Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

Thơ Tranh: Từ Khi

Gửi tặng anh Bảy để tưởng nhớ Một Người đã ngủ yên 22/6 (Chín Oanh)

Thơ:Lê Kim Hiệp
Thơ Tranh: Kim Oanh

Nỗi Buồn Xứ Thượng


Đời em đó một lần Xuân nở
Một lần yêu dang dỡ tình đầu
Một lần ai tạo cuộc bể dâu
Con tim nhỏ rụng sầu ngưng nhịp

Một lần chưa kịp nụ anh trao
Pleiku mưa chợt nấc nghẹn ngào
Cao xanh nỡ chia tình vừa mọng
Tiếng vọng còn âm ỉ thời gian

Cứ mùa mưa điệp khúc rộn ràng
Cung buồn réo gọi vang hồi tưởng
Ngày tang thương đôi ngã lìa xa
Anh ở lại tim già chết lặng

Nhớ chăng em! Con đường đất đỏ
Buổi hẹn xưa lời ngõ những gì
Lá hoa ong bướm,giờ kỷ niệm
Mực tím lòng lưu giữ ngàn sau

Tình sử buồn Cao Nguyên còn khắc
Đêm tối trời sao tắt Pleime
Lắng nghe tim khóc miền Sơn Cước
Ước một lần gặp đóa hồng xưa!

22 tháng 6 ngàn mưa mãi!

Vĩnh Long 22/06/2010
LêKimHiệp

Hoa Cỏ Pleime!


( Tưởng nhớ một Đoá Hoa Pleime ngày 22/6 )

Đồi Pleime khô vàng hoa cỏ
Tung tăng đùa thoảng gió chiều êm
Bám nhẹ vai anh nụ hôn mềm
Đôi tay trần tóc lùa ươm mộng

Gió Cao Nguyên xanh trời lồng lộng
Vọng tiếng còng réo gọi hồn mê
Lần dốc mơ phong toả lối về
Em hoa cỏ trăng thề gối ngủ

Kim Oanh
22/6/2010

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2015

Ngày Lễ


(Nhân ngày lễ Cha)

Mỗi ngày trong tôi mỗi ngày lễ
Tưởng nhớ ơn sâu tựa biển trời
Dằng dặc trăm năm khôn trả nổi
Thẹn lòng con trẻ quá người ơi

Năm nay tám chục mong trẻ lại
Như được Lão Lai múa trước sân
Mà bóng xuân huyên rày xa vắng
Đếm hoài chín chữ lại bâng khuâng

Quê cũ giờ đâu hình bóng cũ
Nơi này thay đổi lạnh thân già
Cúi đầu mường tượng bên hiên vắng
Tiếng gọi ấm lòng xa rất xa

Chân Diện Mục

Nhớ Người


Bài thơ huấn tử nhắc đêm ngày
Giữ đạo lưu truyền mãi đến nay
Nhựa sống rừng tre dù sắp cạn
Tàn cây lá hiếu vẫn chưa đầy
Đơn sơ bữa rượu thường cha dạy
Khổ nhọc đời con nặng túi đay
Tưởng nhớ canh trường nghe thổn thức
Thương người mạc vận cũng hơn thầy.

Cao Linh Tử
22/6/2015

Nhớ Bố


Chưa bao giờ con làm thơ về bố
Vì bố ơi con bố cảm nhận rằng
Chẳng có ngôn từ nào con diễn tả
Có thể tả hết ý tình, tình bố đã thương con

Được bố thương, bố hiểu nhất trong nhà
Được bố cưng từ thuở vừa mở mắt
Bố giải bầy bao nhiêu điều thắc mắc
Bố hỏi han, quan tâm, luôn chìu chuộng, quí thương con

Dậy dỗ con, bố luôn khuyến khích con
Luôn ôn tồn, luôn nhẹ nhàng, kiên nhẫn
Bố hiền lành, là người biết tri ân
Sống đơn giản, thích bố thí, để đức cho con cái

Bố mất đi, con chơ vơ trên đời
Con mất bố là mất cả bầu trời
Đâu nào biết tử biệt buồn đến thế
Đâu còn dịp nào… bố ơi, con chở bố đi chơi…

Bố mất đi, bố yêu của con ơi..
Con hụt hẩng, đời sống này trống vắng
Bố mất đi… còn ai ở trên đời
Trợ giúp con, khuyên bảo con mỗi khi con buồn khổ?

Bố con mình hay tâm đắc, chuyện trò
Cùng sở thích, thơ, xi nê, âm nhạc
Bên cạnh bố, thấy được thương và hiểu
Thấy bình an vô vàn, thương bố nhiều, thương bố lắm bố ơi!

Chưa bao giờ con làm thơ về bố
Để trong lòng nhiều khi thấy hay hơn
“Người đàn ông quan trọng nhất đời tôi”
Là bố đó, viết hết lòng, con đã viết đoản văn này cho bố

Quách Như Nguyệt
June 20th, 2015

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2015

Yến Thi 燕詩 - Bạch Cư Dị


燕詩                 YẾN THI

梁上有雙燕。 Lương thượng hữu song yến,
翩翩雄與雌。 Phiên phiên hùng dữ thư.
啣坭兩椽間。 Hàm nê lưỡng triện gian,
一巢生四兒。 Nhất sào sinh tứ nhi.
四兒日夜長。 Tứ nhi nhựt dạ trưởng,
索食聲孜孜。 Sách thực thanh tư tư.
青蟲不易捕。 Thanh trùng bất dị bổ,
黃口無飽期。 Hoàng khẩu vô bảo kì.
嘴爪雖欲弊。 Chủy trảo tuy dục tệ,
心力不知疲。 Tâm lực bất tri bì.
須臾十來往。 Tu du thập lai vãng,
猶恐巢中饑。 Do khủng sào trung ki ( cơ ).
辛勤三十日。 Tân cần tam thập nhật,
母瘦雛漸肥。 Mẫu sú sồ tiệm phì.
喃喃教言語。 Nam nam giáo ngôn ngữ,
一一刷毛衣。 Nhất nhất loát mao Y.
一旦羽翼成。 Nhất đán vũ dực thành,
引上庭樹枝。 Dẫn thượng đình thọ chi.
舉翅不回顧。 Cử xí bất hồi cố,
隨風四散飛。 Tùy phong tứ tán phi.
雌雄空中鳴。 Thư hùng không trung minh,
聲盡呼不歸。 Thanh tận hô bất qui.
却入空巢裹。 Khước nhập không sào lí,
啁啾終夜悲。 Chu thu chung dạ bi.
燕燕爾勿悲。 Yến, Yến nhĩ vật bi,
爾當反自思。 Nhĩ đương phản tự tư.
思爾為雛日。 Tư nhĩ vi sồ nhật,
高飛背母時。 Cao phi bội mẫu thì.
當時父母念。 Đương thì phụ mẫu niệm,
今日爾應知。 Kim nhật nhĩ ưng tri!

白居易             Bạch Cư Dị
* * *
Diễn Nôm:


Bài Thơ Chim Én

Trên rường nhà nỉ non đôi én,
Bay song song sớm tối có nhau.
Ngậm bùn kết cỏ trên cao,
Bốn con mới nở lao xao đêm ngày.

