một chuyện khác. Tối đó về nhà cháu, tôi rảo lên mạng thì bất ngờ tìm thấy một sự trùng hợp ngẫu nhiên đầy thú vị: Kiểu áo dài của tất cả chúng tôi mặc trong lễ phát giải VVNM năm này, lại “giống y chang” kiểu áo dài nhà thiết kế áo dài Việt Nam lịch sử, họa sĩ Cát Tường (Lemur), đã thiết kế cho Tiểu thư Vũ Thị Hòa Vân - con gái quan tri phủ Hà Đông Vũ Ngọc Thuý, vào mùa thu năm 1938!

Quả là một sự “Trùng phùng” độc đáo! Mời các bạn xem hình dưới đây:

Từ trái: Tiểu thư Vũ Thị Hòa Vân – (con gái quan tri phủ Hà Đông Vũ Ngọc Thuý, vào mùa thu năm 1938.), MC Thùy Linh, Phương Hoa, Giám Đốc Việt Báo Hòa Bình, Anna Khánh Vân.

Ôi, gì chứ “đụng” đến áo dài thì tôi có thể “cà kê” hàng giờ không biết mỏi!
Xin quý đức ông độc giả làm ơn bỏ quá cho cái tội này.
Nhưng nếu rủi quý ngài có … bực cái mình, thì làm ơn hãy hỷ xả mà nhớ cho rằng thì là các quý ông cũng từng có thời làm thơ và nằm mơ về một vài tà áo dài nào đó, có đúng hôn nào?

Phương Hoa
Nguồn Họa sĩ Cát Tường (Lemur) – Người tạo ra áo dài Việt Nam:
https://vi.wikipedia.org/wiki/Lemur_C%C3%A1t_T%C6%B0%E1%BB%9Dng

Ngỡ Ngàng Ngó Theo

 

Nhớ em xưa rất ngọt ngào
Nhớ tôi một thuở lao đao võ vàng
Phủi tay, em bước sang ngang
Chậm chân, tôi chỉ ngỡ ngàng ngó theo
Giờ em... cách núi cách đèo
Có còn nhớ đến kẻ theo sau mình
Ơi em, này nụ cười khuynh...
Thành xưa đã chẳng rung rinh một thời

Thủy-Trang

Lẻ Loi

 

Sinh ra vốn chỉ một mình
Thì sao lại sợ một mình lẻ loi
Cho dù từng đã có đôi
Một mai chết cũng mồ côi một mình
Cho dù gắn bó gia đình
Cho dù bè bạn thân tình đông vui
Mỗi người cá thể lẻ loi
Rồi thì cũng đến lẻ loi một mình
Thì thôi chấp nhận một mình
Tự tìm vui lấy riêng mình đành thôi
Đời người hạt bụi lẻ loi
Sợ gì đi đến lẻ loi một mình

Người Phương Nam

Có Một Chỗ Để Về

 

Đường sá của người
Đâu phải của ta
Sao ta cứ miệt mài đi, về năm tháng
Dù đông lạnh căm
Dù hè cháy nắng
Ta ngựa già nối những dặm xa

Gió ở đây cũng là gió của người ta
Đâu phải gió đồng bằng
Đâu phải mưa châu thổ
Nước mặn Đại Tây Dương
Đâu bằng nước ngọt phù sa quạch đỏ
Ta nghe chừng thiếu một hơi quen
Nên mỗi ngày qua
thêm một nỗi buồn riêng
thêm một chút ngậm ngùi cố thổ
ở ở, đi đi ta làm khách trọ
sớm nắng chiều mưa bóng nhỏ bên đường
Để mỗi đêm dài điếm cỏ cầu sương
ta mơ làm người Lý Bạch
đê đầu tư cố hương
thấy hồn mình lượn lờ nơi viễn phố
Thấy mẹ lưng còng
trên sân rêu phủ
mắt lệ nhòa từ buổi con đi
ngày ngóng đêm trông từng cánh chim về
nghe sao nặng tháng ngày đứt ruột
Thấy cha một mình
trên dòng kinh nước đục
đêm ba mươi một chiếc xuồng câu
tiếng độc huyền cầm chảy suốt đêm thâu
(cha muốn gởi gì trong hơi đồng sũng nước?)
Thấy mái chùa cong
thấy ngôi trường buổi trước
ta nhìn ta một thuở rong chơi
ta nhìn em tóc bím, môi cười
trao ánh mắt cho ta
mà con tim giữ lại
Và cứ giữ nghe em
những ngày xưa ấy
Giữ giùm ta một góc trời quê
để hồn ta còn có chỗ trở về
khi đất lạ ta mồ xanh cỏ.

Trần Bang Thạch

(để nhớ những ngày đầu tại Houston, 46 năm trước)

Tàn Rụng Trái Mơ Đời

 
1/-

Nếu trí nhớ của Tường Vi đừng quá chây lười thì vào năm học đệ ngũ hay đệ tứ ông thầy dạy Việt Văn nhân giảng về văn thơ mới của các văn thi sĩ thời tiền chiến, có nhắc đến thi sĩ Hồ Dzếnh với bài Ngập Ngừng mà trong đó có mấy câu sau:

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân….
…Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở
Đời mất vui khi đã vẹn câu thề
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ
Cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa (Ngập Ngừng, Hồ Dzếnh)

Rồi ông thầy giải thích ý nghĩa của từng câu thơ cho học sinh nghe. Tường Vi lúc ấy khoảng 14 hay 15 tuổi gì đó, dù tâm hồn đã biết mơ mộng sớm (nói trắng ra là đã hơi nhí nhảnh chút chút, tức là có cảm giác biết yêu rồi), nhưng chỉ trên lý thuyết chứ chưa hề có kinh nghiệm thực tế gì, nên ngơ ngác không hiểu sao ông nhà thơ nầy lại “xúi dại” nàng cứ hẹn chàng mà đừng thèm tới gặp, rồi còn cho là tình chỉ đẹp khi bị dang dở nữa chứ. Dang dở thì đau buồn chết đi được sao lại cho là đẹp. Rồi nào là khi vẹn câu thề thì lại mất vui? Vô lý quá!

Bà chị lớn của cô cứ than phiền, khóc thầm mỗi lần không lén đi gặp bạn trai được vì sợ ba má biết. Thế sao chàng trai của Hồ Dzếnh xúi cô gái hẹn thì cứ hẹn nhưng đừng đến gặp nhỉ?
Bởi hồi ấy tâm hồn cô gái hãy còn non nớt trong veo như ly nước nhìn xuyên thấu từ mặt đến tận đáy, biết yêu nhưng yêu theo cái kiểu con nít như trong truyện cổ tích Công Chúa Ngủ Trong Rừng, hoặc Cô Bé Lọ Lem…chuyện các cô gái nghèo lương thiện xinh đẹp lúc nhỏ bị hại nhưng do ở hiền gặp lành nên sau cùng gặp hoàng tử đẹp trai tài giỏi đến giải cứu và cưới làm vợ sung sướng hạnh phúc suốt đời.