Bốn con nhỏ chít chiu trong tổ,
Miệng đòi ăn chim chíp không thôi,
Sâu xanh mẹ bắt mớm mồi,
Bốn con luôn đói cha thời mõi mê.

Miệng mỏ đã tái tê hết cả,
Cố tìm mồi nên chả thấy chi.
Thoắt đi, thoắt lại, lại đi.
Sợ e con đói quản gì tấm thân.

Ba mươi ngày ân cần nuôi nấng,
Mẹ ốm dần con lớn thêm ra,
Líu lo dạy nói dạy ca,
Rỉa lông rỉa cánh bay qua bay vòng.

Đến một hôm cánh lông đầy đủ,
Đưa bốn con bay thử trên cây,
Cất cao bay vút lên mây,
Bốn phương theo gió lần này... bay luôn !

Trống mái buồn kêu luôn luôn miệng,
Kêu hết hơi con vẫn bặt tăm,
Đành thôi về tổ âm thầm,
Chiu chiu chít chit buồn lòng suốt đêm.
.....................................
Én ơi én, chớ nên buồn nữa,
Hãy nhớ ngày xưa xửa chưa nhòa,
Cái ngày én tập bay xa,
Cao bay bỏ mẹ bỏ cha chẳng về.

Lúc đó mẹ cha se sắt ruột,
Dạ nhớ con não nuột ủ ê,
Bây giờ én cũng một bề,
Nhân nào quả nấy tái tê lòng nào?!

Đỗ Chiêu Đức diễn nôm.


Nước Mắt Của Cha


Nước mắt người cha thấy hiếm hoi,
Can trường nuốt lệ đợi nguôi ngoi.
Bi thương khổ nhục không than khóc,
Phẩn uất oan khiên phải nén coi...

Máu chảy ruột mềm thân lũ trẻ,
Mưa rơi thấm áo phận tôi đòi...
Yêu con chăm sóc luôn đầy đủ,
Vất vả gian nan gánh thiệt thòi...

Tre tàn măng mọc lẽ tuần hoàn,
Chữ hiếu làm con tất phải ngoan.
Tóc bạc da mồi chân yếu đuối,
Răng long mắt kém bước nguy nàn...

Sa cơ phú túc sao nghèo đói?
Đắc thế giàu to lại phũ phàng!
Học vấn thầy cô còn lận đận
Một thời vang bóng cũng lang thang


Mai Xuân Thanh
Ngày 28 tháng 05 năm 2015

Ba Tôi




Ba tôi nay ngoài tám mươi
Tuy già nhưng khỏe nhờ người ít đau
Việc làm bàn kỷ trước sau
Mong con học giỏi ngày sau đổi đời.

Làng thôn loạn lạc bao thời
Nông dân vác súng không lời thở than
Ba tôi thất chí rời làng
Trông con, tiếp vợ, thợ ngang kiếm tiền.

Nhiều năm nghề đổi liên miên
May sau xin được nhân viên giữ hàng
Công việc đôi chút thanh nhàn
Ba dồn tâm trí dạy đàn con ngoan.

Hai trai, ba gái vẹn toàn
Hiền, chăm, hiếu đạo...nhận toàn lời khen
Thành đô nhịp sống bon chen
Hòa bình lập lại ba bèn về quê.

Má tôi giữ vẹn lời thề
Vợ chồng đoàn tụ lo bề ruộng nương
Lệnh nay qui hoạch đất vườn
Ba buồn lặng ngắm cảnh vườn đổi thay.

Con trâu đã hết đất cày
Người dân lại phải gạo vay, lúa lường
Thương con viển xứ tha hương
Ba hay nhắc chuyện ruộng vườn tổ tiên
..
Ba tôi, ông tiá thật siêng
Thơm danh ba tốt, chồng hiền miền Tây

Phượng Trắng

Mưa Lâm Râm


Tháng sáu năm này sao lạ thế
Mưa lâm râm sáng tối lê thê
Hoa xuân muộn tả tơi từng cánh
Mây xám màn che nắng não nề.

Cơn gió giật cây run lá rẩy
Mưa miên man ướt đẫm hồn tôi
Mù xa dĩ vãng quay về lại
Ngày ấy tuổi thơ sớm cúc côi.

Âm lịch tháng năm rằm nước nhảy
Trăng tròn mà ánh sáng nhòa soi
Cha đi lặng lẽ về miền lạnh
Mẹ tủi đau buồn kiếp lẻ loi.

Thái Sơn nơi chốn nào không biết
Chỉ biết công cha tợ Thái Sơn
Nước chảy từ nguồn là nghĩa mẹ
Muôn đời phụ mẫu đại công ơn.

Anh Tú
Nhân Father Day
21/6/2015

Ân Tình của Người Cha


"Còn cha gót đỏ như son
Mất cha tâm thức soi mòn từ đây
Công cha dưỡng dục vun đầy

Núi cao thăm thẳm ơn này dâng cha
Có cha như có nóc nhà
Không cha lạc lõng đời là bơ vơ
Cho con hình ảnh tôn thờ
Cha đi ngày đó con bờ quạnh hiu..."

("Cha Tôi", VHLA/Father's Day 2004)

Tôi làm bài thơ trên khi ngày Lễ Cha đến gần hơn. Nếu mẹ là hình ảnh gần gủi nhất khi người con mới chào đời và mẹ mang con trong bụng mình 9 tháng 10 ngày với bao vất vã, khổ cực thì sự liên hệ kỳ diệu giữa tình mẫu tử qua ống nhau truyền sự dinh dưỡng để con của mẹ được tượng hình khôn lớn. Với hình ảnh ban sơ gắn bó, chặt chẽ giữa tình mẫu tử đó, vai trò người cha bị phai nhạt đi chăng?

Thưa không hẳn như vậy đối với những người con được hình ảnh người cha đi bên cạnh những năm tháng măng non rồi trưởng thành của cuộc đời thì cuộc đời sẽ mang nhiều ý nghiã nồng nàn hơn, hạnh phúc hơn cho tình phụ tử vốn thắm thiết như định luật của thiên nhiên.

Những ngày còn bé, tôi nhìn cha trong trong bộ quân phục đại lễ tôi thần tượng ông làm sao đó! Dáng ông đầy oai phong, uy nghi của nét anh hùng trong tôi. Cha tôi vẫn là những hình ảnh gần gủi đưa tôi từng bước đi chuẩn bị khi tôi va chạm với những ngày đầu đời. Nếu người mẹ là người đóng góp cho từng mạch máu, từng sợi gân cơ cứng cáp tạo dựng hình hài trực tiếp từng dòng sữa đầu đời, hay qua những món ăn mà tôi khoái khẩu, hay những quần áo mới mà mẹ mua cho ngày khai trường hay mừng đầu năm, thì cha đến với tôi nhiều ý nghiã của sự gian nguy khi tôi gặp phải hay những rèn luyện có tính cách thử thách ngoài trường đời.