Cho nên làm sao mà Tường Vi hiểu được cái tình cảm phức tạp mâu thuẫn đối chọi dường ấy trong ngõ ngách tâm hồn con người được. Hơn nữa, làm bộ nói biết yêu chứ có ai là “bồ” của cô hồi nào đâu !!! Chỉ tưởng tượng một nhân vật hoàn hảo nào đó mà tài đức vẹn toàn kiểu:

Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo việc đao cung….

Chàng cởi trên lưng con tuấn mã tung vó câu muôn dặm:

Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu….
….Áo chàng đỏ tựa ráng pha
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in
(Chinh Phụ Ngâm Khúc, Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm)

Theo dòng thời gian…Tường Vi nhổ giò cao lên thì tâm hồn cũng theo đó mà phát triển theo một mức độ quanh co lắt léo chứ hết còn đơn giản. Những sách truyện của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, hay tuần báo Tuổi Ngọc của nhà văn Duyên Anh mà cô rất ngưỡng mộ say mê đã bớt thu hút. Vì ta nay học lớp đệ nhất, mang kính cận, bắt đầu nghiên cứu triết, cầm trong tay mấy quyển sách của Albert Camus, Freud.. nếu cuối năm thi đậu thì mấy tháng nữa sẽ vào đại học, có quyền mặc áo dài lụa hôm nay màu này, mai màu khác. Hoặc áo pull bó sát thân thể, quần ống patte d’éléphant đúng mode. Không cần xách cặp mà chỉ cần ôm vài quyển hờ hững trên tay thôi nhé. Trời ơi, sự ngốc nghếch đỏm dáng của cô học trò nhà quê đây mà!

Thế là cô bắt đầu lục lọi trong đống sách truyện đủ loại về lịch sử, chính trị, tôn giáo, khoa học, trinh thám, chiến tranh…của gia đình. Chọn các chuyện tình bi thương kiểu Cánh Buồm Đỏ Thắm, Madame Bovary, Trà Hoa Nữ… đọc say mê rồi thương mây khóc gió nhỏ bao nhiêu nước mắt, nhất là cho hai nhân vật Roméo và Juliette của nhà văn Anh William Shakespeare viết hồi cuối thế kỷ 16.

Hay anh chàng Oliver nhà giàu nứt đố đổ vách từ bỏ gia tài để đi theo tiếng gọi tình yêu nàng Jennifer gốc Ý nhà nghèo trong Love Story của Erich Segal cho đến ngày nàng chết vì ung thư máu.
Hoặc anh chàng đánh cá Vọi trong Trống Mái của Khái Hưng yêu tiểu thư Hiền, một mối tình không cân xứng. Rồi vì quá đau đớn thất vọng mắc bịnh từ giã cõi đời khi đang ở tuổi thanh xuân.
Và câu chuyện Trương Chi mà ai ai cũng đều biết. Rồi lẩn thẩn ước chi có “một gã trai” nào đó cũng yêu mình kiểu mù quáng như vậy, có chết trẻ cũng cam!!!

Cô đọc được câu: “Để hai mươi người đàn ông yêu mình trong một lúc là chuyện dễ, nhưng để một người–chỉ một người thôi–yêu mình trong hai mươi năm mới là chuyện khó”.


Ừ mà có đó. Cái thời ấy Tường Vi biết nhiều kẻ thầm yêu trộm nhớ cô lắm, đến bây giờ đã hơn gấp đôi thời gian hai mươi năm vẫn còn yêu. Những lá thư tình họ nhờ người khác trao vội, có khi cô biết tác giả, có khi không biết– bí mật nằm yên đó mãi mãi vẫn hoàn bí mật– những quyển sách được tặng mà cái tựa diễn tả giùm nỗi lòng, những vóc dáng lãng tử đứng ở một góc đường chờ cô tan trường về ngang. Hoặc nhân dịp cắm trại hè có kẻ ngồi ôm đàn vừa hát vừa nhìn cô ánh mắt thăm thẳm đầy lửa đam mê khiến trái tim cô đập loạn nhịp, tay chân cuống quýt thừa thãi:

Ngày nào cho tôi biết, biết yêu em rồi tôi biết tương tư…

…Ngày nào cánh thiên đường
đã mở hé tình yêu là trái táo thơm
Tôi hé răng cắn vào, miệng môi ngọt đắng…
(Ngày Nào Biết Tương Tư, Phạm Duy-Ngọc Chánh)

Cô cũng “chấm”được vài gương mặt trong số, cũng tưởng tượng ra cảnh hẹn hò, lời nào sẽ nói, nụ cười e thẹn sẽ trao, bồi hồi chờ được nắm nhẹ bàn tay… vân vân và vân vân...Nhưng chỉ nghĩ vậy rồi thôi chứ trong thực tế chả có gì xảy ra hết vì cô có tạo dịp nào cho ai đến gần đâu. Cô tự lập một hàng rào vô hình ngăn cách giữa mình và họ, không cho ai vượt qua cả. Chỉ được đứng nhìn từ xa. Bởi chưng cô sợ. Sợ gì?

Cô mơ ước về một mối tình cao thượng kiểu hai nhân vật chú tiểu Lan (thật ra là gái giả trai để vào chùa tu) với chàng sinh viên Ngọc gặp nhau ở chùa Long Giáng trong Hồn Bướm Mơ Tiên của văn sĩ Khái Hưng. Yêu nhau chỉ bằng tâm hồn, bằng trái tim thuần tinh khiết không gợn chút bụi trần. Cho nên cô sợ cái hình ảnh lung linh huyền ảo mà cô tưởng tượng nên sẽ tan biến nếu để họ tiến gần, thần tượng sẽ sụp đổ, vì:

Không gian như có dây tơ
Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu (Chiều, Xuân .Diệu)

Chính không gian là khoảng trống mênh mông, là khái niệm trừu tượng mà ông X.D. còn e ngại cả bước chân đi, cả cử động nhỏ nhặt nó sẽ đứt mất như phím tơ cơ mà. Thật thần sầu cho trí tưởng tượng của những tâm hồn nghệ sĩ. Lại nghe giọng hát trầm buồn nức nở của ca sĩ Thanh Thuý bài:

Buồn viết nên bài ca, vì nhớ thương đời hoa
Mặn mà thay lúc đầu, dịu dàng khoe sắc mầu
Nhìn dòng đời vui biết bao…
…ngày ấy nay còn đâu, vì xác hoa tàn mau…
(Thương Đời Hoa, Lê Dinh)

Cô nhận ra cuộc đời sao phù du thoáng chốc quá. Cái đẹp thì mong manh, dễ vỡ nên cần phải nâng niu bảo vệ. Rồi cô nghiệm ra một điều, rằng: “Những chuyện tình đẹp, khắc ghi mãi trong tâm là những chuyện tình dang dở không có đoạn kết“. Không hiểu từ đâu mà Tường Vi lại nghĩ thế? Vì cô không hề chấp nhận ai với con-người-thực của họ, mà chỉ yêu những bóng hình do mình tự dựng nên trong tâm tưởng mà thôi.