Tôi còn nhớ phòng tôi ngủ ở lầu 2, kế bên có lùm cây mận hồng đào từ nhà láng giềng chià sang. Tôi thích những chùm hoa trắng nở rộ khi mùa mận đến, trong cái tuổi ngây thơ của thời tiểu học, trong lúc ngồi học bài và bổng nhìn ra cửa hành lang, một chú rắn lục đang lẻn chui vào phòng tôi từ cây mận ngoài kia. Đầu óc tôi toé hỏa tam tinh trong nỗi sợ sệt tôi la hoảng lên. Cha tôi từ phòng bên cạnh chạy sang với cây baton đập chú rắn đang núp dưới gầm giường ngủ của tôi. Rồi một lần khác cha tôi đưa anh em chúng tôi đi Cát Lái hóng mát và dự picnic cuối tuần với các gia đình bạn bè của ông, tôi còn nhớ ở tuổi đầu đời thật liếng khỉ tôi đu cành cây khô cạnh bờ sông, nhánh cây bỗng gãy đôi, tôi văng xuống sông ông nhào theo cứu tôi lên bờ. Những kỷ niệm thời niên thiếu đó làm sao tôi quên được ? Nó hiện về trong tôi đẹp đẽ như đầu mùa Xuân tôi theo cha tôi đi mua mai vàng về chưng trang điểm căn nhà cho những điềm may kết lộc đầu năm.

Cha tôi có sức khỏe dẻo dai, bền bỉ, tôi nhớ ông tập luyện võ thiếu lâm, thái cực quyền, hít thở khí công và tập chạy bộ. Hồi tôi còn nhỏ có những sáng sớm chủ nhật ông và tôi chạy bộ tàng tàng từ góc đường Cường Để và Lê Thánh Tôn gần bến Bạch Đằng ngược về hướng đường Thống Nhất để vào Sân Hoa Lư, rồi chạy nhiều vòng trong đó, tôi chạy lẽo đẽo theo sau mà đôi chân gần như rã rời, lứa tuổi lên 9 hay 10 của thời còn non nớt. Cha tôi vẫn tiếp tục chạy và hít thở điều hòa vòng cái sân vận động này, tôi mệt lã cứ tà tà tiếp tục cuốc bộ quanh sân sau khi cảm thấy mình hết xí quách. Đoạn ông chạy băng qua mặt tôi, bằng cử chỉ trìu mến ông xoa nhẹ lên đầu tôi và nói vọng theo: "Hãy ráng lên con!". Vâng, câu nói tuy tầm thường như vậy mang nhiều ý nghĩa đặc biệt với tôi sau này khi trưởng thành. Khi đi học võ ra giao đấu bị trúng đòn của đối phương, hay giao đấu tennis nếu có thua phải về luyện lại, hãy ráng lên và ráng lên,... Rồi oan khiên khi hai mùa thu năm ấy tôi bị hai con quái vật "Celebral Hemorrhage Stroke", tức chứng tai biến vỡ mạch máu não đốn tôi ngã quị như một võ sĩ bị hạ đo ván, tôi nhìn 2 cháu con trai tôi, tôi nhớ đến lời khuyên năm xưa của cha tôi "Hãy ráng lên con!" và tôi cố gượng đứng dậy cho các con tôi hiểu rằng cha chúng sẽ luôn cố gắng và không bỏ cuộc.

Những kỷ niệm thời niên thiếu với cha tôi vẫn đong đầy trong trí nhớ. Khi cái thuở mới đi học ông là người gò tay cho tôi tập viết, ông hướng dẫn tôi những bài toán đố khó khăn với tâm trí thơ ấu tôi tại bậc tiểu học. Cha tôi là người đầu tiên dạy tôi viết và phát âm từng câu Anh ngữ và Pháp ngữ. Khi đau yếu, cha tôi phát thuốc cho uống, những viên thuốc nhức đầu hay cảm cúm đầy ân tình của thời xa xưa đó đã tạo cho tôi cái tiền lệ để sau này tôi phát thuốc lại cho các con tôi. Ngày lễ Cha kể về Cha, nhớ về Cha, tri ân Cha với những ân tình phụ tử vốn nồng nàn, vốn thiêng liêng, hay để nhớ về dĩ vãng cũ vẫn sống mãi và thật đẹp trong tôi.

Năm 1963 khi ông sang học tại Mỹ, ông gửi về cho gia đình một bức hình chụp ông cùng 3 người bạn đồng khóa của (1) hải quân hoàng gia Úc, (1) Đan Mạch và (1) Hy Lạp tại cây cầu sơn đỏ Kim Môn (Golden Gate). Bốn người thanh niên trong bộ lễ phục hải quân đại diện cho QG mình và họ khoác thêm áo navy overcoat màu navy blue đang tươi cười rạng rõ trước ánh ban mai của mùa Xuân chan hòa tại vịnh San Francisco, mặt sau ông ghi vài dòng chữ mà nét chữ ông viết quen thuộc và trân quý trong ánh mắt tôi:
"Hải con thương,
Ba hy vọng sau này con có dịp sang đây để nhìn thấy cái kỳ quan Golden Gate Bridge này của thế giới. Nó thật hùng vĩ con à. Ba TPD".

Hôm sau tôi mang vào lớp học khoe ngay với các bạn học, mà cả bọn nhóc tì của tôi xuýt xoa. Có đứa bảo: "Ba mày le thế!". Tôi cười tít mắt vì "tuổi trẻ thích lấy le đấy". Thật ra chúng tôi chả đứa nào dám ước mơ xa vời như chuyện thần tiên đặt chân đến một xứ giàu có mà lại xa xôi, thì cái ước mơ đặt đôi chân nhỏ bé lên vĩa hè gần chân cầu Kim Môn của San Francisco vốn là chuyện thần thông, hoang đường. Nếu có mơ thì bọn nhóc chúng tôi chỉ dám mơ ước được có một lần bước lên phi cơ để xem bên trong nó như thế nào và có được cái cảm giác mình ra sao khi nó bay trên mây thôi thì chúng tôi hả dạ lắm rồi.

Sau này ông được thả ra sau khi bị tù đày tại miền Việt Bắc 13 năm, ông sang Mỹ sau gần 30 năm mà ông đã đến xứ này. Mùa hè 1993, tôi chở ông lên San José thăm các bạn ông, xong tôi đưa ông ghé thăm bên nhà vợ tôi tại Sacramento, trên đường về lại trùng hợp ngay Father's Day, tôi đánh đường vòng qua San Francisco trước khi về lại Los Angeles. Tôi cho xe đừng tại công viên khu rest area ngay chân cầu Kim Môn. Hai vợ chồng tôi trong bộ đồ sweat-suit và khoác áo chiếc áo tennis jacket. San FranCisco vào 3 giờ chiều có gió lồng lộng lùa trên mặt biển thổi lạnh cóng chân tay dù là mùa hè nắng vẫn còn nhiều, nắng chiều chiếu xuống dòng nước biển xanh. Ánh mặt trời chiếu sáng từ hướng Oakland cho thấy cả vùng trời bao la quanh vịnh thật đẹp mắt. Dáng của Ba tôi lúc này trông quá già, ông ốm yếu, hom hem trong nỗi ngậm ngùi của tôi, ông khoác chiếc áo pardessus đen phủ kín người để chống lạnh, tôi ôm cha tôi khi máy ảnh liên tục bấm hình do vợ tôi làm phó nhòm. Tôi kể lại cho cha tôi nghe bức hình năm xưa mà ông gửi với lời ước mơ nếu tôi có dịp đến nơi đây để chiêm ngưỡng một kỳ quan thế giới, và vì chuyến đi đường vòng xa xôi này chỉ đưa cha tôi về lại dĩ vãng của ngày xưa mà ông đã quên lãng. Chuyến đi lại may mắn diễn ra đúng ngày lễ dành cho Cha hay ngày Lễ Cha, tôi bắt tay ông, xiết nhẹ trong nỗi hạnh phúc và hôn lên bờ vai gầy guộc của ông thay cho lời chúc mừng: Happy Father's Day.

Việt Hải Los Angeles

Thơ Tranh: Ngày Nhớ Ơn Cha


Thơ: Mai Xuân Thanh
Thơ Tranh: Kim Oanh

Tình Cha



Mẹ thắp cho con nụ cười
Cha dìu con suốt cuộc đời tương lai
Quanh năm gánh nặng oằn vai
Nâng con lên dốc dặm dài hiếu trung.

Hừng đông cha ở ngoài đồng
Mưa chiều cha ở cuối sông tát đìa
Ngày xưa học đủ cầm thìa
Ngày nay con học vượt qua đói nghèo.

Sóng to cha vững tay chèo
Cho con vượt khó kiếp nghèo buồn tênh
Ngàn năm sấm chớp vang rền
Trăm năm vun quén đáp đền chỉ thêu.

Tay mềm làm khổ người yêu
Tay cha chai sạn rong rêu cuộc đời
Nhưng cha gom cát trùng khơi
Đem về trải thảm vẽ vời con đi.

Tháng sáu mưa ướt bờ mi
Mà cha rực sáng dáng đi hao gầy
Công cha cao chín tầng mây
Con xin chép lại chút nầy nhớ ơn !

Dương Hồng Thủy
(21/06/2015 – Ngày Từ Phụ)

Ba Ơi! Ba À !


Buổi sáng theo ba để ăn quà
Buổi chiều vòi vĩnh chiếc cặp da
Học thì không giỏi mà hay điệu
Con một nuông chìu, lớn cái ta

Bao nhiêu nhung nhớ cứ đơm hoa.
Như cánh chim non lúc chiều tà
Ấp ủ tình thương trong tổ ấm
Có cha có mẹ sướng thật là

Không chỉ tháng 6 mới nhớ ba
Cứ theo cơn gió dậy tình nhà
Bám dấu chân người hồn lả tả
Với con tháng mấy cũng thiết tha

Trong nỗi bơ vơ giọt lệ hòa
Đã mấy mươi năm chẳng phôi pha.
Con vẫn miệt mài trong kỷ niệm
Nghẹn ngào lòng trẻ nỗi xót xa

Vắng lâu thèm khát gọi Ba à
Cuối đời mong muốn được gặp ba
Bao giờ hết nghiệp về nguồn cội
Cha con đoàn tụ với ông bà

Kim Quang
11/6/15


Ngày Của Cha


Ơi đất ơi hoa
Mưa và nước mắt . . .
Thời gian ơi, xin phút giây thôi
Cho con được ở bên Người!

Cha của con ơi
Sao im lìm che khuất bởi khói hương
Sao mắt nhắm tay buông
Mà ngấn lệ ngàn năm còn đọng lại
Xin đừng lìa xa con
Bởi giấc thiên thu sẽ là mãi mãi . . .

Có chậm quá không
Cha đã ngủ thật yên rồi!

Hồ Việt Kim Chi

Lời Cha Nói Với Con Sơ Sinh


Ta gặp cội nguồn trong dáng con
Mẹ vừa vượt cạn được vuông tròn
Con trong bóng tối ra vùng sáng
Sợ hãi nằm co quắp, đỏ hon.

Mở mắt đi con, đối diện đời
Tự thân vận động một mình thôi
Ngày trong bụng mẹ luôn luôn sẵn
Dinh dưỡng nuôi con đến tận nơi.

Bụng mẹ, căn phòng thật ấm êm
An tâm, con ngủ giấc say mềm
Hạ nồng, đông lạnh luôn là ấm
Ngày tháng mơ màng giữa mộng yên.

Bây giờ nôi sắt rộng thênh thang
Ánh sáng ban ngày quá chói chang
Đói bụng, thức ăn không có sẵn
Đành oa oa khóc, tủi vô vàn.

Bài học đầu tiên đó, hỡi con
Đây bầu sữa mẹ đã căng tròn
Ngậm vào và bú, ngoan đi nhé
Nguồn sống đang vào thân thể con.

No rồi, mở mắt để nhìn xem
Phân biệt ban ngày hay bóng đêm
Chõi đạp chân tay, người ngọ nguậy
Là bài thể dục tự làm quen.

Rồi đây từng bước lớn khôn lên
Con sẽ không ngừng học hỏi thêm
Sướng khổ do mình là chủ yếu
Đường đời không chỉ cỏ nhung mềm.

Rồi con sẽ thấy ở trên đời
Thuận lợi, khó khăn luôn sánh đôi
Giữ vững bàn tay và khối óc
Niềm tin, hy vọng sẽ không vơi.

Được sống đã là một sũng ân
Trăm năm thoáng chốc, ngắn vô ngần
Con đừng bỏ phí từng giây phút
Hãy nhớ, thời gian cứ cạn dần...

Hãy sống hết mình đi, nhé con
Đường đời dù vượt suối, trèo non
Gập ghềnh hay bám đầy gai góc
Chân bước hiên ngang, đá cũng mòn.

Phương Hà

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015

Tết Đoan Ngọ

Khuất Nguyên (chữ Hán: 屈原; qū yúan), tên Bình, biệt hiệu Linh Quân (340 TCN - 278 TCN) là một chính trị gia, một nhà thơ yêu nước nổi tiếng của Trung Quốc. Ông là người trong hoàng tộc nước Sở, làm chức Tả Đồ cho Sở Hoài Vương. Ông học rộng, nhớ dai, giỏi về chính trị, lại có tài văn chương. Lúc đầu ông được vua yêu quý, sau có quan lại ganh tài ông, tìm cách hãm hại. Vua Sở nghe lời gièm pha nên ghét ông. Ông âu sầu, ưu tư viết thiên Ly Tao để tả nỗi buồn bị vua bỏ.
Ngoài tập Ly Tao là tập thơ bất hủ của ông để lại, ông còn có nhiều sáng tác thơ khác như Sở từ, Thiên Vấn (Hỏi trời).v.v.
Đến cuối đời ông bị vua Tương Vương (người nối ngôi Sở Hoài Vương) đày ra Giang Nam (phía nam sông Dương Tử). Ông thất chí, tự cho mình là người trong sống trong thời đục, suốt ngày ca hát như người điên, làm bài phú "Hoài Sa" rồi ôm một phiến đá, gieo mình xuống sông Mịch La tự tử.
Ông cũng chính là nhân vật trong sự tích tết Đoan Ngọ (Đoan Dương). Theo truyền thuyết này, để tưởng nhớ về con người và cái chết bi ai của ông, hàng năm người ta tổ chức vào ngày mồng năm tháng năm là ngày tết Đoan Dương ở Trung Quốc và một số nước khác ở Châu A .
Mời tất cả các em cùng đọc bài thơ sau đây : Bài thơ của Thi Thánh Đỗ Phủ làm để tưởng nhớ đến Thi Tiên Lý Bạch, nhưng lại có liên quan đến ngày mùng 5 tháng 5 và Khuất Nguyên. bài thơ có tựa đề là : " Thiên mạt hoài Lý Bạch " ( Bên trời nhớ Lý Bạch ).....