Cô nhớ lại bài thơ Ngập Ngừng, giờ thì hiểu ý của thi sĩ rất rõ. Hình như cô cũng đồng quan điểm nữa. Có phải do tiêm nhiễm tiểu thuyết nhiều quá nên đầu óc cô có vấn đề chăng?


2/-

Năm cuối bậc trung học, khi giảng về câu: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”, ông thầy dạy triết đã cắt nghĩa rất dài dòng, rối rắm về câu nói nổi tiếng của nhà duy vật biện chứng thời cổ Hy Lạp Heraclite, xong thầy đem thí dụ của chính bản thân ra kể.

Từng lời nói thì Tường Vi không nhớ, nhưng nội dung câu chuyện khắc dấu ấn sâu đậm vào tâm trí cô đến tận vài mươi năm sau vẫn không quên được. Dài theo năm tháng, còn nhiều mẫu chuyện hoặc qua sách vở hoặc có thật ngoài đời, hay vài hình bóng dù chỉ gặp thoáng qua giây phút nhưng “nó” nằm luôn trong ngăn tủ ký ức, lỳ lợm không cách gì bứt kéo ra khỏi hộc tủ được hết. Chỉ cần Tường Vi thổi tung lớp bụi thời gian phủ mờ thì nó hiển hiện sống động như mới vừa xảy ra vậy.

Và đây là câu chuyện của thầy dạy triết lớp đệ nhất trường Hưng Đạo-Saigon năm xưa:
Thầy kể rằng hồi còn là học sinh thầy đem lòng yêu thầm một cô bạn cùng lớp, là hoa khôi của trường có bao nhiêu người đeo đuổi ong bướm dập dìu. Trong khi thầy xuất thân nhà nghèo, quê mùa lại chẳng đẹp trai nên chỉ biết nhìn trộm rồi xây mơ dệt mộng về một lâu đài tình ái, dẫu biết lâu đài tình ái này mong manh như dựng trên bãi cát, chỉ cần một con sóng vỗ vào là tan rã ngay. Nhưng từ cổ chí kim có bao nhiêu gương trượng phu anh hùng chết bởi mỹ nhân rồi mà có ai ngán sợ đâu. Hể đã vướng vào tình yêu thì không có lý lẽ nào chen vào được hết.

Rồi một ngày người trong mộng theo chồng bỏ cuộc chơi, để lại sau lưng bao trái tim tan nát, trong đó tất nhiên có thầy. Thất tình, thầy chỉ biết vùi đầu vào học cho quên niềm đau.

Không đạt được đường tình thì anh học trò nghèo quyết phải đạt được đường công danh, thế rồi nhiều năm sau anh trở thành một giáo sư triết đệ nhị cấp dạy tại các trường học danh tiếng ở Saigon. Nhưng đó không phải là đề tài thầy định kể cho lũ học trò đến tuổi bắt-đầu-yêu nghe. Cách lúc thầy kể không lâu, trong tiệc cưới của một bạn học cùng lớp, thầy có dịp gặp lại người xưa. Người đã từng khiến trái tim thanh tân của anh học trò nghèo tan vụn đảo điên mà nhiều năm sau lòng anh vẫn hằng mong mỏi hy vọng hội ngộ ít nhất một lần trong đời. Giờ đây cái anh học trò mang mặc cảm tự ti đã thoát xác biến thành một người thầy phong thái đĩnh đạc tự tin, đã đủ can đảm cho cô ấy biết về mối tình câm của mình dù là trễ tràng và không cơ hội nào sửa chữa hay vớt vát gì.

Lời nguyện cầu đã thành hiện thực. Thầy đã gặp lại người trong mộng. Thầy đã hết còn nhút nhát như gã khờ khi đối diện với ai kia.
Đám học trò im phắt chờ nghe tiếp câu chuyện. Nhưng ông thầy cứ lững thững đi từ dãy bàn đầu xuôi xuống cuối lớp, rồi đi ngược trở lên mấy bận. Lặng lẽ. Suy tư. Ánh mắt xa xăm. Học trò sốt ruột thúc giục:

–Rồi sao nữa thầy? Rốt cuộc thầy có dám thố lộ nỗi lòng cho cô ấy biết không?
–Không! Thầy lắc đầu.
Cả lớp ồ lên ngạc nhiên. Thầy nói giọng buồn buồn:
–Tôi không nói vì người đàn bà tôi gặp hôm ấy đâu phải là người con gái mà tôi yêu-cuồng-điên-si-dại-ngày-xưa. Tôi không còn nhận ra chút gì nữa.
Học trò tò mò:
–Ủa, tức là sao thầy? Bộ cô ấy giải phẫu thẩm mỹ hở thầy?
Thầy nhếch mép cười, chậm rãi nhấn từng từ:
“–Không đâu. Cô ấy có nét đẹp quá hoàn hảo rồi cần gì phải chỉnh sửa nữa. Có điều cô gái mà tôi từng yêu là một người dáng dấp thon mảnh. Gương mặt tựa thánh mẫu Maria, mắt nai đen ngơ ngác, nụ cười hàm tiếu, cử chỉ dịu dàng, lời nói nhẹ nhàng từ tốn. Hồi ấy mỗi ngày tan lớp tôi đều len lén theo nàng, giữ một khoảng cách không quá gần cũng không quá xa để được nhìn bước đi thướt tha yểu điệu. Thỉnh thoảng gió thổi nâng hai vạt áo dài trắng bay bay, làn tóc xõa lã lơi khiến tôi cũng muốn hóa thành bươm bướm để được chắp cánh tung tăng bên cạnh nàng. Nàng thật sự là một thiên thần của lòng tôi dạo ấy. Nàng tượng trưng cho Chân, Thiện, Mỹ ngoài tầm tay với của tôi, chính vì không với được mà tôi càng yêu nàng bằng tất cả trái tim và linh hồn.

“Còn bây giờ sau mười mấy năm gặp lại, vẫn cùng một người nhưng không phải Nàng ngày xưa tôi yêu nữa. Chồng nàng là người địa vị, danh tiếng, giàu sang. Có lẽ cuộc sống quá sung mãn vô ưu, hạnh phúc thừa mứa, bạc tiền vung vãi…những điều đó bộc lộ rõ ở nàng. Từ dáng dấp nở nang nếu không muốn dùng từ mập mạp thì quá thô thiển, gương mặt toát lên vẻ thỏa mãn, trang điểm khá kỹ lưỡng, quần áo đắt tiền, nữ trang chói lọi, móng tay sơn đỏ cho đến điệu cười giọng nói sảng khoái reo vang.
“Vẫn là một người, nhưng tôi có cảm tưởng như là một ai khác. Quá khác biệt.

Mái tóc huyền thả dài theo tấm lưng ong giờ đâu mất tiêu, thay vào là kiểu tóc uốn cao của các mệnh phụ kiêu sa.
Có tiếng nói khe khẽ của một nữ sinh:
–A, lại cái chuyện “ngàn đời yêu em bởi mái tóc thề” của các ông si tình lãng mạn đây mà.