天末懷李白      THIÊN MẠC HOÀI LÝ BẠCH

涼風起天末, Lương phong khởi thiên mạt,
君子意如何。 Quân tử ý như hà?
鴻雁幾時到, Hồng nhạn kỷ thời đáo,
江湖秋水多。 Giang hồ thu thủy đa.
文章憎命達, Văn chương tăng mệnh đạt,
魑魅喜人過。 Si mị hỉ nhân qua.
應共冤魂語, Ưng cộng oan hồn ngữ,
投詩贈汨羅。 Đầu thi tặng Mịch La.

(杜甫)              Đỗ Phủ 

【作者簡介】
杜甫(公元712─770)字子美,唐代最有名的大詩人之一,與李白合稱“李杜”。他的詩風格多樣,而以沉鬱為主,最擅長古體詩和律詩。
Tiểu Sử Tác Giả : 
Đỗ Phủ ( 712-770 ), tự là Tử Mỹ, là một trong các thi nhân lớn nổi tiếng của đời Đường, cùng với Lý Bạch hợp thành một cặp Lý Đỗ thời sơ Đường . Thơ của ông rất đa dạng, phong cách lấy trầm uất làm chủ, giỏi về thơ cổ thể và thơ luật.

【字句淺釋】
題解:李白於公元758年流放夜郎,次年途中遇赦而還;杜甫於759年寫此詩懷念他(不知他已經遇赦)。天末:天邊。鴻雁:即大雁,古有“鴻雁傳書”的傳說。命達:命運好,有顯達的社會地位。魑魅:山林、澤地裡能害人的妖精。汨羅:汨羅江,發源於江西,流入湖南,大詩人屈原曾經自投此江而死。

Chú Thích :
1. Năm 758 Lý Bạch bị đày đi Dạ Lang, năm sau gặp đại xá được tha mà về. Năm 759 Đỗ Phủ làm bài thơ nầy để tưởng nhớ đến ông ( không biết ông đã được tha ).
2. Thiên mạt : là bên trời, góc trời, chân trời.
3. Hồng Nhạn : là loài chim nhạn lớn, Xưa có truyền thuyết " Hồng nhạn truyền thư ", nên Hồng nhạn là chỉ tin thơ.
4. Mệnh Đạt : là Vận mệnh tốt, hiển đạt, có địa vị trong xã hội
5. Si Mị : là 2 loài yêu tinh quỷ quái ở trong núi rừng, ao đầm, chuyên hãm hại người lành.
6. Mịch La : là con sông tên Mịch La, phát nguyên ở tỉnh Giang Tây, chảy vào tỉnh Hồ Nam. Đại thi nhân Khuất Nguyên đã nhảy xuống đây để tự trầm.

【全詩串講】
天際秋風乍起,冷颼颼使人覺得悲涼。
遙望雲天,向朋友問一聲近來怎麼樣?
不知何時能看到捎來你書信的鴻雁,
江湖上風波險惡啊,你可要小心點。
文才出眾的人,命運中總是多磨難。
鬼怪喜歡害人,只要你走過它面前。
料想你會同屈原的冤魂互相訴委屈,
把你的詩歌投入汨羅江,贈送屈原。

Bên trời chợt nổi trận gió thu hiu hắt, xin hỏi người quân tử gần đây như thế nào ? Không biết bao giờ mới có tin của bạn do hồng nhạn đưa sang. Người có văn tài xuất chúng thường hay gặp vận không may, những loài yêu ma quỉ quái thường hay bức hại những người qua lại. Nghĩ rằng bạn có thể cùng với oan hồn của Khuất Nguyên bày giải nỗi niềm, nên mới bỏ thơ nầy xuống sông Mịch La mà tặng cho Khuất Nguyên.

【言外之意】
殷切的思念,細微的關注,發自內心的真摯情感,以及替友人作的聯想,一一道來,使讀者猶如展讀一封朋友的來信,倍感親切。

Thương nhớ thiết tha, quan tâm chu đáo từng chút một, là tình cảm chân thành phát xuất từ nội tâm quan tâm tới bè bạn, mỗi một lời một chữ đều thân thiết như một bức thơ của bạn bè mở ra trước mắt.

DIỄN NÔM:

Gió thu nổi ven trời,
Bạn hiền đã sao rồi?
Tin nhạn bao giờ tới,
Sông hồ nước vẫn trôi.
Văn chương bất đắc chí,
Yêu quái mặc rong chơi.
Oan hồn cùng yên ủi,
Mịch La thơ tặng người!

Lục bát:

Gió thu hiu hắt bên trời,
Hỏi người quân tử độ rày ra sao?
Trông tin hồng nhạn biết bao,
Sông hồ giờ đã dâng trào nước thu.
Văn chương ghét kẻ ôn nhu,
Đầy đường ma quái như thù ghét ghen,
Oan hồn cùng tỏ nỗi niềm,
Mịch La thơ trút niềm riêng tặng người!

Đỗ Chiêu Đức.
* * *
Khuất Nguyên

Chiến Quốc thi hào có Khuất Nguyên
Quan trường thất chí tựa người điên
Tự trầm mất xác không tha hóa
Chả thiết nghe lời lắm xỏ xiên
Thiên Vấn lạ lùng vang mấy thuở
Ly Tao bi thiết động thiên niên
Mồng năm Đoan Ngọ người thương tiếc
Tục Việt ai bày cúng tổ tiên?

Cao Linh Tử
29/10/1011
* * *

Bài Học Khuất Nguyên

Ngậm ngùi thân phận một người điên! 
Bộ óc siêu phàm nơi Khuất Nguyên 
Trí giả lược thao lòng chính trực 
Ngu trung bám víu lũ quàng xiên 
“Ta trong…” gây thảm sầu vong quốc 
“Đời đục…” lưu hờn đến vạn niên 
Đoan Ngọ nhắc chừng bài học thức 
Oan hồn kẻ sĩ ... mộng thần tiên!

Nguyễn Đắc Thắng
20150619
* * *
Khuất Nguyên

Mùng Năm Đoan Ngọ với Khuất Nguyên,
Trẻ nít thôn quê tưởng giả điên,
Lề thói xưa nay thành nếp cũ,
Lễ nghi tục lệ chớ quàng xiên.
Nhiều nơi hái lá phơi khô cất,
Lắm chỗ nhìn trời tuổi thiếu niên.
Mắt chớp như sao đời vẫn đẹp,
Hàn huyên xôm tụ khỏe như tiên

Mai Xuân Thanh 
Ngày 20 tháng 06 năm 2015
* * *
Uống Nước Lá Mồng Năm

Hái thuốc trên non Điếu Khuất Nguyên,
Mồng Năm mất tích đã lưu truyền...
Dân gian theo lệ lên rừng núi,
Đoan Ngọ đúng giờ hái lá liền...
Phơi nắng hương thơm chờ nấu uống,
Đầy nong mùi vị " ú tro " tiên...
Xôi chè trẻ nít mừng như Tết,
Chế biến ăn thêm cũng rẻ tiền...


Mai Xuân Thanh 
* Lúc nhỏ ở thôn quê ghi nhận theo lời kể của bà ngoại:
Lá mùng năm có thể nấu nước cho sản phụ uống lúc xưa ở nơi thôn giả, nhà nghèo phải nghe theo sự chỉ bảo của các bà mụ đỡ đẻ ở trong quê...
Ngày Mùng Năm Tháng Năm Ất Mùi nhằm ngày 20 tháng 06 năm 2015

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2015

Dòng Sông Trôi


Chiều chiều ra ngắm dòng sông
Nhìn con nước lớn, nước ròng đầy vơi
Mơ em, nước đổ ra khơi
Nhớ em, nước thẩn thờ trôi về nguồn
Yêu em, nước xoáy cuộn tròn
Thương em sóng vỗ dâp dồn không nguôi
Nước đầy tình rộng lòng côi
Bên dòng sông chuyển tôi ngồi đợi em

Lê KimThành

Thơ Bay Trong Gió


Hương xuân trong gió mênh mang
Bước em khe khẻ dịu dàng bên anh
Bên cầu giòng nước uốn quanh
Trên trời mây trắng xây thành ươm mơ

Đêm nay trăng sáng lầu thơ
Soi chung bóng nguyệt ngẩn ngơ đôi lòng
Thơ tình cùng họa chung vần
Thả tung theo gió mộng gần bay xa

Trăm năm tình đẹp như hoa
Nở thơm một cõi như là thiên thai
Hoàng hôn tím ngát chân mây
Ta mơ hạnh phúc sum vầy bên nhau.

Hoàng Kim Mimosa


Thấy Bóng Chẳng Hình


Nhớ em thấy bóng chẳng hình
Thấy trăng trước ngõ thấy mình bơ vơ
Bỏ đi từ đó đến giờ
Khi nào em nghĩ thằng khờ năm xưa
Thằng khờ đợi gió đội mưa
Đợi bao nhiêu khổ ngóng chờ ánh trăng
Gió lay mờ tỏ bóng hằng
Mà anh cứ ngỡ bước chân ai về
Nhớ mòn giấc ngủ cơn mê
Thấy hình chẳng bóng nằm kề song song
Đời anh mộng thực quay mòng
Như con cá nược lội vòng theo ghe

Trần Phù Thế
(Trích từ Thi Tập Cõi Tình Mong Manh)

Khi Em...Thì Anh


Khi em đang ngủ giấc say nồng
Anh sẽ làm trăng chếch khoảng song
Khoác mảnh tơ vàng lên vóc ngọc
Đường cong, nét lượn...đẹp vô cùng!

Khi em dạo bước ở trong vườn
Trên thảm cỏ mềm lấm tấm sương
Anh : ánh nắng mai xuyên tán lá
Tô môi đỏ thắm...một trời thương!

Khi em tà lụa bước qua cầu
Anh sẽ làm cơn gió thoảng mau
Vạt áo lật tung, tay luống cuống
Đỏ bừng đôi má...dị chưa nào!

Khi em sầu mộng, mắt mơ màng
Mây trắng- anh mời em bước sang
Cỡi gió đôi ta vào vũ trụ
Tâm hồn phơi phới, dạ miên man!

Phương Hà
* * *
Cảm Tác: Nếu Anh Là Em Sẽ Là

Nếu anh là...gió thổi mơn man
Em sẽ là..hoa sắc chẳng tàn
Gió thoảng hương bay tình trổ nhụy
Ngọt ngào,triều mến khó ly tan

Nếu anh là...mưa tưới mỗi chiều
Em sẽ ...đồng xanh thật đáng yêu
Chồi nụ bừng lên cho sức sống
Cho đời ta đở bớt cô lieu

Nếu anh là...sóng biển lênh đênh
Em chiếc thuyền con nổi dập dềnh
Sóng đẩy đưa thuyền vào cỏi mộng
Chúng mình vui sống chẳng buồn tênh

Nếu anh ...giòng nướcchảy êm xuôi
Em cánh bèo trôi khắp nẽo đời
Nước sẽ đưa bèo đi vạn lối
Cho tình mãi đẹp giữa trùng khơi

Song Quang
* * *
Bài Cảm Tác: Anh Và Em

Đồng thanh tương ứng, bạn mình vui,
Đồng khí tương cầu, xẻ ngọt bùi...
Có bạn tâm giao tình biết mấy,
Không ai thù tạc nhớ khôn nguôi...
Cánh bằng đôi bạn cùng bay mạnh,
Ngựa chiến song phi nước đại rồi.
Một kiếp trọn tình luôn gắn bó,
Muôn đời mãn nguyện được chung đôi!

Mai Xuân Thanh
Ngày 10 tháng 06 năm 2015
* * *
Anh Và Em

Anh là ngọn gió đồng sâu ẩm
Say đắm hôn nhàu những đóa hoa
Em ngã đài son tô điểm phấn
Khơi vòi nhụy mở cánh vương xòa

Anh là cơn lốc đem mưa đổ
Tưới nụ chồi non hé mắt nhìn
Hoa lá nở tươi bừng sức sống
Chào em lơi lả nụ cười xinh

Anh là con sóng từ xa tắp
Đón cánh buồm em thả gió yêu
Sóng nước say tình buồm ngã ngớn
Trôi vào cõi mộng dáng liêu xiêu

Anh là khung cảnh trời cao rộng
Đón cánh diều em lạc cõi ru
Vun vút lên cao bay thỏa thích
Dặt dìu tiếng sáo rợp trời thu

Anh là trăng bạc đêm soi sáng
Em đóa quỳnh hương tỏa ngạt ngào
Vũ điệu nghê thường say bất tận
Nguyệt-hoa âu yếm giữa trời sao.

Anh là dòng nước phương vô định
Hướng cánh bèo em đã định làn
Hò hẹn một đời rồi ấp ủ
Lênh đênh khắp nẻo ánh chiều tan.
***
Dù đóa hoa xưa giờ đã héo
Vẫn còn tình mộng buổi mưa chan
Dù cánh diều xa xa tít tắp
Vẫn còn sợi gió bước lang thang

Dù cánh buồm xưa trôi lạc lối
Vẫn còn sóng biếc vẳng rì rào
Dù cánh quỳnh xưa nằm lặng lẽ
Vẫn còn trăng tỏa bóng hanh hao

Tình ta ngàn thuở không phai nhạt
Nghĩa mãi mặn nồng những tấc hơi
Một kiếp nhân sinh dài mấy quãng
Thủy chung một quãng quyện khôn rời.