Thầy lắc đầu, giọng kể đều đều:
–Tôi nhìn nàng mà chết đứng như Từ Hải (tích truyện Kiều, Từ Hải nghe theo Thuý Kiều quy hàng bị Hồ Tôn Hiến giết, oan ức nên chết đứng). Trời ơi, biết vậy thà tôi đừng gặp lại nàng có lẽ hay hơn. Thần tượng của tôi sụp đổ chỉ sau vài giây tích tắc. Tôi buồn.Thật buồn. Vì tình yêu đầu tiên mà tôi ấp ủ thoắt tan biến một cách trần trụi, bẽ bàng. Nhưng nghĩ lại, đó là lỗi của tôi chứ không phải người ta. Bởi có cái gì trên đời này mà không biến đổi với thời gian đâu. Hãy ngắm nhìn cánh hoa từ lúc còn là nụ, sang búp, sau nở bung khoe hương sắc trọn vẹn, rồi úa tàn héo rũ. Một đời người cũng thế, nhất là nhan sắc phụ nữ. Thay vì tôi chấp nhận định luật chua xót tàn nhẫn rằng ai rồi cũng đổi thay theo thời gian và môi trường sống thì tôi lại trót ngoan cố thần-tượng-hóa một bóng hình trong dĩ vãng. Chính tôi cũng thay đổi mà, sao lại muốn người ta mãi là người con gái ngây thơ dịu hiền năm xưa? Tôi ích kỷ quá!

Kể xong câu chuyện, thầy kết luận:
–Đáng lẽ ra, tôi đừng nên bao giờ gặp lại người xưa để hình ảnh đẹp luôn còn đẹp mãi trong lòng tôi.

Tường Vi vốn đã là người siêu mơ mộng. Nay nghe ông thầy kể về sự thất vọng của ông khi gặp lại người xưa, khiến cô hoang mang. Về kể lại cho chị Ái Vy nghe. Hai chị em bàn luận cả buổi tối rồi kết luận là phải chờ vài mươi năm nữa mới có thể nói là ông thầy có lý hay không. Bởi cả hai đều còn chưa bước vào đường tình, mặt mũi non choẹt biết gì mà nói.

3/-

Mỗi lần cội mai tứ quý của ông ngoại trồng trước sân nở hàng trăm đóa hoa vàng rực đón mùa xuân về thì tuổi của Tường Vi được cộng thêm một con số.

May mắn thay. Con số tuổi cộng dần cao lên bao nhiêu thì tỷ lệ nghịch với nhân sinh quan về một tình yêu thánh thiện toàn Chân, toàn Thiện, toàn Mỹ trên mây hạ thấp dần từng nấc thang xuống cho ngang với bề mặt trần thế bấy nhiêu. Chỉ thỉnh thoảng còn la đà vương vất trong sâu thẳm ngóc ngách tâm hồn Tường Vi với chút hy vọng là biết đâu giữa đời thực cũng có một người giống hệt như mình mơ ước. Nhiều năm sau, khi đã có một cuộc sống bình an hạnh phúc trong quan niệm giản đơn bình dị nhất, thỉnh thoảng ngẫm nghĩ lại Tường Vi vẫn cười một mình, tự giễu cợt cho sự cầu toàn ngô nghê ấy.

Cô dùng từ may mắn cho việc cô hạ bớt cái điều kiện khắt khe để có được một Tình-Yêu-đích-thực với một người đàn-ông-đích-thực cùng với các bản-ngã-đích-thực, gồm lục dục thất tình chứ không phải được nhào nặn hoặc vẽ ra như bức tượng Apollon (thần thoại Hy Lạp), tranh nữ thần Venus (thần thoại La Mã) chỉ đẹp bởi hình thức mà vô tri vô giác. Tức là ở mỗi con người đều trộn lẫn giữa cao-thượng và tầm-thường, giữa hy-vọng và thất-vọng, giữa đại-lượng và tức-giận, giữa tha-thứ và căm-thù, giữa hân-hoan và khổ-đau…mà cán cân nghiêng về phần nào–Thiện hay Ác–là do tự bản tánh của họ.

Nếu Tường Vi vẫn còn thả hồn trên mây như thuở đầu đời thì cô đã trở thành một bà-cô-già không chồng khó tánh mặt mũi nhăn nhó suốt ngày càu nhàu. Phê bình bắt lỗi hết chuyện này qua chuyện nọ chớ làm sao hưởng được hạnh phúc với người chồng tuyệt vời mà tấm lòng nhân ái sự dịu dàng tế nhị, hài hước yêu đời đã chuyền sang cho cô tính lạc quan dù trong hoàn cảnh tệ hại nhất vẫn nhìn thấy “ly nước còn đầy phân nửa chứ không phải đã vơi phân nửa“. Như người ta hay nói là luôn luôn có ánh sáng ở cuối đường hầm hoặc Trời không lấy của ai hết mọi thứ mà không cho lại ai thứ khác để bù trừ.

Cái thời Tường Vi mấp mé giữa hai ngưỡng cửa: vẫn chưa hẳn rời vùng tuổi-mới-lớn và chỉ mới lúng túng bước vào tuổi-trưởng-thành. Tương lai là một viễn cảnh sáng tươi hứa hẹn toàn hoa thơm cỏ lạ với nhã nhạc rộn ràng du dương chờ đón–đó là cô những tưởng phải là như thế–. Ôi đáng yêu làm sao giấc mơ đầu đời của những cô chiêu cậu ấm chưa bao giờ nếm mùi thất bại hay phải đánh vật với cơm áo gạo tiền.

4/-

Hồi nhớ lại thuở ấy: một hôm anh bạn của chị Ái Vy mang cho mấy chị em tuyển tập truyện ngắn Những Cuộc Tình Không Trở Lại, chọn lọc các truyện hay nhất thời đại của nhiều văn sĩ Tây phương. Đọc xong quyển sách, cô Tường Vi vốn mơ mộng nhà ta lại được một phen bàng hoàng ngẩn ngơ suốt thời gian dài, cho mãi đến nay ý nghĩ vẫn còn quay quắt không quên.

Những tưởng đoạn kết câu chuyện ấy chỉ ám ảnh một mình cô thôi, ai dè cách đây không lâu cô nhắc với chị Ái Vy:
–Chị có nhớ trong quyển Những Cuộc Tình Không Trở Lại có câu chuyện tình thế này, thế này…mang tựa gì không? Cô tóm lược vắn tắt.
Ái Vy trả lời ngay tức khắc:
–Nhớ chứ. Đó là truyện Chàng Tóc Đỏ.
–Tác giả nào vậy?
–Chị chỉ nhớ man mán hình như của văn sĩ Anh Somerset Maugham thì phải.
–Câu chuyện nầy kết cuộc buồn thảm quá chị nhỉ.
Chị Ái Vy triết lý:
–Đúng vậy, cuộc đời có khi chua chát phũ phàng thế đó. Cho nên những ai trong quá khứ đã có mối tình đẹp thì đừng bao giờ nghĩ chuyện về già đi tìm lại hình bóng cũ để khỏi phải thất vọng não nề.
Thì ra không phải chỉ riêng cô không quên câu chuyện ấy mà cả chị Ái Vy cũng nhớ dẫu đã vài thập niên trôi qua. Suy ra, chắc chắn câu chuyện nầy cũng để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng những độc giả đã đọc qua.