Nguyễn Đắc Thắng
20150618

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2015

Chúc Mừng Sinh Nhật Lương Minh Điều 17/6


Huỳnh Hữu Đức, Suối Dâu, Kim Phượng, Kim Oanh

Nửa Giấc Mộng Đời - Thơ Yên Dạ Thảo - Hương Chiều Ngâm


Xin nhấp vào Link: Nửa Giấc Mộng Đời 

Thơ: Yên Dạ Thảo

Diễn Ngâm: Hương Chiều

Không Gian Xanh


Núi rừng xưa giờ đây cằn cỗi!
Mưa đầu mùa nổi Bấc lạnh run
Phong ba bão táp cơn khùng ập
Vần vũ trời dồn dập phương Nam

Hư danh hám lợi quên lời hẹn
Vùi dập núi rừng chẳng vẹn nguyên
Dử đem khí độc hả hơi truyền
Hiền lành rừng núi còn đâu nữa!

Ta về đây hồn giữa bâng khuâng
Lỗi thề tao ngộ đã bao lần
Trong mơ áo trận rừng năm cũ
Trót phũ phàng đổ tội tha phương

Đêm rừng núi phố phường hương nhạt
Bóng Hè còn phiêu bạt về đâu
Từ độ đi vẫn mãi Hè rầu
Pha chút lạnh mưa đầu mùa nhớ!

Mây gió bạc, núi rừng bỡ ngỡ
Bao Thu qua không chở Hè về
Để lâu sợ hương Hè loạn nhịp
Có dịp nào giúp đỡ Hè đau

Mau qua đêm trời vừa hừng sáng
Mang thiên nhiên về lại núi rừng
Con núi rừng vui mừng ở lại
Chờ đợi ngày xanh thẳm không gian!

Vĩnh Long 19-6-2010
Lê Kim Hiệp

Tư Mã Thiên Nhẫn Nhục Viết" Sử Ký"

Câu "Sĩ khả sát bất khả nhục" đã nói lên tiết tháo của kẻ sĩ ngày xưa. Tuy nhiên vẫn còn đó những tấm gương nhẫn nhục lưu danh hậu thế. Chúng ta cùng đến với Sử gia Tư Mã Thiên.
***
Ngày xưa, một người bị tội xử cung hình coi như không còn là con người nữa, đó là một nỗi nhuc không gì so sánh.Thế nhưng Tư Mã Thiên đã nén và bước qua nỗi nhục này để lưu cho đời sau bộ danh sử "Sử Ký Tư Mã Thiên".

Tư Mã Thiên Nhẫn Nhục Viết" Sử Ký"


Tư Mã Thiên (145 TCN-86TCN) tên tự là Tử Trường, là tác giả bộ Sử Ký (史記); với bộ sử đó, ông được tôn là Sử thánh, một trong10 vị Thánh trong lịch sử Trung Quốc.
Ông làm chức Thái sử lệnh (太史令) rồi Trung thư lệnh, đời nhà Hán. Sử Ký là công trình sử học lớn nhất của Trung Quốc và là một trong những quyển sử có tiếng nhất của thế giới. Đặc biệt bộ sử này còn là một trong những tác phẩm văn học ưu tú của nhân loại. Bộ sử vĩ đại này miêu tả tổng quát vềlịch sử Trung Quốc bao trùm 2.000 năm từ Hoàng Đế đến đời Hán Vũ Đế Công trình này là nền tảng cho các phát triển sau này trong sử học Trung Hoa.Với tác phẩm bất hủ “Sử Ký” hay còn gọi là “Ghi chép của ômg Thái sử” (Thái sử công thư), ông được coi là nhà chép sử đầu tiên và vĩ đại nhất Trung Hoa. Tư Mã Thiên lớn lên trong một gia đình có truyền thống viết sử. Cha ông, Tư Mã Đàm, làm Thái sử lệnh của nhà Hán.

Tư Mã Đàm chịu trách nhiệm theo dõi các hiện tượng thiên văn và xem ngày cho các buổi lễ, cũng như ghi chép lại những sự kiện hàng ngày ở trong triều. Khi còn nhỏ, dưới sự dìu dắt của cha, Tư Mã Thiên rất chịu khó nghiên cứu lịch sử và các tác phẩm kinh điển.
Năm 126 trước CN, Tư Mã Đàm sắp xếp một chuyến chu du thiên hạ cho đứa con 20 tuổi của ông. Trong chuyến đi, Tư Mã Thiên đã thăm các công trình cổ xưa và lăng mộ của các vị Hoàng Đế vĩ đại trong quá khứ. Ông ham mê nghiên cứu các bộ sưu tập lịch sử phong phú của những tác giả đời trước, trong đó có Khổng Tử và đã thu hoạch được rất nhiều lợi ích từ cuộc hành trình này.
Sau khi quay trở về kinh đô, Tư Mã Thiên được cử làm vị trí Lang trung tham dự vào triều chính và có nhiệm vụ đi cùng Hán Vũ Đế kiểm tra từng khu vực. Dù đi đến đâu, ông luôn thu thập và biên soạn lại những câu chuyện lịch sử ở các địa phương

Khoảng năm 110 trước CN, Tư Mã Đàm đổ bệnh. Trước đó ông đã bắt đầu một kế hoạch đầy hoài bão của mình, đó là viết bộ Sử ký đầy đủ đầu tiên về Trung Hoa, bao trùm 2000 năm lịch sử từ triều đại Hoàng Đế đến triều đại Hán Vũ Đế.
Biết mình không thể qua khỏi, Tư Mã Đàm vội bảo người con trai tiếp tục sứ mệnh quan trọng này. Tư Mã Thiên đã thề nguyện sẽ hoàn thành tác phẩm của cha ông.
Tư Mã Thiên sau đó kế thừa vị trí Thái sử lệnh của cha.
Ông tin rằng một nhà viết sử cần phải công bằng và độc lập, hơn là phục vụ cho sự yêu cầu của riêng Hoàng đế.
Để ghi chép về các nhân vật và sự kiện lịch sử một cách khách quan và công bằng, ông đã cống hiến phần lớn thời gian và nỗ lực để thu thập và chứng thực các chi tiết lịch sử. Ông đã luôn trung thực, làm tốt nhất để đảm bảo rằng những ghi chép là toàn diện và không có thiên kiến.
Một thử thách mà Tư Mã Thiên phải trải qua là làm thế nào để ghi lại việc làm của các Hoàng Đế hiện tại và trong quá khứ. Cuối cùng, ông quyết định ghi lại tất cả sự việc, cả việc tốt lẫn việc xấu. Tuy nhiên, điều này không hợp với ý của Hán Vũ Đế.