Họ một thời yêu nhau với mối tình mãnh liệt trong tuyệt vọng, thế mà khi gặp nhau lại không nhận ra nhau. Sự nghiệt ngã của thời gian là đó. Nó tác dụng lên hình hài gương mặt của chúng ta đến độ ta không còn nhận ra nhau ở thời hiện tại. Bởi trong tâm khảm người nầy chỉ giữ lại hình bóng thời thanh xuân của người kia, và tình yêu luôn ngự trị trong trái tim là dành cho hình bóng của quá khứ ấy mà thôi.

Sơ lược chuyện Chàng tóc đỏ*

*Người viết -TH- tả cốt truyện nầy chỉ theo trí nhớ nên chắc nhiều sai sót và thêm thắt, nhưng nội dung và phần kết vẫn tôn trọng đúng ý của văn sĩ. Th.H

Một chiếc tàu buôn ghé vào một ốc đảo nằm đâu đó giữa Thái Bình Dương (?) để tránh cơn bão đang hoành hành. Chúa đảo bèn mời viên thuyền trưởng đến nhà ăn tối uống rượu theo thói quen hiếu khách mỗi khi có chiếc tàu lạ nào ghé lại. Vì “ở đây chỉ là cái rẻo đất bé bằng bàn tay, dân số ít ỏi đi ra đi vào chỉ gặp bấy nhiêu gương mặt nên hể có khách lạ thì đều được chúng tôi hoan hô đón nhận nồng nhiệt, để thêm chút sinh khí cho sự cùn mòn đơn điệu hàng ngày”. Đó là lời chúa đảo nói với khách.

Chúa đảo là người đàn ông có nước da ngăm đen, thân hình rắn rỏi, mái tóc muối tiêu dài xoã vai, hàm răng hơi vàng vì ám nhựa thuốc nhưng đôi mắt vẫn còn tinh anh sáng quắc trên gương mặt góc cạnh khắc khổ.
Thuyền trưởng tóc loăn xoăn rối rắm màu bạch kim, đôi mắt xanh nhạt hơi lờ đờ, hai má phì phị đỏ hồng (vì có lẽ ông nốc nhiều rượu) dáng đi bệ vệ nặng nề bởi chiếc bụng phệ.
Cả hai có lẽ cũng ngang tuổi nhau, độ ngoài 50.

Bên ngọn đèn dầu vàng vọt, hai cái ly, dĩa mồi nhậu khá tươm tất mà thuyền trưởng cũng vì lịch sự không dám hỏi là thịt của con thú gì. Một chai rượu ngoại sản xuất từ Pháp mà chúa đảo nói được tặng từ một trong các tàu buôn ghé qua đảo trao đổi hàng hoá, ông để dành cho những dịp đặc biệt chẳng hạn như đêm nay, tự nhiên ông muốn tâm tình với khách.
–Có lẽ vì thời tiết gió bão ngoài trời khiến ông trở nên yếu mềm chăng? Thuyền trưởng hỏi.
–Không hẳn. Cũng có lẽ vì nguyên do nào khác mà mình không giải thích được, chỉ cảm nhận bằng giác quan thứ sáu thôi. Chúa đảo trả lời vòng vo.
Thuyền trưởng nốc một hơi cạn nửa ly rượu Dom Pérignon ậm ừ không ra vẻ đồng tình hay phản đối.

Chúa đảo kể bằng giọng đều đều:
–Giữa lòng đại dương nước xanh ngan ngát nổi lên một ốc đảo được ví như thiên đường nơi hạ giới cũng không ngoa. Bởi khí hậu quanh năm mát mẻ hè cũng như đông. Những hàng dừa thẳng tắp dày đặc khắp nơi cho nhiều trái dùng trao đổi hàng hoá với các tàu buôn. Những bụi dâm bụt, đỗ quyên, trúc đào cùng vô số kỳ hoa dị thảo khoe sắc màu đỏ hồng vàng trắng. Bướm từng đàn lượn bay không ngừng từ hoa này sang hoa khác. Trái cây miền nhiệt đới đủ loại. Dưới biển thì cá, sò, nghêu, ốc, trên bờ thì thú rừng cũng như súc vật nuôi…Người dân từ già tới trai tráng thiếu nữ trẻ con đều hạnh phúc và hài lòng với món quà mà Thượng Đế hay Mẹ Thiên Nhiên trao tặng.

Những hôm trời trong xanh mấy ngọn dừa lã mình vươn dài ra tận mé nước như muốn hứng làn gió từ biển mơn man thổi vào. Dân làng sau giấc ngủ trưa thường kéo nhau ra bãi tắm. Đám trẻ con đùa nghịch đã đành, mà cả các thanh niên thiếu nữ cũng góp trò làm náo động cả sự yên tĩnh. Trong nhóm thanh niên có một nàng thiếu nữ tuổi đôi tám mà nét kiều diễm đôi mắt đen to, mũi thẳng dọc dừa, thân hình trẻ trung bốc lửa, mái tóc huyền chấm eo làm rung động hầu hết trái tim các chàng. Cô gái biết lợi thế của mình nhưng vờ như vô tư kết bạn hòa đồng với tất cả để khỏi tạo sự ganh ghét giữa họ.

Ngày kia, một chiếc tàu buôn bị bão đánh chìm chỉ có một người ôm mảnh ván trôi dạt vào bãi được dân đảo cứu sống. Đó là chàng trai độ 19 tuổi, vạm vỡ mắt xanh biếc, chiếc miệng cười lúm hai đồng tiền duyên, hàm răng trắng bóng. Nổi bật nhất là mái tóc đỏ rực như ráng trời ôm lấy khuôn mặt thanh tân.

Tất nhiên là chàng trai và cô gái bị cú sét ái tình đánh trúng ngay lập tức. Chàng bị nàng thu hút bởi nét yêu kiều, hoang dại của nàng. Nàng bị chàng thu hút bởi vẻ đẹp cháy bỏng của mái tóc đỏ, màu da trắng trứng gà bóc, mắt xanh thẳm màu trời và bởi các giai điệu mélodie du dương qua giọng hát trầm quyến rũ.