Tư Mã Thiên 司马迁 bắt đầu viết bộ Sử kí 史记 là vào năm 42 tuổi, vừa mới viết được 5 năm thì đại hoạ giáng xuống đầu. Lí Lăng 李陵, người đảm nhiệm chức Đô uý, thống lĩnh 5000 nhân mã đi đánh Hung Nô, kết quả bị 3 vạn kị binh của Thiền vu vây chặt. Mặc dù Lí Lăng và sĩ binh ra sức chiến đấu, nhưng vì quả bất địch chúng nên đã bại trận, chỉ có hơn 400 binh sĩ thoát được trở về. Lí Lăng bị Hung Nô bắt đầu hàng. Sự kiện này chấn động triều đình trên dưới, quần thần khiển trách Lí Lăng không nên tham sống sợ chết đầu hàng Hung Nô. Khi hoàng đế hỏi ý kiến của Tư Mã Thiên, Tư Mã Thiên dựa vào sự hiểu biết của mình về Lí Lăng, cho rằng Lí Lăng không phải là người tham sống sợ chết, bộ binh mà Lí Lăng thống lĩnh chưa đến 5000 người, thâm nhập vào đất địch đánh với mấy vạn quân Hung Nô, tuy nói là bại trận, nhưng cũng là trong tình lí. Lí Lăng không chịu chết ngay lúc đó chắc có lí do riêng, nhất định muốn đem công chuộc tội báo đáp hoàng thượng. Hoàng đế lại cho rằng Tư Mã Thiên vì việc Lí Lăng đầu hàng nói đỡ để thoát tội nên lấy tội danh đối kháng triều đình bắt Tư Mã Thiên giam vào ngục. Sau khi bị giam vào ngục, Tư Mã Thiên đã bị một hình phạt tàn khốc, đó là cung hình.

Tư Mã Thiên nghĩ rằng: không có nỗi nhục nào hơn nỗi nhục cung hình. Người bị cung hình không thể xem là con người. Nỗi đau khổ trong lòng Tư Mã Thiên đã vượt hơn nỗi đau thể xác cả ngàn vạn lần. Lại thêm mọi người chê cười, bạn bè thân thích xa lánh, Tư Mã Thiên đau buồn đến mức không thiết sống. Giữa vấn đề sống và chết, Tư Mã Thiên phải nhẫn nhịn chịu sỉ nhục, chịu sự chê cười của mọi người, sống một cuộc sống không phải nam không phải nữ. Tư Mã Thiên nghĩ đến Khổng Tử gặp hoạn nạn mà viết nên bộ Xuân Thu 春秋, Tôn Tử bị cắt gót chân mà viết nên bộ Binh pháp 兵法, Khuất Nguyên bị đuổi mà viết nên Li Tao 离骚. Những vĩ nhân này sau khi gặp đại nạn đều nhẫn chịu nỗi giằn vặt mà viết sách. Bộ Sử kí của mình vừa mới bắt đầu, sao không nhẫn nhục để hoàn thành? Như vậy, để hoàn thành bộ Sử kí, một công trình vĩ đại, Tư Mã Thiên đã lấy tinh thần kiên cường ẩn nhẫn và dũng khí quên mình để viết. Nỗi xấu hổ, sỉ nhục, phẫn nộ, tất cả ngưng tụ vào ngọn bút, Tư Mã thiên bắt đầu giai đoạn từ thời đại Hoàng Đế 黄帝 trong truyền thuyết đến năm Thái Thuỷ 太始 (1) thứ 2 đời Hán Vũ Đế (năm 95 trước công nguyên), biên soạn nên bộ trứ tác đồ sộ, được Lỗ Tấn 鲁迅 đánh giá là:

Sử gia chi tuyệt xướng, vô vận chi Li tao
史家之绝唱, 无韵之离骚

Sử ký dài 526.000 chữ, chia làm ba mươi chương. Nó không những là pho sử chính trị, xã hội, kinh tế mà còn là lịch sử đầy đủ về học thuật, văn hóa, các gương mặt danh nhân đất nước từ vua chúa, triết gia, chính trị gia, nhà văn, thương gia, hiệp khách… Nó là một kho tư liệu vô giá và chính xác được làm bởi một năng lực tổng hợp cao những tư tưởng vĩ đại, những hình tượng chân thật và sống động, những tâm sự đau đáu mang sức mạnh thi ca. Tư Mã Thiên là người tổng kết văn hóa Trung Quốc lần thứ hai sau Khổng Tử với công lao không kém gì vị sư biểu này. Tác phẩm không nhằm viết ra để cầu lợi cầu danh. Nó được công bố sau khi ông qua đời khá lâu, do người cháu ngoại Dương Vận thời Tuyên đế thực hiện.
Sử ký là một kiệt tác về lịch sử, đồng thời là một kiệt tác về văn học cổ điển mang tầm nhân loại, một tập “Ly tao không vần” ( Lỗ Tấn). Về sau, suốt 2.000 năm các sử gia khác của Trung Quốc đã theo gương ông để viết Nhị thập tứ sử (24 bộ chính sử).
Nghị lực sống chiến thắng tất cả, Tư Mã Thiên đã nêu cho đời một tấm gương sáng: hy sinh cái nhỏ để phụng sự mục đích lớn.

***
Theo : vietdailynguyen.com - vikypedia.com - vanhoanghean.com - "Tư Mã Thiên Nhẫn Nhục Tả Sử Ký" (Người dịch Huỳnh Chương Hưng)

Huỳnh Hữu Đức biên soạn

Còn Nhớ Hay Quên?



Dòng sông Hậu
Bên bồi_bên lở
Áo lụa Hà Đông thơm vương nụ Tầm Xuân
Ai về nơi ấy - quên hay nhớ ?
Nắng miền Nam_Mưa xứ Bắc - có gần?

Đường dịu vợi lòng nào luôn trăn trở?
Có chút buồn bay theo gió tháng mười
Mái chèo khua vẫn mang đầy nỗi nhớ
Những dành riêng - để cho ta hay người?

Ký ức nào đong đầy qua năm tháng
Của một thời mắt biếc mãi xa xôi
Cơn mưa bão giăng ngang ngoài khung cửa
Ta thả hồn theo từng giọt nước trôi.

Dòng sông Hậu vẫn bên bồi_bên lở
Còn nhớ hay quên - một thoáng bên người?

Tú_Yên

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

Thơ Tranh: Buồn

Pleiku còn đó nỗi buồn


Thơ & Thơ tranh: An Nguyen

Hương Thu Mấy Độ



( tặng Linda Đ.)

Thu về, chiều tím lối đi
Lá xanh chợt úa, làn mi khép hờ
Phượng tàn phai sắc hồng mơ
Nửa buồn chợt đến, nửa mờ hồn tan..

Thu vừa sang, lá nhuốm vàng
Tóc em xõa lấp.. nắng tàn chân mây
Dấu tình réo gọi ngàn cây
Lá vàng giẫy giụa, cuộn đầy sân em..

Làm sao tỏ được nỗi niềm
Làm sao em hiểu niềm riêng lạnh lùng..?
Nhớ em, ôi, nhớ tận cùng!
Hương thu yên ắng, ngập ngừng gót chân..

Ngại ngùng vàng rụng bâng khuâng
Thu về mấy độ,..hanh hanh dịu dàng
Đêm thu khơi mối thương tràn
Đợt mưa thu cũng vội vàng.. cuốn qua…

VA, 30 tháng 10, 11
Bùi Thanh Tiên