Các bô lão đều cầu mong chàng sẽ cưới nàng, ở lại làm cư dân của đảo. Hơn nữa để gây giống tốt cho thế hệ kế tiếp, nếu không sẽ có nguy cơ là họ hàng kết hôn lẫn nhau sản sinh ra thế hệ nối tiếp dở điên hay ngốc nghếch.Thắm thoát chàng đã ở đảo nửa năm. Tuy hàng ngày mọi người đều thấy hai người trẻ luôn cùng nhau bất luận chỗ nào, tiếng cười nói hát ca rộn rã, nhựa sống trào dâng. Nhưng đôi lần đang trong cơn đùa nghịch lặn ngụp cùng sóng biển thân hình chàng bỗng đông cứng sững sờ, ánh mắt dõi theo bóng các con tàu còn là cái chấm nhỏ xuất hiện ở chân trời, vẻ háo hức hy vọng.

Rồi khi biết nàng đang nhìn mình, chàng liền mĩm nụ cười khoe hàm răng sáng bóng, nét vui tươi trở lại để nàng an lòng. Nàng hỏi:
–Anh nhớ quê hương gia đình phải không?
–Vâng, anh nhớ ba mẹ và người thân. Chắc họ tưởng anh đã chết theo chiếc tàu đắm rồi. Anh thành thật trả lời.
Nàng lo sợ hỏi tiếp:
–Thế anh có ý định trở về không?
–Nếu anh có trở về thì anh sẽ mang em theo cùng, vì em đã là vợ anh rồi mà.
–Nhưng em lại muốn anh sống ở đây. Vì chỉ nơi nầy mới là nơi thích hợp với em. Vào đất liền chắc chắn mọi người sẽ không chấp nhận em đâu, một thiếu nữ ốc đảo hoang dại thất học. Em làm sao thích nghi với thế giới văn minh của anh được.
Chàng tóc đỏ ôm cô gái vào vòng tay rắn chắc, thề thốt:
–Anh hiểu. Anh sẽ ở lại đây với em. Không khi nào anh rời xa em hết.
Cứ thế thời gian lặng lẽ trôi…
Hai người trẻ sống trong hạnh phúc ứ tràn tưởng không gì có thể chia rẽ được.

Cho đến một hôm. Có một chiếc tàu buôn loại nhỏ ghé ngang vì “tình cờ và tò mò muốn biết trên đảo có hàng hoá gì có thể trao đổi không” như lời viên thuyền trưởng. Ông ngạc nhiên nhận ra Chàng-Tóc-Đỏ:
–Ơ kìa, là cháu đó ư? Vậy mà mọi người tưởng cháu đã chết theo chiếc tàu đắm rồi.

Ông kể lại nỗi buồn khổ của cha mẹ chàng và yêu cầu chàng theo tàu về cố quốc. Chàng lưỡng lự nhưng sau cùng từ chối, nói đã có vợ và muốn ở lại đây. Nhờ thuyền trưởng chuyển lời cho cha mẹ và hứa trong tương lai sẽ về thăm họ.
Viên thuyền trưởng lắc đầu nghĩ thầm:
–Đây chỉ là sự bồng bột của tuổi trẻ. Qua cơn đam mê rồi chàng sẽ hối tiếc vì làm sao có thể sống ở một nơi hoang dã xa cách mọi tiếp xúc với nền văn minh khoa học kỹ thuật được. Hơn nữa cha mẹ của chàng là người quen biết của ta, ta phải tìm cách đem chàng về với họ mới được.

Vài hôm sau. Họ dụ dỗ Chàng Tóc Đỏ lên tàu chơi, lấy cớ trao cho chàng một món quà dành tặng vợ nhưng để gây ngạc nhiên cho cô nên chàng chỉ lên tàu một mình chứ đừng báo cho cô biết. Chàng tin lời, lén theo thuyền trưởng trong khi cô vợ đang nấu ăn chiều.

Mọi người trên tàu đã chuẩn bị theo lời dặn của thuyền trưởng, khi chàng vừa đặt chân vào phòng lái thì tàu nhổ neo khởi động máy từ từ ra khơi. Chàng hoảng hốt chạy đến mũi tàu định nhảy xuống nước nhưng đã bị mọi người xúm vào níu chặt, dùng dây trói hai tay hai chân và đè dí vào một góc, mặc cho chàng la thét van nài. Thuyền trưởng nói vào tai chàng:

–Ta buộc lòng đối xử với con theo cách này để mang con về với gia đình và tổ quốc. Và cho tương lai con nữa, hãy tha thứ cho ta.

Dân trên đảo về báo tin cho cô gái. Nàng hoảng loạn chạy ra bãi gào khóc thê thảmnhưng bất lực nhìn con tàu xa dần mang theo Chàng-Tóc-Đỏ. Nửa trái tim, nửa cuộc đời của nàng cũng theo con tàu rời xa nàng từ dạo ấy.
Khi chúa đảo kể đến đấy thì từ căn buồng phía sau một người đàn bà bước ra, đến mở cánh cửa chính nhìn ra ngoài trời vẽ bồn chồn. Luồng gió lạnh lùa vào phòng, qua ánh đèn dầu thấy màn mưa dày đặc thi nhau rơi ào ạt hắt vào hiên nhà loáng nước. Chúa đảo giới thiệu với viên thuyền trưởng:
–Đây là vợ tôi.
Quay sang vợ, ông giải thích :
–Đây là thuyền trưởng chiếc tàu chở hàng chiều nay neo ngoài bến để tránh bão.
Hai người chỉ thoáng nhìn nhau và gật đầu chào xã giao chiếu lệ. Vợ chúa đảo lên tiếng:
–Để tôi đốt thêm ngọn nến to cho sáng sủa ấm áp nhé. Trời có bão lạnh lẽo quá.
Xong bà đi khuất ra đằng sau. Chúa đảo nói với khách:
–Bà ấy có thói quen mỗi chiều đi ra ngoài bãi ngóng nhìn các con tàu chạy ngang cho đến tối mịt mới về. Từ lúc về làm vợ tôi đến giờ mấy chục năm vẫn giữ thói quen ấy, ngoại trừ hôm nay bão hoành hành mạnh quá nên không đi được.

Người đàn bà cao dong dỏng, nước da nâu sậm giống chồng, tóc đen xen lẫn nhiều sợi bạc được vấn vòng quanh đầu, cài bằng chiếc kẹp kèm đoá hoa sứ trắng thoảng mùi hương. Cặp chân mày nhíu lại viền quanh hai hốc mắt đen sâu u buồn. Gương mặt hằn lên nét cô độc lạnh lùng. Lát sau bà trở ra mang thêm cây nến to đặt lên bàn. Bóng ba người in lên bức vách hình thù nghiêng ngả.

Chúa đảo kéo ghế mời bà ngồi cạnh, nhưng bà từ chối:
–Thôi để các ông ngồi uống rượu với nhau cho được tự nhiên. Tôi xin phép đi nghỉ sớm.
Quay sang thuyền trưởng, bà hỏi:
–Bao giờ thì tàu ông nhổ neo? Phải chờ tan bão chứ?
–Vâng. Tôi hy vọng nội ngày mai bão ngớt, tàu sẽ lên đường ngay cho kịp giao hàng.
–Vậy chúc ông thượng lộ bình an. Chào ông.
–Chào bà, cám ơn thật nhiều về sự tiếp đón.
Thuyền trưởng lịch sự đứng dậy bắt tay vợ chúa đảo. Hai người thoáng nhìn nhau cách thản nhiên thờ ơ, rồi người vợ vào trong.
Bên ngoài mưa vẫn tiếp tục rơi.
Chúa đảo bỗng thì thầm:
–Người thiếu nữ mà tôi vừa kể chính là bà vợ của tôi đó. Còn tôi là một trong số những chàng trai đảo quê mùa đã từng tắm nghịch cùng nàng và si mê nàng điên dại.
Viên thuyền trưởng dường như đã ngà say, chỉ đưa mắt lờ đờ nhìn vào ánh nến lung linh không phản ứng gì.

Đêm dần về khuya. Hai người đàn ông lặng lẽ uống nốt phần còn lại của chai vang thứ ba.
–Thôi tôi xin phép về thuyền đây. Có lẽ mai trời yên biển lặng chúng tôi sẽ rời bến luôn mà không chào ông nữa. Tôi cám ơn ông bà về buổi tối hôm nay thật nhiều. Không biết có dịp nào quay lại đây không, vì tôi còn đi hai chuyến nữa là xin lên bờ nghỉ hẳn rồi.
Chúa đảo đưa thuyền trưởng đến cửa. Lúc bắt tay để từ giã, chúa đảo nói:
–Một câu hỏi, nếu ông không thích trả lời thì thôi nhé. Tôi có được hân hạnh biết tên của ông không?
Viên thuyền trưởng không trả lời, mở tung cánh cửa, ra ngoài. Gió đã hơi ngớt, chỉ còn những sợi mưa nhỏ lất phất. Khi sắp bước xuống bậc cấp mới quay đầu lại, nói giọng khàn khàn:
–Đã khá lâu rồi tôi quên, giờ ông nhắc mới nhớ. Ngày xưa người ta gọi tôi là Chàng Tóc Đỏ!

Nàng thiếu nữ yêu suốt đời và mong ngóng trong vô vọng chàng-tóc-đỏ một ngày sẽ quay lại ốc đảo tìm nàng để tiếp nối chuyện tình vừa nở đã bị lìa xa. Nàng hờ hững với người chồng bao năm qua luôn đi bên cạnh cuộc đời nàng, người luôn bảo bọc che chở trân trọng sự thuỷ chung của nàng dành cho mối tình đầu. Chấp nhận làm một cái bóng mờ không ghen tuông vị kỷ. Thế mà nàng vẫn không sao quên được người xưa.

Bi kịch ở chỗ nàng chờ mong ngày lại qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm. Thế mà khi hai người gặp nhau, không ai nhận ra ai dù một mảy may thoáng chốc.
Trời ơi! Thì ra nàng chỉ nhớ và yêu một bóng ma dĩ vãng!

Xa em đi như trong cổ tích
Gặp nhau rồi mà không thấy nhau (Th. H)

Thanh Hà

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2026

Sáng Chủ Nhật Hồng

 

Sáng ra đi Mặt Trời chưa thức dậy
Nhưng đã nghe chim hót trên đầu cây
Cùng gió khẽ mơn mơn trên đôi má
Mùi hương nồng thoang thoảng của cỏ cây
Các đứa trẻ mùa hè còn ngủ trễ
Nên con đường vắng bóng những học sinh
Đây dấu chân ta in bóng trên đường
Kia hoa nở ngẩn ngơ đang chào đón
Kìa Mặt Trời đang lên dần ánh nắng
Chôn kín bẽ bàng bóng tối đêm qua
Ta vội vã bước đi lòng hưng phấn
Thoát xác một đêm linh hồn say ngủ
Quay trở về ngày bận rộn đa đoan

Hồng Vân

Kính Mừng Phật Đản



Mừng Phật Đản, muôn phương thiết lễ
Cúng dường ngày Nhập Thế Thích Ca
Thấm nhuần giáo lý Phật Đà
Tâm bình, thế giới an hòa sống vui

Mừng Phật Đản hãy nuôi mầm thiện
Phật xuống đời thị hiện chúng sanh
Nhân gian mừng đón Cha lành
Tháng Tư rằm đến, tâm thành dâng sen

Mừng Phật Đản, ghét ghen buông bỏ
Ánh đạo vàng sáng tỏa trần gian
Tại gia thắp nén hương nhang
Trên cao Phật chiếu hào quang sáng lòng

Mừng Phật Đản, sen hồng hương ngát
Tiếng Nam Mô lấn át sân si
Hồi chuông cửa Phật từ bi
Âm vơi nghiệp chướng, xua đi bạo hành

Mừng Phật Đản, tâm thành khấn nguyện
Phật từ bi, Pháp chuyển Trí minh
Khiến cho kẻ ác lui binh*
Tan đi sân hận, hòa bình đến thôi!

Duy Anh
Phật Lịch 2570
31/5/2026
*Chiến tranh do Nga xâm lấn Ukraine 
từ 24/2/2022 đến nay đã và đang tiếp diễn


Bến Sông Mê

 

Tuổi già lận bận thêm già ghê
Mấy cái xuân xanh đã bộ bề
Một thoáng qua mau đời trở giấc
Trăm năm còn lại mảnh trăng thề

Đó đây bằng hữu dần xa khuất
Đời vắng thân thương cũng khổ ghê
Đất khách đêm dài mơ cố quận
Tưởng chừng lưu lạc bến sông mê.

Năm chục năm trời đời thấy lạ
Nhiễu nhương bốn biển đã ê chề
Mải mê đi lạc đường vô vọng
Thương nhớ quê nhà dạ tái tê.

Bến tỉnh bến mê đời tĩnh lặng
Tưởng chừng bến mộng ở hương quê
Xa xôi mờ ảo hồn lay động
Một mớ thương đau cũng não nề.

Đăng Nguyên

Tưởng Nhớ Ca Nhạc Sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh (Anh Đi & Anh Về Với Em)


Trước 30/04/1975, nhiều bài báo, nhiều bài viết xếp: Chế Linh, Duy Khánh, Hùng Cường và Nhật Trường Trần Thiện Thanh là bốn Ca Nhạc Sĩ nổi tiếng nhất của nền Tân Nhạc Việt Nam Cộng Hoà.

Riêng tôi, Ca Nhạc Sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh là người tôi ái mộ nhất. Khi còn là học sinh, tôi thường nhịn ăn quà để dành tiền mua các nhạc phẩm do Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác, cũng như tập hát những bài hát của ông.

Năm 1965.Trong một lần đến Đài Phát Thanh Quân Đội, số 2 Bis Đường Hồng Thập Tự dưới chân cầu Thị Nghè, đối diện với Sở Thú Sài Gòn. Hôm đó, tôi đi với bạn cùng lớp NPT. Bạn là em của Nữ Ca Sĩ Tâm Đan phụ trách chương trình “Quân Nhân Vui Sống”. NPT xin Nữ Ca Sĩ Tâm Đan cho tôi được thử giọng, nếu thấy được thì cho tôi góp vui trong chương trình bài hát “Anh Về Với Em” do Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác. Sau khi nghe xong, thấy được, nên Nữ Ca Sĩ Tâm Đan đồng ý cho tôi hát trong chương trình của cô.

Trong lúc đang thu băng thì Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh vào phòng thu đề tìm Nữ Ca Sĩ Thanh Thúy. Tình cờ nghe tôi hát, Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh gật đầu có vẻ hài lòng.

Khi ra về, tôi đi ngang qua phòng chương trình do Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh phụ trách. Gặp ông, tôi cúi đầu chào từ giã. Ông mời tôi vào phòng và nhẹ nhàng nói với tôi,“Sau khi nghe em hát, Anh tin rằng em có thể trở thành ca sĩ, nếu như được sự hướng dẫn và huấn luyện đàng hoàng.”

(Tác Giả)

Tôi trả lời, tôi chỉ hát cho vui. Chuyện chính là phải lo học để Ba Má vui lòng. Tôi sợ theo con đường ca hát sẽ bỏ bê việc học hành, ảnh hưởng đến tương lai. Sau đó, Ông nói tôi chờ một chút, ông lấy trong hộc bàn ra một số bài hát do ông sáng tác, được in trên giấy láng đặc biệt và ký tặng cho tôi. Điều này, làm tôi rất cảm động. Từ đó, tôi không còn cơ hội gặp lại ông, vì phải chuẩn bị sắp đến ngày thi, và tiếp đến bước chân vào đời quân ngũ. Tôi chỉ còn được thưởng thức giọng hát của Ca Sĩ Nhật Trường trên các Đài Phát Thanh, hay Vô Tuyến Truyền Hình mà thôi!

Sau ngày 30/04/1975, sự nghiệp ca hát của Ca Sĩ Nhật Trường coi như chấm dứt. Một thời gian sau thì được phép hát trở lại những bài ca, mà chính quyền đã kiểm duyệt.
Thời gian này, ông lập gia đình với Nữ Ca Sĩ Kim Dung, khi hai người đi hát chung. Trước đó, Kim Dung là Ca Sĩ trong Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương. Nữ Ca Sĩ Kim Dung là cựu học sinh Trường Trung Tiểu Học và Nội Trú Huỳnh Thị Ngà, số 10 Đường Trần Nhật Duật,Tân Định, Quận Nhứt cùng chung lớp Đệ Lục với tôi.

Lúc đi học, Kim Dung nổi tiếng với Nhạc Phẩm “Tiếng Hát Đồng Xanh”, Nhạc Hồ Đình Phương và Châu Kỳ. Trong một lần về Sài Gòn, tôi đến thăm Kim Dung tại số nhà 170 Lô A, Chung Cư Phạm Thế Hiển, F4, Quận 8, nhắc lại những kỷ niệm hồi đi học. Trong lúc trò chuyện, tôi hỏi Kim Dung sao không thấy bạn năm Đệ Ngũ? Kim Dung cho tôi biết, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên đành phải thôi học sớm.

Nữ Ca Sĩ Kim Dung, tức Bà Lucia Nguyễn Thị Kim Dung đã được Chúa gọi về ngày 06 Tháng 05, năm 2025. Hưởng thọ 78 tuổi.
Xin Thành Kính Phân Ưu cùng Tang Quyến. Nguyện cầu Linh Hồn Bà Lucia Nguyễn Thị Kim Dung sớm hưởng Nhan Thánh Chúa

Nhật Trường Trần Thiện Thanh và nữ Ca Sĩ Kim Dung có một con trai là Trần Thiện Anh Chinh. Sau đó thì ly dị. Ông làm hồ sơ xuất cảnh đi Mỹ cùng con trai (được sự đồng ý của ca si Kim Dung) theo diện hôn nhân với một nữ ký giả ở Nam Cali.

Vào năm 1993, ông và con trai Anh Chính rời Việt Nam đến Mỹ. Sau 90 ngày, Nhật Trường Trần Thiện Thanh và nữ ký giả đã không tiến hành làm hôn thú chính thức, vì có những khúc mắc không rõ lỗi phải về bên nào. Kể từ đó, tình trạng di trú của Nhật Trường Trần Thiện Thanh coi như không hợp lệ, nên sự nghiệp ca hát tại Hải Ngoại của ông gặp muôn vàn khó khăn, bế tắc. Nhật Trường chi đi trình diễn quanh quẩn trong vòng nước Mỹ. Ngoài ra, việc cộng tác với các Trung Tâm Sản Xuất băng nhạc gặp trở ngại vì hai bên có nhiều điểm bất đồng không thể hợp tác được.

Người vợ thứ ba của Nhật Trường Trần Thiện Thanh tại Hoa Kỳ là nữ Ca Sĩ Mỹ Lan. Hai người có một con trai tên Trần Thiện Anh Chí.
Đến khi con trai trưởng của Ông là Trần Thiện Anh Chương với người vợ đầu tiên là Bà Trần Thị Liên đi vượt biên trước đó đủ điều kiện bảo lãnh cho ông để có thẻ xanh thì ông trở bệnh nặng và mất.

Nhặt Trường Trần Thiện Thanh mất ngày 13 Tháng 05, năm 2005 tại Nam Cali. Hưởng thọ 63 tuổi. Tính đến nay đã hơn 21 năm.

Sự ra đi của Ca Nhạc Sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh là một mất mát cho nền Tân Nhạc Việt Nam. Dù sao, Ca Nhạc Sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh cũng đóng góp một gia tài âm nhạc lớn lao với nhiều nhạc phẩm giá trị đã gieo vào lòng khán thính giả mến mộ sự thương tiếc vô vàn, trong số đó có tôi. Lúc nào, tôi cũng xem Nhật Trường Trần Thiện Thanh là Thần Tượng.

Xin được hát Liên Khúc “Ngày Anh Đi và Anh Về Với Em”. đề tưởng nhớ Ca Nhạc Sĩ Tài Hoa Nhật Trường Trần Thiện Thanh. Đây là hai bài hát của Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh viết về LÍNH, mà tôi thích nhất.
Nhạc phẩm “Ngày Anh Đi” sáng tác vào năm 1964, cùng lúc với nhạc phẩm “Anh Về Với Em” được rất nhiều người biết đến và được nhiều ca sĩ hát trong cuối thập niên 60’s và 70’s.

Nhạc phẩm “Anh Về Với Em” cho đến nay vẫn còn được nhiều biết đến. Riêng. Nhạc Phẩm “Ngày Anh Đi” hầu như đang chìm dần vào quên lãng.

Trần Đình Phước
(San Jose, California)

Lòng Ta Là Những Vàng Thu


Vàng thu cứ thế mỗi chiều chiều
Nhặt lá gom đầy xếp chữ yêu
Chỉ một ô hay sao lắm thế
Bao nhiêu lá rụng ít hay nhiều


Thơ & Ảnh: Kim Phượng